1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ của viêm não do virus Herpes Simplex

8 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viêm não do virus Herpes simplex (HSE) là một nhiễm trùng thần kinh cấp tính nặng, tỉ lệ tử vong cao và để lại nhiều di chứng nặng nề. Cộng hưởng từ (CHT) có thể giúp chẩn đoán sớm HSE để điều trị sớm, cải thiện tỉ lệ tử vong. Mô tả đặc điểm hình ảnh của HSE trên CHT sọ não và đánh giá vai trò của chuỗi xung khuếch tán trong chẩn đoán HSE.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CỘNG HƯỞNG TỪ CỦA VIÊM NÃO

DO VIRUS HERPES SIMPLEX

Nguyễn Đình Nguyện*, Lê Văn Phước**, Đỗ Hải Thanh Anh ***

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Viêm não do virus Herpes simplex (HSE) là một nhiễm trùng thần kinh cấp tính nặng, tỉ lệ tử

vong cao và để lại nhiều di chứng nặng nề Cộng hưởng từ (CHT) có thể giúp chẩn đoán sớm HSE để điều trị sớm, cải thiện tỉ lệ tử vong

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh của HSE trên CHT sọ não và đánh giá vai trò của chuỗi xung khuếch

tán trong chẩn đoán HSE

Đối tượng và phương pháp: 31 bệnh nhân HSE điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 1/1/2013 đến 31/3/2018

có chụp CHT sọ não Phương pháp: Mô tả cắt ngang đặc điểm hình ảnh

Kết quả: Tuổi trung bình 46,06 (25 – 82 tuổi), nam/nữ = 1,3/1 Cả 31 trường hợp (100%) có viêm thùy thái

dương, 21 trường hợp (71%) có viêm thùy đảo, 20 tường hợp (64,5%) có viêm thùy trán Tín hiệu hình ảnh của vùng viêm đơn thuần thấp trên T1W, cao trên T2W, FLAIR và DWI Các chuỗi xung T2W, FLAIR và DWI đều phát hiện được hầu hết các tổn thương, tuy nhiên chuỗi xung DWI phát hiện tổn thương ở mức tín hiệu “rất rõ” với tỉ lệ cao (93,5%)

Kết luận: Thùy thái dựơng là vị trí thựờng gặp trong HSE Chuỗi xung DWI có giá trị nhất trong chẩn

đóan HSE

Từ khoá: viêm não do virus Herpes simplex (HSE)

ABSTRACT

MAGNETIC RESONANCE IMAGING CHARACTERIZATION OF ENCEPHALITIS BY HERPES

SIMPLEX VIRUS

Nguyen Dinh Nguyen, Le Van Phuoc, Đo Hai Thanh Anh

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 1- 2019: 09-16

Background: Herpes simplex virus encephalitis (HSE) is a severe acute neurological infection, high

mortality and severe sequelae Magnetic resonance imaging can help diagnose early HSE for early treatment, improving mortality

Objective: Describe the image characteristics of HSE on MRI and evaluate the role of diffuse sequence

in HSE diagnostics

Subjects and methods: 31 patients with HSE, diagnosed and treated at Cho Ray hospital, between

1/1/2013 and 31/03/2018, were included in this study This study is a retrospective analysis, Cross-sectional

description of image characteristics

Results: Average age 46.06 (25 - 82 years), male / female = 1.3 / 1 In all 31 cases (100%) with temporal

lobe disease, 21 cases (71%) had insula lobe, 20 cases (64.5%) had frontal lobe disease Visual signal of the low-level inflammatory region on T1W, high on T2-weighted, FLAIR and DWI T2W, FLAIR and DWI pulse sequences detect most of the lesions, but the DWI pulse series detects lesions at a "very clear" signal

*Khoa Chẩn đoán Hình Ảnh, Bệnh viện Đa khoa Thiên Hạnh

**Khoa Chẩn đoán Hình Ảnh, Bệnh viện Chợ Rẫy

Trang 2

level (93.5%)

Conclusions: Temporal lobe is a common occurrence in HSE DWI sequence is most valuable in HSE

diagnostics

Keyword: herpes simplex virus encephalitis (HSE)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm não do virus Herpes simplex (HSE) là

bệnh lý nhiễm trùng thần kinh cấp tính, xảy ra

rải rác, gây tử vong ở người lớn HSE chiếm

khoảng 10% đến 20% của tất cả các viêm não do

virus, với tỉ lệ mắc hàng năm là 1/250.000 đến

500.000

Biểu hiện lâm sàng là hội chứng não cấp

gồm: sốt, đau đầu, cổ cứng, thay đổi tính cách,

suy giảm ý thức đột ngột, động kinh cục bộ hoặc

toàn thể, các dấu hiệu thần kinh khu trú như yếu

liệt, bất thường về cảm giác, mất ngôn ngữ,

khiếm khuyết thị giác hoặc liệt dây thần kinh sọ

Viêm não do HSV (Herpes simplex virus) có tỉ

lệ tử vong khoảng 70% nếu không được điều trị,

trường hợp điều trị kịp thời thì tỉ lệ tử vong

cũng khoảng 19% và hơn 50% số trường hợp

sống sót có sự thiếu sót thần kinh mức độ vừa

đến nặng, tỉ lệ phục hồi hoàn toàn sau viêm não

không quá 3%(2,3,14)

Xét nghiệm Polymerase Chain Reaction

(PCR) dịch não tủy có độ nhạy là 98%, độ đặc

hiệu là 94%, giá trị tiên đoán dương là 95%,

giá trị tiên đoán âm là 98% và được xem là tiêu

chuẩn vàng thay thế cho sinh thiết não trước

kết quả có được thường chậm, sau vài ngày

(2-7 ngày)(19) và chỉ có ít trung tâm lớn mới thực

hiện được

X quang cắt lớp vi tính (XQCLVT) mặc dù

phổ biến, thời gian chụp nhanh, nhưng hình ảnh

XQCLVT sọ não có độ nhạy thấp và độ đặc hiệu

không cao XQCLVT thường âm tính trong hơn

25% trường hợp nếu chụp trong tuần lễ thứ nhất

kể từ khi bệnh khởi phát Hình ảnh cộng hưởng

từ (CHT) là một kỹ thuật có giá trị, được xem

như lựa chọn đầu tay trong chẩn đoán bệnh

viêm não do Herpes simplex Kỹ thuật CHT, đặc

biệt khi kết hợp với CHT khuếch tán sẽ nhạy

hơn trong phát hiện các thay đổi sớm ở não, chỉ trong vòng vài giờ kể từ lúc phát bệnh(2,4)

Vì vậy, để góp phần vào việc nghiên cứu vai trò của hình ảnh CHT trong chẩn đoán viêm não

do virus Herpes simplex, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm hình ảnh cộng

hưởng từ của viêm não do virus Herpes simplex”

với hai mục tiêu cụ thể sau:

Mô tả đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ của viêm não do virus Herpes simplex

Đánh giá vai trò của chuỗi xung khuếch tán

trong chẩn đoán viêm não do virus Herpes

simplex

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang Tiêu chuẩn chọn mẫu là các bệnh nhân (BN) được chẩn đoan ra viện HSE và có kết quả xét nghiệm PCR dương tính với HSV và có chụp CHT sọ não điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 1/1/2013 đến 31/3/2018 Loại trừ những BN chụp không

đủ các chuỗi xung T1W, T2W, FLAIR và DWI hoặc hình bị xảo ảnh

Phương pháp tiến hành

Từ danh sách BN chẩn đóan ra viện HSE, đọc hồ sơ để lọc ra những bệnh nhân thỏa điều kiện nghiên cứu

Kỹ thuật chụp

Tất cả bệnh nhân được chụp bằng máy Máy CHT 1.5 và 3.5 Tesla tại khoa Chẩn đoán hình ảnh – bệnh viện Chợ Rẫy, có hoặc không tiêm chất tương phản

Các chuỗi xung thường quy trong khảo sát

sọ não với cuộn thu vùng đầu, bao gồm: T1W, T2W, FLAIR, T2-GRE và T1W +G Các thông số chụp như sau:

T1W: TR: 500, TE: 11, độ dày lát cắt 5mm, khoảng cách 1,5 mm, trường khảo sát (FOV):

173 x 230 mm và ma trận ảnh 144 x 322

Trang 3

Hình T2W: TR: 3550, TE: 97, độ dày lát cắt

5mm, khoảng cách 2,5 mm, trường khảo sát

(FOV): 230x230 mm và ma trận ảnh 256x256

Hình FLAIR: TI: 2500, TE: 98, TR: 8500

mm, độ dày lát cắt 5mm, khoảng cách 2.5 mm,

trường khảo sát (FOV): 173 x 230 mm và ma

trận ảnh 268 x 512

Hình T2-GRE: TR: 800, TE: 26, độ dày lát cắt

5mm, khoảng cách 2.5 mm, trường khảo sát

(FOV): 173 x 230 mm và ma trận ảnh 144 x 256

Các thông số khảo sát cộng hưởng từ

khuếch tán:

TR: 3000, TE: 94, độ dày lát cắt 5mm, khoảng

cách 2,5 mm, trường khảo sát (FOV): 173 x 230

mm và ma trận ảnh 154 x 192,

Dãi tần số 1294, độ chênh từ 22 mT, độ

chênh từ kéo dài 31 ms và khoảng cách chênh 42

ms ở ba hướng không gian,

Hình DWI thu được ở các giá trị b = 0, 500,

1000 bằng chuỗi xung EPI, kỹ thuật xóa mỡ đặt

trước các chuỗi xung khảo sát,

Hình ảnh bản đồ ADC được tính toán theo

phần mềm của máy và hiển thị đồng thời sau

khi nhận các hình DWI với giá trị b = 1000

Những đặc điểm được mô tả bao gồm một

số đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

(tuổi, giới, lý do vào viện) và các đặc điểm trên

CHT bao gồm: vị trí, tín hiệu, mức độ tín hiệu

(không rõ, khá rõ và rất rõ), đặc điểm bắt

thuốc tương phản, xuất huyết, giá trị hệ số

khuếch tán biểu kiến

Phân tích thống kê

Nhập và phân tích số liệu bằng excel 2010 và

phần mềm SPSS 20

Các biến số định tính được mô tả bằng tần

số, tỉ lệ phần trăm Tính trung bình và độ lệch

chuẩn cho biến định lượng có phân phối bình

thường, trung vị và khoảng tứ vị cho biến định

lượng phân phối không bình thường

So sánh hai trung bình bằng phép kiểm t, xác

định mối liên quan giữa hai yếu tố sử dụng

phép kiểm chính xác Fisher Các phép kiểm

được xem là có ý nghĩa thống kê khi P < 0,05

KẾT QUẢ

Đặc điểm chung

Trong 31 BN của mẫu nghiên cứu, tuổi trung bình là 46,06  2,83 (25 – 82 tuổi) với 18 (58,1%)

BN nam và 13 (41,9%) BN nữ Hầu hết BN nhập viện vì có suy giảm ý thức (93,6%)

Đặc điểm về vị trí

Tổn thương thùy thái dương gặp trong 100% trường hợp (1 bên 38,7% và 2 bên 61,3%), thùy đảo 71% (1 bên 40,9%, 2 bên 50,1%) và thùy trán 64,5% (1 bên 35% và 2 bên 65%), thùy chẩm 12,9% và các vị trí khác 16,1%

Đặc điểm về tín hiệu

Trên chuỗi xung T1W tổn thương giảm tín hiệu chiếm 77,4%, đồng tín hiệu là 22,6% Trên các chuỗi xung T2W, FLAIR và DWI: các tổn thương đều tăng tín hiệu

Đặc điểm bắt thuốc tương phản

Nhu mô có bắt thuốc tương phản là 13/30 (43,3%) và 17/30 (56,7%) không bắt thuốc tương phản Trong đó bắ thuốc dạng đám 69,2%, dạng lấm tấm 30,85

Màng não có bắt thuốc tương phản 16/30 (53,3%) và 14/30 (46,7%) không bắt thuốc tương phản

Đặc điểm xuất huyết

Có 6/31 (19,4%) xuất huyết và 25/31 (80,6%) không xuất huyết

Mức độ phát hiện tổn thương trên các chuỗi xung

Trên chuỗi xung T1W thì: Tỉ lệ tổn thương thấy không rõ là 35,5%, thấy khá rõ là 58% và rất

rõ là 6,5%

Trên chuỗi xung T2W thì: Tỉ lệ thấy khá rõ là 74,2%, thấy rất rõ là 25,8%

Trên chuỗi xung FLAIR thì: Tỉ lệ thấy tổn thương khá rõ là 25,8%, thấy rất rõ là 74,2% Trên trên DWI thì: tỉ lệ thấy khá rõ tổn thương là 6,5% và thấy rất rõ là 93,5%

Hệ số khuếch tán biểu

Hệ số khuếch tán biểu kiến trung bình của

mô não viêm là 0,540 ± 0,110 x 103 mm2/s thấp

Trang 4

hơn mô não bình thường 0,830 ± 0,080 x 103

mm2/s, khác biệt có ý nghĩa thống kê với hệ số

p<0,001

BÀN LUẬN

Vị trí viêm não

Viêm thuỳ thái dương

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi gặp

trong 100% trường hợp, tỉ lệ này tương đồng với

kết quả của các tác giả khác như Dagsdóttir HM

và cs(4) là 96%, của Sili U và cs(17) 100%, của

Granerod J và cs(7) 93% Tỉ lệ này cao hơn không

nhiều các nghiên cứu khác của Domingues RB

và cs(6) tổn thương thuỳ thái dương là 77,78%, tỉ

lệ này cũng cao hơn tỉ lệ tổn thương thuỳ thái

dương trong một báo khá sớm về CHT là nghiên

cứu của Demaerel PH và cộng sự năm 1992(5)

thì tổn thương thuỳ thái dương gặp trong 62,5%

(Bảng 1, Hình 1)

Viêm thuỳ thái dương hai bên (mũi tên),

tín hiệu cao trên các chuỗi xung FLAIR (A) và

DWI (D), bắt thuốc tượng phản dạng đám trên

hình T1W+Gd (B) ở thùy thái dương phải, giá

trị ADC thấp tương ứng vị trí tổn thương (mũi

tên hình C) Nguồn Bn Trần Văn B, SHS:

2160094273

Tổn thương thùy thái dương một bên trong

nghiên cứu của chúng tôi là có 38,7% và tổn

thương ở cả hai bên là 61,3% Trong khi đó

nghiên cứu của Dagsdóttir H.M và cs thì tổn

thương một bên thuỳ thái dương là 79% và tổn

thương cả hai bên chỉ có 21%(4), sự khác biệt này

cũng có thể giải thích là do tình trạng nhập viện

muộn nên đã làm tổn thương lan rộng Nghiên

cứu của Demaerel PH và cs(5), cũng ghi nhận tổn

thương thuỳ thái dương một bên gặp trong

62,5% và và tổn thương cả hai bên thuỳ thái

dương là 37,5% Theo y văn tổn thương thuỳ

thái dương một bên là thường gặp hơn hai bên

Hiện tượng này phù hợp với cơ chế lây lan nội

sọ dọc theo các nhánh màng não của dây thần

kinh sinh ba cùng bên Tuy nhiên, theo thời gian sau đó tổn thương có thể mở rộng ra các vùng khác của não như thuỳ trán, thuỳ đảo, vùng hạch nền(3,10) Tỉ lệ viêm thùy thái dương 2 bên trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn 1 bên có thể giải thích do các bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi có thời gian vào viện cũng như thời gian được chụp CHT kể từ khi bệnh khởi phát là khá muộn, vì vậy đã làm tổn thương lan rộng ra những vùng khác

Viêm thuỳ trán

Viêm thuỳ trán nói chung trong nghiên cứu của chúng tôi là 64,5% Tỉ lệ này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Demaerel PH và cs(5) là 62,5%, nhưng thấp hơn nghiên cứu của Granerod J và cs(7) viêm thuỳ trán gặp trong 100% trường hợp Như vậy, viêm thuỳ trán cũng là một dấu hiệu thường thấy trong HSE, nó phù hợp với cơ chế bệnh sinh của HSE là virus lây lan dọc theo dây thần kinh trán (một nhánh của dây thần kinh sinh ba)(11) (Hình 2)

Viêm thuỳ trán 2 bên gặp nhiều hơn thuỳ trán 1 bên, chiếm 65%, trong đó chủ yếu là viêm thùy trán dưới (95%)

Viêm thuỳ đảo

Viêm thuỳ đảo trong nghiên cứu của chúng tôi là 71%, trong đó 1 bên là 40,9% và 2 bên chiếm 59,1% Qua đó chúng tôi nhận thấy, tổn thương thùy đảo cũng là một dấu hiệu thường

gặp trong viêm não do virus Herpes simplex (Hình 3)

Viêm thùy chẩm

Viêm thùy chẩm trong nghiên cứu của chúng tôi gặp 4/31 (12,9%) Mặc dù tổn viêm thùy chẩm không thường gặp trong HSE, tuy nhiên qua nghiên cứu này chúng tôi nhận thấy thùy chẩm cũng có thể bị tổn thương trong viêm

não do HSV (Hình 4)

Bảng 1 So sánh viêm thuỳ thái dương

Tác giả Chúng tôi Dagsdóttir Uluhan Granerod Domingues Demaerel

Thuỳ thái dương 100% 96% 100% 93% 77,7% 62,5%

Trang 5

Hình 1: Viêm thùy thái dương 2 bên do HSV

Hình 2: Viêm thuỳ trán hai bên (mũi tên trắng) và thùy đảo hai bên (mũi tên đen), tín hiệu cao trên các hình

FLAIR (A) và DWI (C), không bắt tượng phản trên hình T1W+Gd (B), giá trị ADC thấp trên hình ADC (D) tại

vị trí tương ứng (mũi tên) Nguồn BN Trương Hương N, SHS: 2170097275

Hình 3 Viêm thùy thái dương phải (đầu mũi tên), thùy trán hai bên (mũi tên đen), thùy đảo hai bên (mũi tên

trắng), thùy chẩm phải (mũi tên xanh) tín hiệu cao trên các hình FLAIR (A) và hình DWI (C), không bắt thuốc tương phản trên hình T1W+Gd (B), giá trị ADC thấp đo ở thùy chẩm phải (mũi tên) trên hình ADC (D)

Nguồn BN Rơ ông Ha N, SHS: 2160057301

Hình 4 Viêm thuỳ đảo phải

Trang 6

Các vị trí khác

Chúng tôi gặp 5 trường hợp (16,1%) có tổn

thương các vị trí khác ngoài các vị trí đã mô tả

ở trên, cụ thể là: 2 trường hợp có tổn thương

nhân bèo, 2 trường hợp tổn thương đồi thị và 1

trường hợp tổn thương thể chai Như vậy, tổn

thương não trong HSE ngoài vị trí hay gặp là ở

thuỳ thái dương và thuỳ trán và thuỳ đảo thì

cũng có thể gặp tại các vị trí khác như vùng

nhân xám, thể chai, … với tỉ lệ thấp hơn

Viêm thuỳ đảo phải (mũi tên dài) và nhân

bèo phải (mũi tên ngắn), tín hiệu cao trên hình

FLAIR (A), DWI (C), không bắt tương phản

trên T1W + Gd (B), giá trị ADC thấp đo trên

hình ADC (D) tại vị trí tổn thương nhân bèo

phải (mũi tên) Nguồn BN Phạm Văn L, SHS:

2170005928

Trên thế giới cũng có nhiều báo cáo trường

hợp tổn thương HSE ngoài thuỳ thái dương

(không kèm tổn thương thuỳ thái dương), ví

dụ báo cáo của Tsuboguchi S và cs(18), HSE vỏ

não thuỳ đỉnh trái và được chẩn đoán nhầm là

nhồi máu não hay báo cáo của Haggiag S và

cs(8) HSE thuỳ đỉnh bên phải Theo đó, các tác

giả này lưu ý rằng trên những bệnh nhân suy

giảm miễn dịch cần được cảnh giác ở mức cao

với HSE nếu có sốt và có tổn thương não ngoài

thuỳ thái dương

Tuy nhiên, trong mẫu nghiên cứu của

chúng tôi không có trường hợp nào tổn thương

ngoài thuỳ thái dương đơn độc, nên tất cả đều

được chẩn đoán HSE ngay trong lần chụp CHT

đầu tiên

Về đặc điểm tín hiệu

Đa số vùng viêm giảm tín hiệu trên T1W,

tăng trên T2W, FLAIR và DWI Đặc điểm này

phù hợp với hiện tượng phù viêm, gây độc tế

bào làm tích tụ nước tại khu vực tổn thương

Tuy nhiên, đặc điểm hình ảnh này không

đặc hiệu cho viêm não do HSV vì cũng có thể

gặp trong bất kỳ tình huống nào có hiện tượng

viêm phù hoặc tích tụ nước Ví dụ trong một số

loại viêm não do các nguyên nhân khác như

viêm não hệ viền, viêm não do virus

Epstein-Barr, viêm não do virus Varicella-Zoster, bệnh

viêm não Herpesvirus 6 ở người, nhồi máu não, u não hay chấn thương, … do đó các chẩn đóan phân biệt nên luôn được đặt ra

Đặc điểm bắt thuốc tương phản

Bắt thuốc nhu mô gặp 13/30 (43,3%) trường hợp và 16/30 (53,3%) trường hợp có bắt thuốc màng não Như vậy tổn thương bắt thuốc tựơng phản có thể có hoặc không tùy thuộc vào mức độ tổn thương phá hủy hàng rào mạch máu não(12) Nghiên cứu của Demaerel PH và

cs(5) là 50% Tuy nhiên nghiên cứu của các tác giả này không đề cập thời gian từ khi khởi phát đến lúc được chụp cộng hưởng từ là bao nhiêu ngày nên chúng tôi không có dữ kiện cụ thể về thời gian để so sánh Thời gian trung bình kể từ lúc khởi phát đến khi được chụp cộng hưởng

từ trong nghiên cứu của chúng tôi là 9,68 ± 3,98 ngày, đây là thời gian có thể có hiện tượng hoại

tử xuất huyết xảy ra(3,12)

Mức độ phát hiện tổn thương trên các chuỗi xung

Hơn 2/3 số tổn thương giảm tín hiệu có thể được nhìn thấy trên T1W và 1/3 số tổn thương không được nhìn thấy trên T1W hoặc thấy không rõ ràng Trong khi đó các chuỗi xung T2W, FlAIR và DWI đều phát hiện được hầu hết các tổn thương với tỉ lệ cao

Sự khác nhau về tỉ lệ phát hiện tổn thương giữa T1W với các chuỗi xung khác có

ý nghĩa thống kê với p < 0,01; sự khác nhau

về tỉ lệ phát hiện tổn thương giữa các chuỗi xung T2W và FLAIR, T2W và DWI có ý nghĩa thống kê, với p < 0,01 Nhưng sự khác nhau

về tỉ lệ phát hiện tổn thương giữa FLAIR và DWI không có ý nghĩa thống kê, với p=0,081>0,05

Tỉ lệ này không khác nhiều so với nghiên cứu của Granerod J và cs(7), của Misra UK và

cs(13) và của Hatipoğlu HG và cs(9), theo đó tỉ

lệ phát hiện tổn thương vỏ não thuỳ thái dương và thuỳ trán trên các chuỗi xung T2W, FlAIR và DWI là hơn 90%

Trang 7

Hình 5: Viêm, xuất huyết thái dương trái (mũi tên) tín hiệu cao nhẹ trên T1W, thấp và cao trên T2W và thấp

đen trên GRE trái qua: hình T1W, T2W và GRE Nguồn Bn Nguyễn Lê Duy H, SHS:2180003207

Hình 6: Viêm thuỳ đảo trái (mũi tên), hầu như không rõ trên hình T1W(A); thấy khá rõ trên hình T2W (B) và

rất rõ trên FLAIR (C) và DWI (D) Nguồn Bn Trần Thị H SHS: 2160049373

Giá trị hệ số khuếch tán biểu kiến

Hệ số khuếch tán biểu kiến trung bình của

mô não viêm trong nghiên cứu của chúng tôi

là 0,540 ± 0,110 x 103 mm2/s

Giá trị này tương đương với kết quả

nghiên cứu của tác giả Sawlani V(15) Trong

nghiên cứu này, tác giả xác định được giá trị

ADC của nhóm bệnh nhân HSE chụp cộng

hưởng từ từ ngày thứ 6 đến ngày thứ 10 của

bệnh là 0,490±0,063 x 103 mm2/s Đây cũng là

thời gian tương đương thời gian được chụp

cộng hưởng từ trong mẫu nghiên cứu của

chúng tôi Giá trị ADC của chúng tôi cũng cao

hơn không không nhiều so với nghiên cứu của

Sener RN(16) là 0,410 ±0,150 x 103 mm2/s Sự

khác biệt này không lớn và có thể giải thích do

sai số trong kỹ thuật tính toán và có thể khác

nhau về chủng tộc

Bảng 2 So sánh giá trị ADC

Tác giả Chúng tôi Sawlani V Sener R.N

ADC (x103

mm2/s) 0,540 ±0,110 0,490 ±0,063 0,410 ±0,150

KẾT LUẬN

Thùy thái dương là vị trí thường gặp trong

viêm não do virus Herpes simplex, tiếp theo là

thùy đảo và thùy trán cũng là vị trí có thể gặp, hai bên thựờng gặp hơn một bên

Các tổn thương viêm đa số có tín hiệu thấp trên T1W, cao trên T2W, FLAIR và DWI Các tổn thựơng xuất huyết và bắt thuốc tương phản từ là không thường thấy, gặp trong ít hơn 50%

Các chuỗi xung T2W, FLAIR và DWI đều có thể phát hiện được hầu hết các tổn thựơng, tuy nhiên chuỗi xung DWI tỏ ra vượt trội hơn các chuỗi xung còn lại về mức độ phát hiện tổn thựơng

Hệ số khuếch tán biểu kiến mô não viêm là

là 0,540 ±0,110 x103 mm2/s thấp hơn mô não lành

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Baringer JR (2008) "Herpes Simplex Infections of the Nervous

System" Neurologic Clinics, 26(3):pp.657–674

2 Bloch KC et al (2017) "Encephalitis and Myelitis" Mosby,

1:pp.189-199

3 Bulakbasi NKM (2008) "Central Nervous System Infections of

Herpesvirus Family" Neuroimaging clinics of North America,

18(1):pp 53 – 84

4 Dagsdóttir HM et al (2014) "Herpes simplex encephalitis in

Iceland 1987-2011" Springer Plus, 3:pp 524

5 Demaerel PH et al (1992) "MRI of herpes simplex

encephalitis" Neuroradiology, 34(6):pp 490-493

6 Domingues RB et al (1998) "Diagnosis of herpes simplex

encephalitis by magnetic resonance imaging and polymerase

chain reaction assay of cerebrospinal fluid" Journal of the

Neurological Sciences, 157(2):pp.148-153

7 Granerod J et al (2016) "Neuroimaging in encephalitis:

analysis of imaging findings and interobserver agreement"

Clinical radiology, 71(10):pp.1050-1058

8 Haggiag S et al (2016) "Extratemporal herpes encephalitis

during natalizumab treatment: A case report" Multiple

Sclerosis and Related Disorders, 10:pp 134-136

9 Hatipoğlu HG et al (2008) "Magnetic resonance and

diffusion-weighted imaging findings of herpes simplex

encephalitis" The journal of the IHMF, 15(1):pp.13-17

10 Kennedy PG et al (2002) "Herpes simplex encephalitis"

Journal of Neurology, Neurosurgery and Psychiatry, 73(3):pp 237-238

11 Lê Văn Cường (2006) Giải phẫu học tập 1 Nhà xuất bản Y học

TP Hồ Chí Minh, tr.460-466

12 Lê văn Phước (2011) Cộng hưởng từ sọ não Nhà xuất bản Y

học TP Hồ Chí Minh, tr 7-55, 113-122

13 Misra UK et al (2010) "Usefulness of various MRI sequences

in the diagnosis of viral encephalitis" Acta tropica,

116(3):pp.206-211

14 Piquet AL, Cho TA (2016) "The Clinical Approach to

Encephalitis" Current Neurology and Neuroscience Reports,

16(5):pp.45

15 Sawlani V (2009) "Diffusion-weighted imaging and apparent diffusion coefficient evaluation of herpes simplex encephalitis

and Japanese encephalitis" Journal of the Neurological Sciences,

287(1-2):pp.221–226

16 Sener RN (2001) "Herpes simplex encephalitis: diffusion MR

imaging findings" Computerized Medical Imaging and Graphics,

25(5):pp.391-397

17 Sili U et al (2014) "Herpes simplex virus encephalitis: Clinical manifestations, diagnosis and outcome in 106 adult patients"

Journal of Clinical Virology, 60(2):pp.112-118

18 Tsuboguchi S et al (2017) "Herpes simplex encephalitis presenting as stroke-like symptoms with atypical MRI findings and lacking cerebrospinal fluid pleocytosis" Rinsho shinkeigaku, 57(7):pp.387-390

19 Vũ Anh Nhị (2015) "Điều trị bệnh thần kinh" Nhà xuất bản đại

học quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr.616-620

Ngày nhận bài báo: 08/11/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 07/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 24/10/2020, 10:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w