1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm hình ảnh bó tháp trên “Diffusion Tensor Imaging” của người bình thường và các thay đổi trong nhồi máu não cấp

8 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 585,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cộng hưởng từ khuếch tán theo hướng là phương pháp không xâm lấn không những giúp mô tả tính toàn vẹn của bó tháp mà còn giúp mô tả những thay đổi trong nhồi máu não cấp. Nghiên cứu đặc điểm bó tháp ở người bình thường và các thay đổi trong tổn thương nhồi máu não cấp dựa trên kỹ thuật cộng hưởng từ khuếch tán theo hướng (DTI).

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH BÓ THÁP TRÊN “DIFFUSION TENSOR IMAGING”

CỦA NGƯỜI BÌNH THƯỜNG VÀ CÁC THAY ĐỔI

TRONG NHỒI MÁU NÃO CẤP

Nguyễn Thị Thanh Hoa*, Lê Văn Phước**, Lâm Thanh Ngọc*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Cộng hưởng từ khuếch tán theo hướng là phương pháp không xâm lấn không những giúp mô

tả tính toàn vẹn của bó tháp mà còn giúp mô tả những thay đổi trong nhồi máu não cấp

Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm bó tháp ở người bình thường và các thay đổi trong tổn thương nhồi máu

não cấp dựa trên kỹ thuật cộng hưởng từ khuếch tán theo hướng (DTI)

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca ở 103 người trưởng thành, chia 2

nhóm: 61 người bình thường và 42 bệnh nhân nhồi não cấp tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 09/2017 đến tháng 07/2018 Khảo sát bằng DTI trên máy Skyra 3T, hãng Siemens So sánh các thông số phân suất khuếch tán không đẳng hướng (FA), khuếch tán trung bình (MD) ở các vị trí giải phẫu bó tháp bình thường (trung tâm bán bầu dục, chi sau bao trong, cầu não), vị trí tổn thương nhồi máu và vùng đối bên

Kết quả: Ở nhóm người trưởng thành bình thường, DTI cho thấy: giá trị FA ở chi sau bao trong và cầu não

bên trái cao hơn bên phải (0,72 ± 0,04 và 0,66 ± 0,08 so với 0,69 ± 0,05 và 0,61 ± 0,09) FA cao nhất ở chi sau bao trong so với các vị trí khác (bên phải: 0,69 ± 0,05; bên trái: 0,72 ± 0,04) Tại trung tâm bán bầu dục, FA tương quan nghịchvàMDtương quan thuậnvới tuổi (bên phải: giá trị r lần lượt là -0,313; 0,357; bên trái: giá trị r lần lượt là -0,43; 0,284) Tuy nhiên các tỷ số rFA, rMD không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi Ở nhóm bệnh nhân nhồi máu não cấp, rFA có giá trị nhất trong chẩn đoán nhồi máu não ở giai đoạn tối cấp với độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm lần lượt là 100%; 92,1%; 57,1%; 100% rFA tương quan nghịch với thời gian khởi phát tại trung tâm bán bầu dục, vị trí nhồi máu (r lần lượt là -0,432; -0,503), tương quan nghịch với thể tích tổn thương nhồi máu (r = -0.392) Giá trị FA tại vị trí nhồi máu chỉ tăng trong vòng 6 giờ, sau đó FA giảm dần theo thời gian (giá trị rFA dưới 6 giờ: 1,14 ± 0,09;6 giờ - 3 ngày: 0,85 ± 0,36 và 3 – 7 ngày: 0,67 ± 0,48) rMD tương quan thuận với thể tích tổn thương nhồi máu (r = 0,595)

Kết luận: DTI là kỹ thuật không xâm lấn,có giá trị, giúp nghiên cứu hình ảnh bó tháp bình thường cũng

như chẩn đoán, đánh giá các thay đổi, dự đoán được kết cục lâm sàng trong nhồi máu não cấp

Từ khóa: kỹ thuật khuếch tán theo lực, bản đồ bó sợi thần kinh, phân suất khuếch tán bất đẳng hướng, độ

khuếch tán trung bình, bó tháp, nhồi máu não cấp

ABSTRACT

CHARACTERIZATION OF PYRAMIDAL TRACT IN THE NORMAL HUMAN BRAIN AND IN

PATIENTS WITH ACUTE STROKE BY DIFFUSION TENSOR IMAGING

Nguyen Thi Thanh Hoa, Le Van Phuoc, Lam Thanh Ngoc

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 1- 2019: 01-08

Introduction: Diffusion tensor imaging (DTI) is a non-invasive in vivo method that not only characterizes

the integrity of pyramidal tracts but also characterizes changes in acute infarction

Purpose: Utilizing diffusion tensor imaging (DTI) technique to study the characteristics of pyramidal tract

* Bộ môn Chẩn đoán Hình Ảnh, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

**Khoa Chẩn đoán Hình Ảnh, Bệnh viện Chợ Rẫy

Trang 2

in the normal human brain and changes in patients with acute ischemic stroke

Materials and methods: Case series study was conducted on 103 adults, divided into two groups: 61

normal cases and 42 acute stroke patients at Cho Ray Hospital from September 2017 to July 2018 All DTI measurements were done using Skyra 3T instrument, Siemens Comparison of FA, MD indexes was made focusing on normal anatomic locations (centrum semiovale, posterior limb internal capsule, pons), ipsilateral and contralateral infarct lesion

Results: In the normal group, DTI characterization showed that FA values of the left posterior limb internal

capsule and pons were higher than those of the right (0.72±0.04 and 0.66±0.08 against 0.69±0.05 and 0.61±0.09, respectively) FA value was highest at posterior limb internal capsule (right: 0.69±0.05; left: 0.72±0.04, respectively) At centrum semiovale, FA was negatively correlated with age and MD was positively correlated with age (right: r values were -0.313, 0.357, left: r values were -0.43; 0.284, respectively) However, the rFA, rMD ratios did not differ between age groups

In patients with acute stroke, rFA was most valuable in the diagnosis of acute stroke with the sensitivity, specificity, positive and negative predictive value were100%, 92.1%, 57.1% and 100%, respectively rFA was not onlynegatively correlated with the onset of time at centrum semiovale and infarct site (r values were 0.432, -0.503, respectively) but alsonegatively correlated to the infarct volume (r value was -0.392) FA at the infarct site was increased only within 6 hours and FA decreased correspondingly to stroke duration (rFA less than 6 hours: 1.14 ± 0.09; 6 hours - 3 days: 0.85 ± 0.36 and 3-7 days: 0.67 ± 0.48) rMD was positively correlated with the infarct volume (r was 0.595)

Conclusion: Diffusion tensor imaging is a non-invasive technique that is not only prominent for studying

the normal structure of white matter fibers in vivo but also reliable for diagnosing, evaluating changes, predicting

clinical outcomes in acute stroke

Keywords: diffusion tensor imaging (DTI), tractography, fractional anisotropy, mean diffusivity, pyramidal

tract, acute stroke

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến

tàn tật, nguyên nhân đứng thứ hai gây sa sút trí

tuệ và đứng hàng thứ tư trong các nguyên nhân

gây tử vong ở Mỹ Tại Mỹ, tỷ lệ đột quỵ khoảng

3% dân số trưởng thành, nghĩa là khoảng 7 triệu

dân số Người ta ước tính đến năm 2020 tỉ lệ sẽ

tăng gấp đôi cùng với quá trình hiện đại hóa và

gia tăng tuổi thọ(14)

Bó tháp là một trong những bó ly tâm lớn

nối vỏ não vận động đến thân não và tủy sống

Hiểu được cấu trúc giải phẫu của bó tháp rất

quan trọng đối với những nhà hình ảnh học và

thần kinh học trong việc đánh giá mức độ tổn

thương hay di chứng của các bệnh lý thần kinh

Kỹ thuật khuếch tán theo lực (DTI) là một

phương pháp không xâm lấn để nghiên cứu cấu

trúc các bó chất trắng và hứa hẹn trong đánh giá

tổn thương thiếu máu não Nghiên cứu này của

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đặc điểm giải phẫu bình thường của bó tháp trên DTI gồm: sự bất cân xứng, phân suất khuếch tán không đẳng hướng (FA), khuếch tán trung bình (MD), các thay đổi liên quan độ tuổi và những thay đổi

bó tháp trên DTI ở bệnh nhân nhồi máu não cấp Nghiên cứu thực hiện ở bệnh viện Chợ Rẫy

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp

Mô tả loạt ca

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Nhóm người trưởng thành bình thường: là người Việt Nam ≥ 18 tuổi, thuận tay phải, được chụp cộng hưởng từ (CHT) với chuỗi xung DTI, kết quả CHT sọ não chưa ghi nhận bất thường

Nhóm bệnh nhân nhồi máu não: có thời gian khởi phát trong vòng 7 ngày đầu, thuận tay

Trang 3

phải, được chụp CHT sọ não với chuỗi xung

DTI, kết quả CHT ghi nhận nhồi máu não

(NMN) vùng trên lều, thuộc vùng chi phối động

mạch não giữa

Tiêu chuẩn loại trừ

Có tổn thương khác đi kèm trên hình ảnh

CHT ở nhóm bệnh nhân (BN) NMN

Có tiền căn các bệnh lý tâm thần kinh trước

đó (ví dụ, đột quy, mất trí nhớ, tâm thần phân

liệt, trầm cảm )

Các biến số thu thập: đặc điểm cá nhân, thời

gian khởi phát, thang điểm NIHSS, sức cơ chi

trên, thể tích vùng nhồi máu, FA, MD tại trung

tâm bán bầu dục, chi sau bao trong, cầu não và

tại vị trí nhồi máu, tỷ số DTI ở người bình

thường (bên trái/bên phải), tỷ số DTI ở bệnh

nhân nhồi máu não (bán cầu nhồi máu/đối bên)

Phương tiện nghiên cứu: Các trường hợp

được khảo sát trên máy MRI 3 Tesla, Skyra của

hãng Siemens, bệnh viện Chợ Rẫy Kỹ thuật DTI:

thời gian chụp: 5 phút 17 giây, TR = 3800, TE =

95, độ dày lát cắt: 3mm, khoảng cách giữa các lát

cắt: 1mm, matrix = 128 x 128, b = 1000 giây/mm2,

voxel = 0,9 x 0,9 x 0,9 mm3 Đánh giá DTI trên 20

hướng, góc α = 20o

KẾT QUẢ

Đặc điểm hình ảnh bó tháp bình thường trên

“diffusion tensor imaging”

Tổng số ca nghiên cứu: 61, trong đó nam 23

trường hợp (chiếm 37,7%), nữ 38 trường hợp

(chiếm 62,3%) Tuổi trung bình: 43,8 ± 14,2 (18-73

tuổi) Được chia làm ba nhóm tuổi: ≤ 40 tuổi

(chiếm 41%), 41 – 60 tuổi (chiếm 45,9%) và ≥ 60

tuổi (chiếm 8%) (Bảng 1)

Tại trung tâm bán bầu dục: các giá trị FA,

MD giữa hai bán cầu đều khác biệt không có ý

nghĩa thống kê (p>0,05) (Biểu đồ 1)

Tại chi sau bao trong và cầu não trái: các giá

trị FA cao hơn, khác biệt này có ý nghĩa thống kê

(p<0,05) Giá trị MD hai bên khác biệt không có ý

nghĩa thống kê (p>0,05)

FA ở cả hai bên bán cầu cao nhất tại chi sau

bao trong và thấp nhất tại trung tâm bán bầu dục, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) MD tại trung tâm bán bầu dục, chi sau bao trong, cầu não khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

(Biểu đồ 2)

Tại trung tâm bán bầu dục hai bên có sự tương quan nghịch nghịch giữa FA theo tuổi và

tương quan thuận giữa MD theo tuổi (Bảng 2)

Bảng 1: Giá trị trung bình của các thông số DTI (FA,

MD) tại các vị trí trung tâm bán bầu dục, chi sau bao trong và cầu não hai bên

Trung tâm bán bầu dục

Chi sau bao trong

Cầu não

*MD có đơn vị 10 -6 mm 2 /giây **Kiểm định t-test bắt cặp

Bảng 2 Các tỷ số FA, MD ở từng nhóm tuổi

Các thông số

Nhóm tuổi

Trung tâm bán bầu dục

Chi sau bao trong

Cầu não

(*) Kiểm định ANOVA

Không có sự khác biệt các tỷ số FA, MD giữa các nhóm tuổi tại các vị trí trung tâm bán bầu dục, chi sau bao trong và cầu não (p>0,05)

Những thay đổi của bó tháp ở bệnh nhân nhồi máu não cấp trên “diffusion tensor imaging”

Trong 42 trường hợp NMN có: 23nam (chiếm 59,5%), 17nữ (chiếm 40,5%), tuổi trung bình: 51,3 ± 13,6 (23-80 tuổi) Nhồi máu bên phải

Trang 4

25 trường hợp (59,5%), bên trái 17 trường hợp

(40,5%), NIHSS trung bình 10,83 ± 4,03 (3-18

điểm), sức cơ chi trên 0/5 (45,2%), 1/5 (4,8%), 2/5

(7,1%), 3/5 (11.9%), 4/5 (40%), 5/5 (0%) Trong đó,

có 4 trường đột quỵ dưới 6 giờ, 20 trường hợp

đột quỵ 6-3 ngày và 18 trường hợp đột quỵ từ 3

ngày đến 7 ngày (Biểu đồ 3)

Dưới 6 giờ sau khởi phát đột quỵ, giá trị rFA

có độ nhạy và độ đặc hiệu cao nhất và diện tích

dưới đường cong lớn nhất để chẩn đoán nhồi

máu não Như vậy, giá trị rFA có giá trị tốt nhất trong chẩn đoán NMN ở thời điểm dưới 6 giờ

(Bảng 3)

Tương quan nghịch giữa rFA với thời gian bị nhồi máu tại trung tâm bán bầu dục, chi sau bao trong, cầu não và vị trí nhồi máu (r lần lượt là -0,432; -0,296; -0,334; -0,503); tương quan nghịch giữa rFA với thể tích vùng nhồi máu (r = -0,392)

(Bảng 4)

Biểu đồ 1 Giá trị FA, MD tại các vị trí trung tâm bán bầu dục, chi sau bao trong, cầu não hai bên bán cầu

Biểu đồ 2 Tương quan giữa các giá trị FA, MD theo tuổi tại trung tâm bán bầu dục hai bên

0

0.5

1

Trung tâm bán bầu dục

Chi sau bao trong

Cầu não

0 0.5 1

Trung tâm bán bầu dục

Chi sau bao trong

Cầu não

600

800

1000

1200

Trung tâm bán bầu dục

Chi sau bao trong

Cầu não

-6 mm

2 /

400 600 800 1000

Trung tâm bán bầu dục

Chi sau bao trong

Cầu não

2 /giây

y = -0,0015x + 0,5648 R² = 0,0954 R= -0,313

0.3

0.4

0.5

0.6

0.7

Tuổi

y = -0,0019x + 0,5872 R² = 0,1847

R = -0,43

0.3 0.4 0.5 0.6 0.7

Tuổi

y = 0,8309x + 693,36 R² = 0,1276

R = 0,357

600 700 800

-6 mm

2 /giâ

Tuổi

y = 0,9886x + 684 R² = 0,0805

R = 0,284

600 650 700 750 800 850

2 /giâ

Tuổi

Trang 5

Biểu đồ 3 Đường cong ROC, diện tích dưới đường cong (AUC), cut-off, độ nhạy, độ đặc hiệu của các giá trị

rFA, rMD tại vị trí nhồi máu ở thời điểm khởi phát nhồi máu dưới 6 giờ

Bảng 3 Tương quan giữa rFA với các yếu tố tiên lượng nhồi máu não

Thời gian nhồi

máu

Thể tích nhồi

máu

(*) Tương quan Pearson

Bảng 4 Tương quan giữa rMD với các yếu tố tiên lượng nhồi máu não

Thể tích nhồi

máu

Sức cơ chi

trên

(*) Tương quan Pearson

Có tương quan thuận rMD với sức cơ chi

trên tại trung tâm bán bầu dục và cầu não (r lần

lượt 0,316 và 0,356), với thể tích nhồi máu tại cầu

não (r = 0,595)

BÀN LUẬN

Đặc điểm hình ảnh bó tháp bình thường trên

“diffusion tensor imaging”

Bất đối xứng FA giữa não bên phải và trái trong nghiên cứu chúng tôi với ưu thế bên trái, phù hợp với nhiều nghiên cứu Nhiều tác giả như Eluvathingal, Hasan (2007) cho thấy có bất đối xứng giá trị FA bên trái nhiều hơn phải(6)

AUC 94,1%

Cut–off 1.006 Sens 100%

Spec 92.1%

FA tại vị trí nhồi máu

rMD tại vị trí nhồi máu

AUC 65,1%

Cut–off 0,4611 Sens 100%

Spec 52.6%

PPV 18,2%

NPP 100%

Trang 6

Kết quả của chúng tôi cho thấy các sợi chất

trắng có hướng khác nhau sẽ có giá trị FA khác

nhau, có giá trị cao ở những vị trí các bó sợi tập

trung dày đặc và nối kết chặt chẽ và có cùng

hướng như ở gối, lồi thể chai, chi sau bao trong

và có giá trị thấp ở những ở những sợi chất trắng

sắp xếp bắt chéo nhau như ở trung tâm bán bầu

dục, phù hợp với nghiên cứu của Chen (2008)(5),

Pierpaoli (1996)(10)

Nghiên cứu chúng tôi cho thấy FA cao nhất

tại chi sau bao trong Kết quả này phù hợp nhiều

báo cáo Rathee (2016)(11), Chen (2008)(5), Rovaris

(2003)(13) Ở chi sau bao trong, các sợi bó tháp có

nối kết chặt chẽ Ở cầu não, có giảm số lượng các

sợi, phân tách nhiều bó làm giảm FA, tăng MD

so với vùng chi sau bao trong

Các nghiên cứu của Bennett(2), Wu(21), Hsu(8)

đều cho thấy FA giảm dần và MD tăng dần theo

tuổi và tăng cao đáng kể ở nhóm lớn tuổi so với

nhóm trẻ tuổi(2) Thay đổi này do giảm mật độ

myelin và thay đổi thoái hóa vi cấu trúc myelin

Tác giả cũng ghi nhận thay đổi DTI theo độ tuổi

đặc biệt khá rõ ở vùng trán trước và vùng chi

sau bao trong Quá trình lão hóa gây ra những

thay đổi thần kinh thông qua tác động đến vi

cấu trúc chất trắng, được giải thích do giảm mật

độ các sợi trục xuất phát từ các yếu tố vi cấu trúc

như thoái hóa myelin, tổn thương hay mất các

sợi trục, viêm Trong nghiên cứu của chúng tôi

cho thấy FA của bó tháp ở cả hai bên bán cầu

tương quan nghịch theo tuổi, hai giá trị MD

tương quan thuận theo tuổi Thế nhưng, tỷ số

các giá trị FA, MD giữa bán cầu não trái và bán

cầu não phải lại không có sự khác biệt giữa các

nhóm tuổi

Hạn chế: nghiên cứu còn một số hạn chế:

thực hiện với mẫu không cao, kỹ thuật DTI với

một số công đoạn thực hiện chưa được thật sự

chuẩn hóa, chưa có các nghiên cứu đi trước ở

nước ta…

Những thay đổi của bó tháp ở bệnh nhân nhồi

máu não cấp trên “diffusion tensor imaging”

Các thử nghiệm trên động vật và các trường

hợp lâm sàng đều chứng minh rằng chất trắng

thay đổi nhạy hơn chất xám trong nhồi máu, bất thường khuếch tán có ý nghĩa của các phân tử nước trong vùng nhồi máu biểu hiện là mất sự vận động đột ngột hoặc là thay đổi bất thường Những thay đổi vận động của phân tử nước biểu hiện bằng giảm có ý nghĩa giá trị FA trong chất trắng trên DTI Do đó DTI là một ứng dụng cải tiến trong MRI não và giúp khảo sát được giải phẫu và thay đổi bệnh học của các bó sợi thần kinh

Chúng tôi ghi nhận giá trị FA tại trung tâm bán bầu dục và tại vị trí nhồi máu tương quan nghịch với thời gian khởi phát, phù hợp với kết quả của nghiên cứu Carano (2000)(4), Green (2002)(7), Ozsunar (2004)(9), Schaefer (2003)(15), Sotak (2002)(17)

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chỉ có rFA tăng trong 6 giờ đầu, sau đó giảm dần theo thời gian khởi phát nhồi máu, phù hợp với nghiên cứu của Bhagat (2006)(3), Green (2002)(7); Ozsunar (2004)(9) Kết quả của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Alcantara (2014)(1) khi rFA là giá trị nhất để chẩn đoán NMN tối cấp Như vậy, rFA thật sự có giá trị nhất để dự đoán tuổi tổn thương nhồi máu

Tương quan nghịch giữa rFA tại chi sau bao trong, tương quan thuận giữa rMD tại cầu não với thể tích nhồi máu Kết quả của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Rossi(12) Như vậy, giá trị thấp FA không chỉ tại vị trí nhồi máu

mà còn ở trung tâm bán bầu dục và chi sau bao trong có thể do tổn thương nhồi máu gây sự phá hủy lan tỏa bó chất trắng

Phân suất bất đẳng hướng FA là một dấu hiệu có giá trị đối với kết cục vận động ở giai đoạn mạn tính, điều này đã được chứng minh trong nghiên cứu của Vargas(19), Chen(5), Song(16) Thế nhưng, FA lại tỏ ra kém hiệu quả hơn ở giai đoạn đầu của NMN Một giải thích được đề xuất cho điều này đó là ở giai đoạn cấp tính, các cơ chế tế bào như phù độc tế bào, tác động động học khác nhau dẫn đến giá trị FA giả bình thường hoặc tăng(18)

Như vậy, so với MRI thường quy, DTI có

Trang 7

nhiều điểm vượt trội Thứ nhất, giúp phát hiện

các ổ nhồi máu tối cấp mà thường khó thấy trên

CHT thường quy; thứ hai, nó cho thấy sự mất

liên tục của các bó sợi chất trắng; thứ ba, nó có

độ phân giải không gian cao hơn và ít ảnh giả

hơn; thứ tư, DTI tạo ra hình các sợi màu bộc lộ

mối liên quan giữa vùng nhồi máu với các sợi bị

tổn thương và hình tái tạo 3D các sợi sẽ cho thấy

trực tiếp tình trạng của bó vỏ gai; thứ năm, dự

đoán được kết cục lâm sàng(20)

Hạn chế: Thời gian khởi phát của chúng tôi

khảo sát trên các bệnh nhân khác nhau chứ

không phải theo diễn tiến thời gian của cùng

một bệnh nhân, điều này chỉ cho một cái nhìn

tổng quát về diễn tiến các thông số DTI theo thời

gian, mối tương quan với thang điểm NIHSS,

sức cơ chi trên ở nhiều cá thể chứ không phải

trên một cá thể Trong quá trình ROI tại vùng

nhồi máu dựa trên bản đồ ADC, nên không thể

phân biệt được chất trắng và chất xám, có thể

làm các giá trị DTI thấp hơn so với thực thế (chất

xám có có giá trị DTI thấp)

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu mẫu 61 người trưởng thành,

bình thường, trong đó có 23 nam và 38 nữ, đánh

giá bó tháp bằng kỹ thuật cộng hưởng từ khuếch

tán theo lực, chúng tôi nhận thấy: 1/ FA cao hơn

ở bên trái so với bên phải ở chi sau bao trong và

cầu não 2/ FA cao nhất ở chi sau bao trong so

với các vị trí khác 3/ Tại trung tâm bán bầu dục,

FA tương quan nghịch và MD tương quan thuận

với tuổi 4/ Các tỷ số rFA, rMD không có sự khác

biệt giữa các nhóm tuổi

Qua nghiên cứu 42 bệnh nhân nhồi máu não,

trong đó 23 nam, 17 nữ, chúng tôi nhận thấy:1/

rFA có giá trị nhất trong chẩn đoán nhồi máu

não ở giai đoạn tối cấp 2/ rFA tương quan

nghịch với thời gian khởi phát tại trung tâm bán

bầu dục, vị trí nhồi máu, tương quan nghịch với

thể tích tổn thương nhồi máu 3/ Giá trị FA tại vị

trí nhồi máu chỉ tăng trong vòng 6 giờ, sau đó

FA giảm dần theo thời gian

Như vậy, DTI là kỹ thuật không xâm lấn có

giá trị, giúp nghiên cứu hình ảnh bó tháp bình thường cũng như đánh giá các thay đổi trong thiếu máu não cấp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

ischemic stroke: the role of anisotropy in determining the time

of onset and predicting long-term motor outcome Universitat

de Girona, pp 232-2015

Measures of White Matter Integrity: A Diffusion Tensor

Imaging Study of Healthy Aging Human brain mapping, 31 (3),

pp 378-390

Anisotropy and Time of Onset after Stroke Journal of Cerebral

Blood Flow & Metabolism, 26(11):pp 1442-1450

evolution of cerebral ischemia in the rat brain J Magn Reson

Imaging, 12(6):pp 842-58

tensor imaging Neurol Res, 30 (7):pp 720-6

Tractography of Association and Projection Fibers in

Normally Developing Children and Adolescents Cerebral

cortex (New York, NY: 1991), 17(12):pp 2760-2768

7 Green H et al (2002) Increased anisotropy in acute stroke: a

possible explanation Stroke, 33(6):pp 1517-21

matter changes of the human brain: a diffusion tensor

imaging study Neuroimage, 39(2):pp 566-77

anisotropy in hyperacute stroke: significant correlation

between fractional anisotropy and T2 AJNR Am J Neuroradiol,

25(5):pp 699-705

10 Pierpaoli C et al (1996) Diffusion tensor MR imaging of the

human brain Radiology, 201(3):pp 637-48

Differences in White Matter Integrity in Healthy Human Brain: Evidence from Structural MRI and Diffusion Tensor

Imaging Magnetic Resonance Insights, 9:pp 9-20

lesion volume in cerebral hemisphere infarctions BMC Med

Imaging, 10:pp 21

magnetization transfer, and diffusion-tensor MR imaging findings: study with whole-brain tissue histogram analysis

Radiology, 227(3):pp 731-8

21st century: a statement for healthcare professionals from the American Heart Association/American Stroke Association

Stroke, 44(7):pp 2064-89

diffusion and perfusion imaging AJNR Am J Neuroradiol,

24(3):pp 436-43

function outcomes in stroke rehabilitation utilizing BCI

technology Frontiers in Human Neuroscience, 9:pp 195

evaluation of ischemic brain injury - a review NMR Biomed,

15(7-8):pp 561-9

Trang 8

18 Sun SW et al (2006) Differential sensitivity of in vivo and ex

vivo diffusion tensor imaging to evolving optic nerve injury

in mice with retinal ischemia Neuroimage, 32(3):pp 1195-204

damage in acute stroke patients: comparison of tract-specific

analysis versus segmentation of a CST template J Magn Reson

Imaging, 37(4):pp 836-45

and quantify corticospinal tract degeneration after stroke Journal

of Neurology, Neurosurgery, and Psychiatry, 69(2):pp.269-272

Normal Human Brain using Hybrid Diffusion Imaging

(HYDI) NeuroImage, 54(3):pp 1840-1853

Ngày đăng: 24/10/2020, 10:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w