1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả lâm sàng theo thang điểm vds trong điều trị suy tĩnh mạch chi dưới bằng laser nội mạch tại bệnh viện Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh

6 35 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 316,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Suy tĩnh mạch mạn tính là bệnh lý gây ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt và công việc của người bệnh, trong đó dãn tĩnh mạch chân chiếm tỉ lệ khá cao ở những trường hợp suy tĩnh mạch chi dưới. Tại Việt Nam, suy tĩnh mạch chi dưới đã trở thành vấn đề phổ biến với số lượt đến khám tại các cơ sở y tế liên quan ngày càng nhiều và số trường hợp được điều trị phẫu thuật ngày càng tăng. Bài viết nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả lâm sàng theo thang điểm VDS trong điều trị suy tĩnh mạch chi dưới bằng laser nội tĩnh mạch tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ LÂM SÀNG THEO THANG ĐIỂM VDS TRONG ĐIỀU TRỊ SUY TĨNH MẠCH CHI DƯỚI BẰNG LASER NỘI MẠCH

TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

Vũ Trí Thanh * , Đào Duy Phương **

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Suy tĩnh mạch mạn tính là bệnh lý gây ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt và công việc của người

bệnh, trong đó dãn tĩnh mạch chân chiếm tỉ lệ khá cao ở những trường hợp suy tĩnh mạch chi dưới Tại Việt Nam, suy tĩnh mạch chi dưới đã trở thành vấn đề phổ biến với số lượt đến khám tại các cơ sở y tế liên quan ngày

càng nhiều và số trường hợp được điều trị phẫu thuật ngày càng tăng

Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả lâm sàng theo thang điểm VDS trong điều trị suy tĩnh mạch chi dưới bằng laser nội tĩnh mạch tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, được thực hiện dựa trên dữ liệu hồi cứu từ

hồ sơ bệnh án tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 01/06/2017 đến 01/01/2018 thoả mãn các tiêu chí chọn mẫu Đặc điểm người bệnh điều trị suy tĩnh mạch chi dưới được mô tả

cùng với việc đánh giá các hiệu quả lâm sàng sau can thiệp và mức độ hài lòng của người bệnh

Kết quả: Trong 75 hồ sơ bệnh án thoả tiêu chí chọn mẫu, có 76,0% thuộc giới tính nữ và 76,0% nằm ở độ

tuổi từ 41 đến 70 tuổi Nghiên cứu ghi nhận có 82,6% trường hợp có yếu tố nguy cơ do đứng hay ngồi lâu và 93,3% trường hợp có các triệu chứng cơ năng của bệnh Đa số các trường hợp nằm ở độ 2 theo phân độ VDS (69,3%) và độ C2 theo phân loại CEAP (77,3%) Sau khi can thiệp laser nội tĩnh mạch, kết quả cho thấy người bệnh phục hồi nhanh hơn (93,3% trong 24 giờ đầu), vết mổ không đau hoặc đau không đáng kể (84,0%), cải thiện triệu chứng rõ rệt (77,3%) và giảm độ VDS (p <0,05); hiệu quả tắc mạch của laser cao với 96,0% trường hợp tắc

hoàn toàn và không còn dòng chảy Không có tai biến hay biến chứng nặng được ghi nhận trong nghiên cứu Kết luận: Nghiên cứu đã cho thấy những hiệu quả lâm sàng đạt được và mức độ hài lòng cao của người

bệnh khi được điều trị suy tĩnh mạch chi dưới bằng laser nội tĩnh mạch tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, đồng thời cung cấp các căn cứ khoa học để Bệnh viện duy trì, phát triển các kỹ thuật điều trị hiện đại,

tiên tiến, giúp nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho người dân

Từ khoá: suy van tĩnh mạch chi dưới; laser nội tĩnh mạch; thang điểm VDS

ABSTRACT

EVALUATION OF THE CLINICAL EFFECT ACCORDING TO VDS POINT LADDER ON THE TREATMENT OF VARICOSE VEINS OF THE LOWER EXTREMITIES BY INTRAVENOUS LASER AT

UNIVERSITY MEDICAL CENTER IN HO CHI MINH CITY

Vu Tri Thanh, Đao Duy Phuong

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 5 - 2019: 40 – 45

Backgrounds: Chronic various vein is a disease affecting to patients’ life badly In which the varicose veins

of the legs occupy quite high rate in cases of varicose veins in the lower extremities In Vietnam, varicose veins of the lower extremities have become a common problem with an increasing number of examining to health facilities and operating

*Bộ môn phẫu thuật Lồng Ngực – Tim Mạch, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

**Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: TS.BS Vũ Trí Thanh ĐT: 0938999929 Email: drthanhtrinh2000@yahoo.com

Trang 2

Objective: The study was conducted to evaluate the clinical effect according to VDS point ladder on the

treatment of varicose veins of the lower extremities by intravenous laser at University Medical Center in Ho Chi Minh City

Methods: Cross-sectional study based on medical records at University Medical Center in Ho Chi Minh

City from 1 st June 2017 to 1 st January 2018 satisfies the sampling criteria Characteristics of patients treated for varicose veins of the lower extremities are described along with assessing the clinical effects after intervention and the satisfaction of patients

Results: The 75 medical records were suitable to the criteria for selection, 76.0% were female and 76.0%

were between 41 and 70 years old The study found 82.6% of risk factors due to standing or sitting for a long time and 93.3% of cases had functional symptoms of the disease The majority of cases are at level 2 according to VDS classification (69.3%) and level C2 according to CEAP classification (77.3%) After intravenous laser intervention, the results showed that patients recovered faster (93.3% in 24 hours), the incision is not painful or insignificant (84.0%), improved symptoms significantly (77.3%) and decreased VDS (p <0.05) The effective occlusion of laser is high with 96.0% of cases being completely blocked No serious complications or accidents were mentioned in the study

Conclusions: Research showed that the achievement of clinical efficacy and the high level of satisfaction of

patients when they were treated for intravenous varicose veins by intravenous laser at University Medical Center

in Ho Chi Minh City At the same time, it provided scientific foundations to maintain and develop advanced treatment techniques so as to help improve treatment effectiveness and quality of health care

Keywords: varicose veins of the lower extremities, intravenous laser, VDS point ladder

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy tĩnh mạch mạn tính là bệnh lý gây ảnh

hưởng nhiều đến sinh hoạt và công việc của

người bệnh Theo thống kê tại Hoa Kỳ, có từ

10-35% người lớn mắc phải bệnh này Loét chân do

tĩnh mạch cũng chiếm đến 4% trong số các

trường hợp trên 65 tuổi Hàng năm, kinh phí

tiêu tốn cho điều trị đến hơn 1 tỷ USD, và bệnh

cũng làm mất đi 4,6 triệu ngày công làm việc(11,12)

Dãn tĩnh mạch chân chiếm tỉ lệ khá cao ở những

trường hợp suy tĩnh mạch chi dưới(16) Tại Việt

Nam, thống kê tại Bệnh viện Đại học Y Dược

Thành phố Hồ Chí Minh trên 7569 lượt khám

cho thấy tỉ lệ có dãn tĩnh mạch chân là 15,9%(10)

Suy tĩnh mạch chi dưới đã trở thành vấn đề

phổ biến tại Việt Nam với số lượng đến khám và

điều trị tại các cơ sở y tế về các vấn đề liên quan

đến bệnh tĩnh mạch chân ngày càng tăng Mặt

khác, xu hướng mới trong điều trị hiện nay trên

thế giới là ứng dụng các kỹ thuật điều trị xâm

lấn tối thiểu, mang tính hiệu quả và thẩm mỹ

cao, sử dụng các máy móc và thiết bị hiện đại

Đa số các cơ sở trên thế giới đều dần thực hiện

kỹ thuật đốt tĩnh mạch hiển bằng laser hoặc sóng siêu âm cao tần (RFA), thay thế cho kỹ thuật lột tĩnh mạch hiển kinh điển (stripping), vốn là kỹ thuật đang được thực hiện chủ yếu tại nước ta từ trước đến nay

Hiện nay, phương pháp laser nội tĩnh mạch

đã và đang thực hiện ở nhiều bệnh viện trong nước nhưng chưa có một nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của phương pháp này trong việc điều trị suy tĩnh mạch chi dưới tại Việt Nam Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả lâm sàng theo thang điểm VDS trong điều trị suy tĩnh mạch chi dưới bằng laser nội tĩnh mạch tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố

Hồ Chí Minh

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang, được thực hiện dựa trên dữ liệu hồi cứu từ 75 hồ sơ bệnh án thoả mãn các tiêu chí chọn mẫu tại Bệnh viện Đại học

Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 01/06/2017 đến 01/01/2018 Các thông tin được thu thập liên quan đến thông tin hành chính của

Trang 3

người bệnh, bệnh sử, triệu chứng lâm sàng và

cận lâm sàng, chẩn đoán, chỉ định phẫu thuật,

các tai biến, biến chứng xảy ra và theo dõi hồi

phục sau phẫu thuật

Tổng hợp và xử lý dữ liệu

Các đặc điểm về người bệnh và các đánh

giá hiệu quả lâm sàng được thể hiện thông qua

tần số và tỉ lệ phần trăm cho các biến định

tính, hoặc giá trị trung bình và độ lệch chuẩn

cho biến định lượng

Phép kiểm Student T được sử dụng để so

sánh 2 giá trị trung bình, có ý nghĩa thống kê

khi p <0,05

Dữ liệu được thống kê và xử lý với phần

mềm SPSS 20

KẾT QUẢ

Đặc điểm của người bệnh trong mẫu nghiên cứu

Trong 75 người bệnh được nghiên cứu, giới

tính nữ chiếm 76,0% Tuổi trung bình của mẫu

nghiên cứu là 54 tuổi và dao động từ 30 đến 85

tuổi Đa số người bệnh trong mẫu nghiên cứu

nằm ở độ tuổi từ 41 đến 70, chiếm tỉ lệ 76,0%

(Bảng 1) Việc đứng hay ngồi lâu trên 8 tiếng mỗi

ngày do tính chất công việc là yếu tố nguy cơ

phổ biến nhất trong mẫu nghiên cứu, với 82,6%

Đa số các trường hợp (93,3%) đều có triệu chứng

cơ năng của bệnh, trong đó có đến 82,7% người

bệnh mô tả triệu chứng đau đớn thực sự xảy ra

sau khi đứng lâu hoặc sau khi làm việc, đi lại

nhiều (Hình 1)

Đánh giá theo VDS, mức độ trung bình là

1,85 ± 0,53 và phần lớn các trường hợp nằm ở độ

2 (69,3%) Theo phân độ CEAP, mức độ trung

bình ghi nhận được là 2,3 ± 1,2 và đa số các

trường hợp nằm ở độ C2 (77,3%) (Bảng 1) Kết

quả siêu âm mạch máu chi dưới trước mổ cho

thấy tất cả các trường hợp đều có trào ngược

tĩnh mạch nông, trong đó 77,3% có biểu hiện

đồng thời tại tĩnh mạch sâu Ngoài ra, nghiên

cứu còn ghi nhận có 94,7% trào ngược tĩnh mạch

hiển lớn, 6,6% trào ngược tĩnh mạch hiển bé và

2,6% có trào ngược cả 2 tĩnh mạch (Hình 1)

Bảng 1 Thông tin người bệnh được điều trị suy tĩnh

mạch chi dưới bằng laser nội tĩnh mạch

Thông tin hành chính Giới tính

Tuổi

Phân độ VDS

Phân độ CEAP

Hình 1 Đặc điểm người bệnh được điều trị suy tĩnh mạch chi dưới bằng laser nội tĩnh mạch

Hiệu quả lâm sàng sau điều trị suy tĩnh mạch chi dưới bằng laser nội tĩnh mạch

Trong vòng 1 tuần đầu sau thủ thuật, có 63

người bệnh (84,0%) không đau hoặc đau ít

Trang 4

không đáng kể; 70 người bệnh (93,3%) có thể

bước xuống giường và đi lại nhẹ nhàng gần như

bình thường không cần hỗ trợ trong vòng 24 giờ

đầu; và 58 trường hợp (77,3%) có cải thiện rõ,

giảm các triệu chứng lâm sàng, giảm độ VDS

Khi tái khám sau 1 - 2 tuần, có 72 trường hợp

(96,0%) ghi nhận tĩnh mạch hiển tắc hoàn toàn

và không còn dòng chảy (Bảng 2)

Bảng 2 Đánh giá hiệu quả lâm sàng sau điều trị suy

tĩnh mạch chi dưới bằng laser nội tĩnh mạch

Tiêu chí đánh giá

Số lượng người bệnh

N = 75 (%)

Đau vùng vết mổ (1 tuần sau thủ thuật)

Thời điểm hồi phục đi lại sau thủ thuật

Cải thiện triệu chứng lâm sàng theo phân độ VDS

Cải thiện ít, không cải thiện hoặc không rõ

Hiệu quả tắc mạch của laser

Mức độ hài lòng của người bệnh

Hai tác dụng phụ được ghi nhận sau can

thiệp gồm cảm giác căng như dây thừng dọc

theo đường đi của tĩnh mạch hiển một thời

gian (98,0%) và tình trạng bầm máu do xuất

tiết dọc theo 2 bên của đoạn tĩnh mạch được

điều trị (95,0%); không trường hợp tai biến hay

xuất hiện biến chứng được ghi nhận sau điều

trị Đa số người bệnh (96,0%) hài lòng hoặc

tương đối hài lòng với kết quả điều trị do cải

thiện được các triệu chứng ở chân, thủ thuật

nhẹ nhàng, nhanh chóng, ít đau, mau hồi

phục, khá thẩm mỹ (Bảng 2)

BÀN LUẬN

Nghiên cứu đã nêu được các đặc điểm chính liên quan việc điều trị suy tĩnh mạch chi dưới bằng laser nội mạch và các đánh giá về hiệu quả lâm sàng sau can thiệp tại tại Bệnh viện Đại học

Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 01/06/2017 đến 01/01/2018

Kết quả cho thấy tỉ lệ người bệnh nữ chiếm 76,0%, gấp 3 lần so với nam giới Điều này tương đồng với nhiều nghiên cứu liên quan được thực hiện trên thế giới(5,14,18) Nhóm tuổi trung niên từ 40 đến 60 tuổi chiếm đa số với 52,0%, trong khi đó nhóm tuổi từ 60 trở lên lại chiếm tỉ lệ ít hơn (30,7%) Mặc dù tuổi tác là một yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của dãn tĩnh mạch(8), sự khác biệt có thể được giải thích

do nghiên cứu không được thiết kế thiên về dịch tễ học, với cỡ mẫu đủ lớn và được khảo sát đại trà trong cộng đồng Ngoài ra, nhóm bệnh lớn tuổi cũng thường bị các bệnh lý khác quan trọng hơn chi phối và có thể ít được lựa chọn để phẫu thuật hơn do có chống chỉ định

vì các bệnh lý nội khoa khác kèm theo

Phân loại CEAP được phát triển để phân biệt giữa các khía cạnh hình thái và chức năng của dãn tĩnh mạch Nghiên cứu ghi nhận phần lớn người bệnh (98,7%) nằm ở độ C2-C4, trong đó

độ C2 chiếm 77,3% Kết quả này tương tự với một nghiên cứu khác liên quan đến suy tĩnh mạch chi dưới(13) Không có chỉ định laser cho các trường hợp mức độ nhẹ, nên không ghi nhận độ C0 và C1 Phân độ VDS được dùng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của bệnh lý tĩnh mạch chi dưới lên chất lượng sống Theo đó, đa số các trường hợp nằm ở độ 2 (6,3%), nghĩa là phần lớn các trường hợp phụ thuộc vào điều trị nội khoa bảo tồn bằng thuốc và vớ áp lực Các triệu chứng

cơ năng ghi nhận trong nghiên cứu đều được

mô tả tương tự trong y văn(1), tuy nhiên, nhiều thống kê y học lại cho thấy không có hoặc có rất

ít mối liên quan giữa các triệu chứng cơ năng với

sự hiện diện và mức độ trầm trọng của tình trạng dãn tĩnh mạch(2,3,4) Nghiên cứu áp dụng

Trang 5

can thiệp cho các trường hơp có tĩnh mạch hiển

dãn có kích thước trên 5 mm, có dòng trào

ngược trên siêu âm và có triệu chứng lâm sàng

kèm theo Kết quả siêu âm trước mổ cho thấy

100% trường hợp có trào ngược tĩnh mạch nông,

trong đó 77,3% đồng thời trào ngược tĩnh mạch

sâu và 94,7% trào ngược tĩnh mạch hiển lớn

Đường kính trung bình ở quai và ở thân của tĩnh

mạch hiển lớn bị dãn lần lượt là 7,8  2,4 mm và

6,2  1,6 mm; tương ứng đối với trường hợp tĩnh

mạch hiển bé bị dãn là 6,3  1,2 mm và 5,4  0,3

mm Điều này phù hợp với chỉ định điều trị laser

nội tĩnh mạch cho những trường hợp dãn tĩnh

mạch được nêu ra trong nhiều nghiên cứu liên

quan(6,9,13,15)

Đánh giá tình trạng người bệnh sau can

thiệp, nghiên cứu ghi nhận có 84,0% các trường

hợp cảm thấy đau ít, không đáng kể, có thể sinh

hoạt và đi lại dễ dàng sau mổ và không có

trường hợp nào đau nhiều sau mổ, cần hỗ trợ

trong đi lại và sinh hoạt trong những ngày đầu

Có 95,0% trường hợp có tình trạng xuất huyết da

khu trú dọc theo đường đi của tĩnh mạch hiển bị

đốt do sự xuất tiết của máu ra mô xung quanh

qua các lỗ thủng trên thành tĩnh mạch được tạo

ra khi phát tia laser(6,7,17) Triệu chứng bầm máu

sẽ giảm dần và biến mất sau 1 – 2 tuần, do đó

người bệnh cần được giải thích rõ ràng trước và

sau điều trị Kết quả cho thấy có 70 trường hợp

(93,3%) người bệnh có thể bước xuống giường

và đi lại nhẹ nhàng gần như bình thường không

cần hỗ trợ trong vòng 24 giờ đầu sau thủ thuật

Với lợi điểm ít xâm lấn, phương pháp điều trị

laser nội tĩnh mạch làm giảm số ngày nằm viện

và số ngày điều trị đáng kể, đây được xem như

một ưu điểm nổi trội so với phương pháp phẫu

thuật kinh điển(6,7,15,17) Liên quan đến hiệu quả

tắc mạch của laser, không phát hiện trường hợp

nào có huyết khối gây tắc tĩnh mạch đùi hoặc

còn dòng chảy trên một đoạn dài; 72 trường hợp

(96,0%) được ghi nhận tắc hoàn toàn tĩnh mạch

hiển lớn trên toàn bộ chiều dài được đốt bằng

laser Kết quả điều trị này tương đồng với một

số nghiên cứu nước ngoài(9,13,17) cho thấy hiệu quả

tắc mạch đáng kể của phương pháp laser nội tĩnh mạch Nghiên cứu cũng ghi nhận có 58 trường hợp (77,3%) có cải thiện rõ rệt các triệu chứng lâm sàng và giảm độ VDS với mức khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05) Đối với 17 trường hợp (22,7%) cải thiện không nhiều, dưới 50%, hoặc không rõ lắm khi được hỏi, suy tĩnh mạch sâu lại là chủ yếu Để khắc phục, người bệnh được tiếp tục điều trị bằng băng ép và các thuốc hướng tĩnh mạch sau khi can thiệp bằng phương pháp laser nội tĩnh mạch

KẾT LUẬN

Nghiên cứu đã cho thấy những hiệu quả lâm sàng đạt được và mức độ hài lòng cao của người bệnh khi được điều trị suy tĩnh mạch chi dưới bằng laser nội tĩnh mạch tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 01/06/2017 đến 01/01/2018 Các kết quả thu được

từ nghiên cứu là căn cứ khoa học để Bệnh viện duy trì, mở rộng việc ứng dụng phương pháp laser nội tĩnh mạch, cũng như phát triển các kỹ thuật điều trị khác hiện đại, tiên tiến, có độ an toàn cao và ít biến chứng, giúp nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng chăm sóc sức khoẻ

cho người dân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Andrew B, Vaughan R (2009) Clinical presentation and

assessment of patients with venous disease Handbook of Venous

disorders 3rd edition, pp.331

2 Bradbury AW, Evans CJ, Allan PL (1999) "What are the symptoms of varicose veins? Edinburgh vein study cross

sectional population survey" British Med Journal, pp.353

3 Bradbury AW, Ruckley CV (1998) "Venous reflux and chronic

venous insufficiency" Practical Vascular Surgery, Stamford:

Appleton and Lange, pp.475

4 Bradbury AW, Ruckley CV (1998) "Venous symptoms and signs and the results of duplex ultrasound: do they agree?" The

Epidemiology and Management of venous disease, London

Springer Verlag

5 Criqui MH, Jamosmos JM, Fronek AT (2003) "Chronic venous disease in an ethnically diverse population: the San Diego

population study " Am J Epidemiol, pp.448

6 Darwood RJ, Gough MJ (2009) "Endovenous laser treatment for

uncomplicated varicose veins" Phlebology, 25(1):50-61

7 De Medeiros CAF, Luccas GC (2005) "Comparison of Endovenous Treatment with an 810 nm Laser versus Conventional Stripping of the Great Saphenous Vein in Patients

with Primary Varicose Veins" Dermatologic Surgery,

31:1685-1694

Trang 6

8 Eberhard R, Felizitas P (2009) Epidemiology of chronic venous

disorders Handbook of Venous disorders 3rd edition AVF, pp.105

9 Navarro L, Min RJ, Boné C (2001) "Endovenous Laser:A new

minimally invasive method of treatment for varicose vein -

Preliminary Observations Using an 810 nm Diode Laser"

Dermatologic Surgery, 27(2):117-122

10 Nguyễn Hoài Nam, Lê Phi Long (2007) "Kết quả điều trị ngoại

khoa dãn tĩnh mạch chi dưới mạn tính" Y học TP Hồ Chí Minh,

pp.422

11 Pappas PJ, Lal BK (2009) Pathogenesis of varicose veins and

cellular pathophysiology of chronic venous insufficiecy

Handbook of Venous disorders 3rd edition AVF, pp.56

12 Porter JM (1995) "International Concensus Committee on

chronic venous disease – Reporting standards in venous disease

: An update" J Vasc Surg, pp.21

13 Puggioni A, Kalra M, Carmo M, Mozes G, Gloviczki P (2005)

"Endovenous laser therapy and radiofrequency ablation of the

great saphenous vein: analysis of early efficacy and

complication" J Vasc Surg, 42(3):488-493

14 Puggioni A, Marks N (2009) "The safety of radiofrequency

ablation of the great saphenous vein in patients with previous

venous thrombosis" J Vasc Surg, pp.1248

15 Phan Thanh Hải, Nguyễn Văn Việt Thành, Hồ Khánh Đức (2010) "Điều trị suy tĩnh mạch nông chi dưới bằng phương

pháp laser nội tĩnh mạch với laser diode bước sóng 810 mm" Y

học TP Hồ Chí Minh, 14 (1):168-173

16 Rabe E, Pannier Fischer F, Bromen K (2003) "Bonn Vein Study

of the German Society for Phlebology - Epidemiological investigation using the questionaires for the incidence ofchronic

venous disease in the urban and rural population" Phlebologie,

pp.14

17 Rasmussen LH, Bjoern L, Lawaetz M, Blemings A, Lawaetz B, Eklof B (2007) "Randomized trial comparing endovenous laser ablation of the great saphenous vein with high ligation and

stripping in patients with varicose veins: short-term results" J

Vasc Surg, 46(2):308-315

18 Ravi R, Trayler EA, Barrett DA (2009) "Endovenous thermal ablation of superficial venous insufficiency of the lower extremity: single-center experience with 3000 limbs treated in a

7-year period" J Endovasc Ther, pp.500

Ngày nhận bài báo: 30/07/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/08/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/10/2019

Ngày đăng: 24/10/2020, 10:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm