1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực Tiễn Về Hoạt Động Khuyến Mại Của Các Doanh Nghiệp Cung Cấp Mạng Thông Tin Đi Động

68 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 688,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn đối với hình thức trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ hay hoạt động hội chợ, triển lãm thương mại cũng là hình thức thông tin, giới thiệu đến khách hàng về hàng hóa, dịch vụ của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ths Nguyễn Mai Hân Phạm Mỹ Anh

MSSV: 5075086 Lớp: Luật Thương mại 1 - K33

Cần Thơ, 04/2011

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI VÀ DOANH NGHIỆP CUNG CẤP MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG 3

1.1 Khái quát chung về hoạt động khuyến mại 3

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm 3

1.1.1.1 Khái niệm 4

1.1.1.2 Đặc điểm 4

1.1.2 Ý nghĩa của hoạt động khuyến mại 6

1.1.3 Sự hình thành, phát triển của hoạt động khuyến mại và pháp luật về hoạt động khuyến mại 7

1.2 Khái quát về những doanh nghiệp cung cấp mạng thông tin di động trên thị trường Việt Nam hiện nay 10

1.3 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động khuyến mại của các mạng thông tin di động 14

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CUNG CẤP MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG 18

2.1 Chủ thể thực hiện khuyến mại 18

2.2 Quyền và nghĩa vụ của chủ thể thực hiện khuyến mại 19

2.2.1 Quyền của chủ thể thực hiện khuyến mại 19

2.2.2 Nghĩa vụ của chủ thể thực hiện khuyến mại 21

2.3 Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại và hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại 23

2.4 Nguyên tắc thực hiện khuyến mại 26

2.4.1 Nguyên tắc thực hiện khuyến mại theo quy định của Luật Thương mại 26

2.4.2 Nguyên tắc thực hiện khuyến mại trong lĩnh vực thông tin di động 27

2.5 Hạn mức giảm giá khuyến mại 29

2.6 Các hình thức khuyến mại 30

2.6.1 Đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử Không phải trả tiền 31

2.6.2 Tặng hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền không kèm theo việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ 32 2.6.3 Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ với giá bán hàng hóa, cung ứng

Trang 5

dịch vụ thấp hơn trước đó 33

2.6.4 Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng vụ 36

2.6.5 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố 37

2.6.6 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo việc tham dự các chương trình khuyến mại mang tính may rủi 37

2.6.7 Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên 39

2.6.8 Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại 40

2.7 Các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại 40

2.8 Trình tự, thủ tục thông báo và đăng ký thực hiện khuyến mại 42

2.9 Xử lý vi phạm trong hoạt động khuyến mại đối với các doanh nghiệp di động 44

2.9.1 Xử lý vi phạm hành chính 44

2.9.2 Xử lý vi phạm hình sự trong hoạt động khuyến mại 49

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CUNG CẤP MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN 50

3.1 Tình hình khuyến mại 50

3.2 Một số tồn tại và đề xuất hoàn thiện 54

KẾT LUẬN 60 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài

Ở bất kỳ thời nào thì nhu cầu trao đổi thông tin giữa các cá nhân trong xã hội với nhau là một điều cần thiết Hơn nữa, trong thời đại ngày nay nhu cầu, trao đổi, giao lưu, học tập, nghiên cứu, tiến hành các hoạt động thương mại của con người diễn

ra một cách thường xuyên và mạnh mẽ không phải trong phạm vi quốc gia mà còn vượt ra ngoài phạm vi khu vực và quốc tế Ngày nay, do sự phát triển của khoa học-công nghệ, mọi người có thể trao đổi, liên lạc với nhau bằng những phương tiện hiện đại, trong đó hình thức trao đổi thông tin bằng điện thoại di động là một phương thức trao đổi hiệu quả được rất nhiều người sử dụng Nếu như trước đây, số người sử dụng điện thoại di động ở Việt Nam rất ít, đa số chỉ có giới kinh doanh và người giàu có thì ngày nay hầu hết mọi người thuộc mọi tầng lớp trong xã hội đều có thể sử dụng điện thoại di động Do đó, số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực viễn thông chuyên về cung cấp mạng thông tin di động cũng tăng lên Từ năm 1993, ở Việt Nam chỉ có duy nhất một công ty hoạt động chuyên về lĩnh vực này là MobiFone, thì đến thời điểm hiện tại Việt Nam đã có đến 7 doanh nghiệp chính thức được cấp phép cung cấp các dịch vụ về thông tin di động Điều này cho thấy tính cạnh tranh trong lĩnh vực này ngày một tăng lên Trong một thời gian dài, thị trường viễn thông Việt Nam chứng kiến những cuộc đua tranh quyết liệt giữa các doanh nghiệp cung cấp mạng thông tin

di động với nhau bằng những hình thức khuyến mại hấp dẫn, rầm rộ, nhằm lôi kéo khách hàng về phía mình và làm tăng thị phần của những doanh nghiệp trên thị trường

Đề cập đến hoạt động khuyến mại thì đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực cung cấp mạng thông tin di động thì chưa được quan tâm nhiều Thêm vào đó, cùng với sự phát triển của ngành thông tin di động và sự bùng nổ của những chương trình khuyến mại của các doanh nghiệp cung cấp mạng thông tin di động trong thời gian qua, dẫn đến tình trạng cạnh tranh quyết liệt giữa những doanh nghiệp với nhau trong lĩnh vực này mang biểu hiện không lành mạnh Với mong muốn tìm hiểu những quy định của pháp luật về hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực thông tin di động, cũng như việc vận dụng những quy định này trong thực tiễn như thế nào Chính vì những lí do này, người viết đã chọn đề tài “Thực tiễn về hoạt động khuyến mại của các doanh nghiệp cung cấp mạng thông tin di động” để làm luận văn tốt nghiệp của mình

Trang 7

1.2 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài nhằm tìm hiểu, làm sáng tỏ những quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực thông tin di động, tình hình khuyến mại của các doanh nghiệp cung cấp mạng thông tin di động trên thị trường

Từ đó, đưa ra những biện pháp đề xuất hoàn thiện nhằm góp phần mang lại lợi ích thật sự cho người sử dụng dịch vụ cũng như thị trường thông tin di động Việt Nam, giúp hoạt động khuyến mại đặc biệt là hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực thông tin

di động diễn ra ổn định và trật tự hơn

1.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận về hoạt động khuyến mại cũng như pháp luật điều chỉnh đối với hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực mạng thông tin di động Những chế tài xử lý vi phạm hành chính và hình sự khi thương nhân vi phạm các quy định pháp luật về hoạt động khuyến mại Tình hình khuyến mại của các doanh nghiệp

mà chủ yếu là các chương trình khuyến mại dành cho đối tượng khách hàng là các thuê bao trả trước, thuê bao trả sau sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp di động

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài, người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh, sưu tầm, tổng hợp, phân tích tài liệu

1.5 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời đầu, phần kết luận thì nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về hoạt động khuyến mại và các doanh nghiệp cung cấp mạng thông tin di động trên thị trường Việt Nam Tập trung nghiên cứu những cơ

sở lý luận chung về hoạt động khuyến mại và sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động khuyến mại của các doanh nghiệp cung cấp mạng thông tin di động

Chương 2: Đi sâu vào phân tích các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh đối với hoạt động khuyến mại của các doanh nghiệp cung cấp mạng thông tin di động

Chương 3: Tìm hiểu về tình hình khuyến mại của các doanh nghiệp cung cấp mạng thông tin di động trên thị trường trong thời gian qua và đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện hơn về hoạt động này

Do đây là một đề tài tương đối rộng và khá mới cùng với sự ảnh hưởng của những điều kiện về chủ quan và khách quan, nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô và các bạn để đề tài được hoàn chỉnh hơn

Trang 8

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI

VÀ DOANH NGHIỆP CUNG CẤP MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG

1.1 Khái quát chung về hoạt động khuyến mại

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm

1.1.1.1 Khái niệm

Theo từ điển tiếng việt “mãi” là mua, “mại” là bán1 khuyến mãi có ý nghĩa là khuyến khích mua hàng, còn khuyến mại có nghĩa là khuyến khích bán ra Xét trên hai phương diện: đơn vị kinh doanh (người bán) và người tiêu dùng (người mua), khi đơn

vị kinh doanh muốn gia tăng doanh số bán hàng (hoặc gia tăng thị phần) họ có thể dùng một chương trình khuyến khích bán hàng hóa, dịch vụ, chương trình đó đứng về phía đơn vị kinh doanh được gọi là chương trình khuyến mại (chương trình kích thích bán hàng), về phía người tiêu dùng khi đơn vị kinh doanh tung ra chương trình kích thích người tiêu dùng mua nhiều sản phẩm và sử dụng dịch vụ nhiều hơn sẽ được gọi

là chương trình khuyến mãi (chương trình kích thích người tiêu dùng mua hàng) Đứng về phía người bán thì gọi là khuyến mại, đứng về phía người mua thì gọi là khuyến mãi Do việc mua bán được tiến hành đồng thời nên cả hai thuật ngữ này đều

có thể sử dụng được2 Thông tin khuyến mãi hay khuyến mại giúp cho khách hàng (người tiêu dùng) hiểu rằng doanh nghiệp đang có chính sách ưu đãi nào đó dành cho khách hàng

Theo Hiệp hội tiếp thị Mỹ định nghĩa “khuyến mãi là hoạt động tiếp thị khác với hoạt động bán hàng trực tiếp, quảng cáo và tuyên truyền nhằm kích thích người tiêu dùng mua hàng và làm tăng hiệu quả các đại lý” Trong khi đó hiệp hội các công

ty quảng cáo của Mỹ lại đưa ra định nghĩa “khuyến mãi là bất kỳ hoạt động nào tạo ra một động cơ để mua sản phẩm ngoài các lợi ích vốn có của sản phẩm”.3

Dưới góc độ pháp lý, các nhà làm luật không gọi là “khuyến mãi” mà là

“khuyến mại” và từ này được dùng ở hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật Theo khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại năm 2005 định nghĩa “khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch

Trang 9

xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc bán hàng, cung ứng dịch vụ trong phạm vi kinh doanh của thương nhân bằng cách dành những lợi ích nhất định cho khách hàng” Như vậy so với Luật Thương mại 1997, Luật Thương mại hiện hành khi định nghĩa về hoạt động khuyến mại có bổ sung thêm về mục đích khuyến mại Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bên cạnh mục đích tìm kiếm cơ hội để bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, tiêu thụ hết số lượng sản phẩm làm ra nhằm đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và làm tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường Một mục đích khác cũng không kém phần quan trọng, là một trong những yếu tố đầu tiên tạo nên sản phẩm, đó là quá trình tìm kiếm, thu mua nguyên nhiên liệu Hoạt động khuyến mại trong giai đoạn thu mua hàng hóa, nguyên liệu cũng là một trong những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần tạo ra một sản phẩm có chất lượng, tăng tính cạnh tranh trên thị trường Đây là quá trình tất yếu không thể tách rời từ khâu tìm nguồn nguyên liệu cho đến khi sản phẩm, dịch vụ đến được với khách hàng Để kịp thời điều chỉnh vấn đề này, Luật Thương mại năm 2005 đã bổ sung thêm hoạt động khuyến mại không chỉ là xúc tiến việc bán hàng, cung ứng dịch vụ mà khuyến mại còn nhằm xúc tiến cho việc mua hàng hóa, cung ứng dịch vụ

Ở bất kỳ khía cạnh nào, dưới những cách tiếp cận khác nhau, thì trong hoạt động kinh doanh thương mại khuyến mại là một hoạt động không thể thiếu với mục đích khuyến khích và lôi kéo khách hàng về phía mình mang lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đứng vững và ngày càng phát triển

1.1.1.2 Đặc điểm

Hoạt động khuyến mại là một bộ phận của hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân, hay nói cách khác khuyến mại là một trong những cách thức để thương nhân tiến hành xúc tiến thương mại nhằm tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Do đó khuyến mại mang đầy đủ bản chất của hoạt động xúc tiến thương mại Tuy nhiên, tùy theo tình hình, chiến lược, từng giai đoạn trong quá trình kinh doanh mà thương nhân có thể lựa chọn những hình thức xúc tiến thương mại phù hợp với doanh nghiệp mình Ngoài những đặc điểm chung của hoạt động xúc tiến thương mại, khuyến mại còn mang những đặc điểm riêng biệt mà thương nhân có thể lựa chọn làm một biện pháp xúc tiến thương mại hiệu quả phù hợp với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mình Khuyến mại mang những đặc điểm cơ bản sau:

- Về bản chất: khuyến mại cũng như những hoạt động xúc tiến thương mại khác

là hoạt động thương mại có tác dụng thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội thực hiện các hoạt động thương mại khác như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm hoạt động sinh lời trực tiếp và hoạt động không có tác dụng sinh lời trực tiếp Với tác dụng thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, các hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng

Trang 10

bày, giới thiệu hàng hóa và dịch vụ, hội chợ, triển lãm thương mại là những hoạt động thương mại không có tác dụng sinh lời trực tiếp Giá trị thương mại của những hành vi này thể hiện ở tác dụng kích thích nhu cầu của khách hàng, tác động tới thái độ và hành vi mua sắm của khách hàng để thông qua đó, thỏa mãn nhu cầu lợi nhuận của thương nhân4

- Chủ thể hành vi khuyến mại: là thương nhân và các tổ chức, cá nhân khác hoạt động liên quan đến thương mại Thương nhân có thể tự mình thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh, hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch

vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của mình Trước đây Luật Thương mại năm 1997 không quy định về dịch vụ khuyến mại là một thiếu sót, thực tế quan hệ thương mại rất đa dạng, việc một thương nhân thuê một thương nhân khác chuyên cung cấp dịch vụ khuyến mại mang tính chuyên nghiệp hơn thực hiện chiến lược khuyến mại cho sản phẩm của mình, qua đó hiệu quả của hoạt động khuyến mại sẽ tốt hơn, hình ảnh của sản phẩm và tên tuổi của doanh nghiệp sẽ được nâng lên Đáp ứng được yêu cầu thực tế đó, Luật Thương mại năm 2005 đã kịp thời điều chỉnh những quan hệ kinh tế mới phát sinh, làm cơ sở cho hình thức kinh doanh dịch vụ khuyến mại và thương nhân chuyên kinh doanh về dịch vụ này hoạt động theo một khuôn khổ nhất định và ổn định hơn, quyền và lợi ích được đảm bảo hơn

- Cách thức xúc tiến khuyến mại: là dành cho khách hàng những lợi ích nhất định, những lợi ích này có thể là quà tặng, hàng mẫu để dùng thử, được giảm giá, tham gia các chương trình may rủi, tham gia các chương trình văn hóa nghệ thuật…

- Mục đích của khuyến mại: là xúc tiến việc bán hàng và cung ứng dịch vụ nhằm làm tăng doanh số bán hàng, sử dụng dịch vụ, thông qua đó tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường

Khuyến mại là một trong những công cụ xúc tiến thương mại hiệu quả nhất được rất nhiều thương nhân lựa chọn Chính việc mang đến cho khách hàng những lợi ích nhất định thông qua đó tác động đến hành vi mua sắm hàng hóa, sử dụng dịch vụ của khách hàng làm cho hoạt động này dễ dàng phân biệt với những hình thức xúc tiến thương mại còn lại như quảng cáo, hội chợ, triễn lãm hay trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ Điều 105 Luật Thương mại năm 2005 định nghĩa “quảng cáo thương mại

là hoạt đông xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình” Nếu như hình thức quảng cáo chỉ mang tính chất giới thiệu về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mình đến khách hàng, hay nói cách khác quảng cáo chỉ mang tính chất thông tin một chiều từ phía doanh nghiệp đến với khách hàng, khách hàng có thể tham khảo về hàng

4

TS Nguyễn Thị Dung, Pháp luật về xúc tiến thương mại ở Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr 34

Trang 11

hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mà không cần một sự đáp lại nào từ phía khách hàng Còn đối với hình thức trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ hay hoạt động hội chợ, triển lãm thương mại cũng là hình thức thông tin, giới thiệu đến khách hàng về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp vì theo quy định tại Điều 117 Luật Thương mại năm

2005 thì “trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân dùng hàng hóa, dịch vụ và tài liệu về hàng hóa, dịch vụ để giới thiệu với khách hàng về hàng hóa, dịch vụ đó” và ở Điều 129 Luật Thương mại năm 2005 định nghĩa “hội chợ, triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ” Ở hình thức khuyến mại khách hàng sẽ tìm thấy những lợi ích nhất định từ sản phẩm, dịch vụ mà mình sử dụng Giữa doanh nghiệp và khách hàng có sự trao đổi qua lại với nhau thông qua đó khách hàng có thể đánh giá được chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp Từ đó tác động đến hành vi tiêu dùng, sử dụng hàng hóa, dịch vụ của họ, giúp họ tìm ra những hàng hóa, dịch vụ vừa mang lại lợi ích nhất định, vừa đảm bảo chất lượng tốt nhất 1.1.2 Ý nghĩa của hoạt động khuyến mại

Trong nền kinh tế thị trường nhất là trong môi trường kinh doanh đầy cạnh tranh, người tiêu dùng ngày càng có nhiều sự lựa chọn về hàng hóa, dịch vụ với những tính năng, giá cả, mẫu mã tương tự nhau Việc thúc đẩy và tìm kiếm cơ hội bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ là việc cần thiết quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp

Trong hoạt động kinh doanh thương mại cũng như hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân, khuyến mại là một trong những công cụ kích thích bán hàng tốt nhất, nó mang lại những ý nghĩa to lớn đối với thương nhân, khách hàng sử dụng hàng hóa, dịch vụ:

- Khuyến mại đã và đang trở thành xu hướng phổ biến, được áp dụng thường xuyên trên thị trường nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán, cung ứng dịch của thương nhân

- Khuyến mại giúp thương nhân phát triển nhu cầu bán hàng và nâng cao doanh

số bán hàng, dịch vụ cung ứng trong khoảng thời gian ngắn hạn Giới thiệu sản phẩm mới hoặc những cải tiến sắp có mặt trên thị trường Mở rộng và tăng cường hệ thống hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thị trường, giúp thương nhân có thêm nhiều cơ hội và hợp đồng mới

- Khuyến mại tạo nên sự thích thú, lòng ham muốn và dẫn đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng Từ đó hình thành nhu cầu tiêu dùng và tăng cường mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ

Trang 12

- Khuyến mại còn đóng vai trò tiết kiệm trong tiêu dùng và hình thành nhu cầu trong lĩnh vực dịch vụ

- Khuyến mại nếu biết kết hợp với các biện pháp khác sẽ tạo điều kiện cho quá trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế thị trường được liên tục, tốc độ chu chuyển của đồng vốn sẽ tăng lên góp phần làm ra nhiều của cải xã hội

Ngoài ra, đối với nền kinh tế quốc gia khuyến mại còn góp phần nâng cao nâng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường, tạo động lực thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, phát triển công nghệ, hạ giá thành sản phẩm, tạo ra cơ hội và điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng, phát triển và mở rộng việc giao lưu kinh tế với các nước, nâng cao vị thế của quốc gia trong cộng đồng quốc tế

1.1.3 Sự hình thành, phát triển của hoạt động khuyến mại và pháp luật về khuyến mại

Bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào tồn tại trong xã hội đều là kết quả của quá trình hình thành, đấu tranh và phát triển từ rất lâu đời Theo phương pháp khoa học lịch sử, tất cả các hiện tượng diễn ra hiện tại, đều là sự tiến lên của những gì diễn ra trước đó và là cơ sở cho những gì diễn ra sau này5 Hoạt động khuyến mại cũng không nằm ngoài quy luật đó

Hoa kỳ là quốc gia đầu tiên phát minh ra chiến lược khuyến mại Tại đây sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1932) và những cuộc khủng hoảng kinh tế và

xã hội kế tiếp mà những xí nghiệp có nền sản xuất lớn cảm thấy cần phải phát minh ra một loại kinh doanh mới để làm gia tăng thêm sự bán hàng của họ đang bị trì truệ vì những cơn khủng hoảng, sự phát triển nhanh chóng của những phương tiện kỹ nghệ tối tân, sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ giữa các xí nghiệp, nhu cầu thị trường ngày càng đòi hỏi những phát minh mới mẽ Để gần gũi với giới tiêu thụ hơn, các kỹ nghệ gia đã tìm ra những kỹ thuật mới có khả năng đưa một món hàng hay một dịch vụ thương mại đến gần với khách hàng của họ hơn Qua những món hàng mẫu, những sự chứng minh cụ thể, sự giảm giá bán, tiền thưởng, giới tiêu thụ mới có dịp khám phá ra những lợi ích mới cũng như có lý do để mua sắm6

Ở Việt Nam, trước năm 1986 quan niệm về xúc tiến thương mại nói chung cũng như khái niệm về khuyến mại ít được nói đến Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều do Nhà nước hoạch định, sản xuất ra cái

gì, phân phối cho ai, phân phối như thế nào, đều nằm trong kế hoạch của Nhà nước Yếu tố cạnh tranh trên thị trường hầu như không tồn tại, các doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm đều biết chắc rằng sản phẩm của mình sẽ được tiêu thụ hết Trong điều kiện này mọi hoạt động tìm kiếm cơ hội, tìm kiếm thị trường để tiêu thụ hàng hóa, sản

Trang 13

phẩm, dịch vụ làm ra dường như không có ý nghĩa Vấn đề xúc tiến thương mại có chăng chỉ được đặt ra ở tầm quốc gia, khi Nhà nước thực hiện hỗ trợ các hoạt động tổ chức hội trợ, triển lãm thương mại trong nước và ở nước ngoài, cùng với các nổ lực nhằm mở rộng quan hệ hợp tác chính trị, kinh tế với các nước Xã hội chủ nghĩa Dĩ nhiên các hoạt động này diễn ra rất “yếu ớt” do nền kinh tế không có yếu tố cạnh tranh

và hội nhập kinh tế quốc tế chưa phải là chính sách trọng yếu của Đảng và Nhà nước

ta trong thời kỳ đó7

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đánh dấu một bước chuyển đổi mạnh mẽ, Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện trong đó có đổi mới kinh tế, phát triển các thành phần kinh tế với nhiều hình thức phong phú, đa dạng và sáng tạo Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng

Xã hội chủ nghĩa Từ một nền kinh tế lạc hậu, sản xuất nhỏ lẻ, tập trung chuyển sang nền kinh tế lớn sản xuất hàng hóa đa dạng, phong phú đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Yếu tố cạnh tranh bắt đầu xuất hiện Trong một nền kinh tế vận hành theo

cơ chế thị trường, đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng vận động thì mới có thể tồn tại và đứng vững Từ khi thực hiện chính sách đổi mới, đời sống của người dân không ngừng được nâng lên, do đó nhu cầu về tiêu dùng sản phẩm, cũng như sử dụng dịch vụ cũng tăng lên đòi hỏi chất lượng hàng hóa, dịch vụ ngày càng cao Doanh nghiệp phải có những chiến lược kinh doanh đúng đắn, tìm hiểu và nghiên cứu thị trường, tìm hiểu tâm lý khách hàng Nhu cầu của người tiêu dùng thì ngày càng tăng lên trong khi đó có rất nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất ra những sản phẩm, cung ứng những dịch vụ giống nhau Trong môi trường kinh doanh đầy cạnh tranh đó, để lôi kéo khách hàng về phía mình các doanh nghiệp phải tìm cách hạ giá thành sản phẩm, dịch

vụ, tặng hàng mẫu để người tiêu dùng dùng thử, mua hàng có thưởng Xúc tiến thương mại nói chung, hoạt động khuyến mại nói riêng trở thành công cụ kích thích bán hàng hiệu quả và tất yếu của các doanh nghiệp

Trước khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, các khái niệm khuyến mại, quảng cáo thương mại, hội trợ, triển lãm, trưng bày, giới thiệu hàng hóa ít được nói đến, do các hiện tượng kinh tế này chưa hình thành trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và cũng chưa có nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật Những hình thức xúc tiến thương mại nói chung chỉ hình thành trong nền kinh tế thị trường, khi mà có những chủ thể kinh doanh cùng có khả năng cung cấp những loại hàng hóa, dịch vụ giống nhau trong khi

đó thì người tiêu dùng có khả năng lựa chọn những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu của mình nhất Tất nhiên trong nền kinh tế thị trường khi có nhiều

7

TS Nguyễn Thị Dung, Pháp luật về xúc tiến thương mại ở Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr 62

Trang 14

doanh nghiệp cùng kinh doanh trên một lĩnh vực, cùng có những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ giống nhau, yếu tố cạnh tranh sẽ xuất hiện Không phải bất cứ một doanh nghiệp nào hoạt động thương mại đều có những chiến lược kinh doanh để cạnh tranh một cách công bằng và tiến bộ Để tạo điều kiện cho các thương nhân hoạt động thương mại một cách tốt nhất, tạo môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh cũng như để hoạt động xúc tiến thương mại nói chung, hoạt động khuyến mại nói riêng diễn

ra một cách ổn định và trật tự hơn, Nhà nước đã ban hành ra nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề này

Văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh về hoạt động xúc tiến thương mại được ban hành ngày 01/8/1994 là Quyết định số 390/TTg ban hành quy chế về hội chợ, triển lãm thương mại Tiếp đó là Nghị định số 194/CP ngày 31/12/1994 quy định về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, những văn bản này đều là những văn bản dưới luật và điều chỉnh chưa đầy đủ về các hành vi xúc tiến thương mại đang diễn ra rất đa dạng trong môi trường kinh doanh thương mại Luật Thương mại năm

1997 ra đời, đã bổ sung thêm nhiều hình thức xúc tiến thương mại, đặc biệt là hình thức khuyến mại được đưa vào điều chỉnh ở một văn bản có giá trị pháp lý cao hơn và mang tính ổn định hơn Bên cạnh đó ngày 05/5/1999 Chính phủ ban hành Nghị định số 32/1999/NĐ-CP về khuyến mại, quảng cáo thương mại và hội trợ triển lãm thương mại Khi các quan hệ thương mại diễn ra sôi động và phức tạp hơn, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành không còn phù hợp để điều chỉnh các vấn đề mới phát sinh thì nó sẽ được thay thế bằng những văn bản mới phù hợp hơn Luật Thương mại năm

2005 được ban hành để thay thế cho luật Thương mại năm 1997 đã không còn phù hợp nữa, hoạt động khuyến mại tiếp tục được ghi nhận trong Luật Thương mại năm 2005 bởi tính quan trọng và cần thiết của nó trong hoạt động thương mại

Ngoài ra để đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này nhiều văn bản pháp luật có liên quan cũng được ban hành để điều chỉnh về vấn đề này Cụ thể như Luật Cạnh tranh năm 2004, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999, sắp được thay thế bằng Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày 01/7/2011 Nghị định số 175/2004/NĐ-CP ngày 10/10/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại, đã được thay thế bằng Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16/01/2008 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại

Kể từ khi văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên điều chỉnh về hoạt động xúc tiến thương mại ra đời, đến nay đã có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan điều chỉnh về hoạt động xúc tiến thương mại nói chung, cũng như hoạt động khuyến mại nói riêng Nhiều hình thức xúc tiến thương mại được ghi nhận một cách đầy đủ và đa

Trang 15

dạng hơn đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển của các quan hệ thương mại Nếu như văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh về xúc tiến thương mại chỉ quy định về hội chợ, triển lãm thương mại, thì trong các văn bản pháp luật sau này đã ghi nhận thêm hình thức khuyến mại Đây là hình thức được rất nhiều thương nhân lựa chọn, vì nó đem lại nhiều lợi ích to lớn, thu hút được nhiều khách hàng tiêu dùng sản phẩm, sử dụng dịch

vụ của doanh nghiệp Đây cũng là hình thức dễ nảy sinh nhiều gian lận thương mại, khuyến mại cạnh tranh không lành mạnh, ảnh hưởng xấu đến người tiêu dùng cũng như làm thiệt hại đến lợi ích của doanh nghiệp khác, vì vậy mà việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động này là rất cần thiết Bên cạnh đó Luật Thương mại năm

2005 và các văn bản sau này ghi nhận thêm loại hình dịch vụ khuyến mại là một bước phát triển, vì các văn bản đầu tiên điều chỉnh về xúc tiến thương mại chỉ ghi nhận hình thức dịch vụ quảng cáo thương mại và dịch vụ hội trợ triển lãm thương mại Sự phát triển về pháp luật điều chỉnh hoạt động xúc tiến thương mại, cũng như hoạt động khuyến mại nói riêng tuy chưa hoàn chỉnh, đầy đủ, nhưng cũng đã góp phần điều chỉnh được những quan hệ thương mại mới phát sinh trong nền kinh tế thị trường, góp phần làm trong sạch môi trường kinh doanh thương mại, từng bước đưa nền kinh tế phát triển

1.2 Khái quát về những doanh nghiệp cung cấp mạng thông tin di dộng trên thị trường Việt Nam hiện nay

Hiện nay trên thị trường dịch vụ viễn thông của Việt Nam có 7 doanh nghiệp tham gia cung cấp các dịch vụ về thông tin di động với những cái tên quen thuộc: Viettel, Mobifone, Vinaphone, S-fone, EVNTelecome, Vietnamobibe và Beeline Trong đó 3 mạng di động Viettel, Mobifone và Vinaphone chiếm đa số thị phần trên thị trường thông tin di động Việt Nam

 MOBIFONE

Mobifone là nhà cung cấp mạng thông tin di động đầu tiên tại Việt Nam, được thành lập vào ngày 16/04/1993 với tên gọi Công ty Thông tin di động (VMS), là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)8 VSM trở thành doanh nghiệp đầu tiên khai thác dịch vụ thông tin di động GMS với thương hiệu Mobifone, đánh dấu cho sự khởi đầu ngành thông tin di động của Việt Nam Từ khi thành lập cho đến nay Mobifone nhiều năm liền được bình chọn là “mạng điện thoại di động được ưa chuộng nhất” do báo điện tử VietnamNet và tạp chí Echipmobile tổ chức bình chọn Năm 2009, Mobifone vinh dự được nhận giải thưởng

“mạng di động xuất sắc nhất năm 2008” do Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam trao tặng Năm 2010 nhận giải thưởng “sản phẩm Công nghệ thông tin - Truyền thông

8

Trang thông tin điện tử của Mobifone, lịch sử phát triển,

http://www.mobifone.com.vn/web/vn/home/mobifone_history.jsp , [truy cập ngày 26-12-2010]

Trang 16

ưa chuộng nhất năm 2010” dành cho lĩnh vực mạng điện thoại di động do tạp chí PC World bình chọn Với sản phẩm dịch vụ đa đạng, cung cấp và hỗ trợ đầy đủ mọi nhu cầu thông tin của khách hàng từ các sản phẩm thuê bao trả sau, thuê bao trả trước đến các sản phẩm dịch vụ giá trị gia tăng… Tính đến tháng 4/2008, Mobifone đang chiếm lĩnh vị trí số 1 về thị phần thuê bao di động tại Việt Nam

 VINAPHONE

Vinaphone là tên thương mại của Công ty Dịch vụ Viễn thông – trực thuộc Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT)9, hoạt động trong lĩnh vực thông tin di động, cung cấp các dịch vụ GMS, nhắn tin, điện thoại rẻ Tính đến cuối năm 2008, Vinaphone là mạng di động lớn thứ 3 Việt Nam chiếm 20% thị trường thông tin di động Cùng với những sản phẩm đa dạng: Vinacard, Vinadaily, Vinatext, Vinaxtra… và với câu khẩu hiệu quen thuộc “không ngừng vươn xa” công ty Dịch vụ Viễn thông quyết tâm xây dựng Vinaphone thành mạng di động số 1 tại Việt Nam, hướng đến hội nhập và hợp tác quốc tế

 VIETTEL TELECOM

Viettel Telecome là doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty Viễn thông Quân đội Viettel được thành lập ngày 05/4/2007 trên cơ sở sáp nhập các công ty Internet Viettel, Điện thoại cố định Viettel và Điện thoai di động Viettel10 Viettel là nhà cung cấp viễn thông thứ 2 tại Việt Nam sau Mobifone Từ khi thành lập Viettel đã có những chiến lược kinh doanh đúng đắn và hiệu quả, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc và rộng khắp “Viettel đã dựng lên một mạng di động có vùng phủ sóng lớn nhất tại Việt Nam với 3000 trạm phát sóng trên khắp 64 tỉnh, thành phố Có gần 2000 cửa hàng, trên 1000 nhân viên giải đáp và chăm sóc khách hàng”11 Với tốc độ phát triển vượt bậc, đến nay Viettel Telecom đã ghi nhận được những dấu ấn rất quan trọng và có một

vị thế lớn trên thị trường thông tin di động cũng như trong sự lựa chọn của khách hàng Với mục tiêu trở thành nhà cung cấp dịch vụ viễn thông hàng đầu Việt Nam, Viettel hiện nay là một trong 3 nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động chiếm thị phần lớn nhất Việt Nam

 S-FONE

S-fone là tên tên thương hiệu của S-Telecom S-Telecom là đơn vị trực thuộc Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT), được hình thành để thực hiện dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa công ty SPT và công ty SLD (nay được gọi là SK Telecom Vietnam) Với ý nghĩa tích cực làm thay đổi cơ cấu thị trường

9

Trang thông tin điện tử của Vinaphone, Giới thiệu chung về Vinaphone,

http://vinaphone.com.vn/view.do?g=aboutus&p=gtchung , [Truy cập ngày 14-3-2011]

Trang 17

di động Việt Nam, phá vỡ thế độc quyền, kích thích sự phát triển chung, và quan trọng nhất đem lại cho khách hàng một sự lựa chọn hoàn toàn mới, sự ra đời của của mạng S-fone được bình chọn là 1 trong 10 sự kiện Công nghệ Thông tin và Truyền thông nổi bật của năm 200312 Với sản phẩm, dịch vụ đa dạng, gói cước linh hoạt, S-fone đã chiếm được lòng tin của khách hàng và đạt được những thành tích trên thị trường mạng thông tin di động Năm 2004 đoạt “cúp vàng thương hiệu năm 2004” trong cuộc bình chọn thương hiệu uy tín chất lượng qua mạng Thương hiệu Việt Nam Năm 2005 S-fone đựơc tạp chí e-Chip bình chọn là mạng di động chiếm đựơc sự hài lòng nhất năm 2005” Năm 2009 S-fone đạt danh hiệu “50 thương hiệu nổi tiếng năm 2008” Trong tương lai, mục tiêu của S-fone là trở thành nhà khai thác mạng điện thoại di động hàng đầu của Việt Nam, thống lĩnh vị trí thứ nhất trên tất cả các chỉ tiêu Với những gì đã đạt đựơc theo đánh giá của giới chuyên môn trong tương lai S-fone sẽ có bước phát triển mạnh mẽ

 EVNTELECOM

EVNTelecom là một doanh nghiệp trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam, thành lập vào tháng 7/1995 với tên gọi “Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực (EVN Telecom)” EVNTelecome được phép cung cấp đầy đủ các dịch vụ viễn thông tại Việt Nam13 Sau 15 năm xây dựng và phát triển, dựa trên cơ sở hạ tầng vững mạnh, ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến, kênh phân phối rộng khắp, đội ngũ nhân viên năng động và chuyên nghiệp EVNTelecom đã liên tục có những bước đi vững chắc, luôn nổ lực cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích, chất lượng ổng định giá cả cạnh tranh để khách hàng thoải mái lựa chọn và hài lòng khi sử dụng dịch vụ Sự ghi nhận và hài lòng của khách hàng đến nay để phục vụ, đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của khách hàng, EVN Telecom đã trở thành một công ty lớn với 9 trung tâm thành viên, 1 ban quản lý dự án viễn thông điện lực Các đơn vị thành viên của EVNTelecom hoạt động trên tất cả các lĩnh vực: kinh doanh, cung cấp các dịch vụ viễn thông công cộng, công ngệ thông tin trong nước và quốc tế Từ một đơn vị chuyên phục vụ cho lĩnh vực điện năng, bước sang hoạt động trên một lĩnh vực hoàn toàn mới – mạng thông tin di động đầy rẫy cạnh tranh và thử thách, EVNTelecom bước đầu đã có những thành công đáng kể Cùng với phương châm “gần gũi với khách hàng” mục tiêu của EVNTelecom là trở thành một doanh nghiệp chiếm thị phần viễn thông lớn nhất của Việt nam vào năm

Trang thông tin điện tử của EVNTelecom, Giới thiệu về EVNTelecom,

http://www.evntelecom.com.vn/main.aspx?MNU=1097&Style=1 , [truy cập ngày 16-01-2011]

Trang 18

 VIETNAMOBILE

Vietnamobile ra đời ngày 08/4/2009, là mạng thông tin di động được hình thành trên cơ sở kế thừa của mạng HT mobile trước đây14 Vietnamobile được triển khai theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) giữa Công ty Cổ phần Hà Nội Telecom

và Công ty Huchison Telecommunication International Limited (Bao gồm các nhà cung cấp viễn thông di động tại các thị trường đang nổi như Indonesia, Việt Nam, Sri Lanka và Thái Lan)15 Tham vọng mà Vietnamobile hướng tới là trở thành mạng di động thuận tiện nhất Việt Nam, mang đến cho khách hàng những trải nghiệm của một mạng di động tiên tiến, hiện đại, gói cước giản tiện, giá cả hợp lý, chất lượng mạng cao và dịch vụ chăm sóc khách hàng chuyên nghiệp Bằng những gói cước hấp dẫn, cùng với các dịch vụ giá trị gia tăng tiện ích, những chương trình khuyến mại rầm rộ, Vietnam mobile đã đánh dấu sự trở lại thị trường thông tin di động một cách đầy ấn tượng và đột phá

 BEELINE

Giữa tháng 7/2008 mạng di động Beeline Việt Nam của Gtel Mobile với đầu số

0199 chính thức ra mắt thị trường Beeline là mạng điện thoại di động thứ 7 tại Việt Nam, được thành lập ngày 08/7/2008 trên cơ sở thỏa thuận hợp tác giữa Tổng công ty

di động Toàn Cầu và Tập đoàn Vimpelcom - một tập đoàn viễn thông hàng đầu ở Đông Âu và Trung Á GTEL mobile sử dụng thương hiệu “Beeline Việt Nam” để ra mắt trên thị trường viễn thông Việt Nam Trên thế giới Beeline là một thương hiệu mạng viễn thông di động lớn hoạt động tại 9 quốc gia và vùng lãnh thổ ở Đông Âu và Trung Á Hiện nay Beeline đã phủ sóng tới các địa bàn với tổng số dân lên tới 340 triệu người và có hơn 63 triệu thuê bao thực16 Tính đến thời điểm hiện tại Beeline là mạng di động được thành lập bởi một liên doanh quốc tế đầu tiên tại Việt nam, sự kết hợp giữa một tập đoàn viễn thông hàng đầu Đông Âu vốn đã dày dặn kinh nghiệm và tiềm lực tài chính mạnh với một Tổng công ty Viễn thông Toàn Cầu GTEL am hiểu về thị trường, tập quán, nhu cầu của người tiêu dùng Việt Nam được kỳ vọng sẽ mang lại nhiều ưu thế vượt trội Bên cạnh đó hình thức liên doanh còn tạo điều kiện để các đối tác nước ngoài có thể mạnh tay đầu tư vào việc phát triển chất lượng dịch vụ, gia tăng

sự cạnh tranh trên thị trường

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và xu thế hội nhập quốc tế, thị trường viễn thông Việt Nam hiện nay là một thị trường tiềm năng và phát triển Trong

Trang thông tin điện tử của Vietnamobile, Giớ thiệu về Vietnamobile,

http://www.vietnamobile.com.vn/staticpages/page/hanoi-telecom , [truy cập ngày 25-10-2010]

16

Trang thông tin điện tử của Beeline, Tổng quan, http://beeline.vn/vn/pages/About_Beeline.aspx?id=4, [truy

cập ngày 25-10-2010]

Trang 19

bối cảnh có nhiều doanh nghiệp tham gia cung cấp mạng thông tin di động như hiện nay, với những thế mạnh và mục tiêu kinh doanh riêng của mình chắc chắn sẽ có những cuộc cạnh tranh gay gắt giữa những doanh nghiệp cung cấp mạng thông tin di động với nhau để giành lấy thị phần trên thị trường

1.3 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động khuyến mại của các mạng thông tin di động

Khuyến mại là một hình thức không thể thiếu của bất kỳ một doanh nghiệp nào khi muốn gia nhập, tồn tại và đứng vững trên thị trường Đặc biệt trong thời đại ngày nay, thời đại của “Khoa học, công nghệ, thông tin và dịch vụ”, việc các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để tồn tại và phát triển là một điều tất yếu Nếu như trước đây việc trao đổi thông tin, liên lạc với nhau chủ yếu thông qua: thư từ, điện thọai cố định, fax… thì ngày nay điện thoại di động là một phương tiện thông dụng và hiệu quả nhất giúp mọi người có thể trao đổi thông tin liên lạc với nhau ở bất cứ nơi đâu và vào bất

cứ thời điểm nào Cùng với yêu cầu phát triển của xã hội, xu thế phát triển của thời đại, nhu cầu trao đổi thông tin giữa các cá nhân với nhau trong xã hội, dịch vụ viễn thông đặc biệt là dịch vụ thông tin di động sẽ có cơ hội bùng nổ và phát triển mạnh

mẽ

Nếu như vào những năm chín mươi của thế kỷ trước Mobifone là nhà cung cấp mạng thông tin di động đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam, thì tính đến thời điểm hiện tại đã có 7 mạng di động tham gia cung cấp dịch vụ về thông tin di động với những thương hiệu rất nổi tiếng như: Viettel, Vinaphone, S-fone, Vietnamobile, EVN Telecome và Beeline Theo đánh giá của giới chuyên môn thì thị trường Việt Nam vẫn còn tiềm năng phát triển Do đó, để có thể đứng vững trên thị trường các doanh nghiệp cung cấp mạng thông tin di động phải có những chiến lược kinh doanh thích hợp, chất lượng dịch vụ cao và những chương trình xúc tiến thương mại hiệu quả

Một biện pháp mà các doanh nghiệp di động sử dụng một cách phổ biến nhất hiện nay để có thể lôi kéo khách hàng về phía mình là tung ra những chương trình khuyến mại rầm rộ và hấp dẫn Phải thừa nhận rằng hoạt động khuyến mại là một công

cụ xúc tiến thương mại hiệu quả, không những mang lại lợi ích cho thương nhân mà còn khuyến khích cạnh tranh, khuyến khích cải tiến kỹ thuật nâng cao chất lượng dịch

vụ có lợi cho người tiêu dùng Với 7 nhà cung cấp mạng thông tin di động trên thị trường, trong thời gian qua các mạng di động cạnh tranh nhau hết sức khốc liệt, thông qua hàng loạt các chương trình khuyến mại và giảm giá dịch vụ Từ các mạng chiếm

đa số thị phần trên thị trường thông tin di động như Mobifone, Viettel, Vinaphone đến các mạng nhỏ chỉ chiếm số ít thị phần như Vietnamobile hay Beeline đều có những chương trình khuyến mại rầm rộ và hấp dẫn Từ các đợt tặng tin nhắn miễn phí, tặng tiền vào tài khoản khi sử dụng dịch vụ đến các đợt giảm giá cước của các mạng di

Trang 20

động đều làm cho đa số khách hàng hài lòng và thích thú Ở hầu hết các sản phẩm dịch

vụ, từ các thuê bao trả trước, trả sau, đến các dịch vụ giá trị gia tăng của các mạng đều

có những chính sách khuyến mại ưu đãi đặc biệt dành cho khách hàng Mobifone thì

có những đợt tặng tin nhắn miễn phí cho khách hàng vào những ngày đặc biệt như ngày 8/3, 14/2, 20/10 Bằng những chiến lược cạnh tranh về giá, Viettel liên tục tung

ra những gói cước giá rẻ, thu hút được không ít giới trẻ đặc biệt là học sinh, sinh viên

sử dụng dịch vụ làm cho số lượng thuê bao của doanh nghiệp này tăng lên đáng kể fone cũng có những chương trình tặng tiền vào tài khoản cho các thuê bao trong những đợt khuyến mại đặc biệt, đến gói cước một đồng cung cấp các cuộc gọi nội mạng giá

S-rẻ, hay gói cước trả trước Eco 999 đột phá với cuộc gọi ngoại mạng hấp dẫn chỉ 999 đồng/phút Ngay từ khi trở lại thị trường, Vietnamobile đã giới thiệu gói cước bổ trợ VN24, theo đó người sử dụng chỉ cần đăng ký một tin nhắn 5000 đồng, thì có thể gọi

và nhắn tin nội mạng thoải mái hết cả ngày Đánh dấu sự xuất hiện trên thị trường thông tin di động, Beeline cũng đưa ra gói cước “Big Zero” cực kỳ hấp dẫn, theo đó Beeline sẽ tính giá 0 đồng sau phút đầu tiên cho tất cả các cuộc gọi nội mạng (tức là từ phút thứ 2 trở đi các cuộc gọi nội mạng khách hàng sẽ không chịu bất kỳ một loại cước phí nào) và còn rất nhiều những chương trình khuyến mại của các mạng di động đem lại những lợi ích vô cùng to lớn đối với khách hàng

Tuy nhiên, bên cạnh những chương trình khuyến mại đem lại lợi ích thật sự cho khách hàng, cũng có không ít những chương trình khuyến mại mập mờ, gian lận làm ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng, ảnh hưởng không tốt đến thị trường thông tin di động Trong tháng 4/2010 (từ ngày 15/4 đến ngày 17/4/2010) Mobifone thực hiện chương trình khuyến mại tặng đến 170% giái trị các thẻ nạp cho khách hàng17, khi nhận được thông tin này rất nhiều khách hàng đã mua thẻ nạp, trông đợi được hưởng khuyến mại lớn, thậm chí có người mua đến hàng triệu đồng Tuy nhiên do việc thông báo không rõ nên đã gây hiểu nhầm, đồng thời việc thực hiện cam kết tặng 170% giá trị đã không diễn ra ngay nên khiến nhiều khách hàng rất bất bình Theo sự giải thích của doanh nghiệp này, từ ngày 15/4 đến 17/4/2010, Mobifone thực hiện chương trình khuyến mại cho tất cả các khách hàng trong đó khách hàng thuộc

“chương trình kết nối dài lâu” khi nạp thẻ mệnh giá trên 200.000 đồng sẽ được tặng 170% giá trị thẻ nạp, dưới 200.000 đồng được tặng 100% giá trị, khách hàng không thuộc chương trình “kết nối dài lâu” chỉ được nhận mức khuyến mại 50% giá trị thẻ nạp Nội dung chương trình khuyến mại được mạng này gửi đến cho tất cả khách hàng thông qua tin nhắn, nhưng do giới hạn về ký tự tin nhắn gửi đi không truyền tải hết thông tin trên nên dẫn đến hiểu nhằm cho khách hàng Hay như Viettel, trong năm

17

Trang thông tin điện tử Mobifone, Tin khuyến mại và chăm sóc khách hàng,

http://www.mobifone.com.vn/web/vn/home/promotion.jsp?id=2826 , [Truy cập ngày 29-11-2010]

Trang 21

2009 có đợt khuyến mại doanh nghiệp này tặng đến 150% giá trị cho các thẻ cào18, nhiều thuê bao di động của Viettel đã vô tư nạp tiền vào tài khoản nhưng sau mới vỡ

ra, số tiền khuyến mại bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện, số tiền được tặng không trực tiếp chuyển vào tài khoản của khách hàng mà được quy ra thành số phút gọi và tin nhắn

Đứng về phía các doanh nghiệp những chương trình khuyến mại như vậy có thể mang lại doanh số và lợi nhuận trong thời gian ngắn, nhưng về tổng thể sẽ tác động không tốt đến chính sách của doanh nghiệp Một mặt uy tín và quan hệ với khách hàng

sẽ bị phá vỡ, gieo vào tâm lý người tiêu dùng sự nghi ngờ đối với các chương trình khuyến mại nói chung, khi người tiêu dùng thiếu niềm tin vào các chương trình khuyến mại thì hiệu quả từng chương trình của doanh nghiệp đều bị ảnh hưởng, mặt khác những chương trình khuyến mại này còn có thể bị đối thủ lợi dụng để bôi nhọ uy tín của doanh nghiệp Việt Nam đã là thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO), sự kiện này có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam nói chung, đặc biệt là của ngành Bưu chính Viễn thông nói riêng Gia nhập WTO, đồng nghĩa với việc Nhà nước ta sẽ mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, viễn thông sẽ là lĩnh vực được các đối tác nước ngoài đặc biệt quan tâm, trong đó cạnh tranh trong lĩnh vực thông tin di động sẽ hết sức gay gắt Chính vì vậy, thách thức đầu tiên mà các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam phải đối mặt là vấn đề thị trường Thị phần của các doanh nghiệp viễn thông sẽ bị chia sẽ đáng

kể khi các tập đoàn viễn thông quốc tế đầu tư vào Việt Nam Do đó, tạo lập một môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh là việc làm hết sức cần thiết đứng về phía các

cơ quan quản lý Để tránh việc các doanh nghiệp lợi dụng hoạt động khuyến mại để bán phá giá, cạnh tranh không lành mạnh, tạo vị trí thống lĩnh thị trường gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp hợp pháp của khách hàng và của các doanh nghiệp khác thì cần phải đưa hoạt động này vào một khuôn khổ, trật tự nhất định

Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt động này như Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Thương mại năm 2005 là văn bản pháp

lý cơ bản và trực tiếp nhất điều chỉnh về hoạt động này, để hướng dẫn cụ thể và chi tiết hơn về hoạt động xúc tiến thương mại trong đó có hoạt động khuyến mại Chính phủ đã ban hành Nghị định 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại Tiếp đó là Luật Viễn thông được Quốc hội thông qua ngày 23/11/2009, chính thức có hiệu lực vào ngày 01/7/2010 Đặc biệt trong lĩnh vực thông tin di động Bộ Thông tin và Truyền thông cũng đã ban hành Thông tư

18

Trang thông tin điện tử của Viettel, Tin khuyến mại,

http://vietteltelecom.vn/tintuc/tinkhuyenmai/2009/08/5381/ , [Truy cập ngày 29-11-2010]

Trang 22

số 11/2010/TT-BTTTT ngày 14/5/2010 chính thức có hiệu lực ngày 01/7/2010 điều chỉnh hoạt động khuyến mại đối với dịch vụ thông tin di động

Hoạt động khuyến mại thật sự là cần thiết đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vì nó mang lại những lợi ích to lớn cho người tiêu dùng, cho doanh nghiệp và cả nền kinh tế thị trường Tuy nhiên tổ chức khuyến mại như thế nào để hoạt động này mang lại hiệu quả tích cực, không quá lạm dụng gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế là vấn đề cần được quan tâm Trước hết thương nhân muốn tổ chức khuyến mại cần phải tìm hiểu những quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động này và khi tiến hành các hoạt động khuyến mại thì phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy định của phápluật

Trang 23

CHƯƠNG 2

PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CUNG CẤP MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG

2.1 Chủ thể thực hiện khuyến mại

Trong kinh doanh thương mại nhu cầu tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ là nhu cầu cần thiết của bất cứ ai tham gia vào thị trường mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Vậy ai là những người tiến hành xúc tiến thương mại, thực hiện các hoạt động khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của mình Những người không trực tiếp sản xuất hàng hóa, làm ra dịch vụ có được quyền tiến hành các hoạt động thúc đẩy

cơ hội mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho người khác không Đây là những vấn

đề cần được quan tâm

Theo quy định của pháp luật thì chủ thể thực hiện các hoạt động khuyến mại là thương nhân bao gồm thương nhân trực tiếp khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh và thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác theo thỏa thuận của thương nhân

đó19 Như vậy, không chỉ có thương nhân trực tiếp sản xuất hàng hóa, làm ra dịch vụ thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của mình mà cả những thương nhân không trực tiếp sản xuất hàng hóa, làm ra dịch vụ cũng được quyền thực hiện các hoạt động khuyến mại cho những thương nhân khác trên cơ sở hợp đồng dịch vụ khuyến mại

Vậy thương nhân là ai? thương nhân là tổ chức, cá nhân hoạt động thương mại một cách thường xuyên và mang tính nghề nghiệp Theo Điều 6 Luật Thương mại năm

2005, thương nhân là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Như vậy, để được xác định có tư cách thương nhân thì chủ thể kinh doanh phải hội đủ cả 3 điều kiện Thứ nhất, là cá nhân hoặc tổ chức thành lập hợp pháp Thứ hai, cá nhân hoặc tổ chức đó phải hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp Thứ ba, cá nhân hoặc tổ chức đó phải có đăng ký kinh doanh khi tiến hành các hoạt động thương mại

Khác với thương nhân, một chủ thể kinh doanh nữa cũng được quyền thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, tiến hành các hình thức khuyến mại nhưng bị hạn chế hơn so với thương nhân đó là cá nhân – những người hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên nhưng không phải đăng ký kinh doanh Những chủ thể này được quyền thực hiện các hoạt động khuyến mại như thương nhân, nhưng không được

19

Khoản 2, Điều 88 Luật Thương mại năm 2005

Trang 24

quyền thực hiện các hình thức khuyến mại: bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố; bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình khuyến mại mang tính may rủi và tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên

Trong lĩnh vực thông tin di động, chủ thể thực hiện khuyến mại phải là những thương nhân được cấp giấy phép thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ thông tin di động20, những thương nhân kinh doanh hàng hóa chuyên dùng thông tin di động trên

cơ sở ký hợp đồng với doanh nghiệp di động21 Đây là những điều kiện bắt buộc, những thương nhân nào đáp ứng được đều kiện này thì mới được phép tiến hành các hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực thông tin di động

2.2 Quyền và nghĩa vụ của chủ thể thực hiện khuyến mại

2.2.1 Quyền của chủ thể thực hiện khuyến mại

Quyền tự do kinh doanh là một quyền Hiến định được ghi nhận tại Điều 57 Hiến pháp năm 1992 “mọi tổ chức cá nhân được quyền kinh doanh theo quy định của pháp luật” Quyền hoạt động thương mại của thương nhân tiếp tục được xác định trên

cơ sở tôn trọng và phát huy quyền tự do kinh doanh và được Nhà nước bảo hộ Thương nhân được quyền hoạt động tại mọi lĩnh vực và địa bàn chỉ trừ một số lĩnh vực

và địa bàn bị cấm, được tự do thỏa thuận tiến hành các hoạt động xúc tiến thương mại Bên cạnh đó, cùng với xu thế hội nhập quốc tế, việc mở cửa thị trường cho thương nhân nước ngoài vào hoạt động thương mại ở Việt Nam là một nhu cầu tất yếu Nhằm khuyến khích đầu tư và tạo điều kiện cho thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam, Nhà nước ta luôn cố gắng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại trên lãnh thổ Việt Nam Do đó, đối tượng thực hiện hoạt động khuyến mại không chỉ là thương nhân Việt Nam mà còn có cả thương nhân nước ngoài Điều 91 Luật Thương mại năm 2005 xác định rõ ràng và cụ thể quyền khuyến mại của thương nhân:

- Thương nhân Việt Nam, chi nhánh của thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có quyền tự tổ chức khuyến mại hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại cho mình

- Văn phòng đại diện của thương nhân không được khuyến mại hoặc thuê thương nhân khác thực hiện khuyến mại tại Việt Nam cho thương nhân mà mình đại diện Việc pháp luật quy định văn phòng đại diện của thương nhân không được thực hiện các hoạt động khuyến mại xuất phát từ đặc điểm văn phòng đại diện chỉ làm chức năng đại diện cho thương nhân, không có chức năng hoạt động kinh doanh nên không được quyền thực hiện các hoạt động khuyến mại hoặc thuê thương nhân khác thực

Trang 25

hiện khuyến mại cho thương nhân mà mình đại diện Khác với văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân có chức năng hoạt động kinh doanh, nên trong phạm vi, quyền hạn của mình chi nhánh được quyền thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, tiến hành các hoạt động khuyến mại theo sự ủy quyền của thương nhân

Thương nhân có quyền thực hiện hoạt động khuyến mại bất kể đó là thương nhân Việt Nam hay thương nhân nước ngoài và khi tiến hành hoạt động xúc tiến cho việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ này thương nhân cũng có những quyền nhất định Các doanh nghiệp cung cấp mạng thông tin di động tham gia trên trên thị trường khi thực hiện các hoạt động khuyến mại cũng không là một ngoại lệ Theo Điều 95 Luật Thương mại năm 2005 khi thực hiện các hoạt động khuyến mại thương nhân có quyền:

- Lựa chọn hình thức, thời gian, địa điểm khuyến mại, hàng hóa, dịch vụ dùng

để khuyến mại Việc thực hiện khuyến mại như thế nào, thời gian, địa điểm ra sao, đó

là quyền của thương nhân và pháp luật không can thiệp Tuy nhiên khi thực hiện các hoạt động khuyến mại thương nhân phải đảm bảo cho các chương trình khuyến mại của mình được thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật, không xâm phạm đến quyền và lợi ích của khách hàng và của những thương nhân khác

- Quy định các lợi ích cụ thể mà khách hàng đựơc hưởng Các lợi ích này có thể

là hàng mẫu, quà tặng, phiếu mua hàng hay khách hàng được giảm giá hàng hóa, dịch vụ Việc quy định cho thương nhân được quyền quy định các lợi ích cụ thể mà khách hàng được hưởng là để cho thương nhân chủ động hơn trong chiến lược kinh doanh của mình, có thể tranh thủ được thời gian, cũng như chất lượng của những lợi ích mà thương nhân dành tặng cho khách hàng trong chương trình khuyến mại

- Thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại cho mình Tùy theo mục đích của chương trình khuyến mại thương nhân có thể tự mình thực hiện khuyến mại hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại cho mình Xuất phát từ các quan hệ kinh tế mới phát sinh, đây là quyền mới được bổ sung vào Luật Thương mại năm 2005, nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các thương nhân được tự do hoạt động thương mại theo mục đích và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mình để đem lại hiệu quả tốt nhất

- Tổ chức thực hiện các hình thức khuyến mại theo quy định của pháp luật Pháp luật cho phép các thương nhân quyền tổ chức các hoạt động khuyến mại để xúc tiến cho việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp mình, các hình thức khuyến mại phải được thực hiện theo đúng các hình thức mà pháp luật cho phép, nếu tiến hành các hoạt động khuyến mại dưới các hình thức khác thì phải được sự đồng ý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Trang 26

2.2.2 Nghĩa vụ của chủ thể thực hiện khuyến mại

Bên cạnh các quyền khi thương nhân thực hiện khuyến mại được hưởng, để đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng và của thương nhân khác, thương nhân khi thực hiện hoạt động khuyến mại phải tuân thủ theo các nghĩa vụ:

- Thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật hiện hành khi thực hiện các hình thức khuyến mại Trước khi thực hiện các hình thức khuyến mại thương nhân phải thông báo hoặc đăng ký tại cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại nơi tổ chức chương trình khuyến mại và sau khi kết thúc đợt khuyến mại thương nhân phải thông báo về kết quả của đợt khuyến mại với cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền Đối với những hình thức mà pháp luật quy định phải xin phép, thương nhân chỉ được thực hiện hình thức khuyến mại đó khi được sự chấp nhận của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền về thương mại

- Thông báo công khai các nội dung thông tin về họat động khuyến mại cho khách hàng theo quy định Khi áp dụng các hình thức khuyến mại, để tránh gian lận, lừa dối khách hàng, pháp luật đòi hỏi sự minh bạch của thương nhân Thương nhân có thể thông báo công khai các vấn đề liên quan đến hoạt động khuyến mại tại nơi bán hàng hóa, nơi cung ứng dịch vụ, trên hàng hóa hoặc trên bao bì hàng hóa hoặc dưới bất

kỳ hình thức nào, nhưng phải được đính kèm theo hàng hóa khi được bán, cung cấp kèm với dịch vụ khi dịch vụ đó được cung ứng Theo Điều 97 Luật Thương mại năm

2005, thông tin phải thông báo công khai liên quan đến hoạt động khuyến mại bao gồm: tên của hoạt động khuyến mại; giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ khuyến mại và các chi phí có liên quan để giao hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại cho khách hàng; tên, địa chỉ, số điện thoại của thương nhân thực hiện khuyến mại; thời gian khuyến mại, ngày bắt đầu, ngày kết thúc và địa bàn hoạt động khuyến mại; trường hợp lợi ích của việc tham gia khuyến mại gắn với các điều kiện cụ thể thì trong thông báo phải nêu rõ hoạt động khuyến mại đó có kèm theo điều kiện và nội dung cụ thể của các điều kiện Ngoài các thông tin quy định trên thương nhân thực hiện hoạt động khuyến mại, còn phải thông báo các thông tin sau: giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ được tặng cho khách hàng; trị giá tuyệt đối hoặc phần trăm thấp hơn giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ bình thường trước thời gian thực hiện khuyến mại; giá trị bằng tiền hoặc lợi ích cụ thể mà khách hàng được hưởng từ phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ; địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ và các loại hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng có thể nhận được từ phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ; loại giải thưởng và giá trị từng loại giải thưởng; thể lệ tham gia chương trình khuyến mại, cách thức lựa chọn người trúng thưởng; các chi phí mà khách hàng phải tự chịu

- Thực hiện đúng chương trình khuyến mại đã thông báo và cam kết với khách

Trang 27

hàng Trước khi thực hiện khuyến mại thương nhân phải thông báo các nội dung thông tin về hoạt động khuyến mại cho khách hàng, khi khách hàng đã tìm hiểu kĩ về nội dung chương trình khuyến mại và tham gia vào chương trình khuyến mại của thương nhân thì thương nhân phải có trách nhiệm thực hiện đúng với những gì đã thông báo

và cam kết với khách hàng Việc pháp luật quy định thương nhân phải có nghĩa vụ thực hiện đúng với chương trình khuyến mại đã thông báo và cam kết với khách hàng một mặt nhằm bảo đảm cho quyền lợi của khách hàng phải được thương nhân thực hiện một cách nghiêm túc, mặt khác cũng là để bảo vệ cho uy tín của doanh nghiệp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của thương nhân khi tiến hành các hoạt động xúc tiến cho việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp mình

- Đối với hình thức khuyến mại bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham

dự các chương trình khuyến mại mang tính may rủi theo quy định thương nhân phải trích 50% giá trị giải thưởng đã công bố vào ngân sách Nhà nước trong trường hợp không có người trúng thưởng Quy định này là nhằm hạn chế tình trạng khuyến mại thiếu trung thực có sự gian dối về cơ cấu, số lượng giải thưởng của thương nhân và góp phần làm tăng ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, không phải lúc nào quy định này cũng tỏ ra hiệu quả khi mà thương nhân đã thực hiện rất nghiêm túc và trung thực về chương trình khuyến mại của mình

- Tuân thủ theo các thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ khuyến mại nếu thương nhân thực hiện khuyến mại là thương nhân kinh doanh dịch khuyến mại

Ngoài các nghĩa vụ mà thương nhân phải thực hiện theo Luật Thương mại, thương nhân khi thực hiện khuyến mại trong lĩnh vực thông tin di động còn phải thực hiện các nghĩa vụ có liên quan đối với lĩnh vực mà mình hoạt động Theo đó, doanh nghiệp di động có trách nhiệm báo cáo định kỳ hàng năm cho Bộ Thông tin và Truyền thông về danh sách, hình thức và nội dung các chương trình khuyến mại của doanh nghiệp Khi thực hiện khuyến mại doanh nghiệp di động phải xác định rõ và báo cáo đầy đủ, chính xác khi có yêu cầu bằng văn bản của Bộ Thông tin và Truyền thông đối với các thông tin sau22:

− Giá dịch vụ, giá hàng hóa được niêm yết và công bố công khai ngay trước thời gian khuyến mại

− Giá dịch vụ của một đơn vị dịch vụ, hàng hóa dùng để khuyến mại

− Tổng giá trị dịch vụ, hàng hóa được khuyến mại trong một chương trình khuyến mại

− Tổng giá trị dịch vụ, hàng hóa dùng để khuyến mại trong một chương trình khuyến mại

22

Khoản 2, Điều 13 Thông tư 11/2010/TT-BTTTT quy định về hoạt động khuyến mại đối với dịch vụ thông tin

di động

Trang 28

− Giá của hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ được tặng cho khách hàng đối với hình thức tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền không kèm theo việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

− Giá trị tuyệt đối hoặc phần trăm thấp hơn giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch

vụ bình thường trước thời gian khuyến mại đối với hình thức bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ với giá bán hàng, cung ứng dịch vụ thấp hơn giá trước đó

− Giá trị bằng tiền hoặc lợi ích cụ thể mà khách hàng được hưởng từ phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ, địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ và các loại hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng có thể nhận được từ phiếu mua hàng, phiếu

sử dụng dịch vụ đối với hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ

− Các chi phí mà khách hàng phải tự chịu đối với hình thức khuyến mại tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên

Trên thực tế, khi tiến hành các hoạt động khuyến mại đã có nhiều gian lận xảy

ra, thương nhân thực hiện không đúng và không đầy đủ những chương trình khuyến mại đã thông báo với khách hàng gây ảnh hưởng đến lợi ích cũng như sự tin tưởng của khách hàng đối với doanh nghiệp Do đó, mục đích của việc quy định quyền và nghĩa

vụ của thương nhân khi thực hiện hoạt động khuyến mại là vừa ghi nhận quyền tự do hoạt động thương mại, tự do thực hiện các hoạt động khuyến mại, vừa đảm bảo cho quyền đó được thực hiện một cách lành mạnh tôn trọng lợi ích của khách hàng, của những thương nhân khác và của toàn xã hội

2.3 Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại và hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại

Để biết được những hàng hóa, dịch vụ nào được khuyến mại, những hàng hóa, dịch vụ nào dùng để khuyến mại Trước hết chúng ta cần phải biết được thế nào là hàng hóa và như thế nào là dịch vụ

Trải qua nhiều thế kỷ, hàng hóa ra đời là một phần tất yếu của quá trình lao động và sản xuất của con người, theo định nghĩa của những nhà kinh tế thì “hàng hóa

là sản phẩm của lao động, thỏa mãn được nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán”23 Cho đến ngày nay, khi mà Thế giới đã bước sang thế kỷ 21, thì chúng

ta vẫn không thể phủ nhận giá trị của hàng hóa trong đời sống con người, đặc biệt là trong môi trường kinh doanh thương mại

Cũng giống như hàng hóa, dịch vụ ra đời và xuất hiện là sản phẩm của quá trình lao động sản xuất của con người, để phục vụ cho các nhu cầu của con người Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về dịch vụ, bởi dịch vụ được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau do sự đa dạng về chủng loại và tính vô hình của nó Các

23

Bộ Giáo dục và đào tạo, Giáo trình kinh tế chính trị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2006, tr 63

Trang 29

Mác đã định nghĩa “dịch vụ là con đẻ của nền sản xuất hàng hóa khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông trôi chảy thông suốt liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển”24 Trong cố gắng xây dựng một khuôn khổ pháp lý quốc tế chung về thương mại dịch vụ, sáu tổ chức quốc

tế lớn là: Liên Hiệp Quốc, Ủy ban Châu Âu, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế và Tổ chức Thương mại thế giới đã nghiên cứu và đưa ra khái niệm chung về dịch vụ Trên cơ sở thừa nhận dịch vụ bao gồm một loạt các sản phẩm và hoạt động vô hình mà rất khó có thể đúc kết trong một định nghĩa đơn giản, giữa dịch

vụ và hàng hóa cũng có những điểm tương đồng nhất định và có những mối liên hệ ở các cấp độ khác nhau “Dịch vụ là các sản phẩm đầu ra được sản xuất (tạo ra) theo đặt hàng và chúng không thể được mua bán, trao đổi tách biệt khỏi quá trình sản xuất (tạo ra) chúng; Các quyền sở hữu không thể được thiết lập trên các dịch vụ và vào thời điểm quá trình sản xuất ra (tạo ra) chúng được hoàn thành, dịch vụ được cung cấp ngay cho khách hàng tiêu dùng”25

Tuy chưa đạt tới định nghĩa thống nhất về dịch vụ, nhưng nhìn chung lại dịch

vụ là quá trình lao động sản xuất của con người, dịch vụ là sản phẩm vô hình, có tính không đồng nhất, khó tiêu chuẩn hóa, quá trình sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch

vụ diễn ra đồng thời, dịch vụ không thể cất giữ và lưu kho bãi được Xét về mặt kinh

tế, dịch vụ là sản phẩm được tạo ra từ quá trình lao động sản xuất của con người, nó mang tính giá trị và giá trị sử dụng, đáp ứng yêu cầu của con người trong xã hội Về mặt pháp lý dịch vụ là đối tượng của các quan hệ xã hội của các quan hệ xã hội cần có

sự điều chỉnh của pháp luật trong trật tự chung

Trao đổi hàng hóa, sử dụng dịch vụ là một nhu cầu cần thiết của con người, xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, sử dụng dịch vụ của con người ngày càng tăng cao Để đáp ứng nhu cầu của con người, những nhà sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ ngày càng tạo ra những sản phẩm tốt hơn, có chất lượng hơn để đáp ứng nhu cầu càng cao của khách hàng Trong vô số những sản phẩm cùng loại, khách hàng hoàn toàn có khả năng lựa chọn ra những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu của mình nhất Do đó, các doanh nghiệp không những phải làm

ra những sản phẩm tốt, có chất lượng cao mà còn phải mà còn phải dành những lợi ích nhất định khác cho khách hàng thì mới có thể thu hút được họ tìm đến với hàng hóa, dịch vụ của mình Những lợi ích này có thể là việc giảm giá hàng hóa, dịch vụ, bốc thăm trúng thưởng, hay tặng quà kèm theo hàng hóa được bán, dịch vụ được cung ứng Khi thực hiện những hoạt động khuyến mại này thương nhân phải nắm vững những quy định của pháp luật hiện hành và các khái niệm cơ bản của hoạt động này

Trang 30

Theo định nghĩa của Luật Thương mại hiện hành thì hàng hóa, dịch vụ được

khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ được thương nhân sử dụng các hình thức khuyến mại

để xúc tiến việc bán, cung ứng hàng hóa, dịch vụ đó Hàng hóa, dịch vụ được khuyến

mại phải là hàng hóa, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp26

Hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ được thương nhân

dùng để tặng, thưởng, cung ứng không thu tiền cho khách hàng Hàng hóa, dịch vụ

dùng để khuyến mại phải là hàng hóa, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp27

Để đảm bảo cho hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị trường được ổn định và

đúng tính chất của hoạt động khuyến mại Thương nhân khi dùng hàng hóa, dịch vụ để

khuyến mại cho chính mình hoặc cho thương nhân khác thông qua hợp đồng dịch vụ

khuyến mại phải chấp hành theo các quy định của pháp luật về hàng hóa, dịch vụ

Hàng hóa, dịch vụ ở đây phải là hàng hóa, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp, không

thuộc diện Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu thông hay ngừng nhập khẩu Trong lĩnh vực thông tin di động, dịch vụ thông tin di động được kinh doanh

hợp pháp và được phép khuyến mại bao gồm28:

− Dịch vụ thông tin di động mặt đất toàn quốc trả sau

− Dịch vụ thông tin di động mặt đất toàn quốc trả trước

− Dịch vụ thông tin di động mặt đất nội vùng trả sau

− Dịch vụ thông tin di động nội vùng trả trước

Hàng hóa chuyên dùng thông tin di động được kinh doanh hợp pháp và được

khuyến mại bao gồm29:

− Bộ xác định thuê bao (SIM) dùng cho dịch vụ thông tin di động toàn quốc trả

trước có chứa số thuê bao di động Đơn vị là “chiếc SIM”

− Bộ xác định thuê bao (SIM) dùng cho dịch vụ thông tin di động toàn quốc trả

sau có chứa số thuê bao di động Đơn vị là “chiếc SIM”

− Bộ xác định thuê bao (SIM) dùng cho dịch vụ thông tin di động nội vùng trả

trước có chứa số thuê bao di động Đơn vị là “chiếc SIM”

− Bộ xác định thuê bao (SIM) dùng cho dịch vụ thông tin di động nội vùng trả

sau có chứa số thuê bao di động Đơn vị là “chiếc SIM”

− Thẻ nạp tiền bằng giấy, bằng phương tiện điện tử hoặc bằng các phương tiện

khác dùng cho dịch vụ thông tin di động toàn quốc Đơn vị là “chiếc thẻ”

− Thẻ nạp tiền bằng giấy, bằng phương tiện điện tử hoặc bằng các phương tiện

Trang 31

khác dùng cho dịch vụ thông tin di động nội vùng Đơn vị là “chiếc thẻ”.-

− Máy điện thoại di động đã được gắn sẵn số thuê bao di động Đơn vị là “chiếc máy”

− Hàng hoá chuyên dùng thông tin di động khác theo quy định của Bộ Thông tin

và Truyền thông

2.4 Nguyên tắc thực hiện khuyến mại

2.4.1 Nguyên tắc thực hiện khuyến mại theo quy định của Luật Thương mại Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh thương mại, các doanh nghiệp thường xuyên thực hiện việc khuyến mại cho sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của mình, khi thực hiện khuyến mại các doanh nghiệp luôn có những chiêu thức và cách thức thực hiện khuyến mại khác nhau Để đảm bảo việc tôn trọng pháp luật, bảo vệ cho lợi ích của người tiêu dùng cũng như để đảm bảo cho lợi ích của thương nhân khác, thương nhân thực hiện khuyến mại phải chấp hành các quy định của pháp luật cũng như tuân thủ các nguyên tắc thực hiện khuyến mại Các nguyên tắc cơ bản về thực hiện khuyến mại được quy định trong nghị định 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại30 Những nguyên tắc này là những nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt mà bất cứ thương nhân nào hoạt động thương mại khi thực hiện hoạt động khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của mình cũng phải tuân theo Những nguyên tắc này cũng phù hợp với quy tắc chung của Luật Thương mại 2005,

Bộ luật Dân sự 2005 cũng như thực tiễn hoạt động thương mại tại Việt Nam Theo Điều 4 Nghị định 37/2006/NĐ-CP thương nhân khi thực hiện khuyến mại phải tuân thủ theo các nguyên tắc sau:

- Chương trình khuyến mại phải được thực hiện hợp pháp, trung thực, công khai, minh bạch và không được xâm hại đến lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, của các thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác

- Không được phân biệt đối xử giữa các khách hàng tham gia chương trình khuyến mại trong cùng một chương trình khuyến mại

- Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại phải bảo đảm những điều kiện thuận lợi cho khách hàng trúng thưởng nhận giải thưởng và có nghĩa vụ giải quyết rõ ràng, nhanh chóng các khiếu nại liên quan đến chương trình khuyến mại (nếu có)

- Thương nhân thực hiện khuyến mại có trách nhiệm bảo đảm về chất lượng hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại và hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại

- Không được lợi dụng lòng tin và sự thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm của khách hàng để thực hiện khuyến mại nhằm phục vụ cho mục đích riêng của bất kỳ thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân nào

30

Sau đây gọi là Nghị định 37/2006/NĐ-CP

Trang 32

- Việc thực hiện khuyến mại không được tạo ra sự so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ của thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh

- Không được dùng thuốc chữa bệnh cho người (kể cả các loại thuốc đã được phép lưu thông) để khuyến mại

2.4.2 Nguyên tắc thực hiện khuyến mại trong lĩnh vực thông tin di động

Về lĩnh vực thông tin di động, một lĩnh vực khá mới có nhiều tiềm năng phát triển và mang tính cạnh tranh rất cao, các doanh nghiệp di động đã không ngừng đưa

ra những hình thức khuyến mại hấp dẫn nhằm lôi kéo khách hàng về phía mình và làm tăng thị phần trên thị trường Trong một thời gian dài, tình trạng khuyến mại trên thị trường mạng di động diễn ra phức tạp và rất khó kiểm soát Có những doanh nghiệp di động thực hiện khuyến mại vượt quá hạn mức khuyến mại cho phép, khuyến mại SIM cho khách hàng khi mới kích hoạt sử dụng dịch vụ gấp đôi, thậm chí gấp ba giá trị của thẻ SIM Để hoạt động khuyến mại trong lĩnh vực thông tin di động diễn ra theo một trật tự, khuôn khổ nhất định đúng với những quy định của pháp luật hiện hành, ngoài các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 4 Nghị định 37/2006/NĐ-CP, việc thực hiện khuyến mại trong lĩnh vực thông tin di động phải đảm bảo các nguyên tắc được quy định trong Thông tư 11/2010/TT-BTTTT quy định hoạt động khuyến mại đối với dịch vụ thông tin di động31 Cụ thể:

- Chỉ có doanh nghiệp di động mới được phép kinh doanh và khuyến mại đối với dịch vụ thông tin di động

- Chỉ có doanh nghiệp di động mới được phép phát hành và khuyến mại hàng hoá chuyên dùng thông tin di động Việc khuyến mại SIM trắng không chứa số thuê bao di động, máy điện thoại di động không gắn SIM và thẻ dữ liệu không gắn SIM được thực hiện như đối với các hàng hoá khác quy định tại Luật Thương mại và Nghị định số 37/2006/NĐ-CP

- Doanh nghiệp di động có thể trực tiếp thực hiện khuyến mại hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại dịch vụ, hàng hoá chuyên dùng thông tin di động cho mình Trong trường hợp thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại dịch vụ, hàng hoá chuyên dùng thông tin di động cho mình, doanh nghiệp di động phải bảo đảm rằng việc khuyến mại được thực hiện theo đúng chương trình khuyến mại đã thông báo hoặc đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về khuyến mại

- Doanh nghiệp di động chỉ được thực hiện khuyến mại đối với các nhãn hiệu dịch vụ thông tin di động: Dịch vụ thông tin di động mặt đất toàn quốc trả sau; dịch vụ thông tin di động mặt đất toàn quốc trả trước; dịch vụ thông tin di động mặt đất nội

31

Sau đây gọi là Thông tư 11/2010/TT-BTTTT

Trang 33

vùng trả sau; dịch vụ thông tin di động mặt đất nội vùng trả trước; dịch vụ thông tin di động khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông Chỉ được khuyến mại đối với nhãn hiệu hàng hoá chuyên dùng thông tin di động: bộ xác định thuê bao (SIM) dùng cho dịch vụ thông tin di động toàn quốc trả trước có chứa số thuê bao di động, đơn vị là “chiếc SIM”; bộ xác định thuê bao (SIM) dùng cho dịch vụ thông tin di động toàn quốc trả sau có chứa số thuê bao di động, đơn vị là “chiếc SIM”; bộ xác định thuê bao (SIM) dùng cho dịch vụ thông tin di động nội vùng trả trước có chứa số thuê bao

di động, đơn vị là “chiếc SIM”; bộ xác định thuê bao (SIM) dùng cho dịch vụ thông tin

di động nội vùng trả sau có chứa số thuê bao di động, đơn vị là “chiếc SIM”; thẻ nạp tiền bằng giấy, bằng phương tiện điện tử hoặc bằng các phương tiện khác dùng cho dịch vụ thông tin di động toàn quốc, đơn vị là “chiếc thẻ”; thẻ nạp tiền bằng giấy, bằng phương tiện điện tử hoặc bằng các phương tiện khác dùng cho dịch vụ thông tin di động nội vùng, đơn vị là “chiếc thẻ”; máy điện thoại di động đã được gắn sẵn số thuê bao di động, đơn vị là “chiếc máy”; hàng hoá chuyên dùng thông tin di động khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông với điều kiện doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ thông tin di động và kinh doanh các hàng hoá chuyên dùng thông tin di động tương ứng theo giấy phép viễn thông do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp

- Các đại lý của doanh nghiệp di động, các thương nhân khác kinh doanh hàng hoá chuyên dùng thông tin di động:

+ Phải ký hợp đồng với doanh nghiệp di động;

+ Không được tự ý tổ chức khuyến mại hàng hóa chuyên dùng thông tin di động mà chỉ được thực hiện khuyến mại theo đúng chương trình khuyến mại do doanh nghiệp di động tổ chức thực hiện

- Không được thực hiện các hoạt động khuyến mại nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường viễn thông hoặc bán phá giá dịch vụ, hàng hóa chuyên dùng thông tin di động

- Doanh nghiệp thông tin di động có trách nhiệm bảo đảm chất lượng dịch vụ, hàng hoá chuyên dùng thông tin di động được khuyến mại theo đúng các quy định của pháp luật về quản lý tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng hàng hoá và dịch vụ trong lĩnh vực viễn thông

- Không được khuyến mại bằng việc giảm giá cước dịch vụ thông tin di động, giảm giá bán hàng hoá chuyên dùng thông tin di động đối với dịch vụ, hàng hoá do Nhà nước quy định giá cụ thể Không được khuyến mại bằng việc giảm giá cước dịch

vụ thông tin di động, giảm giá bán hàng hoá chuyên dùng thông tin di động xuống thấp hơn mức tối thiểu đối với dịch vụ, hàng hoá do Nhà nước quy định khung giá hoặc giá tối thiểu

- Giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị dịch vụ thông tin di động,

Trang 34

hàng hóa chuyên dùng thông tin di động được khuyến mại không được vượt quá 50%

giá của đơn vị dịch vụ, hàng hóa chuyên dùng thông tin di động được khuyến mại đó

trước thời gian thực hiện khuyến mại

- Tổng giá trị của dịch vụ, hàng hoá chuyên dùng thông tin di động dùng để

khuyến mại trong một chương trình khuyến mại không được vượt quá 50% tổng giá trị

của dịch vụ, hàng hoá chuyên dùng thông tin di động được khuyến mại

2.5 Hạn mức giảm giá khuyến mại Hoạt động khuyến mại là một trong những công cụ xúc tiến việc mua bán hàng

hóa, cung ứng dịch vụ một cách tốt nhất, thông qua việc khuyến mại doanh nghiệp sẽ

đưa hàng hóa, dịch vụ của mình đến với khách hàng một cách nhanh chóng Một trong

những hình thức khuyến mại được các doanh nghiệp sử dụng để đưa sản phẩm hàng

hóa, dịch vụ của mình đến với khách hàng là giảm giá hàng hóa, dịch vụ, đây là một

trong những công cụ hữu hiệu nhất giúp doanh nghiệp thu hút khách hàng về phía

mình, dần dần tạo thói quen tiêu dùng cho khách hàng

Trên thị trường thông tin di động trong thời gian qua, chứng kiến nhiều cuộc

đua giảm giá của các doanh nghiệp mang biểu hiện không lành mạnh Tránh tình trạng

các doanh nghiệp lợi dụng hình thức này để bán phá giá sản phẩm hàng hóa, dịch vụ

tạo vị trí thống lĩnh thị trường, nhiều văn bản pháp lý có liên quan đã được ban hành

nhằm chấn chỉnh lại hoạt động này, đầu tiên là Luật Viễn thông được Quốc hội thông

qua ngày 23/11/2009, chính thức có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2010 Tiếp đó, ngày

14/5/2010 Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số

11/2010/TT-BTTTT, quy định về hoạt động khuyến mại đối với dịch vụ thông tin di động chính

thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2010, Thông tư của Bộ Thông tin và Truyền thông một

lần nữa khẳng định rằng những chương trình khuyến mại giảm giá của các doanh

nghiệp di động phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật hiện hành về hạn mức

giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại, cũng như hạn mức tối đa

về giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại

Theo quy định tại Nghị định số 37/2006/NĐ-CP và Thông tư số

11/2010/TT-BTTTT thì mức giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không được

vượt quá 50% giá của hàng hóa, dịch vụ đó ngay trước thời gian khuyến mại Doanh

nghiệp di động không được khuyến mại bằng việc giảm giá cước dịch vụ thông tin di

động, giảm giá bán hàng hóa chuyên dùng thông tin di động đối với dịch vụ, hàng hóa

do Nhà nước quy định giá cụ thể Không được khuyến mại bằng việc giảm giá cước

dịch vụ thông tin di động, giảm giá bán hàng hóa chuyên dùng thông tin di động

xuống thấp hơn mức tối thiểu đối với dịch vụ, hàng hóa do Nhà nước quy định khung

giá hoặc giá tối thiểu

Hạn mức giảm giá tính cho cả đợt khuyến mại thì tổng giá trị của hàng hóa,

Ngày đăng: 23/10/2020, 23:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w