1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm Hiểu Về Tổ Chức Và Hoạt Động Của Tập Đoàn Điện Lực Việt Nam Trong Nền Kinh Tế Quốc Dân Khóa 33

68 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 621,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó cũng là một trong những lý do ra đời của Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN,… Sau một thời gian đi vào hoạt động, bước đầu các tập đoàn kinh tế nhà nước của ta, trong pó có EVN, đã phần n

Trang 1

TÌM HIỂU VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TẬP ĐOÀN ĐIỆN

LỰC VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN

KHÓA 33 (2007 – 2011)

MSSV: 5075091 Lớp: Luật Thương mại 1- k33

Cần Thơ, 4/2011

Trang 2

TÌM HIỂU VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TẬP ĐOÀN ĐIỆN

LỰC VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN

KHÓA 33 (2007 – 2011)

MSSV: 5075091 Lớp: Luật Thương mại 1- k33

Cần Thơ, 4/2011

Trang 3

Cần thơ, ngày… tháng… năm……

Trang 4

Cần thơ, ngày… tháng… năm……

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

Trang 5

Trang

Lời mở đầu 1

Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về Tập đoàn kinh tế nhà nước và Tập $oàn Điện lực Việt Nam 5

1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế Nhà nước 5

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Tập đoàn kinh tế Nhà nước 7

1.3 Khái quát chung về tập đoàn điện lực Việt Nam 9

1.4 Lịch sử hình thành và phát triển của Tập đoàn Điện lực Việt Nam 11

1.4.1 Tập đoàn Điện lực Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử 11

1.4.2 Tập đoàn Điện lực Việt Nam trong thời kỳ hội nhập 15

1.4.3 Một số vai trò của Tập đoàn Điện lực Việt Nam 17

1.4.3.1 Đối với phát triển xã hội 17

1.4.3.2 Đối với phát triển kinh tế 19

Chương 2 Bộ máy tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam trong nền kinh tế quốc dân 22

2.1 Bộ máy tổ chức của Tập đoàn Điện lực Việt Nam 22

2.1.1 Cơ cấu tổ chức 22

2.1.2 Vị trí pháp lý của Tập đoàn Điện lực Việt Nam 34

2.2 Hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam 35

2.2.1 Ngành nghề kinh doanh chính 35

2.2.2 Các lĩnh vực kinh doanh khác 36

2.3 Pháp luật điều chỉnh có liên quan đến hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam 37

Chương 3 Một số ý kiến đề xuất 40

3.1 Thực trạng về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tập đoàn điện lực Việt Nam 40

3.2 Một số ý kiến đề xuất 49

Kết luận 60

Trang 6

GVHD: Phạm Mai Phương Trang 1 SVTH: Lâm Hồng Loan Chị

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Với xuất phát điểm là một đất nước nghèo nàn và lạc hậu, kinh tế chủ yếu

là nông nghiệp, dân số đông lại thiếu trình độ khoa học kỹ thuật Bên cạnh đó,

sau khi giành được độc lập dân tộc, Việt Nam lại gặp phải những khó khăn bởi

những bất cập của cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp Khi mà, kinh tế

quốc doanh gần như nắm cả nền kinh tế, chủ lực trong mọi ngành, mọi lĩnh vực

từ nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, đến dịch vụ, v.v… đều thuộc sở hữu Nhà

nước Trong ó , chỉ có một thành phần rất nhỏ dành cho kinh tế tư nhân Có thể

nói, kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ là thực hiện chính sách “tự cung tự cấp” Cho

đến khi đứng trước những thách thức, đồng thời dưới tác động rất lớn từ nền

kinh tế toàn cầu, trước xu thế hội nhập, trước yêu cầu phải giao thương kinh tế –

xã hội với thế giới Cũng như thấy được những hạn chế của cơ chế tập trung

quan liêu bao cấp và khi chúng ta có được cái nhìn đúng đắn hơn vai trò chủ lực

của thành phần kinh tế nhà nước là không phải nắm cả nền kinh tế Nên, chúng

ta không thể “bế quan tỏa cảng” nữa, nếu một khi chúng ta muốn phát triển, $i

lên tầm cao mới với một nền kinh tế mới theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa

Trước yêu cầu đó, đòi hỏi chúng ta không thể duy trì cơ chế kinh tế tập

trung quan liêu bao cấp được nữa, nếu như chúng ta không muốn chúng ta bị

đẩy ra xa hơn sự tiến bộ của nhân loại đang từng ngày thay đổi Cho nên, Đại

hội lần thứ VI của Đảng vào năm 1986 đã mở ra một hướng đi mới cho Việt

Nam và hoàn toàn phù hợp với thời cuộc lúc bấy giờ, là đề ra đường lối đổi mới

toàn diện cho đất nước Đặc biệt là đặt ra vấn đề phát triển nền kinh tế hàng hóa

nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa

Bên cạnh đó, tại Nghị quyết Đại hội VI, Đảng ta cũng đồng thời xác định

vai trò chỉ đạo của thành phần kinh tế nhà nước, là phát huy vị trí chủ lực của

thành phần kinh tế này Vì vậy, Nhà nước ta chủ trương thực hiện một cuộc cách

mạng cho nền kinh tế, là sắp xếp và tổ chức lại các doanh nghiệp nhà nước, theo

hướng hình thành những tập đoàn kinh tế đủ mạnh về quy mô, cũng như về tổ

chức trên cơ sở là các tổng công ty 90 và 91 Với mục đích không chỉ là chi

Trang 7

phối nền kinh tế khi chúng ta hội nhập, mà còn là tăng sức mạnh của kinh tế

Việt Nam trên thương trường trong thời kỳ mở cửa thông qua các tổ chức kinh

tế này

Tuy nhiên, như đã biết, việc đi lên như vậy đối với nước ta là những bước

tiến phải thật vững chắc, không thể quá vội vàng Bởi chúng ta thiếu cả về kinh

nghiệm lẫn về vốn cũng như khoa học quản lý Cho nên, việc hình thành các tập

đoàn kinh tế ở Việt Nam lúc bấy giờ chủ yếu được thực hiện đối với một số

ngành, lĩnh vực then chốt Nhất là những ngành có lợi thế của nền kinh tế của

chúng ta như: bưu chính viễn thông, dệt may, khai thác khoáng sản, dầu khí và

điện Đó cũng là một trong những lý do ra đời của Tập đoàn Điện lực Việt Nam

(EVN),… Sau một thời gian đi vào hoạt động, bước đầu các tập đoàn kinh tế

nhà nước của ta, trong pó có EVN, đã phần nào thể hiện được vai trò chủ đạo

của mình cho phát triển đất nước như điện góp phần quan trọng vào quá trình

công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nâng cao đời sống dân sinh, thúc đẩy phát triển

sản xuất,…

Tuy nhiên, đứng trước những thách thức mới, những tác động mới của xu

thế hội nhập, khi Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại

thế giới (WTO) thì yêu cầu cấp bách là chúng ta cần minh bạch hơn trong quản

lý kinh tế nói chung, pháp luật về kinh doanh thương mại nói riêng, cần thông

suốt và rõ ràng hơn Đây là điều mà thời gian qua chúng ta chưa làm được

Chúng ta cũng thừa biết, một trong những lý do để chúng ta thu hút đầu tư, là

tạo môi trường cạnh tranh một cách lành mạnh cho các thành phần kinh tế, nhất

là đối với khu vực kinh tế nhà nước so với các thành phần kinh tế khác Bởi vì

thực tế thì khu vực này còn hưởng khá nhiều ưu đãi về đầu tư, trong chính sách

quản lý thì còn mang nặng cơ chế quản lý hành chính nhà nước Trong khi eó,

chúng ta 5ang dần dần đưa đến việc quản lý các doanh nghiệp, theo luật chung

là Luật Doanh nghiệp 2005 Vậy thì, trong quá trình sắp xếp đi vào nề nếp của

Luật Doanh nghiệp 2005 thì các tập đoàn kinh tế nhà nước của chúng ta hoạt

động như thế nào?

Để trả lời cho câu hỏi này thì người viết đi sâu vào tìm hiểu mô hình “Tổ

chức và hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam” Đây cũng chính là lý do

người viết chọn đề tài này làm đề tài luận văn tốt nghiệp cử nhân luật của mình

Trang 8

GVHD: Phạm Mai Phương Trang 3 SVTH: Lâm Hồng Loan Chị

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Thật sự mà nói, mô hình kinh tế như các tập đoàn kinh tế nhà nước ra đời

gần đây ở Việt Nam còn khá mới mẽ, có lẽ vì vậy mà cơ sở pháp lý về quản lý

các tập đoàn này cũng còn hơi khiêm tốn EVN được Nhà nước ta xác định là

thành phần kinh tế chủ lực chi phối nền kinh tế, giữ vai trò là trung tâm của Tập

đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam Bên cạnh đó, vì EVN lại hoạt động trong

lĩnh vực được xem là quan trọng nhất của đất nước trong quá trình hôi nhập, cho

nên EVN thời gian qua đã tổ chức và hoạt động trong hoàn cảnh hành lang pháp

lý chưa rõ ràng và minh bạch Œó

Muốn có cái nhìn thấu đáo hơn về tập đoàn kinh tế nhà nước thông qua Tổ

chức và hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam Cũng như cơ chế quản lý

mô hình này trong thời gian tới, khi Luật Doanh Nghiệp Nhà nước năm 2003

vừa hết hiệu lực1

Đó là mục tiêu tác giả quan tâm nghiên cứu đề tài về Tổ chức

và hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này thì tác giả chỉ đi sâu vào tìm hiểu

cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tập đoàn điện lực Việt Nam, để từ đó hiểu rõ

hơn vai trò cũng như hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt

Nam

4 Phương Pháp nghiên cứu

Trong quá trình hoàn thành đề tài này, người viết đã sử dụng chủ yếu các

phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích tổng hợp;

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu;

- Phương pháp liệt kê

5 Kết cấu đề tài

Ngoài Mục lục, Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo thì đề

tài gồm có ba chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tập đoàn kinh tế nhà nước và

Tập đoàn Điện lực Việt Nam

- Chương 2: Bộ máy tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam

1 Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 hết hiệu lực vào ngày 01/7/2010

Trang 9

- Chương 3: Một số ý kiến đề xuất

Có một điều mà người viết tin chắc rằng mình không thể tránh khỏi là

những hạn chế trong lập luận, những thiếu sót trong quá trình viết Với quá trình

tìm hiểu thật sự, có tìm tòi và khắc phục những điểm yếu trong quá trình làm

bài Nhưng vì hiểu biết còn hạn chế, điều kiện tiếp cận thực tế không có, thêm

vào đó là thời gian thật sự không cho phép đối với một đề tài nghiên cứu khoa

học như thế này, tác giả rất mong nhận được sự thông cảm cũng như đóng góp ý

kiến từ thầy cô và các bạn

Đồng thời, thông qua ây , người viết xin chân thành cảm ơn sự tận tình

giúp đỡ của quý thầy cô khoa Luật, đã tận tình giúp đỡ người viết trong quãng

thời gian học tập tại trường Đại học Cần thơ, cũng như sự gắn bó với Khoa Luật

trong học tập cũng như trong hoạt động các phong trào Đặc biệt, người viết xin

chân thành cảm ơn và tri ân tấm lòng tận tụy, nhiệt tình giúp đỡ của cô Phạm

Mai Phương để người viết có thể hoàn thành một cách tốt nhất quyển luận văn

này Đây không chỉ là một thủ tục để tác giả tốt nghiệp ra trường, mà là một

hành trang về một quá trình học tập và rèn luyện về kiến thức, kỹ năng sống và

làm việc, cộng với sự dạy dỗ của thầy cô, người viết tự tin hơn khi bước vào sự

nghiệp cũng như cuộc sống trong tương lai

Sinh viên thực hiện

Lâm Hồng Loan Chị

Trang 10

GVHD: Phạm Mai Phương Trang 5 SVTH: Lâm Hồng Loan Chị

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ

NHÀ NƯỚC VÀ TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM

1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế Nhà nước

Như chúng ta đều biết rằng, dựa vào điều kiện kinh tế - xã hội của mình mà

mỗi quốc gia có định hướng kinh tế khác nhau Cho nên, về quy mô và cơ cấu

kinh tế ở các nước có những đặc trưng riêng Tuy nhiên, điểm tương đồng của

hầu hết các nước là luôn muốn thành phần kinh tế nhà nước vẫn giữ ở vị trí then

chốt, chủ đạo và chi phối mạnh mẽ nền kinh tế của đất nước mình Có thể nói,

cùng với các loại hình doanh nghiệp khác của thành phần kinh tế nhà nước thì

tập đoàn kinh tế nhà nước được hình thành và ra đời cũng xuất phát từ mục tiêu

±ó

Bên cạnh nhiều tên gọi khác nhau, như ở Đức, Pháp, Mỹ gọi là Cartel, ở

Nhật là Zaibatsu thì ở mỗi nước, quan điểm về tổ chức kinh tế này cũng có

những đặc điểm riêng Chẳng hạn như ở Việt Nam chúng ta, sau khi thành phần

kinh tế nhà nước tiến hành những cải tiến quan trọng, như là bước đầu hình

thành loại hình doanh nghiệp mới thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động và kinh

doanh các lĩnh vực có nhiều ưu thế của nền kinh tế nước nhà Đây được coi là

bước tiến trong cải cách nền kinh tế của Việt Nam trước những tác động của

kinh tế thế giới, là không chỉ cần những doanh nghiệp lớn về quy mô, cơ cấu mà

cả sức cạnh tranh trên thị trường Đây là những tiền đề dẫn đến sự ra đời của mô

hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam

Có lẽ, chính những sức mạnh tổng hợp mà tập đoàn kinh tế nhà nước có thể

mang lại như vừa phân tích như trên, nên tại khoản 1 và khoản 2 Điều 38 của

Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của Chính phủ về hướng dẫn chi

tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp 20052 thì quan điểm của Việt

Nam về tập đoàn kinh tế nhà nước được ghi nhận như sau: “Tập đoàn kinh tế

bao gồm nhóm các công ty có quy mô lớn, có tư cách pháp nhân độc lập, được

hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua

2 Sau đây gọi chung là Nghị định 102

Trang 11

lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi

ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ

hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ -

công ty con Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký

kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp Việc tổ chức hoạt động của

tập đoàn do các công ty lập thành tập đoàn tự thỏa thuận quyết định”

Theo người viết thì cách khái niệm này của Việt Nam là một khái niệm khá

thoáng cho các thành phần kinh tế, bởi nó không mang tính liệt kê Thêm vào

±ó, ghi nhận cả tập đoàn không có tư cách pháp nhân Liệu đây có phải là điểm

mà chúng ta cần có những quy định cụ thể hơn nhằm tạo khung pháp lý an toàn

nhất cho hoạt động và quản lý mô hình này ở Việt Nam trong tương lai

như:

- Tập đoàn kinh tế nhà nước vừa có sự tích tụ của bản thân doanh nghiệp lại

vừa có sự tập trung giữa các doanh nghiệp Việc này tăng cường sức cạnh tranh

của tập đoàn so với doanh nghiệp riêng lẻ

- Các tập đoàn kinh tế nhà nước đều có xu hướng hoạt động đa ngành, $a

lĩnh vực hoặc phát triển dần từ đơn ngành lên đa ngành, kéo theo đó thì chiến

lược kinh doanh cũng có sự thay đổi trong những môi trường kinh doanh khác

nhau, bên cạnh phát triển kinh doanh sản phẩm đặc trưng

- Phạm vi hoạt động của tập đoàn kinh tế nhà nước rất rộng, nó có thể vượt

ra khỏi phạm vi quốc gia Đó cũng là một trong những thế mạnh mà tập đoàn

kinh tế nhà nước có được để tổ chức kinh tế này ra đời, bởi khi tham gia vào

thương trường quốc tế, có thể nói là các tập đoàn này đã được trang bị khá tốt về

công nghệ kỹ thuật cũng như về nhân lực và đặc biệt là quy mô về vốn

Với đặc điểm kinh tế – xã hội của Việt Nam thì tập đoàn kinh tế nhà nước

ở Việt Nam có một số đặc điểm riêng như:

- Tập đoàn kinh tế được thành lập trong một số lĩnh vực then chốt của nền

kinh tế của Việt Nam như: khoáng sản, dầu khí, điện,…

- Tập đoàn kinh tế có xuất phát điểm là các tổng công ty thuộc sở hữu Nhà

nước như với Tổng công ty Dệt May chúng ta có Tập đoàn Dệt may Việt Nam

3 Phạm Quang Huấn – Vai trò của thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân - Tạp chí nghiên cứu kinh tế số

297 tháng 2/2003 – tr 23 - 25

Trang 12

GVHD: Phạm Mai Phương Trang 7 SVTH: Lâm Hồng Loan Chị

(Vinatex), với Tổng công ty Điện lực chúng ta có Tập đoàn Điện lực Việt Nam

(EVN);…

- Tập đoàn kinh tế nhà nước được giao trọng trách giữ vai trò chủ đạo, chi

phối nền kinh tế quốc dân Điều này chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy tính chủ

lực vốn có mà các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam mang trong mình như:

điện, bưu chính viễn thông, khoáng sản, tàu thủy,…

- Tập đoàn là mối quan hệ gắn kết giữa các doanh nghiệp thành viên và tập

đoàn về tài chính, sản xuất, đào tạo nhân lực cũng như là chiến lược kinh doanh

nhằm thực hiện một cách hiệu quả vai trò của mình đối với nền kinh tế

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Tập đoàn kinh tế Nhà nước

Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, dưới sự tác động ngày càng mạnh mẽ của các

cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, $ã thúc đẩy nhu cầu về vốn đầu tư cho nền

kinh tế ngày càng lớn, cùng sự cạnh tranh trong cơ chế thị trường đã thoi thúc

hơn nữa sự tập trung tư bản, không chỉ trên phạm vi của một quốc gia mà lan

rộng ra toàn thế giới Đây được cho là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời của

hình thức liên minh kinh tế dưới dạng tập đoàn

Đến đầu thế kỷ XX, sự tích tụ và tập trung tư bản đã dẫn đến việc hình

thành các tổ chức kinh tế mang tính độc quyền về một ngành hay lĩnh vực nhất

định nào đó Và cũng được xem là quá trình phát triển của mô hình tập đoàn

kinh tế dưới các hình thức sơ khai như: tờrớt, xanh ica , cascten… Cũng trong

giai đoạn này, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia,

thì hai mô hình kinh tế này giữ vị trí ngày càng cực kỳ quan trọng trong nền

kinh tế công nghiệp mới.4

Dưới sự tác động đó của thế giới, ở Việt Nam, với những thử thách ban đầu

của nền kinh tế thời mở cửa như đòi hỏi sự chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản

xuất của các doanh nghiệp, nhất là khu vực kinh tế nhà nước, yêu cầu cạnh tranh

của sản phẩm đặt ra ngày càng cao, mà để thực hiện được như vậy thì dòi hỏi rất

lớn về vốn, cũng như một mô hình quản lý phù hợp hơn Bên cạnh đó là sự tác

động của các yếu tố khách quan như: khoa học quản lý, khoa học công nghệ,

điều kiện kinh tế – xã hội… đã dẫn đến việc Nhà nước phát triển các tổng công

4 TS Nguyễn Minh Đức – Tập đoàn kinh tế – mô hình chiến lược để đổi mới và phát triển các loại hình doanh

nghiệp - Tạp chí Nghiên cứu kinh tế – số 314 tháng 7/2004 – tr 3

Trang 13

ty nhà nước thành tập đoàn kinh tế nhà nước có quy mô và cơ cấu tổ chức có lớn

hơn so với tổng công ty trước đó

Sở dĩ Nhà nước ta có những quyết định mạnh mẽ như vậy là vì, để thực

hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như để hội nhập kinh tế quốc

tế một cách có hiệu quả hơn Chính vì vậy cho nên, hơn mười năm qua, Đảng và

Nhà nước ta đã triển khai thực hiện một số công việc hết sức quan trọng đối với

nền kinh tế, như là cải tổ khu vực doanh nghiệp nhà nước, nhằm khẳng định lại

phương hướng và mục tiêu tiếp tục duy trì thế mạnh của khu vực kinh tế nhà

nước, cũng như nêu cao vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế này trong nền

kinh tế quốc dân, nhưng lại không quên đánh giá cao vai trò của các thành phần

kinh tế khác thông qua các quyết sách cơ bản của mình.Thật sự mà nói, Œó là

một hướng đi rất kịp thời và đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta kể từ sau năm

1986, nhất là với quyết tâm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO),

không chỉ là để khẳng định mình mà còn nâng cao vị thế của Việt Nam trên

trường quốc tế về nhiều mặt, trong đó đáng chú ý nhất có thể được xem là kinh

tế Cho nên, nhu cầu đổi mới các Tổng công ty Nhà nước đăt ra ngày càng cấp

thiết hơn Bởi vì những khó khăn trước sự tác động của quá trình toàn cấu hóa,

với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của thị trường trong nước trong thời kỳ mở

cửa, hoàn toàn khác với cơ chế kinh tế tự cung tự cấp như trước đây

Trước tình thế đó, yêu cầu phát huy vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế

Nhà nước đã đòi hỏi các doanh nghiệp nhà nước không chỉ phải lớn mạnh về

quy mô vốn, trình độ công nghệ mà còn là năng lực tổ chức hoạt động có hiệu

quả, tạo sức cạnh tranh cao trên thương trường Chính sự cấp thiết đó, Nghị

quyết Hội nghị lần thứ 3 của Đảng (khóa IX) đã chỉ rõ: “Hình thành một số tập

đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các

thành phần kinh tế, kinh doanh ôa ngành, trong oó có ngành kinh doanh chính,

chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân, có

quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong nước và ngoài nước, có trình độ công

nghệ cao và quản lý hiện đại, có sự gắn kết trực tiếp, chặt chẽ giữa khoa học

Trang 14

GVHD: Phạm Mai Phương Trang 9 SVTH: Lâm Hồng Loan Chị

công nghệ, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh”5

được xem là chỉ đạo đúng đắn và kịp thời

Với sự định hướng đó của Đảng và Nhà nước, dù khiêm tốn về vốn cũng

như nhiều nguồn lực khác, các tập đoàn kinh tế nhà nước ra đời ở Việt Nam

trong bối cảnh đó, chưa đủ các điều kiện vốn có của nó như các nước trên thế

giới đã tiến hành thành lập trước đó Nhưng, chúng ta cũng phải ghi nhận, sự ra

đời của các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với kinh

tế hội nhập

Cho đến nay thì Việt Nam có 12 Tập Đoàn kinh tế nhà nước 6

, bao gồm:

- Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam;

- Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam;

- Tập đoàn công nghiệp Tàu thủy Việt Nam;

- Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam;

- Tập đoàn công nghiệp Dầu khí Quốc gia Việt Nam;

- Tập đoàn công nghiệp Dệt may Việt Nam;

- Tập đoàn công nghiệp Xây dựng Việt Nam;

- Tập đoàn Điện lực Việt Nam;

- Tập đoàn Bảo việt;

- Tập đoàn Viễn thông Quân đội;

- Tập đoàn Hóa chất Việt Nam;

- Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị Việt Nam

1.3 Khái quát chung về tập đoàn điện lực Việt Nam

Trước tháng 9 năm 2006, Tổng công ty Điện lực Việt Nam, là một trong

những tổng công ty nhà nước do Bộ Công nghiệp quản lý Với xuất phát điểm

±ó, Tập đoàn Điện lực Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí

điểm thành lập theo Quyết định số 147/2006/QĐ-TTg ngày 22 tháng 6 năm

2006 Cũng trong kế hoạch đó, Công ty mẹ – Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng

được thành lập theo Quyết định số 148/2006/QĐ-TTg ngày 22 tháng 6 năm

Trang 15

2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Công ty mẹ – Tập đoàn Điện

lực Việt Nam Đây được xem là bước ngoặt đánh dấu sự ra đời của Tập đoàn

Điện lực Việt Nam hiện nay

trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu Sự kiện trên

đã khẳng định những quyết định mạnh mẽ của Nhà nước trước yêu cầu sắp xếp

lại các doanh nghiệp trong môi trường bình đẳng của WTO

Tập đoàn Điện lực Việt Nam với tên giao dịch quôc tế là Vietnam

Electricity (EVN) Trụ sở chính của Tập đoàn Điện lực Việt Nam hiện đặt tại địa

chỉ: số 18 Trần Nguyên Hãn, phường Lý Thái Tổ, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

Các lĩnh vực kinh doanh chính của EVN là sản xuất, truyền tải và xuất nhập

khẩu điện năng Tập đoàn xây dựng nhà máy phát điện, hệ thống lưới điện phân

phối đến các hộ dân, điều hòa điện lưới quốc gia, đảm bảo thực hiện kế hoạch

cung cấp điện theo yêu cầu của Chính phủ

Theo báo cáo của Chương trình hỗ trợ phát triển của Liên Hiệp Quốc

(UNDP) tại Việt Nam, năm 2007, EVN là doanh nghiệp lớn thứ ba Việt Nam,

sau Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) và

Ngoài ra, EVN cũng có mở rộng kinh doanh và hoạt động ở các lĩnh vực

như: Tư vấn, nghiên cứu – đào tạo với một trường đại học là Đại học Điện lực

trong lĩnh vực điện năng trực thuộc tập đoàn Ở lĩnh vực tài chính – ngân hàng

thì EVN là cổ đông của ngân hàng thương mại cổ phần An Bình, hay như trong

lĩnh vực viễn thông thì có Công ty Viễn thông Điện lực (EVN Telecom) kinh

doanh dịch vụ điện thoại cố định nội tỉnh và đường dài trong nước, cùng mạng

7 Sau đây gọi chung là Quyết định số 975

8 Sau đây gọi chung là Nghị định 25

9 Báo cáo Hội nghị Tổng kết cuối năm 2007 của EVN

Trang 16

GVHD: Phạm Mai Phương Trang 11 SVTH: Lâm Hồng Loan Chị

điện thoại di động, dịch vụ Internet, … Nếu có cơ chế quản lý tốt thì đây sẽ là

những thế mạnh khác giúp EVN phát triển vững mạnh và toàn diện hơn

Hiện nay, EVN có 5 Tổng Công ty điện lực kinh doanh điện năng đến

khách hàng là Tổng Công ty Điện lực Miền Bắc, Tổng Công ty Điện lực Miền

Trung, Tổng Công ty Điện lực Miền Nam, Tổng Công ty Điện lực Thành phố

Hà Nội, Tổng Công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh Lĩnh vực truyền tải thì

sự ra đời của Tổng Công ty Truyền tải Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại 4 công ty

Truyền tải (Công ty Truyền tải 1, 2, 3, 4) và ba Ban Quản lý dự án (Ban Quản lý

dự án miền Bắc, Trung, Nam) phần nào thấy được những ưu thế nhất định mà

EVN có được trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình

Trong suốt chặng đường lịch sử 55 năm xây dựng và phát triển, Tập đoàn

Điện lực Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao

quý như: Huân chương Sao vàng năm 2004; Huân chương Hồ Chí Minh năm

1997; 79 Huân chương Độc lập các hạng; 1.158 Huân chương Lao động các

hạng cho các tập thể, cá nhân của tập đoàn, với 25 tập thể và 15 cá nhân được

phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động,…

Trong đó có 10 tập thể và 6 cá nhân là Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới,

nhiều tập thể và cá nhân được tặng Bằng khen, Cờ thi đua của Thủ tướng Chính

phủ, của các Bộ, các tỉnh, thành phố, đạt các danh hiệu Chiến sỹ Thi đua cấp Bộ,

Chiến sỹ Thi đua toàn Quốc và các hình thức khen thưởng khác.10

Với sự kỳ vọng rất lớn của nhân dân vào khả năng cung ứng điện của EVN

cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, hy vọng Đảng và Nhà nước thông

qua những quyết sách của mình sẽ có những bước đi thích hợp hơn cho EVN

trong quá trình hội nhập

1.4 Lịch sử hình thành và phát triển của Tập đoàn Điện lực Việt Nam

1.4.1 Tập đoàn Điện lực Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử

- Ngành điện Việt Nam dưới sự hoạt động của Cục Điện lực thuộc

Trang 17

Có thể nói rằng, lịch sử hình thành và phát triển của ngành điện Việt Nam

gắn liền với những chặng đường lịch sử của đất nước Ra đời từ năm 1955, tức

là sau khi giành được chính quyền ở miền Bắc, vào ngày 21 tháng 7 năm 1955,

Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) ra Quyết định số

169-BCT/ND/KB do Thứ trưởng Đặng Viết Châu ký, thành lập Cục Điện lực trực

thuộc Bộ Công nghiệp và bổ nhiệm ông Hồ Quý Diện làm Cục trưởng Sự kiện

này đặt dấu mốc pháp lý về hoạt động chỉ đạo, quản lý của cơ quan quản lý nhà

nước chuyên trách về lĩnh vực điện lực của nước ta trong giai đoạn này Qua

một thời gian củng cố các cơ sở quản lý, sau khi tiếp quản và nâng cấp, sửa chữa

lại các nhà máy, đường dây do Pháp để lại, thì có cùng lúc 3 nhà máy nhiệt điện

mới đã được khởi công xây dựng, gồm Nhà máy Điện Vinh, Thanh Hóa, và nhà

máy điện Lào Cai đưa tổng công suất nguồn tăng gấp 2 lần so với năm 1954

Đây là bước khởi đầu quan trọng, làm tiền đề cho sự phát triển ngày càng mạnh

mẽ của hệ thống nguồn và lưới điện Việt Nam trong những năm tiếp theo

- Ngành điện Việt Nam dưới sự hoạt động của Tổng cục Điện lực

thuộc Bộ Thủy lợi và Điện lực

Đến ngày 21 tháng 02 năm 1961, với Quyết định số 86-TLĐL/QĐ của Bộ

Thủy lợi và Điện lực thì Cục Điện lực được chuyển thành Tổng cục Điện lực

Trong khoảng thời gian hoạt động ít ỏi dưới sự điều tiết của Tổng cục Điện lực

thì tuyến đường dây 110 kV đầu tiên của miền Bắc được khởi công xây dựng và

đến quý IV năm 1963 hoàn thành đóng điện Thời gian tiếp theo, nhiều nhà máy

điện, tuyến đường dây mới ra đời, chín trong số mười hai nhà máy điện lúc bấy

giờ đã được nối liền bằng đường dây 110 kV, tạo thành một hệ thống điện hoàn

chỉnh của miền Bắc Đây là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của hệ thống điện ở

miền Bắc nước ta trước khi Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc

- Ngành điện Việt Nam dưới sự hoạt động của Cục Điện lực thuộc

Bộ Công nghiệp nặng

CP tách Tổng cục Điện lực Khỏi Bộ Thủy lợi và Điện lực về trực thuộc Bộ

Công nghiệp nặng và đổi tên là Cục Điện lực Với công trình thủy điện có công

suất lớn đầu tiên của Việt Nam được xây dựng với sự giúp đỡ của Liên Xô, ngày

19 tháng 8 năm 1964, khởi công xây dựng Nhà máy Thủy điện Thác Bà (Yên

Trang 18

GVHD: Phạm Mai Phương Trang 13 SVTH: Lâm Hồng Loan Chị

Bái) có công suất 108 MW, nhà máy thủy điện này khánh thành đợt 1 và đưa vào

vận hành ngày 5 tháng 10 năm 1971 Sau chiến tranh phá hoại miền Bắc, Thủy

điện Thác Bà được khôi phục hoàn chỉnh và đầu năm 1973 cả 3 tổ máy đã được

đưa vào tiếp tục vận hành

- Ngành điện Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Công ty Điện lực thuộc Bộ Điện

và Than

Ngày 6 tháng 10 năm 1969, Bộ Điện và Than ra Quyết định số

106/QĐ/TC thành lập Công ty Điện lực (nay là Công ty Điện lực 1) trực thuộc

Bộ Điện và Than với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh điện năng và hoạt động theo

chế độ hạch toán kinh tế Trong thời gian này thì ngành điện Việt Nam đón nhận

ba sự kiện quan trọng, là việc Công ty Điện lực Miền trung và Công ty Điện lực

Miền nam ra đời, cũng như là sự kiện đường dây truyền tải 220 kV đầu tiên ở

miền Bắc hoàn thành, góp phần nâng cao năng lực truyền tải, cung cấp điện và

tạo cơ sở kỹ thuật cho việc xây dựng đường dây siêu cao áp 500 kV Bắc-Nam

sau này Đặc biệt nhất có thể kể trong giai đoạn này, là công trình thủy điện lớn

nhất Việt Nam do Liên Xô giúp xây dựng với 8 tổ máy có tổng công suất 1.920

MW của nhà máy thủy điện Hòa Bình

- Ngành điện dưới sự hoạt động của Tổng Công ty Điện lực thuộc Bộ

Năng lượng

Sau khi Bộ Điện lực ra đời và tiếp quản Công ty Điện lực không bao lâu,

trong gian đoạn từ năm 1981 đến năm 1993, thì Tổng công ty Điện lực Việt

Nam được thành lập theo Quyết định số 562/QĐ-TTg ngày 10 tháng 10 năm

1994 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sắp xếp lại các đơn vị thuộc Bộ Năng

lượng lúc bấy giờ; Tổng công ty Điện lực tổ chức và hoạt động theo Điều lệ ban

hành kèm theo Nghị định số 14/1995/NĐ - CP ngày 27 tháng 01 năm 1995 của

Chính phủ

Nhưng cho đến ngày 01 tháng 01 năm 1995, Tổng công ty Điện lực Việt

Nam (với tên viết tắt là EVN) chính thức ra mắt, hoạt động trong lĩnh vực sản

xuất kinh doanh điện năng trên toàn quốc Tuy nhiên, từ 01 tháng 4 năm 1995,

EVN mới bắt đầu điều hành toàn bộ công việc của ngành điện, bao gồm: phát

điện, truyền tải, phân phối, đầu tư xây dựng trên cơ sở các Tổng sơ đồ phát triển

điện đã được phê duyệt trước đó Sự ra đời của EVN đánh dấu bước ngoặt trong

Trang 19

quá trình đổi mới của nước ta, dần đưa các doanh nghiệp nhà nước sang hoạt

động theo cơ chế thị trường

Có thể nói là kể từ thời gian này thì ngành điện Việt Nam có được cơ sở

pháp lý nhất định cho họat động và điều hành Khi mà vào ngày 03 tháng 12

năm 2004, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Điện lực năm

2004 và chính thức ban hành, văn bản này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7

năm 2005

Sự ra đời của Luật Điện lực đã bước đầu tạo hành lang pháp lý cho hoạt

động của EVN nói riêng và ngành điện ở Việt Nam nói chung, nhằm nâng cao

tính minh bạch, công bằng cho các bên tham gia hoạt động lĩnh vực điện lực,

góp phần nâng cao năng lực cung ứng điện năng cho nền kinh tế đất nước

Không chỉ thế, ngày 19 tháng 10 năm 2005, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký

Quyết định số 258/2005/QĐ-TTg thành lập Cục Điều tiết Điện lực (gọi tắt là

ERAV) thuộc Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) Cục Điều tiết Điện

lực có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện chức năng điều tiết

hoạt động điện lực và thị trường điện lực, nhằm góp phần cung cấp điện an toàn,

ổn định, chất lượng, sử dụng điện tiết kiệm, có hiệu quả và bảo đảm tính công

bằng, minh bạch, đúng quy định của pháp luật trong hoạt động ngành điện của

nước ta

Một sự kiện quan trọng nữa đánh dấu bước chuyển đổi sâu sắc về tổ chức

quản lý, nâng cao tính chủ động trong sản xuất, kinh doanh của ngành Điện Việt

Nam Đó là sự kiện thành lập Tập đoàn Điện lực Việt Nam Ngày 22 tháng 6

năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 147/QĐ-TTg về việc phê

duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Với

ngành nghề kinh doanh chính là sản xuất và kinh doanh điện năng Đến ngày 17

tháng 12 năm 2006, Tập đoàn Điện lực Việt Nam chính thức ra mắt, đánh dấu

một bước ngoặt trọng đại, làm động lực để có thể đưa EVN nhanh chóng trở

thành một Tập đoàn kinh tế mạnh trong lĩnh vực điện của Việt Nam

Với cơ cấu tổ chức và quy mô hoạt động lớn, có trình độ công nghệ, quản

lý hiện đại, chuyên môn hóa cao, có thể cho đó là những yếu tố quan trọng để

EVN có thể dựa vào đó mà hoạt động trong nền kinh tế hội nhập có hiệu quả

Đồng thời, với những gì đã được đầu tư thì EVN còn có thể thực hiện tốt vai trò

Trang 20

GVHD: Phạm Mai Phương Trang 15 SVTH: Lâm Hồng Loan Chị

của mình trong việc đảm bảo an ninh năng lượng của nước nhà, đủ sức cạnh

tranh khi Việt Nam đang hướng tới xây dựng một thị trường điện cạnh tranh

trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước

Nhằm giáo dục truyền thống, động viên phong trào thi đua lao động sản

xuất vì sự phát triển của ngành điện cũng như của đất nước, ngày 12 tháng 9

năm 2009, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký và ban hành Quyết

định số 1494/QĐ-TTg, chính thức lấy ngày 21 tháng 12 hằng năm là Ngày

Truyền thống ngành Điện lực Việt Nam Và đây cũng được xem là ngày hội của

toàn ngành điện ở Việt Nam

1.4.2 Tập đoàn Điện lực Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

Từ cơ sở vật chất nghèo nàn và lạc hậu tiếp, quản từ tay thực dân Pháp, sau

55 năm chiến đấu, bảo vệ, xây dựng và phát triển, ngành Điện Việt Nam đã có

những được những thành tựu nhất định, trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật

quan trọng, là đòn bẩy cho nền kinh tế đất nước Từ chỗ chỉ có 31 MW công

suất nguồn điện, chủ yếu gồm các nhà máy điện nhỏ, sản lượng 53 triệu kWh

vào năm 1954 ở miền Bắc, đến cuối năm 2008, công suất lắp đặt của hệ thống

điện Quốc gia là 15.748 MW, sản lượng điện sản xuất đạt được là 74,225 tỷ

kWh

Từ các cụm nhà máy - đường dây hoạt động độc lập theo từng khu vực, đến

những năm đầu của thế kỷ 21 thì hệ thống điện quốc gia là một thể thống nhất,

các đường dây và trạm biến áp truyền tải và phân phối trải khắp các miền của

đất nước Trong đó, trục xương sống là hệ thống tải điện siêu cao áp 500 kV Bắc

– Nam, gồm 2 mạch với tổng chiều dài gần 3.500 km Trong quá trình chuyển

đổi từ cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường theo

định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, Tập đoàn Điện lực

Việt Nam đã kế thừa và phát huy được những thành tựu đạt được trong quá khứ

như vừa nêu, có thể được xem là động lực để EVN phát triển mạnh mẽ hơn

trong tương lai

Bên cạnh đó, qua nhiều năm phát triển, Tập đoàn Điện lực Việt Nam ngày

nay có đội ngũ cán bộ công nhân viên với hơn 26% có trình độ đại học và sau

đại học, đủ sức làm chủ các công nghệ tiên tiến của thế giới trong thiết kế, xây

dựng, quản lý, vận hành hệ thống điện quy mô lớn Nhiều công trình điện lớn,

Trang 21

phức tạp, có quy mô ở tầm khu vực hiện nay đều do đội ngũ cán bộ, kỹ sư, công

nhân trong nước thiết kế và thi công, như công trình đường dây siêu cao áp 500

kV Bắc Nam mạch 2, công trình Thủy điện Sơn La, v.v Để đạt được kết quả

đó thì chúng ta cũng phải động viên sự quan tâm của EVN trong việc đào tạo và

phát triển nguồn nhân lực của EVN có thể cho là đủ để đáp ứng yêu cầu, nhiệm

vụ của ngành và là vấn đề mà Tập đoàn hết sức quan tâm và dành kinh phí thích

đáng

Ngoài ra, trong những năm gần đây EVN đã mở rộng hoạt động kinh doanh

sang các lĩnh vực viễn thông, phát triển rộng khắp dịch vụ ngân hàng, tài chính

và bảo hiểm Nếu có cơ chế quản lý tốt nguồn vốn ở EVN và vai trò tập đoàn

này trong đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia thì chúng ta có thể tạo khung

pháp lý rõ ràng hơn cho vấn đề hoạt động đa ngành của EVN, cũng như các tập

đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam Vì đây là xu thế mà chúng ta không thể cấm

các doanh nghiệp kinh doanh đa ngành, vấn đề là chúng ta quản lý như thế nào

để thông qua đây tạo sức mạnh thật sự cho các tập đoàn kinh tế nhà nước mà

thôi

Đồng thời, EVN cũng có đẩy mạnh việc sản xuất cơ khí điện lực, đặc biệt

là sản xuất các thiết bị lưới điện cao áp, các thiết bị nhà máy điện; Không chỉ

vậy mà còn mở rộng hoạt động tư vấn xây dựng điện ra các nước trong khu vực

và thế giới; Hợp tác với các nước láng giềng để quy hoạch, thiết kế, xây dựng

các nhà máy điện tại Lào và Campuchia; Mở rộng liên kết lưới điện 110, 220 kV

với các nước trong khu vực và trong khối ASEAN, tiến tới liên kết đến cấp điện

áp 500 kV Vai trò của EVN còn được khẳng định mạnh mẽ và quyết liệt hơn

khi EVN được Quốc hội, Đảng và Chính phủ tin tưởng giao nhiệm vụ vô cùng

quan trọng là triển khai nghiên cứu, khảo sát, lập báo cáo khả thi, đầu tư, giám

sát xây dựng và sau này là quản lý vận hành 2 dự án nhà máy điện nguyên tử

đầu tiên của Việt Nam, dự kiến hoàn thành vào năm 2020 Đây là niềm vinh dự

lớn, tiền đề cho một bước ngoặt quan trọng tiếp nối những bước ngoặt trong lịch

sử phát triển Điện lực Việt Nam suốt 55 năm qua

Trang 22

GVHD: Phạm Mai Phương Trang 17 SVTH: Lâm Hồng Loan Chị

1.4.3 Một số vai trò của Tập đoàn Điện lực Việt Nam

1.4.3.1 Đối với phát triển xã hội

Chúng ta biết rằng, nhu cầu về điện là thiết yếu, đó không chỉ là nhu cầu

sinh hoạt đơn thuần của người dân, mà điện còn là một trong những công cụ

giúp Nhà nước nâng cao dân trí, nhất là chúng ta phải nhìn nhận một thực tế là

Việt Nam chúng ta vẫn còn đó những địa bàn khó khăn cả về điều kiện sinh hoạt

lẫn nhu cầu học hành và chăm sóc sức khỏe Đặc biệt là các khu vực đồng bào

dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa Cho nên nhu cầu về điện để cải thiện bộ mặt

nông thôn và phát triển xã hội nói chung càng được đặt ra lớn hơn

Thấy được vai trò đó của mình đối với đất nước nên trong những năm qua,

tập đoàn EVN đã có nhiều hoạt động vì an sinh xã hội, vì cuộc sống cộng đồng

thiêt thực và hiệu quả Cụ thể như11:

- Từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2010 EVN đã thực hiện chương trình đổi

một triệu bóng đèn sợi đốt bằng đèn compact cho người nghèo tại các tỉnh miền

Tây Nam bộ và Đông Nam bộ;

- Hoàn thành dự án cấp điện cho các thôn, buôn chưa có điện ở 5 tỉnh Tây

Nguyên;

- Triển khai dự án cấp điện cho đồng bào Khmer ở 3 tỉnh Trà Vinh, Sóc

Trăng và Bạc Liêu;

- Thực hiện tốt việc tham gia chống hạn, chống lũ cho nhân dân các vùng lũ

lụt thông qua các công trình thủy điện đạt mục tiêu, như trong đợt mưa lũ - đợt 1

vào cuối tháng 9 - đầu tháng 10 năm 2010, EVN cũng đã gửi số tiền hỗ trợ

100.000.000 đồng nhằm cứu trợ đồng bào vùng lũ vượt qua khó khăn Và tổng

số tiền Tập đoàn Điện lực Việt Nam hỗ trợ trực tiếp qua 2 đợt của năm 2010 là

550.000.000đồng

- Hay hàng năm vào mùa khô, trong điều kiện thiếu điện, chia sẻ với nông

dân, tập đoàn đã hy sinh lợi ích doanh nghiệp tăng cường huy động các nguồn

điện chạy dầu giá cao, chỉ đạo các nhà máy Thủy điện Hòa Bình, Thác Bà,

Tuyên Quang, Sông Hinh, Trị An, Hàm Thuận - Đa My tiêu tiết nước và sửa

11 http://www.npc.com.vn/npc/Default.aspx?tabid=190 [truy cập 10 - 12 - 2010]

Trang 23

chữa định kỳ hợp lý, để tăng nguồn điện được phát trong thời kỳ cao điểm mùa

hè…

- Đặc biệt, thực hiện theo tinh thần Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của

Chính phủ về chương trình “hỗ trợ các huyện nghèo giảm nghèo nhanh và bền

vững”, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã dành gần 280 tỷ đồng để hỗ trợ cho 3

địa bàn nghèo của tỉnh Lai Châu là Phong Thổ, Than Uyên và Tân Uyên Cũng

trong dịp đó, những món quà ý nghĩa cũng được gửi tặng 30 gia đình chính sách

nhân dịp kỷ niệm 62 năm ngày Thương binh liệt sỹ tại 3 xã Mường Khoa -

huyện Than Uyên, xã Nậm Cần - huyện Tân Uyên và xã Mường Xò - huyện

Phong Thổ

- Triển khai thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà Nước

đưa điện về nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa;

- Đưa ánh sáng đến với người nghèo, đồng bào dân tộc, góp phần cải thiện

đáng kể đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Trong giai đoạn

2006-2010, EVN đã đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng để đưa điện về nông thôn, vùng

sâu, vùng xa

Cho tới nay, có thể nói, 100% số huyện trong cả nước có điện lưới quốc

gia đi ngang qua; 97,57% số xã và 95,08% số hộ dân nông thôn sử dụng điện

lưới quốc gia, vượt 5,08% so với chỉ tiêu trong Nghị quyết của Ðại hội lần thứ X

của Ðảng Ðiện khí hóa nông thôn đã thật sự góp phần thay đổi căn bản diện

mạo kinh tế - xã hội ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, đóng góp hiệu

quả trong xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào, chỉ tiêu này cao hơn nhiều nước

trong khu vực, kể cả các nước có thu nhập đầu người dân cao hơn nước ta như

Indonesia, Ấn Độ, Pakistan… Bên cạnh đó, Tập đoàn đã tích cực phối hợp với

các địa phương, chi hàng chục tỷ đồng cho công tác đào tạo quản lý điện nông

thôn, miền núi và xây dựng các mô hình quản lý điện nông thôn, miền núi phù

hợp với quy định của Nhà nước

Ở lĩnh vực tạo nguồn nhân lực cho ngành thì hiện tại hệ thống 4 trường đào

tạo (gồm một trường Đại học và 3 trường Cao đẳng) với các loại hình đào tạo

như: Đại học, Trung học, Thạc sỹ, Tiến sỹ, đào tạo bồi dưỡng, cập nhật kiến

thức về quản lý kinh tế, kỹ thuật, ngoại ngữ, … đã góp phần đào tạo cho hơn

50.000 lượt cán bộ công nhân viên chức hàng năm Bên cạnh đó là hợp tác với

Trang 24

GVHD: Phạm Mai Phương Trang 19 SVTH: Lâm Hồng Loan Chị

các cơ sở đào tạo nước ngoài như: AIT, Đại học năng lượng (MPEI) Matxcova,

INPG (Pháp), Uniten (Malaixia)…, chỉ từ năm 2007 đến nay, Tập đoàn đã cử

245 cán bộ nhân viên và học sinh giỏi là con em cán bộ công nhân viên đi đào

tạo ở nước ngoài ở các bậc học: Tiến sỹ, Thạc sỹ và Kỹ sư tài năng

Tập đoàn còn phối hợp với Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ

Chí Minh và các trường Chính trị trên cả nước để mở lớp, mỗi năm bồi dưỡng

hàng trăm cán bộ các cấp của tập đoàn đạt trình độ Cao cấp, Cử nhân Chính trị

Chấp hành các chủ trương chính sách của Đảng, Pháp luật Nhà nước, không

ngừng đổi mới để phát triển Đảng bộ của Tập đoàn liên tục nhiều năm được

công nhận là Đảng bộ trong sạch vững mạnh Các tổ chức Công đoàn, Đoàn

thanh niên đã tích cực tham gia vào các phong trào thi đua sản xuất, chăm lo,

bảo vệ quyền lợi của người lao động, động viên người lao động hăng say làm

việc, góp phần củng cố khối đoàn kết nhất trí Đặc biệt là, chuyên mục “EVN

vòng tay nhân ái” trên Tạp chí Điện lực chuyên đề Quản lý và Hội nhập thường

xuyên đăng tải thông tin về những hoàn cảnh khó khăn ngay trong tập đoàn, qua

đó gây quỹ hỗ trợ, nhằm đảm bảo việc làm và thu nhập, chăm lo đời sống vật

chất, tinh thần cho người lao động và gia đình

Cũng thông qua eó, để Tập đoàn Điện lực Việt Nam đẩy mạnh phong trào

thi đua yêu nước, động viên cán bộ công nhân viên chức hăng hái thi đua lao

động sáng tạo, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước

giao phó Nổi bật là các phong trào thi đua điển hình như: “Ca vận hành an toàn

kinh tế”, “Đảm bảo tiến độ, chất lượng và hiệu quả trong đại tu, sửa chữa”:

“Trạm biến áp và đường dây kiểu mẫu”, “Kíp vận hành kiểu mẫu”, “Điện lực,

chi nhánh điện, trạm điện giỏi”, “Vận hành lưới điện an toàn, chất lượng”,

“Tăng giá bán bình quân, giảm tổn thất” Khối các Công ty Tư vấn Xây dựng

điện và Ban Quản lý Dự án thi đua triển khai các công trình xây dựng nguồn và

lưới điện đảm bảo chất lượng, tiến độ, đúng các quy định của Nhà nước và tập

đoàn… Góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Khi

điện là một trong những đòn bẫy để thực hiện quá trình này

1.4.3.2 Đối với phát triển kinh tế

Chúng ta không thể phủ định rằng vai trò của điện đối với đời sống kinh tế

– xã hội là vô cùng quan trọng, vì điện là đầu tàu của nền kinh tế, là ngành công

Trang 25

nghiệp có vai trò sống còn đối với nền kinh tế Các ngành công nghiệp sản xuất

cần điện trong quá trình sản xuất được liên tục và tiết kiệm hơn các loại năng

lượng khác, cũng như nông nghiệp cần điện cho quá trình cơ khí và điện khí hóa

nông nghiệp – nông thôn nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất Nhất là khi điện

cũng là một trong những yếu tố của cơ sở hạ tầng kỹ thuật để thu hút các nguồn

lực đầu tư, đặc biệt là các nguồn đầu tư nước ngoài Và trong tiến trình thực hiện

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngành điện lại càng có ý nghĩa chiến

lược quan trọng hơn Vì vậy, EVN được giao trọng trách là phải tiến trước một

bước, để thực sự là đầu tàu, là xương sống của nền kinh tế, tỏ rõ vai trò chủ đạo

của mình trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước

Cho nên, trong nhiều năm qua, được Ðảng và Nhà nước giao trọng trách

bảo đảm cung ứng điện cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Tập đoàn

Ðiện lực Việt Nam đã nỗ lực đầu tư nhiều công trình trong hệ thống nguồn và

lưới điện, góp phần quan trọng bảo đảm điện để phát triển các ngành kinh tế và

đời sống sinh hoạt của nhân dân Hết năm 2010, tổng công suất lắp đặt nguồn

điện toàn hệ thống điện đạt khoảng 20.900 MW với sản lượng điện thương

phẩm năm 2010 ước đạt 85,4 tỷ kW giờ, điện thương phẩm bình quân ước đạt

hơn 16,7 triệu khách hàng trực tiếp mua điện của tập đoàn Tính chung giai đoạn

2006-2010, tổng công suất lắp đặt nguồn điện mới trong hệ thống điện tăng

thêm 10.400 MW (tăng 1,98 lần so năm 2005)

Nói đến giá trị kinh tế của ngành điện chúng ta không thể không nói đến

đường dây 500 KV khởi công vào ngày 5 tháng 4 năm 1992 Đúng 2 năm sau,

ngày 5 tháng 4 năm 1994, toàn bộ đường dây và các trạm 500kV đã được bàn

giao cho bên vận hành thực hiện các thí nghiệm, chuẩn bị cho việc khởi động

toàn bộ hệ thống tải điện 500kV Với công trình này thì tình trạng thiếu điện ở

miền Nam và miền Trung, đáng nói nhất là tại TP Hồ Chí Minh vào mùa khô

phải cắt điện luân phiên tới 5 lần mỗi tuần, miền Trung thiếu điện nghiêm trọng

đến mức phải gọi là “đói điện” cơ bản đã được giải quyết Hơn 15 năm qua, hệ

thống tải điện 500kV Bắc-Nam đã truyền tải với tổng sản lượng không nhỏ so

với nhu cầu tiêu thụ điện của nền kinh tế gần 148 tỷ kWh, phát huy vai trò cung

12 http://www.pv-power.vn/viewer.asp?pgid=3&aid=306 [truy cập 01 - 01 - 2011]

Trang 26

GVHD: Phạm Mai Phương Trang 21 SVTH: Lâm Hồng Loan Chị

cấp điện phát triển kinh tế xã hội, xứng đáng là một bản anh hùng ca của người

lao động và sáng tạo trong thời kỳ đổi mới của đất nước.13

Với những gì EVN đã đạt được trong thời gian qua, cả về mặt kinh tế lẫn

xã hội thì chúng ta có thể nói là EVN đã thật sự thực hiện được phần nào vai trò

quan trọng của mình đối với quá trình phát triển đất nước Tuy nhiên, vấn đề mà

chúng ta cần phải quan tâm trước yêu cầu hội nhập của nền kinh tế, nhất là một

khi chúng ta đã chấp nhận gia nhập WTO thì việc tạo ra hành lang pháp lý minh

bạch và rõ ràng cho ngành điện ở Việt Nam nói chung và đối với EVN nói riêng

là điều chúng ta cần phải có cái nhìn chiến lược hơn cho ngành công nghiệp này

trong tương lai để từ đó có những quyết sách kịp thời và đúng đắn hơn

13 http://www.longphuong.com.vn/articles/view/3/14/tin-tuc [truy cập 10 - 01 - 2011]

Trang 27

CHƯƠNG 2

BỘ MÁY TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC

VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN

2.1 Bộ máy tổ chức của Tập đoàn Điện lực Việt Nam

2.1.1 Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức của EVN trong thời gian qua, là theo mô hình tích hợp dọc

gồm cả phát, truyền tải, phân phối, mua bán điện và cả điều hành hệ thống điện

Với hệ thống các đơn vị thành viên có quy mô lớn Khi mới được thành lập,

EVN đã có tới 65 đơn vị thành viên, trong só có 17 đơn vị trực thuộc, 5 đơn vị

sự nghiệp, 10 công ty liên kết và 23 công ty con do EVN nắm giữ 100% vốn

điều lệ và 10 công ty con do EVN nắm giữ trên 50% vốn điều lệ

Sau một thời gian đi vào hoạt động theo mô hình này thì tính đến cuối năm

2009, số lượng đơn vị thành viên của EVN đã tăng lên là 94 đơn vị, trong só có

27 đơn vị trực thuộc, 39 công ty con, 05 đơn vị sự nghiệp, 23 công ty liên kết.14

Đơn vị thành viên của Tập đoàn Điện lực Việt Nam bao gồm: các đơn vị

sự nghiệp, công ty con, công ty liên kết, công ty tự nguyện liên kết

Trong ó , các thành viên của EVN được khái niệm15 như sau:

- Đơn vị sự nghiệp của Tập đoàn Điện lực Việt Nam bao gồm: các trường

đào tạo, viện nghiên cứu, trung tâm và các đơn vị khác được thành lập theo

quyết định của cơ quan có thẩm quyền

- Công ty con: là công ty hạch toán độc lập do Tập đoàn Điện lực Việt Nam

nắm 100% vốn điều lệ hoặc giữ cổ phần, vốn góp chi phối hoặc nắm giữ quyền

chi phối khác, được tổ chức dưới các hình thức: công ty trách nhiệm hữu hạn

một thành viên (công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên), công ty trách

viên trở lên), công ty cổ phần, tổng công ty, công ty nhà nước hoạt động theo

mô hình công ty mẹ - công ty con trong thời gian chưa chuyển đổi theo quy định

Trang 28

GVHD: Phạm Mai Phương Trang 23 SVTH: Lâm Hồng Loan Chị

của Luật Doanh nghiệp 2005, công ty liên doanh với nước ngoài, công ty ở nước

ngoài và các loại hình công ty khác theo quy định của pháp luật

- Công ty liên kết của Tập đoàn Điện lực Việt Nam: là công ty có cổ phần,

vốn góp không ở mức chi phối của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, được tổ chức

dưới hình thức công trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ

phần, công ty liên doanh với nước ngoài ở Việt Nam và ở nước ngoài, các loại

hình công ty khác theo quy định của pháp luật, chịu sự ràng buộc về quyền lợi,

nghĩa vụ với Tập đoàn Điện lực Việt Nam theo tỷ lệ góp vốn hoặc theo thoả

thuận trong hợp đồng liên kết với Tập đoàn Điện lực Việt Nam

- Công ty tự nguyện liên kết với Tập đoàn Điện lực Việt Nam: là công ty

không có cổ phần, vốn góp của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, nhưng tự nguyện

liên kết với Tập đoàn Điện lực Việt Nam, chịu sự ràng buộc về quyền và nghĩa

vụ với Tập đoàn Điện lực Việt Nam theo hợp đồng liên kết hoặc theo thỏa thuận

hoặc cam kết với Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Cơ cấu tổ chức quản lý điều hành của EVN theo Quyết định 16316

là:

- Hội đồng quản trị;

- Tổng giám đốc;

- Các Phó Tổng giám đốc;

- Ban kiểm soát và bộ máy giúp việc

19 tháng 3 năm 2010 do Thủ tướng Chính phủ ban hành, về việc chuyển đổi

công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức

quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở

hữu, thì EVN là một trong các đối tượng phải chuyển đổi Và EVN chính thức

được chuyển đổi từ Công ty mẹ- Tập đoàn Điện lực Việt Nam thành công ty

trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu Nhà nước bằng Quyết định

975

Theo quyết định này thì loại hình doanh nghiệp của EVN là công ty trách

nhiệm hữu hạn một thành viên, Điều lệ tổ chức và hoạt động của EVN do Thủ

tướng Chính phủ phê duyệt Bên cạnh đó, vì EVN hoạt động trong các ngành,

16 Quyết định số 163/2007/QĐ – TTg ban hành ngày 22 tháng 10 năm 2007 về việc ban hành Điều lệ tổ chức và

hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, sau đây gọi chung là Điều lệ EVN

Trang 29

lĩnh vực đặc thù nên cơ cấu tổ chức quản lý điều hành của EVN cũng do Thủ

tướng Chính phủ quyết định

Có thể nói rằng, cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho việc chuyển đổi theo

tinh thần của Nghị định 25 là Luật Doanh nghiệp 2005 Bởi vì, sau ngày 01

tháng 7 năm 2010 thì Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 không còn hiệu

lực nữa Nên, tại khoản 1 Điều 34 của Nghị định 25 đồng thời quy định việc

chuyển đổi phải hoàn thành trước ngày 01 tháng 7 năm 2010 Đó cũng là hệ quả

tất yếu cho một quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về doanh nghiệp ở Việt

Nam chúng ta Nếu một khi chúng ta muốn có một khung pháp lý chung cho các

loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường thì việc tồn tại của Luật

Doanh nghiệp Nhà nước xem ra không cần thiết nữa

Như đã nói ở trên, vì EVN kinh doanh và hoạt động trong lĩnh vực đặc thù

là điện, nên cơ cấu tổ chức quản lý của EVN do Thủ tướng Chính phủ quyết

định trên cơ sở những quy định được ghi nhận tại Nghị định 25 Cụ thể bao

gồm:

- Hội đồng thành viên

Với tư cách nhân danh chủ sở hữu, Hội đồng thành viên có chức năng tổ

chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu được pháp luật quy định

Không chỉ thế, khoản 1 Điều 68 Luật Doanh nghiệp 2005 còn quy định, Hội

đồng thành viên còn có thể nhân danh công ty thực hiện các quyền và nghĩa vụ

của công ty Chế độ làm việc của Hội đồng thành viên thực hiện theo quy định

tại Khoản 6 Điều 21 Nghị định 25 Cụ thể được quy định17 như sau:

- Xây dựng và quyết định chiến lược phát triển; Kế hoạch dài hạn, trung

hạn và hàng năm của công ty; Quyết định phương án phối hợp kinh doanh của

các đơn vị thành viên do công ty sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần;

- Quyết định việc xây dựng và sử dụng thương hiệu; Các giải pháp phát

triển thị trường và công nghệ; Phân công chuyên môn hóa, hợp tác, tiếp cận, mở

rộng và chia sẻ thông tin, thị trường, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ

giữa công ty với các doanh nghiệp thành viên;

- Quyết định đầu tư thành lập mới, tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu

công ty con là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; Các công ty trách

17 Điều 20 Nghị định 25

Trang 30

GVHD: Phạm Mai Phương Trang 25 SVTH: Lâm Hồng Loan Chị

nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu của các công ty con do công ty mẹ

nắm giữ 100% vốn điều lệ; Các đơn vị trực thuộc công ty mẹ; Các chi nhánh,

các văn phòng đại diện của công ty mẹ ở trong nước và ở nước ngoài theo quy

định của pháp luật;

- Quyết định các phương án huy động vốn có giá trị không vượt quá giá trị

vốn điều lệ hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty, hoặc không

vượt quá mức giá trị tối đa quy định tại Điều lệ công ty;

- Quyết định cơ cấu tổ chức, phương án tổ chức kinh doanh, quy chế quản

lý nội bộ công ty, biên chế bộ máy quản lý;

- Có quyền quyết định thang, bảng lương, đơn giá tiền lương, chế độ trả

lương đối với người lao động và cán bộ quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn

một thành viên trên cơ sở lương tối thiểu của Nhà nước và nguyên tắc tốc độ

tăng tiền lương bình quân thấp hơn tốc độ tăng năng suất lao động, trừ các chức

danh là Chủ tịch, thành viên Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc, Phó Tổng

giám đốc (Giám đốc lĩnh vực), Kế toán trưởng, Kiểm soát viên của công ty do

chủ sở hữu công ty quyết định;

- Quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp

đồng, khen thưởng, kỷ luật, mức lương và lợi ích khác đối với Tổng giám đốc

công ty Quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt

hợp đồng, mức lương và lợi ích khác đối với các Phó tổng giám đốc (Giám đốc

lĩnh vực), Kế toán trưởng của công ty theo đề nghị của Tổng giám đốc;

- Tổ chức thực hiện các quyết định được chủ sở hữu công ty chấp thuận;

- Báo cáo chủ sở hữu công ty kết quả và tình hình hoạt động kinh doanh

của công ty;

- Chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu công ty và pháp luật về thực hiện

quyền hạn, nhiệm vụ của mình và về sự phát triển của công ty theo mục tiêu,

nhiệm vụ chủ sở hữu giao Trường hợp để công ty thua lỗ hoặc giảm tỷ suất lợi

nhuận trên vốn chủ sở hữu hoặc không thực hiện được các mục tiêu, nhiệm vụ

chủ sở hữu giao mà không giải trình được nguyên nhân khách quan và được chủ

sở hữu chấp nhận thì tùy theo mức độ, sẽ bị cách chức hoặc bồi thường thiệt hại

theo quy định của pháp luật;

Trang 31

- Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định tại Điều lệ công ty, Luật

Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan

Hội đồng thành viên có các thành viên chuyên trách và không chuyên

trách Trong đó Chủ tịch Hội đồng thành viên phải là cán bộ chuyên trách Chủ

sở hữu công ty quyết định số lượng và cơ cấu thành viên Hội đồng thành viên

Hội đồng thành viên công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước có từ 05 người

đến 09 người Chủ tịch và các thành viên Hội đồng thành viên do chủ sở hữu

công ty quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng và kỷ luật Nhiệm kỳ

của thành viên Hội đồng thành viên được quy định tại Điều lệ công ty nhưng

không quá 5 năm Thành viên Hội đồng thành viên có thể được bổ nhiệm lại

hoặc thay thế Thành viên Hội đồng thành viên không làm các chức vụ quản lý,

điều hành tại doanh nghiệp thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên do chủ sở

hữu công ty chỉ định trong số các thành viên Hội đồng thành viên và không

định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định 25

Theo Quyết định số 173/2011/QĐ – TTg ngày 24 tháng 02 năm 2011 của

Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm Hội đồng thành viên EVN, thì con số

thành viên của Hội đồng thành viên EVN hiện nay là 6 người Phần lớn các

thành viên này đều là Chủ tịch và thành viên của Hội đồng quản trị của EVN

trước đây Cụ thể như:

- Ông Đào Văn Hưng, Chủ tịch Hội đồng quản trị, giữ chức Chủ tịch Hội

đồng thành viên;

- Ông Phạm Lê Thanh, Ủy viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc Tập

đoàn Điện lực Việt Nam, giữ chức Thành viên Hội đồng thành viên;

- Ông Nguyễn Bỉnh Niệm, Ủy viên Hội đồng quản trị, giữ chức Thành viên

Trang 32

GVHD: Phạm Mai Phương Trang 27 SVTH: Lâm Hồng Loan Chị

- Ông Đào Hiếu, Ủy viên Hội đồng quản trị, giữ chức Thành viên Hội đồng

thành viên

- Tổng giám đốc

Như chúng ta đã thấy ở trên thì Tổng Giám đốc của EVN là do Hội đồng

thành viên bổ nhiệm Chức danh này hiện nay do Ông Phạm Lê Thanh đảm

nhận Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 25 và Điều 31 Điều lệ của

EVN thì Tổng Giám đốc là người điều hành hoạt động hằng ngày của công ty

theo mục tiêu, kế hoạch, các nghị quyết và quyết định của Hội đồng thành viên

trên cơ sở phù hợp với quy định của Điều lệ công ty Chủ thể này chịu trách

nhiệm trước Hội đồng thành viên và pháp luật về việc thực hiện các quyền và

nhiệm vụ được giao

Vì Điều lệ EVN sau khi chuyển đổi chưa được phê duyệt nên các chức

danh trong cơ cấu tổ chức quản lý tập đoàn phần lớn chịu ảnh hưởng bởi Nghị

định 25 Nhưng về mặt thực tế thì kế thừa, áp dụng quy định ở Điều lệ của EVN,

nên Tổng Giám đốc có quyền hạn và nghĩa vụ19 cụ thể như:

- Điều hành bộ máy giúp việc thực hiện nhiệm vụ được phân công

- Thực hiện kiểm tra, thanh tra thường xuyên, đột xuất đối với EVN, các

công ty con do EVN nắm giữ 100% vốn điều lệ để xử lý kịp thời các vi phạm,

sai phạm theo quy định của pháp luật;

- Quyết định các dự án đầu tư, các hợp đồng mua, bán tài sản, các hợp đồng

vay, cho vay, thuê, cho thuê và hợp đồng khác của EVN có giá trị theo mức

phân cấp hoặc uỷ quyền của Hội đồng quản trị20 EVN và các quy định của pháp

luật;

- Quyết định phương án sử dụng vốn, tài sản của EVN để góp vốn, mua cổ

phần của các công ty trong nước có giá trị theo mức phân cấp hoặc uỷ quyền của

Hội đồng quản trị EVN và các quy định khác của pháp luật;

- Được hưởng chế độ tiền lương theo năm Mức tiền lương và tiền thưởng

tương ứng với hiệu quả kinh doanh của EVN do Hội đồng quản trị quyết định;

19 Điều 34 Điều lệ EVN

20 Hiện nay được thay thế bởi Hội đồng thành viên

Trang 33

- Báo cáo Hội đồng quản trị về kết quả hoạt động kinh doanh của EVN;

thực hiện việc công bố công khai các báo cáo tài chính của EVN theo quy định

của pháp luật;

- Quyết định tuyển chọn, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc bổ

nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, mức lương và phụ cấp đối với:

· Giám đốc và Kế toán trưởng của các đơn vị trực thuộc EVN, công ty thành

viên hạch toán độc lập chờ chuyển đổi sở hữu; Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp;

các Trưởng ban, Chánh văn phòng cơ quan EVN sau khi Hội đồng quản trị EVN

thông qua;

· Phó giám đốc các đơn vị trực thuộc, công ty thành viên hạch toán độc

lập chờ chuyển đổi sở hữu theo đề nghị của Giám đốc các đơn vị này;

· Các Phó Trưởng ban, Phó Chánh văn phòng thuộc bộ máy của EVN;

· Các chức danh quản lý khác trong EVN theo phân cấp của Hội đồng

quản trị EVN

- Được hưởng chế độ tiền lương theo năm Mức tiền lương và tiền thưởng

tương ứng với hiệu quả kinh doanh của EVN do Hội đồng quản trị quyết định

Bên cạnh đó, ngoài các nghĩa vụ được quy định tại Điều 72 Luật Doanh

nghiệp 2005 thì tại khoản 1 Điều 36 Điều lệ của EVN, còn quy định nghĩa vụ

của Tổng Giám đốc EVN như sau:

- Không được để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình

giữ chức vụ thành viên Ban kiểm soát, Kế toán trưởng, thủ quỹ tại EVN Phải

báo cáo để Hội đồng quản trị biết về các hợp đồng của EVN ký kết với thành

viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị,

em ruột của thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc Trường hợp phát hiện

hợp đồng có mục đích tư lợi mà hợp đồng chưa được ký kết thì có quyền yêu

cầu thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc không được ký kết hợp đồng

đó Nếu hợp đồng đã được ký kết thì bị coi là vô hiệu và thành viên Hội đồng

quản trị, Tổng giám đốc phải bồi thường nếu gây thiệt hại cho EVN và bị xử lý

theo quy định của pháp luật;

- Khi EVN không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác

đến hạn phải trả, thì:

Trang 34

GVHD: Phạm Mai Phương Trang 29 SVTH: Lâm Hồng Loan Chị

· Tổng giám đốc phải báo cáo Hội đồng quản trị tìm các biện pháp khắc

phục khó khăn về tài chính và thông báo tình hình tài chính của EVN cho tất cả

các chủ nợ được biết;

· Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị và Tổng giám

đốc không được tăng tiền lương, không được trích lợi nhuận trả tiền thưởng cho

cán bộ quản lý và người lao động;

- Trường hợp Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị

hoặc Tổng giám đốc vi phạm Điều lệ, quyết định vượt thẩm quyền, lợi dụng

chức vụ, quyền hạn gây thiệt hại cho EVN và Nhà nước thì phải bồi thường thiệt

hại theo quy định của pháp luật và Điều lệ của EVN

Æ Điểm cần lưu ý ở đây là mối quan hệ giữa Hội đồng thành viên và Tổng

Giám đốc EVN Nếu tại Điều 35 Điều lệ EVN quy định mối quan hệ này là quan

hệ giữa Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc EVN Nhưng, theo Nghị định 25

thì cơ cấu tổ chức quản lý của EVN lúc này Hội đồng quản trị được thay thế bởi

Hội đồng thành viên Vì vậy, mối quan hệ này được dựa trên cơ sở pháp lý là

Nghị định 2521

, cụ thể như sau:

- Khi tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành

viên, nếu phát hiện vấn đề không có lợi cho công ty thì Tổng giám đốc báo cáo

với Hội đồng thành viên để xem xét, điều chỉnh lại nghị quyết, quyết định Hội

đồng thành viên phải xem xét đề nghị của Tổng giám đốc Trường hợp Hội đồng

thành viên không điều chỉnh lại nghị quyết, quyết định thì Tổng giám đốc vẫn

phải thực hiện nhưng được quyền kiến nghị lên chủ sở hữu công ty

- Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc tháng, quý, năm, Tổng

giám đốc phải gửi báo cáo bằng văn bản về tình hình hoạt động và dự kiến

phương hướng thực hiện trong kỳ tới của công ty cho Hội đồng thành viên

- Chủ tịch Hội đồng thành viên có quyền tham dự hoặc cử đại diện Hội

đồng thành viên tham dự các cuộc họp giao ban, cuộc họp chuẩn bị các đề án

trình Hội đồng thành viên do Tổng giám đốc chủ trì Chủ tịch Hội đồng thành

viên hoặc người đại diện Hội đồng thành viên có quyền phát biểu ý kiến nhưng

không có quyền kết luận cuộc họp

21 Điều 24 Nghị định 25

Ngày đăng: 23/10/2020, 23:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w