1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm Hiểu Về Một Số Vấn Đề Pháp Lý Cơ Bản Của Hiến Chương Asean Và Nền Pháp Quyền Việt Nam

72 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 897,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá đã và đang trở thành một trào lưu chính trong quan hệ quốc tế ngày nay,hội nhập chính là mục tiêu chung của các quốc gia .Tuy nhiên mức độ hội nhập như

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

QUYỀN VIỆT NAM

MSSV:5075244 Lớp:Thương mại 3 Khóa

Cần Thơ,Tháng 4/2011

Trang 2

Mục Lục

Trang

Lời Nói Đầu ……….………1

1Tính cấp thiết của đề tài……….……1

2.Phương pháp nghiên cứu……… 4

3.phạm vi nghiên cứu………4

4.Mục tiêu nghiên cứu……… ……4

5.Kết cấu đề tài……… ……5

CHƯƠNG 1.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC ASEAN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG HIẾN CHƯƠNG……… 6

1.Qúa trình hình thành và phát triển của tổ chức ASEAN……… 6

1.1.Hoàn cảnh ra đời… ……… ….…6

1.2.Mục tiêu hoạt động……… ………….…….6

1.3.Các nguyên tắc hoạt động chính của ASEAN……….…….7

1.3.1 Các nguyên tắc làm nền tảng cho quan hệ giữa các quốc gia thành viên và với bên ngoài……….……….8

1.3.2Các nguyên tắc điều phối hoạt động của Hiệp hội:……….…… 8

1.3.3.các nguyên tắc khác………9

1.4.Qúa trình phát triển của ASEAN……… …9

1.4.1Nhửng cột mốc quan trọng……… …… …10

1.4.1.1.Tuyên bố ASEAN……….….….10

1.4.1.2.Tuyên bố về khu vực hòa bình, tự do và trung lập……… 11

1.4 1.3.Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á………13

1.4.1.4.ASEAN mở rộng lên 10 nước thành viên.……….… 13

1.4.1.5.Hiến chương ASEAN……….15

1.4.2.Sự cần thiết và tiến trình xây dựng hiến chương ASEAN……… … 16

1.4.2.1.Sự cần thiết của việc Hiến Chương ra đời……… ….….16

1.4.2.2.Tiến trình xây dựng hiến chương……… ……19

1.4.2.2.1.Ý tưởng thực hiện……… …… 19

1.4.2.2.2.Công tác soạn thảo……….……….20

1.4.2.2.3.Tiến trình ký kết và phê chuẩn……… … ……20

2.Nhận định chung về Hiến Chương ASEAN và những ảnh hưởng đến nền pháp quyền Việt Nam……….….…21

2.1Về Hiến Chương ASEAN……… ….… …21

2.2.Ảnh hưởng của Hiến Chương đến nền pháp quyền Việt Nam……….… 23

2.2.1.Nền pháp quyền Việt Nam……… ……23

Trang 3

2.2.2Ảnh hưởng của bản Hiến Chương đến nền pháp quyền Việt Nam…… ……24

CHƯƠNG 2.TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NHỬNG TÁC ĐỘNG ẢNH HỬƠNG VỚI NỀN PHÁP QUYỀN VIỆT NAM ……… …27

1.Những nội dung cơ bản của Hiến Chương ASEAN và quá trình Việt Nam tham gia xây dựng Hiến Chương……… 27

1.1.Nội dung cơ bản của Hiến Chương ASEAN……… …… 27

1.2.Qúa trình Việt Nam tham gia xây dựng ký kết và phe chuẩn hiến chương….32 3.Tìm Hiểu về quy chế pháp lý và nguyên tắc hoạt động của ASEAN khi Hiến Chương ra đời……….…… …33

3.1.Quy chế pháp lý của ASEAN ……… ……33

3.2.Các nguyên tắc cơ bản của ASEAN……….…….35

3.3.Phương thức thông qua các quyết định của ASEAN……….…….… 35

3.4.Phương thức giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ ASEAN……….36

3.4.1.Đối thoại trao đổi ý kiến và thương lượng………36

3.4.2.Giải quyết các tranh chấp giữa các thành viên ASEAN theo các cơ chế đã được quy định trong các văn kiện liên quan……….………….37

3.5 Các vấn đề pháp lý liên quan khác……….…… 37

3.5.1 Quyền ưu đãi, miễn trừ của tổ chức ASEAN, quan chức Ban Thư ký ASEAN và đại diện các quốc gia thành viên ASEAN……… ……… 37

3.5.2 Các quy chế cụ thể liên quan một số cơ quan……….……… 38

3.5.3 Thủ tục sửa đổi bổ sung Hiến chương ASEAN……… ………… … 38

4.Nhửng tác động ảnh hưởng của các vấn đề pháp lý trong hiến chương với các quốc gia ASEAN cũng như Việt Nam……….…… … ………….39

4.1.Ý nghĩa của việc Hiến chương có hiệu lực đối với ASEAN……….… 39

4.2.Các tác động ảnh hưởng của Hiến chương……… ….… 39

4.2.1 Những tác động thuận……….… ……… 40

4.2.2 Những yêu cầu và thách thức mới có thể nảy sinh……… …… 40

4.2.3.Những tác động của các vấn đề pháp lý cơ bản của Hiến Chương ASEAN

Trang 4

với nền pháp quyền Việt Nam……… 42

CHƯƠNG3.THỰC TRẠNG VỀ TIẾN TRÌNH ÁP DỤNG HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ VÀO CUỘC SỐNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NHẬN THỨC CHUNG VỀ HIẾN CHƯƠNG ĐỂ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM……….……….…….……47

1.Nhửng yêu cầu cấp thiết hiện nay trong tiến trình phát triển cùng hiến chương ASEAN……… …….47

1.1.Công tác triển khai hiến chương ASEAN vào cuộc sống chung của khu vự… 47 1.1.1.Hoạt động chung của ASEAN triển khai đưa Hiến chương vào cuộc sống.47 1.1.1.1 Về tổ chức bộ máy……… ……….………47

1.1.1.2.Vềkhíacạnhpháp lý……….47

1.1.1.3 Về điều chỉnh hoạt động của ASEAN………… ………47

1.2.Tiến trình tham gia ASEA của Việt Nam đến nay……….…………48

1.3.Vai trò của Việt Nam đối với tổ chức ASEANhiện nay………,.….52

1.4 Công tác triển khai Hiến chương của Việt Nam……… … 53

2.Một số kiến nghị nhằm tăng cường khả năng đưa Hiến Chương ASEAN vào cuộc sống trên cơ sở nhận thức về tác động của Hiến Chương và phương hướng hoàn thiện pháp luật quốc gia……….… 55

2.1.Biện pháp tăng cường khả năng nhận thức về Hiến Chương ASEAN…………55

2.1.1.Về đối nội……… ……… 55

2.1.2.Về đối ngoại……… 56

2.2.Phương hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia nhằm phù hợp với Hiến Chương……… 58

KẾTLUẬN……… ……… ……….59

Danh Mục Tài Liệu Tham Khảo……….………….……….62

Trang 5

Nhận Xét Của Giáo Viên Hướng Dẫn

  

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 6

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 7

Nhận Xét Của Giáo Viên Phản Biện

  

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 8

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá đã và đang trở thành một trào lưu chính trong quan hệ quốc tế ngày nay,hội nhập chính là mục tiêu chung của các quốc gia Tuy nhiên mức độ hội nhập như thế nào thì nó còn tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của các nước trong khu vực Đối với các quốc gia ở Đông Nam Á (ĐNÁ) thì xu thế khu vực hoá đã tồn tại từ rất sớm,xu hướng xích lại gần nhau của các nước đã được bắt đầu từ nhũng năm 60 của thế kỷ trước Tổ chức ASEAN chính là một hình ảnh tiêu biểu và rõ nét nhất trong khu vực ASEAN được thiết lập vào năm 1967 ,đây

là nổ lực lớn đầu tiên trong hợp tác khu vực ở các nước ĐNÁ Trên đà phát triển ,hiện nay tổ chức ASEAN bao gồm 10 quốc gia thành viên thuộc ĐNÁ Sau hơn

40 năm tồn tại và phát triển ASEAN đã từng bước khẳng định được vai trò vị thế của mình trong khu vực và thế giới Việt Nam xác định được tầm quan trọng chiến lược trong quan hệ hợp tác với ASEAN nói chung và các nước trong ĐNÁ nói riêng ,vì thế ngay từ buổi đầu gia nhập ASEAN Việt Nam đã tích cực hoạt động của mình trong các mối quan hệ hợp tác và phát triển cung ASEAN ,sau quá trình hơn 15 năm là thành viên của ASEAN ,Việt Nam đã đạt được nhiều thành công trong quá trình ngoại giao với khu vực ,tùng bước khẳng định được vai trò vị thế của mình ở ĐNÁ,ASEAN được thiết lập vào năm 1967 tại BăngCốc Thái Lan,nhằm mục tiêu gắn kết các quốc gia trong khu vực ĐNÁ lại với nhau nhằm xây dựng một khu vực hòa bình ở ĐNÁ,ngay từ buồi đầu gắn kết với nhau các nứơc khu vực đã nói tới mục tiêu “tăng cường nền tảng cho một cộng đồng các Quốc gia ĐNÁ hòa bình và thịnh vượng”trong Tuyên bố Bangkok1 Xu thế này xuất phát từ tình hình chung của cả khu vực và thế giới lúc này thường biến động dẫn đến nhiều khó khăn cho các nước trong tiến trình phát triển đất nước,để thực hiện mục tiêu này các nước ASEAN đã gấp rút xây dựng ý tưởng “cộng đồng”nhằm tạo điều kiện để các Quốc gia ASEAN sống chung hòa bình thịnh vượng và đùm bọc chia sẽ lẫn nhau ,cùng nhau phát triển đất nước Ý tửơng cộng đồng này luôn là mục tiêu chung của các nước ASEAN và theo tiến trình phát triển của Hiệp hội đã được chính thức hóa tại Hội Nghị Cấp Cao ASEAN lần thứ 9

1

Xem trang tin điện tử của Bộ Ngoại Giao Việt Nam :Tuyên Bố Bangkok 8 tháng 8 năm 1967

,http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/ctc_quocte/un/nr090311103654/nr090311141455/nr090311143142/ ns090811160801#nTq016m2aETA ,[Truy cập 13:30 ngày 29/2/2011]

Trang 10

tháng 10/2003 ,khi các lãnh đạo Hiệp hội ký Tuỵên Bố hòa hợp ASEAN II (Tuyên

bố Bali II ),khẳng định cộng đồng ASEAN được xây dựng trên ba trụ cột là hợp tác chính trị ,hợp tác kinh tế và hợp tác văn hóa-xã hội Hình ảnh của một Cộng đồng ASEAN (AC) đang dần rõ nét trong việc thực hiện các chương trình và kế hoạch hành động cụ thể nhằm xây dựng Cộng đồng Chính trị - An ninh (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hoá Xã hội (ASCC) Một cách lạc quan, vào năm 2015, khi Cộng đồng ASEAN được hình thành, Đông Nam Á sẽ là một khu vực hoà bình, tự do và trung lập, các tranh chấp về lãnh thổ cũng như các khác biệt khác sẽ được giải quyết bằng biện pháp hoà bình Liên kết kinh tế ASEAN sẽ chặt chẽ hơn qua việc thành lập Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực đầu tư (AIA); các mạng lưới đường bộ, năng lượng trong ASEAN được hình thành; sẽ có sự hợp tác chặt chẽ hơn về thị trường vốn và tiền tệ; và khoảng cách phát triển giữa các thành viên được thu hẹp ASEAN sẽ trở thành một khu vực kinh tế phát triển năng động, bền vững và có sức cạnh tranh cao ASEAN sẽ trở thành một tổ chức có khuôn khổ pháp lý chặt chẽ hơn Bên cạnh việc bản sắc riêng của mỗi dân tộc được gìn giữ, một bản sắc chung của ASEAN cũng sẽ hình thành ASEAN sẽ có quan hệ rộng mở với bên ngoài, có vai trò quan trọng trên các diễn đàn quốc tế, có quan hệ ngày càng tăng với tất cả các bên đối thoại, các tổ chức quốc tế và khu vực khác.Tuy nhiên quá trình để các Quốc gia ASEAN hiện thực hóa được từ ý tưởng đến thực hiện cộng đồng ASEAN thì lại gặp nhiều trở ngại bời nhìn vào lịch sử hình thành ASEAN sẽ thấy ,ASEAN chỉ được thiết lập dựa trên các văn kiện tại Tuyên bố Bangkok và đậy chỉ

là văn kiện chính trị không phải là một văn kiện pháp lý hẳn hoi.lúc này các quyết định đưa ra chưa có sự ràng buộc về mặt pháp lý, cơ cấu tổ chức chưa xác định rõ ràng, việc thi hành các quyết định còn nhiều hạn chế Bộ máy, cơ chế hợp tác trong ASEAN chưa được thể chế hóa,còn mang tính tương đối.Sự mở rộng liên kết cũng như quá trình phát triền của ASEAN cho tới nay đã bộc lộ những tồn tại, đặt ra nhiều thách thức.Ngay từ tên gọi,ASEAN là một “Hiệp hội”,nên tính chất và

cơ cấu của nó khá rời rạc chỉ là một liên kết hợp tác

Nhận thấy được điều đó nên lảnh đạo các nước ASEAN cùng nhau đưa ra một ý tửơng nhằm hợp thức hóa ASEAN đưa ASEAN từ một tổ chức có mức độ hợp tác lỏng lẻo thành một tổ chức liên chính phủ hoạt động dựa trên các quy tắc, nguyên

Trang 11

tắc pháp lý và cơ cấu tổ chức bộ máy chặt chẽ; mặt khác là cơ sở đóng góp hữu hiệu vào quá trình xây dựng Cộng đồng của ASEAN, tăng cường đoàn kết, thúc đẩy hợp tác giữa các nước trong khu vực.Để giải quyết các vấn đề trên và tạo dựng những vị trí tốt hơn để có thể thoả thuận, thương thuyết với những cường quốc là phải hình thành một thực thể pháp lý chung đối với ASEAN, giải pháp không gì khác hơn là là phải tăng cường sức mạnh nội khối, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên, xử lý tốt các vấn đề thuộc ASEAN trong tiến trình toàn cầu hoá, do đó ngày 15/12/2008 Hiến Chương ASEAN đã ra đời ,đây là bước tiến lớn tiến tới việc thể chế hoá cuộc Hội Nhập Sâu của khối, đặt nền móng pháp lý cho sự vận hành của Hiêp hội ASEAN, ASEAN sẽ có tư cách pháp nhân trong quan hệ với các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế, qua đó gia tăng vị thế quốc

tế của Hiệp hội với các đối tác bên ngoài, có đủ tư cách pháp lý ký các công ước quốc tế, cho phép nâng cao vai trò của khối.Từ khi Hiến Chương ra đời ASEAN

đã được nâng lên một tầm cao mới ,đó chính là bước chuyển mình quan trong để ASEAN tiến tới thực hiện cộng đồng ASEAN Tất cả các Quốc gia ASEAN đều vui ,mừng đón chào sự kiện lịch sử này,và bắt tay vào tiến trình đưa Hiến Chương ASEAN vào cuộc sống một cách nhanh chóng.Tuy nhiên vì là một khu vực có nhiều bản sắc dân tộc khác nhau ,nền chính trị khác nhau và trình độ phát triển kinh tế có sự chênh lệch nhau ,nên công tác này còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc và Việt Nam dưới tác động của bản Hiến Chương một mặt cũng nhận được các hiệu ứng tích cực song cũng chịu nhiều ảnh hưởng ,đặc biệt là nền pháp quyền Việt Nam khi chúng ta đã và đang đưa Hiến Chương vào cuộc sống một cách nhanh chống và tích cực thì với các nguyên tắc quy định chung của Hiến Chương cho tất cả các nước thành viên thì chúng ta phải làm sao vẫn giữ vững được lập trường quan điểm của mình nhưng vẫn không thể khác biệt hoàn toàn với các quốc gia thành viên mà phải có được sự đồng điệu ,tương thích nhau ,mà chủ yếu là các vần đề xoay quanh pháp quyền,nhân quyền và công bằng xã hội các vấn đề này từ trước đến nay Việt Nam đã làm theo cách của mình nhằm phù hợp với điều kiện chính trị và hoàn cảnh đất nước ,thì từ nay dưới tác động của Hiến Chương ASEAN chúng ta phải làm sao vẫn làm tốt theo các nguyên tắc của bản Hiến Chương nhưng vẫn phù hợp với tình hình nội bộ của quốc gia mình ,để mối quan

Trang 12

hệ tốt đẹp giửa Việt Nam và ASEAN ngày càng thắt chặt hơn nửa,thúc đẩy sự phát triển chung của cả khu vực

Hiện nay khi mà Hiến Chương đã đi vào thực tiễn đã lâu nhưng dường như ở Việt Nam vấn đề này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi lắm,và cách hiểu về tác động đối với quốc gia mình khi Hiến Chương ra đời là chưa cao lắm,nên người viết một lần

nữa muốn “Tìm hiễu về một số vấn đề pháp lý cơ bản của Hiến Chương ASEAN

và nền pháp quyền Việt Nam” để vấn đề này ngày càng được phổ biến rộng rãi

hơn nửa ,để mọi người có cái nhìn đúng về mối quan hệ Việt Nam –ASEAN cũng như các tác động của Hiến Chương với pháp luật Việt Nam khi đi vào cuộc sống

2.Phương pháp nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài ,người viết đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp ,chủ nghĩa duy vật biện chứng được sử dụng với vai trò dùng làm cơ sở và là phương pháp luận để xem xét toàn bộ vấn đề của đề tài,bên cạnh đó phương pháp sưu tầm ,trích dẫn tài liệu và tổng hợp từ những bài phân tích ,những ý kiến của các chuyên gia ,những người đứng đầu Nhà nước ,được sử dụng để viết thành một bài nghiên cứu hoàn chỉnh

3.Phạm vi nghiên cứu

Do khả năng và kiến thức bản thân còn hạn chế nên người viết chỉ tập trung vào nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của ASEAN và quá trình phát triển cùng ASEAN của Việt Nam ,để từ đó thấy được những tác động ảnh hưởng khi

mà Hiến Chương ASEAN ra đời “một bước ngoặc lịch sử”của tổ chức ASEAN Khi đó Việt Nam là một thành viên có vai trò tích cực và quan trọng trong ASEAN sẽ có những phương hướng như thế nào để tiếp nhận và đưa Hiến Chương vào cuộc sống một cách tốt nhất và hiệu quả nhất,đặc biệt là nền pháp luật Việt Nam sẽ gặp tác động về thuận lợi và khó khăn thế nào

4.Mục tiêu nghiên cứu

Mặc dù đến nay Hiến Chương ASEAN đã và đang đi vào thực thi ,song dường như ở Việt Nam ,một Quốc gia có vai trò tích cực và năng động trong ASEAN thì bản Hiến Chương chưa thực sự được phổ biến rộng rãi lắm ,những hiểu biết về nền pháp quyền Việt Nam và Hiến Chương ASEAN chưa thật sự được rõ nét và

đại đa số lắm.Thông qua đề tài nghiên cứu “Tìm Hiểu Về Hiến Chương ASEAN Và

Nền Pháp Quyền Việt Nam” người viết muốn góp phần làm rõ hơn về ASEAN và

Trang 13

các tác động của Hiến Chương khi Việt Nam ta đang từng bước đưa Hiến Chương vào cuộc sống

5.Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu thì đề tài được chia làm ba chương :

-Chương 1.Khái Quát Chung Về Tổ Chức ASEAN Và Sự Cần Thiết Phải Xây Dựng Hiến Chương

-Chương 2.Tìm Hiểu Về Một Số Vấn Đề Pháp Lý Cơ Bản Của Hiến Chương ASEAN Và Nhửng Tác Động Anh3 Hưởng Với Nền Pháp Quyền Việt Nam Khi Hiến Chương Đi Vào Cuộc Sống

-Chương 3.Thực Trạng Về Tiến Trình Ap1 Dụng Hiến Chương ASENA Vào Cuộc Sống Và Phương Hướng Nhận Thức Chung Về Hiến Chương ASEAN Để Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam

Trang 14

CHƯƠNG 1.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC ASEAN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG HIẾN CHƯƠNG

1.Qúa trình hình thành và phát triển của tổ chức ASEAN

1.1.Hoàn cảnh ra đời

Nửa sau thập niên 60 của thế kỉ XX, tình hình Đông Nam Á và thế giới có nhiều biến chuyển tác động mạnh mẽ tới các nước trong khu vực Sau hơn 20 năm đấu tranh và bảo về độc lập cũng như xây dựng kinh tế, nhiều nước trong khu vực bước vào thời kì ổn định, dốc sức phát triển kinh tế Vì vậy: Các nước trong khu vực thấy cần có sự hỗ trợ để xây dựng đất nước, cùng hợp tác phát triển kinh tế…,tạo ra sợi dây liên kết cho các quốc gia Đồng thời, các nước muốn hạn chế ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài đối với khu vực, nhất

là khi thấy cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Đông Dương vấp phải những khó khăn và sự thất bại là khó tránh khỏi.Xu thế xuất hiện các tổ chức khu vực trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều, nhất là thành tựu của Khối thị trường chung Châu Âu (Âu (EEC- 1957, nay là Liên minh châu Âu- EU), Tổ chức thống nhất châu Phi (OAU- 1963, nay là Liên minh châu Phi - AU).đã cổ vũ rất lớn đối với các nước Đông Nam Á trên cơ sở đó:

Ngày 8 - 8 - 1967, Hiệp hội các nước ĐNÁ (tiếng Anh: Association of Southeast Asian Nations, viết tắt là ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc (Thái Lan) với

sự tham gia của 5 nước: In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po, Thái Lan và Phi-líp-pin để tỏ rõ tình đoàn kết giữa các nước trong cùng khu vực với nhau, đồng thời hợp tác chống tình trạng bạo động và bất ổn tại những nước thành viên

1.2.Mục tiêu hoạt động

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều chuyển biến tích cực ,các quốc gia chuyển từ chính sách đối đầu sang đối thoại với mong muốn xóa bõ thù địch,không để xảy ra chiến tranh ,cùng nhau hợp tác phát triển kinh tế ,ổn định đất nước Vì thế các nhà lãnh đạo ASEAN đã vạch ra vạch ra những mục tiêu cơ bản cho tổ chức ASEAN nhằm phù hợp với những yêu cầu chung của từng quốc gia thành viên trong khu vực và thế giới ,chính từ lẽ đó trong Tuyên bố ngày 8/8/1967

đã nêu lên hai mục tiêu :

- Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm

Trang 15

tăng cường nền tảng cho một cộng đồng các nước ĐNÁ hoà bình và thịnh vượng

- Thúc đẩy hoà bình và ổn định khu vực bằng việc cam kết tôn trọng công lý

và pháp quyền trong quan hệ giữa các nước trong vùng và tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chương LHQ

Năm 1995, các nguyên thủ quốc gia và Chính phủ của ASEAN khẳng định lại:

“Hoà bình hợp tác và thịnh vượng chung là những mục tiêu cơ bản của ASEAN”2

Khi mới thành lập ASEAN gồm 5 nước là In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, pin, Xin-ga-po và Thái Lan Năm 1984 ASEAN kết nạp thêm Bru-nây Da-ru-xa-lam làm thành viên thứ 6 Ngày 28/07/1995 Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội.Ngày 23/07/1997 kết nạp Lào và Mi-an-ma.Ngày 30/04/1999, Căm-pu-chia trở thành thành viên thứ 10 của ASEAN, hoàn thành

Phi-lip-ý tưởng về một ASEAN bao gồm tất cả các quốc gia ĐNÁ, một ASEAN của ĐNÁ và vì ĐNÁ

1.3.Các nguyên tắc hoạt động chính của ASEAN

Trên cơ sở nhìn nhận một cách tổng quan về sự phát triển chung cuả các quốc gia ĐNÁ ,Mặc dù trong cùng một khu vực địa lý, song các nước thuộc Hiệp hội rất khác nhau về chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và văn hoá, tạo thành một sự đa dạng cho Hiệp hội Đồng thời các quốc gia cũng khá khác nhau về trình độ phát triển kinh tế Xin-ga-po là quốc gia nhỏ nhất về diện tích còn Bruney Da-ru-xa-lam là quốc gia nhỏ nhất về dân số, hai quốc gia này cũng là nước có thu nhập đầu người cao nhất khu vực Các quốc gia gia nhập sau như Việt Nam, Lào,Cămphuchia có mức thu nhập thấp nhất Với những khác biệt như vậy, các nguyên tắc trong quan

hệ lẫn nhau và điều phối hoạt động tổ chức là yếu tố quan trọng làm nên hình ảnh năng động và hiệu quả của Hiêp hội Nhận thấy được tầm quan trọng đó các thành viên ASEAN đã cùng nhau thảo luận nhất trí và đưa ra những nguyên tắc chung nhất,sâu sắc nhất trên cơ sở tầm nhìn bao quát cho sự phát triển chung của các nước trong khu vực,với mong muốn từng bước thắt chặt tình đoàn kết ,quan hệ thân thiết của các nước thành viên với nhau và mở rộng quan hệ hợp tác song

2

Viện Nghiên Cứu Phát Triển Thánh Phố Hồ Chí Minh:ASEAN và khu vực mậu dịch tự do AFTA,

http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/xemtin.asp?idcha=2507&cap=4&id=2509 [truy cập 8:20 AM ,ngày 22/2/2011.]

Trang 16

phương ,đa phương trong nội bộ các quốc gia thành viên nói riêng và với các quốc gia ,tổ chức trên thế giới nói chung Từ đó ASEAN đả đưa ra cho mình một bảng nguyên tắc chung làm làm cở cho quá trình hoạt động của Hiệp hội,bao gồm các nguyên tắc:

1.3.1 Nguyên tắc làm nền tảng cho quan hệ giữa các Quốc gia thành viên và với bên ngoài:

Trong quan hệ với nhau, các nước ASEAN luôn tuân theo 6 nguyên tắc chính

đã được nêu trong Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam á (Hiệp ước li), kí tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ I tại Ba-li năm 1976 là:Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các dân tộc;Quyền của mọi quốc gia được lãnh đạo hoạt động của dân tộc mình, không có sự can thiệp,lật đổ hoặc cưỡng ép của bên ngoài;

Ba-Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, thân thiện;Không đoe dọa hoặc sử dụng vũ lực;Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả.Đây là các nguyên tắc đựoc xem là

cơ bản quan trọng và xuyên suốt trong quá trình hoạt động của ASEAN ,dù trong hoàn cảnh nào thì các quốc gia thành viên đều phải tuân thủ và xem là tiêu chí cho cả Hiệp hội,chính nhờ các nguyên tắc nhất quán này mà ASEAN sẽ luôn là tổ chức đáp ứng đựơc mong muốn của mình là một khu vực hòa bình ,quyền bình đẳng và chủ quyền quốc gia củng như các công việc nội bộ của mình luôn được tôn trọng và bảo vệ trứơc các biến đổi chung của tình hình khu vực và thới giới

1.3.2.Các nguyên tắc điều phối hoạt động của Hiệp hội:

Việc quyết định các chính sách hợp tác quan trọng cũng như trong các lĩnh vực quan trọng của ASEAN dựa trên nguyên tắc nhất trí (consensus), tức là một quyết định chỉ được coi là của ASEAN khi được tất cả các nước thành viên nhất trí thông qua Nguyên tắc này đòi hỏi phải có quá trình đàm phán lâu dài, nhưng bảo đảm được việc tính đến lợi ích quốc gia của tất cả các nước thành viên Đây là một nguyên tắc bao trùm trong các cuộc họp và hoạt động của ASEAN.Một nguyên tắc quan trọng khác chi phối hoạt động của ASEAN là nguyên tắc bình đẳng Nguyên tắc này thể hiện trên 2 mặt Thứ nhất, các nước ASEAN, không kể lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo đều bình đẳng với nhau trong

Trang 17

nghĩa vụ đóng góp cũng như chia xẻ quyền lợi Thứ hai, hoạt động của tổ chức ASEAN được duy trì trên cơ sở luân phiên, tức là các chức chủ toạ các cuộc họp của ASEAN từ cấp chuyên viên đến cấp cao, cũng như địa điểm cho các cuộc họp đó được phân đều cho các nước thành viên trên cơ sở luân phiên theo vần A,B,C của tiếng Anh.Để tạo thuận lợi và đẩy nhanh các chương trình hợp tác kinh tế ASEAN , trong Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ký tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 4 ở Xin-ga-po tháng 2/1992, các nước ASEAN đã thoả thuận nguyên tắc 6-X, theo đó hai hay một số nước thành viên ASEAN có thể xúc tiến thực hiện trước các dự án ASEAN nếu các nưóc còn lại chưa sẵn sàng tham gia, không cần phải đợi tất cả mới cùng thực hiện

1.3.3.Các nguyên tắc khác:

Trong quan hệ giữa các nước ASEAN đang dần dần hình thành một số các nguyên tắc, tuy không thành văn, không chính thức song mọi người đều hiểu và tôn trọng áp dụng như: nguyên tắc có đi có lại, không đối đầu, thân thiện, không tuyên truyền tố cáo nhau qua báo chí, giữ gìn đoàn kết ASEAN và giữ bản sắc chung của Hiệp hội

Tuy các nguyên tắc này chỉ đựơc hình thành trong quá trình hoạt động của tổ chức song lại là yêu cầu tất yếu cho các quan hệ phát sinh của các thành viên nhằm phù hợp với hoàn cảnh của khu vực cũng như các nguyên tắc trong các điều ứơc quốc tế chung,nó sẽ giử được sự ổn định và làm tốt vấn đề ngoại giao cho mỗi nứơc.Đưa ASEAN ngày một hoàn thiện và từ đó sẽ nhận được sự quan tâm và cái nhìn thiện cảm với bên ngoài,từ đó mà các mối quan hệ của nội tại các quốc gia khu vực và các tổ chức khác trên thế giới dù song phương hay đa phương đều trở nên thân thiện và phù hợp

1.4.Qúa trình phát triển của ASEAN

Con đường phát triển của ASEAN phải trải qua nhiều thác ghềnh, có khúc quanh

co nhưng cuối cùng đã và đang đạt được những mục tiêu ban đầu đề ra trong Tuyên bố Băng-cốc 1967 Một trong những nhân tố dẫn đến sự thành công chính

là nhận thức đúng sự thay đổi xu thế phát triển của thế giới để có sự điều chỉnh kịp thời và hợp lý chính sách của từng nước, các mối quan hệ giữa các quốc gia ĐNÁ cũng như với các nước bên ngoài khu vực, cùng theo đuổi mục tiêu tạo dựng môi trường hòa bình, an ninh và ổn định, thiết lập quan hệ hợp tác cùng phát triển Nhờ

Trang 18

vậy, từ mối quan hệ nghi ngại ban đầu, thậm chí có lúc căng thẳng đối địch, ASEAN dần dần trở thành một tổ chức toàn khu vực, bao gồm đầy đủ 10 thành viên với chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trình độ kinh tế chênh lệch và màu sắc văn hóa đa dạng cũng như từng các quốc gia thành viên

ĐNÁ là một khu vực không lớn với số dân không đông (khoảng 500 triệu người),

có trình độ kinh tế không cao Nhưng ĐNÁ lại có vị trí địa chiến lược vô cùng quan trọng, có tiềm năng tài nguyên phong phú và nguồn nhân lực dồi dào Những điều kiện đó khiến ĐNÁ trở thành địa bàn thu hút sự quan tâm của nhiều nước lớn,

là nơi đã từng xảy ra tranh chấp bằng vũ lực trong quá khứ và cũng là nơi giành giật ảnh hưởng trong hiện tại Điều đó khiến cho ASEAN đứng giữa những mối quan hệ quốc tế hết sức chằng chéo, mỗi quốc gia thành viên lại có quan hệ thân

sơ với từng đối tác cụ thể của riêng mình Do vậy, ASEAN phải giải bài toán trước hết từ bên trong, tôn trọng mối quan hệ sẵn có của từng quốc gia và sử dụng quan

hệ của mỗi quốc gia với các đối tác, đối thoại trong tư cách là người đại diện cho Hiệp hội Đồng thời, ASEAN chú trọng phát huy ảnh hưởng trong vai trò người chủ thể các diễn đàn do mình đề xướng:Diễn đàn khu vực ASEAN(ARF),Diễn đàn hợp tác Á-ÂU(ASEM).Cộng đồng kinh tế ASEAN(AEC)…

Các diễn đàn này đều là sáng kiến của ASEAN, có sự tham gia của nhiều nước ngoài Đông Nam Á và tùy từng phạm vi, có mặt hầu hết các nước lớn Trong khuôn khổ các diễn đàn, ASEAN là nơi tiến hành các cuộc gặp gỡ cấp cao, khởi xướng các đề án và dàn xếp các khúc mắc để các quan điểm tiếp cận thuận lợi hơn Qua đó, “ASEAN phát huy vai trò của mình trong việc duy trì hòa bình và an ninh khu vực, tìm giải pháp cho các vấn đề đụng chạm về lợi ích, phối hợp trong cuộc đấu tranh chống khủng bố và chống tội phạm, thúc đẩy sự hợp tác kinh tế một cách sống động và hiệu quả hơn”3

Những thành quả đó đã nâng cao vị thế của ASEAN trên trường quốc tế và ngược lại, vị thế được thừa nhận của ASEAN lại chính là điều bảo đảm chủ quyền quốc gia và ổn định khu vực

Trang 19

Sau chiến tranh thế giới II, phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á bùng lên mạnh mẽ,chỉ hơn một thập niên đã quét sạch các thế lực thực dân Mỹ ,Hà Lan,Anh,Pháp.Các nước ĐNÁ giành lại độc lập,chũ quyền Tháng 4 năm 1955 tại Bangdung(Indonesia)diễn ra Hội nghị 29 nước Á-Phi,thông qua Tuyên bố Bangdung,5 nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình,đặt cơ sở cho Phong trào Khong liên kết (Non-aligned Movement – NAM).Tham gia hội nghị Bangdung có 8/29 đoàn

từ ĐôĐNÁ.Sau khi giành độc lập, chính phủ các nước ĐNÁ sớm có ý thức và bước đi để thành lập những tổ chức hợp tác khu vực như Ủy hội sông Mêkông (1957), Hiệp hội Đông Nam Á (ASA, 1961),Maphilindo (1963) nhưng những thử nghiệm đầu tiên này đều thất bại do những mâu thuẫn, bất đồng giữa các nước thành viên.Đến giữa thập niên 1960 tình hình quốc tế và khu vực Đông Nam Á có những điểm nổi bật: chiến tranh lạnh căng thẳng Mỹ - Xô; Năm 1966 Trung Quốc phát động “đại cách mạng văn hóa vô sản” trong nước và thông qua những nhóm maoist vươn tay đến một số nước ĐNÁ;chiến tranh của Mỹ đạt đến đỉnh điểm nóng nhất, hơn nửa triệu quân Mỹ tham chiến, mở rộng thành chiến tranh Đông Dương lần 2; ở Indonesia Sukarno bị lật đổ, tướng Suharto lên cầm quyền, thiết lập “Trật tự mới” và điều chỉnh chính sách đối nội đối ngoại, cắt đứt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, chấm dứt đối đầu với Malaysia và hòa giải với các nước láng giềng; Pháp và Anh là hai trụ cột thành lập SEATO nhưng không theo Mỹ tham chiến ờ Việt Nam, Pháp còn đưa ra quan điểm “cần trung lập hóa Đông Nam Á”, Anh tuyên bố sẽ rút hết cam kết quân sự ở phía Đông kênh Suez từ 1970 (Anh

và Úc, New Zealand, Malaysia, Singapore ký Hiệp ước phòng thủ chung.4

-Trong bối cảnh đó, Ngày 8/8/1967, tại Bangkok, Thái Lan, Bộ trưởng phụ trách các vấn đề chính trị kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia, Phó Thủ tướng Malaysia, Bộ trưởng Ngoại giao Philippines, Bộ trưởng Ngoại giao Singapore

và Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan đã ra Tuyên bố ASEAN

Đây là Tuyên bố thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á với mục tiêu đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hóa; tăng cường hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau cũng như thúc đẩy hòa bình, ổn định trong khu vực

*Tuyên bố về khu vực hòa bình,tự do và trung lập:

4

Nguyễn Quốc Hùng,Trừong Đại học Khoa Học Xã hội và Nhân văn,ĐHQG-HN:Từ Tuyên Bố Bangkok

đến Hiến Chưong ASEAN,một chặng đừong lịch sử 40 năm,

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 09 – 2007 Trang 26-27.

Trang 20

Ngày 27/11/1971, tại Kuala Lumpur, Malaysia, Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia, Malaysia, Philippines, Xingapo và Đặc phái viên của Hội đồng Hành pháp Quốc gia Thái Lan đã ký và công bố “Tuyên bố về khu vực hòa bình, tự

do và trung lập ở ĐNÁ”-Tuyên bố ZOPFAN.5

Tuyên bố quan trọng này đã định ra các mục tiêu cơ bản và lâu dài của ASEAN

là xây dựng ĐNÁ thành một khu vực hòa bình, tự do và trung lập, không có sự can thiệp dưới bất cứ hình thức nào của các cường quốc bên ngoài cho thấy mối quan tâm hàng đầu của 5 nước sáng lập ASEAN khi đó là xây dựng ĐNÁ thành một khu vực hòa bình, tự do và trung lập Nó giải tỏa những bất đồng đã xảy

ra giữa các nước thành viên như phản ứng của In-đô-nê-xi-a và Phi-lip-pin đối với việc thành lập Liên bang Ma-lai-xi-a, làn sóng biểu tình ở Gia-các-ta chống bản án của Xin-ga-po hành hình hai sĩ quan thủy quân In-đô-nê-xi-a về tội làm gián điệp Song, điều quan trọng hơn là nó phản ánh nỗi lo ngại về khói lửa chiến tranh Đông Dương sẽ lan sang các nước trong khu vực Trong bối cảnh trật tự thế giới hai cực thì nội dung đó cũng ẩn chứa ý đồ muốn ngăn chặn ảnh hưởng cách mạng đối với các nước ĐNÁ ngoài Đông Dương, "ngăn chặn làn sóng cộng sản" theo cách nói của chính khách và học giả phương Tây hồi đó Cho nên ngay từ đầu, ASEAN đã gây nên tâm lý nghi ngại giữa hai khối nước ở ĐNÁ, nhất là khi trước đó đã có tổ chức quân sự SEATO của Mỹ với sự tham gia của 2 thành viên ASEAN Trong 7 - 8 năm đầu tiên, bản thân ASEAN chưa hoạt động được bao nhiêu, mối quan hệ Việt Nam - ASEAN còn đang trong giai đoạn thăm dò và lạnh nhạt Tuy nhiên, sự thành lập ASEAN cũng đánh dấu một bước khởi động quan trọng cho một tổ chức toàn khu vực, nhất là sau khi chiến tranh lạnh kết thúc

* Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ĐNÁ:

Tình hình chiến tranh Đông Dương diễn biến rất nhanh với những tiến triển của cách mạng Việt Nam: năm 1973 Hiệp định Pa-ri được ký kết, năm 1975 cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi

ĐNÁ bước sang một thời kỳ mới, quân Mỹ rút khỏi Đông Dương, tổ chức SEATO chuẩn bị giải thể (chính thức cuốn cờ vào năm1977) Đứng trước tình hình mới

5

Tuyên bố Cu-a-la Lăm-pơ -27/11/1971

Trang 21

của một ĐNÁ hòa bình, cả hai phía đều tính đến việc điều chỉnh chính sách khu vực Tháng 2-1976 các nguyên thủ ASEAN ký bản "Hiệp ước Thân hữu và Hợp tác"(thường gọi là Hiệp ước Ba-li)6 Tháng 7 cùng năm, chính phủ Việt Nam ra bản "Tuyên bố về Chính sách bốn điểm đối với ĐNÁ".Nội dung cơ bản của hai văn kiện đó có nhiều điểm giống nhau:Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực đối với nhau,giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp thương lượng hòa bình, xây dựng quan hệ hữu nghị và hợp tác Điều đó cho thấy cả hai bên đều hướng tới một ĐNÁ hòa bình, tôn trọng lẫn nhau và hợp tác cùng phát triển Đây chính là mẫu số chung phản ánh nguyện vọng chính đáng và lợi ích thiết thực của các nước ĐNÁ mặc dù có sự khác biệt về chế độ chính trị và xã hội Tiếp sau đó, trong những năm 1976 - 1978, quan hệ Việt Nam - ASEAN được cải thiện đáng kể, hé mở những khả năng đầy triển vọng Nhưng từ cuối năm 1978, do tác động từ các nước lớn bên ngoài, ĐNÁ mất đi không khí hòa bình vừa mới xuất hiện, rơi vào tình trạng mất ổn định, có lúc đứng bên bờ của nguy cơ chiến tranh mới Rõ ràng tâm lý lo ngại, thiếu tin cậy vốn đã ăn sâu trong thời "chiến tranh lạnh" nay lại được khơi dậy, bị lợi dụng và hai khối nước ĐNÁ lại rơi vào thế đối đầu

Ngày 24/2/1976, tại Bali, Indonesia, nguyên thủ quốc gia các nước ASEAN ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở ĐNÁ (Hiệp ước Bali).Hiệp ước nhằm thúc đẩy hòa bình vĩnh viễn, tình hữu nghị và hợp tác lâu bền giữa nhân dân các bên tham gia Hiệp ước, góp phần tăng cường sức mạnh, tình đoàn kết và quan hệ chặt chẽ hơn giữa các nước ĐNÁ

*ASEAN mở rộng cả 10 nước

Từ năm 1989 đến năm 1991 chiến tranh lạnh chấm dứt Nước Đức thống nhất Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã Trật tự lưỡng cực Yalta chuyển thành đơn cực một siêu cường Mỹ.hẳn tình hình chính trị an ninh thế giới và khu vực ĐNÁ Sau gần 500 năm chủ nghĩa thực dân bành trướng đến Đông chủ nghĩa thực dân bành trướng đến Đông chủ nghĩa thực dân bành trướng đến ĐNÁ, từ năm 1992 không còn đất thựcdân hay căn cứ quân sự nước ngoài ở khu vực Sự phân chia giả tạo thành hai nhóm nước theo hai định hướng chính trị -

6

Xem Hiệp ước Thân Thiện Và Hợp Tác ở Đông Nam Á ,Ký tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ nhất tại Bali –In-đô-nê-xi-a ,ngày 24/2/1976

Trang 22

kinh tế khác nhau, thậm chí có lúc đối đầu nhau không còn nửa Tình hình đó mở

ra cơ hội cho hòa bình, an ninh và hợp tác khu vực,song cũng có nhiều thách thức

từ phía các cường quốc cũng như từ bên trong mỗi nước.Sự kết thúc của chiến tranh lạnh cũng như các thách thức của tình hình mới đã thúc đẩy các nước ASEAN mở rộng sự hợp tác sang lĩnh vực mới là an ninh Kể từ năm 1992 ASEAN cũng bắt đầu thành lập một cơ chế đối thoại về an ninh Tháng 1/1992 tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần IV tại Singapore, các vị đứng đầu các chính phủ ASEAN đã quyết định thành lập Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA), ban đầu trong 15 năm, sau đó rút lại còn 10 năm, đến năm 2003 hoàn tất (đối với các nước ASEAN-6); xúc tiến một tiến trình đối thoại với các nước bên ngoài,cũng như giữa các nước ASEAN với nhau về hợp tác an ninh, để tăng cường

an ninh khu vực Các cuộc đối thoại này dự định tiến hành trên cơ sở các diễn đàn ASEAN đã có, đặc biệt là cơ chế hội nghị sau Hội nghị ngoại trưởng ASEAN (AMM –PMC) Tháng 7/1992 Việt Nam, Lào đã ký Hiệp ước Bali, trở thành quan sát viên của ASEAN.Trên cơ sở quyết định đó, tháng 7/1993, tại Hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 26 tại Singapore, các nước ASEAN đã chính thức tuyên bố

sẽ thiết lập Diễn đàn khu vực ASEAN(ARF) để bàn về hợp tác chính trị và an ninh

ở khu vực châu Á –Thái Bình Dương Diễn đàn này bao gồm 18 nước thành viên

là 6 nước ASEAN,7 bên đối thoại (Mỹ, Nhật, Canada, Liên minh châu Âu, Australia, New Zealand,Hàn Quốc), 3 nước quan sát viên (Việt Nam, Lào, Papua New Guinea), và 2 nước hiệp thương (Nga và Trung Quốc) Ngày 27/7/1994, cuộc họp đầu tiên của ARF cấp bộ trưởng ngoại giao đã diễn ra tại Bangkok, chính thức

mở đầu cho một hướng mới trong diễn đàn ASEAN: đối thoại để tăng cường an ninh khu vực Hội nghị đã thỏa thuận sẽ tiến hành họp ARF cấp bộ trưởng hàng năm về nội dung có thể bàn những vấn đề như: xây dựng lòng tin,ngoại giao phòng ngừa và không phổ biến vũ khí hạt nhân và vũ khí giết người hàng loạt…Diễn đàn này chưa được thể chế hóa như kiểu Hội nghị an ninh hợp tác châu

Âu (CSCE), mà chỉ mới mang tính chất tư vấn.Hội nghị AMM 28 họp ngày 28/7/1995 ở Brunei Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN, trở thành thành viên chính thức thứ bảy của tổ chức này Đó là một bước ngoặt quan trọng của ASEAN, mở ra khả năng hiện thực tiến đến ASEAN 10.Từ các kết qủa đó “Tháng 12/1995 Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN V họp tại Bangkok (Thailand).Lần đầu

Trang 23

tiên trong lịch sử khu vực Đông Nam Á tất cả mười nhà lãnh đạo đã gặp gỡ, ký kết các văn kiện quan trọng Các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký Hiệp ước Đông Nam Á không vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) Hội nghị Thượng đỉnh V Bangkok cũng quyết định mở ra cơ chế Hợp tác Á – Âu (ASEM), chính thức bắt đầu từ tháng 3-1996.Năm 1997 tuy cơn bão khủng hoảng kinh tế tài chính ập đến Đông Nam Á nhưng ASEAN vẫn kết nạp Lào, Myanmar (7/1997) và thông qua chiến lược Tầm nhìn 2020.Tháng 12-1998 Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN VI, thông qua Chương trình hành động Hà Nội và Tuyên bố Hà Nội,xây dựng ASEAN phát triển bền vững và đồng đều,rút ngắn khoản cách phát triển các nước thành viên , đồng thời mở đầu hợp tác ASEAN + 3 (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc).Ngày 30-4-1999 tại Hà Nội, ASEAN đã kết nạp Campuchia là thành viên thứ 10.Tóm lại từ đầu thập niên 1990, sau chiến tranh lạnh Đông Nam Á đã đạt được những mục tiêu về khu vực Hòa bình, Tự do, Trung lập và không vũ khí hạt nhân.Đồng thời ASEAN còn đề xướng và lãnh đạo một cơ chế an ninh tập thể

là ARF quy tụ tất cả các cường quốc châu Á – Thái Bình Dương tham gia Lợi dụng xu thế vừa hòa hoãn vừa cạnh tranh giữa siêu cường,ASEAN trở thành người khởi xướng, dẫn dắt và điều phối một diễn đàn mở về hợp tác chính trị an ninh lớn nhất trên thế giới.Đó cũng là một điểm độc đáo, biểu hiện sự trưởng thành của ASEAN và tính mềm dẻo, khôn khéo của tổ chức này, thường được nói đến như bản sắc ASEAN”.ASEAN cũng mở rộng khuôn khổ hợp tác với Đông Á (ASEAN + 3, EAC),với châu Âu (ASEM),với châu Á – Thái Bình Dương (APEC).7

*Hiến chương ASEAN:

ASEAN đã trải qua chặng đường phát triển đầy tự hào.Từ một tổ chức gồm 5 nước liên kết với nhau còn lỏng lẻo, đến nay Hiệp hội gồm 10 nước gắn kết với nhau, hướng đến một cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột, trong đó có Cộng đồng an ninh(ASC),Cộng đồng kinh tế(AEC),Cộng đồng văn hóa – xã hội (ASCC) Chắc chắn ASEAN sẽ tiếp tục phát huy vai trò của mình là người kiến tạo hòa bình an ninh cho khu vực Đông Nam Á, rộng hơn là châu Á – Thái Bình Dương trong thế kỷ XXI theo phong cách riêng của mình, xây dựng ĐNÁ phát triển thịnh vượng,đùm bọc lẫn nhau.Trong những ngày kỷ niệm 40 năm thành lập

7

Nguyễn Quốc Hùng,Trừong Đại học Khoa Học Xã hội và Nhân văn,ĐHQG-HN:Từ Tuyên Bố Bangkok

đến Hiến Chưong ASEAN,một chặng đừong lịch sử 40 năm,

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 09 – 2007 Trang 30-31.

Trang 24

ASEAN, Hội nghị AMM 40 họp tại Manila (Philippines) từ 29/7 đến 2/8/2007 đã bàn bạc và quyết định những vấn đề quan trọng như thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác, hội nhập khu vực, hướng tới xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN vào năm

2015, các vấn đề chính trị và an ninh trong Diễn đàn Khu vực ASEAN(ARF)14 Đặc biệt Hội nghị này đã hoàn tất,thông qua dự thảo Hiến chương ASEAN để trình Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN XIII ở Singapore vào tháng 11-2007.Hiến chương ASEAN là một văn kiện lịch sử đánh dấu sự trưởng thành của Hiệp hội vào tuổi 40.“Từ đây với sự nỗ lực và thiện chí của các nước thành viên, Hiến chương ASEAN sẽ được thông qua và được phê chuẩn cuối năm 2008, sẽ có hiệu lực pháp lý từ 2009.Một tương lai tươi sáng đang mở ra cho mọi người dân các nước ASEAN.”8

Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 13 (năm 2007), lãnh đạo các nước ASEAN đã ký thông qua Hiến chương ASEAN và ra Tuyên bố chung khẳng định quyết tâm hoàn tất việc phê chuẩn Hiến chương trong vòng một năm Ngày 15/12/2008, Hiến chương ASEAN chính thức có hiệu lực sau khi được tất

cả các nước thành viên ASEAN phê chuẩn Đây là một sự kiện quan trọng, là bước ngoặc lịch sử của Hiệp hội trong hơn 40 năm hình thành và phát triển Hiến chương ASEAN đánh dấu một bước chuyển mình cơ bản của Hiệp hội sang một giai đoạn mới, trở thành một tổ chức liên chính phủ, có tư cách pháp nhân và hoạt động dựa trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN; đồng thời, phản ánh sự trưởng thành của ASEAN, thể hiện tầm nhìn và quyết tâm chính trị mạnh mẽ của các nước thành viên ASEAN, nhất là của các vị lãnh đạo, về mục tiêu xây dựng một ASEAN liên kết chặt chẽ, vững mạnh hơn, để hỗ trợ cho mục tiêu hòa bình và phát triển của cả khu vực

1.4.2.Sự cần thiết và tiến trình xây dựng hiến chương

1.4.2.1.Sự cần thiết của việc Hiến Chương ra đời

*Yầu cầu khác quan

Xây dựng Hiến chương ASEAN là một nhu cầu tất yếu khách quan của ASEAN sau 40 năm tồn tại và phát triển Trong suốt thời gian qua, bên cạnh những thành tựu đạt được,trên thực tế,Hiệp hội vẫn là một tổ chức khu vực,lúc này các quyết

8

Nguyễn Quốc Hùng,Trừong Đại học Khoa Học Xã hội và Nhân văn,ĐHQG-HN:Từ Tuyên Bố Bangkok

đến Hiến Chưong ASEAN,một chặng đừong lịch sử 40 năm,

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 09 – 2007 Trang 34

Trang 25

định đưa ra chưa có sự ràng buộc về mặt pháp lý, cơ cấu tổ chức chưa xác định rõ ràng, việc thi hành các quyết định còn nhiều hạn chế Bộ máy, cơ chế hợp tác trong ASEAN chưa được thể chế hóa,còn mang tính tương đối.Sự mở rộng liên kết cũng như quá trình phát triền của ASEAN cho tới nay đã bộc lộ những tồn tại, đặt ra nhiều thách thức.Ngay từ tên gọi,ASEAN là một “Hiệp hội”,nên tính chất và

cơ cấu của nó khá lỏng lẻo chỉ là một liên kết hợp tác.Việc thực hiện các cam kết

do các nhà nước thành viên quyết định, tự chịu trách nhiệm và lại được"bảo vệ" bằng nguyên tắc"không can thiệp".Hơn thế,ASEAN không có ý định trở thành một liên minh của những đồng minh chiến lược Vì vậy, sự gắn bó giữa các nước thành viên chỉ ở trong một chừng mực nhất định ASEAN từ năm nước mở rộng thành mười nước với các chế độ chính trị- xã hội khác nhau đã gặp khó khăn trong quá trình thực thi nguyên tắc đồng thuận- nguyên tắc quan trọng hàng đầu Về kinh tế, việc hình thành khu vực thị trường tự do ASEAN- Trung Quốc mở ra những cơ hội mới,đồng thời cũng gặp phải những thách thức không kém phần gay gắt.Tiếp theo sẽ là những hiệp ước tương tự giữa ASEAN với Nhật Bản,Hàn Quốc,Ấn Độ

và nhiều nước khác.Khoảng cách về trình độ giữa hai nhóm nước ASEAN vẫn là một trở ngại lớn trong quan hệ thương mại và đầu tư nội khối,làm chậm tiến trình thực hiện khu vực mậu dịch tự do ASEAN(AFTA)và gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện các cam kết Hiệp định khu vực thương mại tự do( FTA) với bên ngoài.Sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích quốc gia và lợi ích chung của toàn Hiệp hội cũng là một tồn tại không nhỏ.Các nước thành viên thường quan tâm trước hết và chủ yếu là lợi ích quốc gia Đã xảy ra những hiện tượng "xé rào", khi buôn bán trong nội bộ ASEAN tiến triển chậm chạp, một số nước thành viên đã ký kết với các đối tác bên ngoài, lập nên khối thương mại song phương, ảnh hưởng đến nền kinh tế chung nội khối

*Yêu cầu chủ quan

Vào tháng 12/1997,Hội nghị cấp cao ASEAN không chính thức lần thứ hai tại Kuala Lumpur,các nước ASEAN đã thông qua văn kiện quan trọng"Tầm nhìn ASEAN năm 2020"9.Sau đó Hiệp ước Bali II (tháng 10/2003) được tiến hành dưới

9

ASEAN 2010-Tin Tức:Tầm nhìn 2020,Thông qua tại Hội nghị ASEAN không chính thức lần thứ hai, Kuala Lumpur, ngày 14-16/12/1997),http://asean2010.vn/asean_vn/news/34/2DA808/Tam-nhin-ASEAN-nam- 2020[[Thời gian truy cập 11:11 AM thứ 3 , 15/3/2011.]

Trang 26

chủ đề“Hướng tới một cộng đồng kinh tế và an ninh ASEAN”.Theo đó, đến năm

2020 sẽ hình thành một Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột chính là Cộng đồng an ninh ASEAN,Cộng đồng kinh tế ASEAN,Cộng đồng văn hóa xã hội ASEAN.Biến ASEAN từ một "Hiệp hội" thành một "Cộng đồng" là một sự điều chỉnh quan trọng để ASEAN sẽ là một nhóm hài hoà các dân tộc ĐNÁ hướng ngoại, sống trong hoà bình, ổn định và thịnh vượng, gắn bó với nhau bằng quan hệ đối tác trong phát triển năng động và trong một cộng đồng các xã hội đùm bọc lẫn nhau.Tiến trình hình thành Cộng đồng ASEAN được đẩy mạnh với việc soạn thảo bản Hiến chương ASEAN,thời hạn được rút ngắn, đạt Tầm nhìn 2020 vào năm

2015.10

Lần đầu tiên sau 40 năm tồn tại, các nhà lãnh đạo ASEAN đã cùng đặt bút ký vào bản Hiến chương ASEAN,đặt nền móng về pháp lý cho quá trình vận hành của hiệp hội.Việc ký kết bản hiến chương ngày 20-11-2007 được coi là bước tiến lớn tới việc thể chế hóa cuộc "hội nhập sâu" của khối khi đưa ra những cơ sở pháp lý

về trách nhiệm,nghĩa vụ của mỗi thành viên,định hướng quan hệ với các đối tác bên ngoài…Việc cho ra đời Hiến chương ASEAN trong thời điểm hiện nay là một nhu cầu xuất phát tự sự phát triển vượt bậc của nội khối ASEAN,và cũng xuất phát

từ những thách thức của toàn cầu hoá

Sự ra đời của Hiến chương ASEAN là bước chuyển giai đoạn quan trọng, phản ánh sự trưởng thành của Hiệp hội;Thể hiện tầm nhìn và quyết tâm chính trị mạnh

mẽ của các nước thành viên về mục tiêu xây dựng một ASEAN liên kết chặt chẽ hơn và ràng buộc pháp lý hơn,để hỗ trợ cho mục tiêu hòa bình và phát triển của cả khu vực cũng như từng nước thành viên

Hiến chương ASEAN sẽ tạo cơ sở pháp lý và khuôn khổ thể chế cho Hiệp hội gia tăng liên kết khu vực,trước hết là thực hiện mục tiêu hình thành cộng đồng ASEAN vào năm 2015

Về tổng thể, Hiến chương sẽ làm cho ASEAN trở thành một tổ chức hợp tác khu vực có tư cách pháp nhân;Tạo cơ sở pháp lý và khuôn khổ thể chế cho ASEAN gia tăng liên kết và hợp tác, trước mắt là hỗ trợ hình thành Cộng đồng ASEAN;Giúp

10

Trần Oanh Vũ:Tìm Hiễu Về Hiến Chưong ASEAN

.,http://my.opera.com/VUTRO/blog/2008/01/15/tim-hieu-ve-hien-chuong-asean.[Truy cập 10:20 AM ngày 25/2/2011]

Trang 27

xây dựng ASEAN trở thành một tổ chức gắn kết hơn và hoạt động có hiệu quả hơn, một thực thể chính trị - kinh tế có vai trò quan trọng hơn ở khu vực

1.4.2.2.Tiến trình xây dựng Hiến chương

Mặc dù các nhà lãnh đạo ASEAN đã ý thức và chuẩn bị được cho việc xây dựng Hiến Chương tuy nhiên trên thực tế lại gặp nhiều ảnh hưởng có lúc thuận lợi nhưng cũng chịu nhiều áp lực khó khăn,nhiều vấn đề của khu vực và thế giới diển

ra như là ngoài dự tính nên quá trình hình thành và xây dưng hiến chương ASEAN

đã diễn ra trong một bối cảnh rối ren,thế giới lúc này có nhiều biến động Thị trường dầu mỏ liên tục “leo thang” gây ra nhiều khó khăn cho nền kinh tế từ đó

mà thị trường chứng khoán chung của toàn cầu cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng từ các yếu tố này Không những vậy vì có địa thế khá đặc biệt nên các nước ASEAN cũng phải liên tục hứng chịu các thảm hoạ từ thiên nhiên ,từ động đất ,núi lửa ,sống thần mà các nước thường phải hứng chịu là Indonesia và Philippin đã tạo nên các đoàn đánh khá mạnh vào nền kinh tế khu vực Tuy vậy trong thời gian qua chính nhờ sự ổn định về chính trị-an ninh đã tạo được cơ sở vững vàng giúp ĐNÁ luôn duy trì được “thương hiệu” là khu vục hoà bình và năng động của thới giới Đối với ASEAN dù tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động nhưng xu thế chủ đạo của khu vực vẫn là duy trì hoà bình ổn định ,mỗi nước thành viên có vai trò được ví như những trụ cột trong “Ngôi nhà chung ASEAN” đã và đang chung sức để xây dựng ASEAN luôn vững mạnh Tuy nhiên nếu các nước Asean không thể cùng nhau hành động và nhất thể hóa, họ sẽ tụt hậu so với những thị trường đang nổi lên mạnh mẽ như Trung Quốc và Ấn Độ Các quốc gia này đang từng bước chiếm lĩnh thị trường thuộc các lĩnh vực như chế tạo máy móc ,phát triển thương mại và công nghệ kỹ thuật cao Lúc này các tập đoàn đa quốc gia trên thế giới cũng như các doanh nghiệp lớn của các quốc gia Anh, Pháp ,Mỹ đang tích cực đầu tư vào các nước Đông Âu.Từ các yêu cầu đó ASEAN phải có những bước tiến nhanh hơn để hiện thức hoá ước mơ về một Cộng đồng ĐNÁ.Để làm được điều này các nước thành viên ASEAN buộc phải tìm cách nào đó để tăng cường sức mạnh nội khối ,thu hẹp lại khoản cách giữa các nước thành viên ,xử lý tốt các vấn đề thuộc ASEAN trong tiến trình toàn cầu hoá ,do đó việc cho ra đời Hiến Chương ASEAN là tất yếu

1.4.2.2.1.Ý tưởng tưởng thực hiện

Trang 28

Ý tưởng về xây dựng bản Hiến chương ASEAN được các vị Lãnh đạo nhất trí từ Hội nghị Cấp cao ASEAN-10(Viên-chăn, Lào, 2004) và sau đó,được chính thức hóa bằng các Tuyên bố Kuala Lăm-pơ và Cebu về xây dựng Hiến chương ASEAN tại Hội nghị Cấp cao 11 (Ma-lai-xi-a, 2005) và 12 (Phi-líp-pin, 1/2007)

1.4.2.2.2.Công tác soạn thảo

Từ sau Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 11 tại Malaysia tháng 12-2005 ,Nhóm EPG được thành lập(Nhóm các nhân vật nổi tiếng), gồm các cựu quan chức và các quan chức đương nhiệm hàng đầu của ASEAN với trách nhiệm nghiên cứu xây dựng dự thảo Hiến chương ASEAN.Nhóm EPG đã họp 8 kỳ và đưa ra các khuyến nghị,được Hội nghị cấp cao ASEAN-12 đánh giá cao và ghi nhận Hiến chương sẽ bao gồm 3 vấn đề cơ bản:Cơ chế, cơ cấu tổ chức và điều chỉnh các nguyên tắc Đã thống nhất được ý tưởng Tại hội nghị cấp cao ASEAN tại Phi-líp-pin hồi đầu năm 2007.Công tác soạn thảo Hiến chương đã được tiến hành rất khẩn trương và nghiêm túc trong các năm 2006 và 2007, thông qua hoạt động tích cực của Nhóm các nhân vật nổi tiếng(EPG) và Nhóm Đặc trách cao cấp(HLTF),dưới sự chỉ đạo thường xuyên của các vị Lãnh đạo cũng như các Ngoại trưởng ASEAN

1.4.2.2.3.Tiến trình ký kết và phê chuẩn

Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-13(Xinh-ga-po, tháng 11/2007),các Lãnh đạo ASEAN đã ký thông qua Hiến chương,đồng thời ra Tuyên bố thể hiện quyết tâm hoàn tất phê chuẩn để Hiến chương có thể đi vào hiệu lực trong vòng 1 năm, tức trước cuối năm 2008.Do thủ tục phê chuẩn ở mỗi nước thành viên khác nhau và tình hình nội bộ một số nước có khó khăn, song với cam kết chính trị mạnh mẽ của tất cả các nước thành viên,bản Hiến chương đã chính thức đi vào hiệu lực theo đúng lộ trình đề ra

Như vậy sự ra đời của Hiến Chương không phải là do bất kỳ một quốc gia thành viên nào tự soạn thảo ban hành, mà nó được hình thành trên cơ sở đồng thuận nhất trí và theo đúng nguyện vọng mong muốn của tất cả các nước thành viên trong sự bình đẳng, tự nguyện và thiện chí của tất cả các nước nên chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng một tương lai tươi sáng hơn nửa và bản Hiến chương sẽ là cầu nối đầy thiết thực cho sự hợp tác ,giúp đỡ và tiến trình phát triển chung của ngôi nhà chung ASEAN ngày càng vững chắc và nâng cao vị thế của mình ở khu vực và thế giới.Đồng thời Hiến chương sẽ làm cho ASEAN trở thành một tổ chức hợp tác

Trang 29

khu vực có tư cách pháp nhân;Tạo cơ sở pháp lý và khuôn khổ thể chế cho ASEAN gia tăng liên kết và hợp tác,trước mắt là hỗ trợ hình thành Cộng đồng ASEAN;Giúp xây dựng ASEAN trở thành một tổ chức gắn kết hơn và hoạt động

có hiệu quả hơn, một thực thể chính trị - kinh tế có vai trò quan trọng hơn ở khu vực đầy năng động đầy tiềm năng ,góp phần quan trọng trong tiến trình toàn cầu

hoá ngày nay

2.Nhận định chung về Hiến Chương ASEAN và những ảnh hưởng đến nền pháp quyền Việt Nam

2.1.Về Hiến chương ASEAN

Hiến chương ASEAN chính là Hiệp định thành lập khung thể chế và pháp luật cho

tổ chức ASEAN,khi mà hiến chương đã được được các nhà lãnh đạo ASEAN ký,thì hiến chương vẫn phải được mỗi thành viên thông qua theo tiến trình thông qua và xây dựng luật của từng thành viên

Hiến chương đã đưa cho ASEAN tính hợp pháp ,Hiến Chương đã hệ thống hóa rất nhiều các Hiệp định,tuyên bố trước đây,khẳng định thêm nguyên tắc lâu dài về cộng đồng ,hợp tác ,tham vấn và đồng thuận chung các mục đích cụ thể của ba cộng đồng ASEAN mà đã được xây dựng trước đây.Hiến Chương khẳng định sẽ tiến hành mối quan hệ đối ngoại và làm thế nào để hợp tác với Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế

Một phần lớn của Hiến chương được dành cho cụ thể hóa việc tiến hành các hoạt động của ASEAN,xác định mục tiêu và các nguyên tắc của nó và mối quan hệ giữa các thành viên

Hiến chương cụ thể hóa các thành viên,vạch ra chức năng và trách nhiệm của các

cơ quan ASEAN khác nhau

*Ý nghĩa của sự ra đời Hiến chương ASEAN

sau hơn bốn thập kỷ tồn tại và phát triển,mặc dù đã trở thành một tổ chức năng động về kinh tế và vững mạnh về chính trị,nhưng đến thời điểm trước khi có Hiến chương ASEAN,ASEAN hoạt động trên cơ sở văn kiện chính trị nền là Tuyên bố Băng cốc ra đời ngày 8/8/1967.Đương nhiên, tuyên bố Băng Cốc và các văn kiện chính trị sau này là tập hợp những nguyên tắc,luật lệ và hành xử quan trọng,giúp ASEAN phát triển từ chỗ chỉ có 5 thành viên trong một khu vực đầy mâu thuẫn và xung đột thành một ASEAN gồm 10 thành viên,đoàn kết trong đa dạng;Từ chỗ là

Trang 30

khu vực phát triển thấp trở thành một ASEAN phát triển kinh tế rất năng động trên thế giới.Tuy nhiên, do các văn kiện chính trị này khá lỏng lẻo và có giá trị ràng buộc thấp về pháp lý nên đã tạo ra những khó khăn nhất định trong quá trình thực hiện các cam kết của ASEAN.Trong bối cảnh đó, sự ra đời và thực hiện Hiến chương ASEAN là một bước phát triển tất yếu có ý nghĩa hết sức quan trọng trên

ba khía cạnh sau:

Thứ nhất, thông qua Hiến chương ASEAN, tất cả nguyên tắc, luật lệ và hành xử của ASEAN từ trước đến nay đã được cập nhật và pháp điển hóa một cách có hệ thống trong một văn kiện pháp lý Như vậy, phê chuẩn Hiến chương ASEAN, các nước thành viên ASEAN từ nay không chỉ thực hiện các cam kết trong ASEAN bằng thiện chí hợp tác và tinh thần tự nguyện mà còn có nghĩa vụ pháp lý phải tuân thủ Hiến chương ASEAN đã bao hàm tất cả những nguyên tắc cơ bản của ASEAN như tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của các nước thành viên; từ bỏ xâm lược, đe dọa hoặc sử dụng vũ lực hoặc bất kỳ hành động nào trái với luật pháp quốc tế; giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình Đồng thời Hiến chương cũng bổ sung một số nội dung

và nguyên tắc mới như: trao tư cách pháp nhân cho tổ chức ASEAN, tăng cường tham vấn về những vấn đề lớn có ảnh hưởng đến lợi ích chung của ASEAN; không tham gia vào bất kỳ hoạt động nào nhằm sử dụng lãnh thổ của một nước thành viên đe dọa đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và sự ổn định kinh tế của các nước thành viên khác… Điều quan trọng hàng đầu là Hiến chương khẳng định lại tính chất của ASEAN là một tổ chức hợp tác khu vực liên chính phủ và nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các nước thành viên

Thứ hai, Hiến chương đánh dấu một bước tiến mới về khuôn khổ thể chế và bộ máy hoạt động của ASEAN theo hướng rõ ràng hơn và khoa học hơn, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của Tổng thư ký và Ban thư ký ASEAN Khuôn khổ thể chế đầy đủ và chặt chẽ hơn với quy chế phân công, phân nhiệm rõ ràng nêu trong Hiến chương ASEAN sẽ góp phần tăng cường hiệu quả và hiệu lực của các chương trình hợp tác trong ASEAN trong thời gian tới

Cuối cùng, sự ra đời của Hiến chương ASEAN thể hiện tầm nhìn và quyết tâm chính trị mạnh mẽ của các nhà lãnh đạo ASEAN về mục tiêu xây dựng một ASEAN liên kết chặt chẽ hơn hơn và vững mạnh hơn, trước hết nhằm xây dựng Cộng đồng

Trang 31

ASEAN vào năm 2015 trên cơ sở ba cột trụ an ninh chính trị, kinh tế và văn hóa

xã hội 11

Tuy nhiên, việc thực hiện Hiến chương ASEAN cũng đòi hỏi các quốc gia thành viên phải điều chỉnh bộ máy và phương thức hoạt động theo hướng gia tăng tính ràng buộc lẫn nhau, đòi hỏi tất cả các nước thành viên phải có nghĩa vụ tuân thủ và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định, tập quán và các thỏa thuận của ASEAN Hiến chương và tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN đòi hỏi mỗi nước thành viên phải sớm xác định phương hướng cũng như kế hoạch tổng thể và cụ thể hơn

để tham gia hợp tác ASEAN một cách hiệu quả,nhằm bảo đảm sự gắn kết và lồng ghép hài hòa giữa các ưu tiên,chương trình quốc gia với các ưu tiên,chương trình hợp tác khu vực

2.2.Ảnh hưởng của Hiến Chương đến nền pháp quyền Việt Nam

2.2.1.Nền pháp quyền Việt Nam

Để có cách hiểu đúng về nền pháp quyền Việt Nam trước hết ta cần biết rằng nhà nước pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN)Việt Nam - là nhà nước nữa nhà nước vì vẫn có người đứng đầu, cá nhân lãnh đạo, có pháp luật, pháp chế nhưng không nửa nhà nước vì nhà nước do nhân dân bầu ra, nhà nước của dân và phục vụ lợi ích nhân dân.có thể khẳng định Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân của Việt Nam là một nhà nước vừa phải thể hiện được các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền đã được xác định trong lý luận và thực tiễn của một chế độ dân chủ hiện đại, vừa khẳng định được bản sắc, đặc điểm của riêng mình

Cơ sở kinh tế của nhà nước pháp quyền XHCN là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường không phủ nhận quy luật khách quan của thị trường mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường trong CNTB và kinh tế thị trường trong CNXH Do vậy, đặc tính của nền kinh tế thị trường XHCN tạo ra sự khác nhau giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN

Trang 32

Về chính trị thì cơ sở chính trị của nhà nước pháp quyền XHCN là chế độ dân chủ nhất nguyên Tính nhất nguyên chính trị được thể hiện trong việc khẳng định vai trò lãnh đạo của một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam Bản chất của một nền dân chủ không lệ thuộc vào chế độ đa đảng hay chế độ một đảng, mà lệ thuộc vào chỗ đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực nhà nước vào

những mục đích gì trên thực tế Vì vậy, điều kiện để xây dựng nhà nước pháp

quyền không thể là chế độ đa đảng hay chế độ một đảng và không thể coi đó là căn cứ để đánh giá tính chất và trình độ của một nền dân chủ Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản – đảng duy nhất cầm quyền đối với đời sống xã hội và đời sống nhà nước không những không trái với bản chất nhà nước pháp quyền nói chung

mà còn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của nước ta.Về mặc

xã hội thì, cơ sở xã hội của nhà nước pháp quyền XHCN là khối đại đoàn kết toàn dân tộc Với khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhà nước pháp quyền có được cơ sở

xã hội rộng lớn và khả năng to lớn trong việc tập hợp, tổ chức các tầng lớp nhân dân thực hành và phát huy dân chủ Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tuy không loại bỏ được sự phân tầng xã hội theo hướng phân hoá giàu nghèo, nhưng

có khả năng xử lý tốt hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội Những mâu thuẫn xã hội phát sinh trong điều kiện phát triển nền kinh

tế thị trường do được điều tiết thông qua pháp luật, chính sách và các công cụ khác của nhà nước nên ít có nguy cơ trở thành các mâu thuẫn đối kháng và tạo ra các xung đột có tính chất chia rẽ xã hội Đây là một trong những điều kiện để bảo đảm

ổn định chính trị, đoàn kết các lực lượng xã hội vì mục tiêu chung của sự phát triển Nhờ vậy, nhà nước pháp quyền XHCN có được sự ủng hộ rộng rãi từ phía xã hội, nguồn sức mạnh từ sự đoàn kết toàn dân, phát huy được sức sáng tạo của các tầng lớp dân cư trong việc thực hiện dân chủ

2.2.2.Ảnh hưởng của Bản Hiến Chương ASEAN với nền pháp quyền Việt Nam

Thông qua các điều khoản qui định trong Hiến Chương,trên cơ sở nhìn nhận một cách tổng quát có thể thấy tinh thần của bản Hiến Chương chính là những cuộc dàn xếp về tổ chức để ASEAN có thể hoạt động như một thể chế ,có đầy đủ các bộ máy thường trực và làm việc một cách hiệu quả ,đồng thời điều quan trọng là từng bước xoá đi ký ức về hình ảnh ASEAN như những diễn đàn với những tuyên bố

Trang 33

chính trị lõng lẽo ,nghèo nàn tính pháp lý Hiến Chương ra đời thì tổ chức ASEAN như được khoát lên mình một “chiếc áo mới” với một bộ mặt khác hẳn trước kia ,phản ánh được sự trưởng thành vượt bậc của ASEAN Hiến Chương đã có sự tác động mạnh mẽ đến các thành viên trong Hiệp hội về các mặt Việt Nam củng là một thành viên trong ngôi nhà chung của ASEAN nên củng chịu các tác động ảnh hưởng của bản Hiến Chương về các vấn đề pháp lý như việc cụ thể hoá các nghĩa

vụ của Việt Nam như một thành viên phải đóng góp vào công việc chung của tổ chức,chẳng hạn như đóng góp vào ngân sách chung,phải tham gia các diễn đàn,việc đăng cai tổ chức các cuộc hợp có tính chất quan trọng,làm ban đại diện của ASEAN.Việt Nam có nghĩa vụ tôn trọng và nghiêm chỉnh thực thi các mục tiêu và nguyên tắc của Hiến Chương ASEAN,các tác động cụ thể hoá là các nguyên tắc qui định về việc tuân thủ pháp quyền,tôn trọng các quyền dân tộc ,quyền con người ,quyền tự do dân chủ,thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền ,bảo vệ công bằng xã hội….Đây là các qui định bắt buộc mà Việt Nam cũng như các thành viên của Hiệp hội phải tuân thủ

Trước các tác động về khía cạnh pháp lý của Hiến Chương Việt Nam một mặt sẽ nhận được các tác động tích cực về tổng thể song cũng gặp không ít khó khăn bởi nếu nhìn nhận thật kỹ ta thấy Hiến Chương đã không quy định cụ thể nghĩa vụ của các quốc gia như thế nào và nếu có quốc gia nào đó vi phạm thì người dân ASEAN sẽ có thể yêu cầu quyền lợi của mình bằng những phương cách gì.Có lẽ vì thiếu các chế tài và chế ước quyền lực một cách cần thiết nên bàn Hiến Chương vẫn chỉ là những tuyên bố ,nói cách khác là Hiến Chương chưa thực sự có được hiệu lực như một Hiến pháp

Đối với Việt Nam thì bản Hiến Chương không cụ thể hoá bất kỳ nghĩa vụ nào Việt Nam phải sửa đổi hay ban hành đạo luật cụ thể nào.Vì thế có thể thấy tác động của Hiến Chương đến Việt Nam về trực tiếp thì không nhiều,tuy nhiên xét về ảnh hưởng gián tiếp “người ta thấy rằng ASEAN đã ghi nhận cuộc cạnh tranh giữa các dân tộc trong khu vực.cách hiểu về pháp quyền ,quản trị tốt ,dân chủ,nhân quyền và công bằng xã hội của Việt Nam nếu không lấp lánh sáng hơn được các quốc gia khác thì ít nhất cũng không nên quá khác biệt và cần phải đồng điệu với các quốc gia láng giềng trong khu vực ASEAN ,có thể đây là một ảnh hưởng đáng

Trang 34

kể ,nhất là khi Việt Nam phải cạnh tranh trước hết với các quốc gia trong khu vực”12

CHƯƠNG 2.TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA

HIẾN CHƯƠNG ASEAN VÀ NHỬNG TÁC ĐỘNG ẢNH HỬƠNG VỚI NỀN PHÁP CỦA VIỆT NAM KHI HIẾN CHƯƠNG ĐI VÀO CUỘC SỐNG 1.Những nội dung cơ bản của Hiến chương ASEAN và quá trình Việt Nam tham gia xây dựng ký kết Hiến Chương

1.1.Nội dung cơ bản của Hiến Chương ASEAN

Trên cơ sở nhận thức đựơc tầm quan trọng và yêu cầu cấp thiết càng nhanh càng tốt của việc ra đời Hiến Chương,nên lãnh đạo các nứơc thành viên ASEAN đã làm

Trang 35

việc trên tinh thần tích cực và quyết tâm cao trong việc phê chuẩn Hiến Chương trong vòng một năm.Đây là công việc rất quan trọng của cả tổ chức và từng thành viên,nhằm phù hợp với tình hình toàn cầu có những chuyển biến mạnh mẽ đặt ra các yêu cầu thách thức chung cho tất cả các quốc gia và tổ chức.Với quyết tâm

thực hiên cao và tầm nhìn tích cực chủ động của mình nên điều mà tất cả các

thành viên của ASEAN mong đợi đã đến,Ngày 15/12/2008, Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 14 họp tại thủ đô Jakarta, Indonesia chính thức tuyên bố Hiến chương ASEAN bắt đầu có hiệu lực Đây được coi là một mốc lịch sử quan trọng trong cơ cấu tổ chức, xác định lại vị thế của ASEAN để đối phó tốt hơn với những thách thức trong thế kỷ 21.13

Trước khi có Hiến chương ASEAN, ASEAN hoạt động trên cơ sở văn kiện chính trị nền là Tuyên bố Băng Cốc ra đời ngày 8/8/1967 Tuyên bố Băng Cốc và các văn kiện chính trị sau này là tập hợp những nguyên tắc, luật lệ và hành xử quan trọng, giúp ASEAN phát triển, đoàn kết, năng động Tuy nhiên, do các văn kiện chính trị này khá lỏng lẻo và có giá trị ràng buộc thấp về pháp lý nên đã tạo ra những khó khăn nhất định trong quá trình thực hiện các cam kết của ASEAN.Ý tưởng xây dựng một bản Hiến chương khởi đầu từ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 10 năm 2004,khi các nhà lãnh đạo ASEAN nhất trí xây dựng bản Hiến chương ASEAN.Sau đó,tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 11(năm 2005), ASEAN đã

đề ra các nguyên tắc chỉ đạo cho việc xây dựng Hiến chương và quyết định lập Nhóm các nhân vật nổi tiếng (EPG) để tư vấn cho việc xây dựng Hiến chương.Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 13 (năm 2007),lãnh đạo các nước ASEAN đã ký thông qua Hiến chương ASEAN và ra Tuyên bố chung khẳng định quyết tâm hoàn tất việc phê chuẩn Hiến chương trong vòng một năm

Hiến chương ASEAN gồm Lời nói đầu và 13 Chương, 55 Điều, với các nội dung:

Mục đích - Nguyên tắc hoạt động; Tư cách pháp nhân;Quy chế thành viên;Cơ cấu

tổ chức; Các thể chế liên quan ASEAN;Các ưu đãi miễn trừ; Ra quyết định;Giải quyết tranh chấp;Tài chính - Ngân sách Các vấn đề hành chính - thủ tục;Biểu trưng và biểu tượng;Quan hệ đối ngoại và các điều khoản chung

13

Xem trang thông tin điện tử của Bộ Tư Pháp :những nội dung cơ bản của Hiến Chương ASEAN,

http://vbqppl.moj.gov.vn/ct/tintuc/lists/vanbanchinhsach/view_detail.aspx?ItemID=590 [.ngày truy cập ,15:30,12//2/2011.]

Trang 36

Nội dung quy định của Hiến Chương ASEAN đã được cụ thể trong từng chương

và các Điều,nhằm ngày một hoàn thiện hình ảnh của ASEAN

Bản Hiến chương đặt mục đích hàng đầu của ASEAN là thương mại tự do và hội nhập kinh tế Hiến chương còn kêu gọi thành lập một quỹ giúp thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế giữa các nước thành viên, đảm bảo nhất thể hóa kinh tế có thể thực hiện suôn sẻ và mỗi nước thành viên đều hưởng lợi từ quá trình này Điều này bao gồm cả giúp đỡ tài chính,chuyển giao các phương tiện kỹ thuật, giáo dục

và đào tạo.Nội dung các chưong gồm có:

Khẳng định lại các nguyên tắc cơ bản của ASEAN về:Tôn trọng độc lập,chủ quyền,toàn vẹn lãnh thổ,bình đẳng, bản sắc dân tộc;Không xâm lược hoặc đe dọa

sử dụng vũ lực Giải quyết hòa bình các tranh chấp;không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau…Bổ sung một số nguyên tắc mới như:Tăng cường tham vấn về những vấn đề có ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích chung của ASEAN;Không tham gia vào bất kỳ hoạt động nào nhằm sử dụng lãnh thổ của một nước thành viên đe dọa đến chủ quyền,toàn vẹn lãnh thổ và ổn định kinh tế của các nước thành viên khác…

- Chương II: Tư cách pháp nhân của ASEAN

Hiến chương quy định,ASEAN là một tổ chức hợp tác khu vực liên Chính phủ và

có tư cách pháp nhân.Trước khi có Hiến chương ASEAN, ASEAN hoạt động trên

cơ sở văn kiện chính trị nền là Tuyên bố Băng cốc ra đời ngày 8/8/1967,chứ không phải một văn kiện pháp lý Như vậy là lần đầu tiên sau 40 năm tồn tại và phát triển,Hiệp hội các quốc gia ĐNÁ (ASEAN) chính thức có tư cách pháp nhân

- Chương III: Quy chế thành viên

Quy định các nước thành viên ASEAN có các quyền và nghĩa vụ ngang nhau;Nếu

có sự vi phạm nghiêm trọng Hiến chương,vấn đề sẽ được giải quyết theo Chương

Ngày đăng: 23/10/2020, 23:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w