DANH SÁCH BẢNG VÀ HÌNH Bảng 4.1 Kết quả các chỉ tiêu môi trường ao ương Bảng 4.2 Kết quả tăng trưởng khối lượng của cá ương Bảng 4.3 Kết quả tăng trưởng về chiều dài của cá ương Bảng 4.4
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÝ TRƯỜNG SƠN
THỰC NGHIỆM ƯƠNG VÀ NUÔI CÁ SẶC RẰN
(Trichogaster pectoralis Regan, 1910)
TẠI HUYỆN HỒNG DÂN – BẠC LIÊU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÝ TRƯỜNG SƠN
THỰC NGHIỆM ƯƠNG VÀ NUÔI CÁ SẶC RẰN
(Trichogaster pectoralis Regan, 1910)
TẠI HUYỆN HỒNG DÂN – BẠC LIÊU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGS.Ts DƯƠNG NHỰT LONG
2011
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn quí thầy cô và toàn bộ cán bộ khoa thủy sản Trường Đại Học Cần Thơ ñã tận tình giảng dạy kiến thức và giúp ñỡ tôi trong suốt thời gian học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn quí thầy cô, Bộ Môn Kỹ Thuật Nuôi Thủy Sản Nước Ngọt và trại cá thực nghiệm, khoa Thủy Sản- Trường Đại Học Cần Thơ ñã hỗ trợ phương tiện và thiết bị cho viêc thực hiện ñề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn Trung Tâm Chuyển Giao Công Nghệ Giống Huyện Hồng Dân Tỉnh Bạc Liêu và Anh Hiệp ở Thị Trấn Ngan Dừa – Hồng Dân – Bạc Liêu ñã tạo ñiều kiện cho tôi hoàn thành ñề tài
Cảm ơn chân thành ñến tất cả các bạn học ñã tận tình giúp ñỡ tôi trong thời gian làm ñề tài
Trang 4TÓM TẮT
Cá sặc rằn (Trichogaster pectoralis Regan) là loài cá nước ngọt ñược nuôi phổ
biến ở Đồng bằng sông Cửu Long Để tìm ra mật ñộ ương và nuôi thích hợp cho
sự tăng trưởng của cá Sặc rằn, thực nghiệm ương (1000 con/m2 và 1200 con/m2)
và nuôi cá Sặc rằn nuôi (40 con/m2 , 50 con/m2) trong ao ñất, sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp, ñược thức hiện tại Huyện Hồng Dân, Tỉnh Bạc Liêu Đề tài ñược tiến hành từ tháng 9/2010 ñến tháng 6/2011
Qua thời gian thực nghiệm ương và nuôi cá Sặc rằn các yếu tố môi trường như nhiệt ñộ (27-31 0C), pH (7,3-9), PO43- (0,25-5 ppm), N-NH4+ (0,25-3 ppm), Oxy (2-5 ppm), không ảnh hưởng bất lợi cho sự phát triển của cá Sau 60 ngày ương
cá ở ao ương mật ñộ 1000 con/m2 cỡ cá dao ñộng 500 con/kg, tỷ lệ sống 19,31%,
và năng suất ñạt 1.500 kg/4000m2 Ao ương mật ñộ 1200 con/m2 cỡ cá dao ñộng
565 con/m2 , tỷ lệ sống 18.5%, năng suất 1178 kg/3000m2 Ao I sau 240 ngày nuôi mật ñộ 40 con/m2, tỷ lệ sống 64,41%, năng suất ñạt 6,25 tấn/4000m2, Ao nuôi II: mật ñộ 50 con/m2, tỷ lệ sống 42,67%, năng suất ñạt 4 tấn Lợi nhuận mang lại từ ao I là 22.500.000 ñồng/1000 m2, ao II 11.200.000 ñồng/1000 m2 Ương cá ở mật ñộ 1000 con/m2 và nuôi 40 con/m2 cho năng suất, tỉ lệ sống và lợi nhuận cao hơn
Trang 5MỤC LỤC
Chương I Giới thiệu 1
Chương II Lược khảo tài liệu 3
2.1 Đặc ñiểm sinh học 3
2.1.1 Hệ thống phân loại cá sặc rằn 3
2.1.2 Hình thái 3
2.1.3 Phân bố 4
2.1.4 Sự thích nghi với môi trường 4
2.1.5 Sự sinh trưởng, phát triển và tính ăn cá sặc rằn 4
2.1.6 Đặc ñiểm sinh học sinh sản cá sặc rằn 5
2.2 Sơ lược tình hình nuôi cá sặc rằn trên thế giới 6
2.3 Hiện trạng nuôi cá sặc rằn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long 6
2.4 Những nghiên cứu liên quan tới kỹ thuật sản xuất và nuôi thương phẩm cá sặc rằn 7
2.4.1 Kỹ thuật sinh sản 7
2.4.2 Kỹ thuật nuôi 8
Chương III Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 10
3.1 Thời gian và ñịa ñiểm 10
3.2 Vật liệu nghiên cứu 10
3.2.1 Dụng cụ và trang thiết bị 10
3.2.2 Nguồn cá thí nghiệm 10
3.3 Phương pháp nghiên cứu 10
3.3.1 Thực nghiệm ương cá sặc rằn trong ao 10
3.3.2 Thực nghiệm nuôi cá sặc rằn 11
3.3.3 Phương pháp thu mẫu và phân thích mẫu 12
3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 13
3.3.5 Hiệu quả lợi nhuận của mô hình nuôi 14
Chương IV Kết quả và thảo luận 15
4.1 Kỹ thuật ương dưỡng cá sặc rằn 15
4.1.1 Các yếu tố môi trường trong ao ương 15
4.1.2 Tăng trưởng của cá sặc rằn trong các ao ương 17
Trang 64.1.2.1 Sinh trưởng về khối lượng 17
4.1.2.2 Tăng trưởng về chiều dài 18
4.1.3 Năng suất và tỉ lệ sống của cá ương 19
4.2 Kỹ thuật nuôi cá Sặc rằn 19
4.2.1 Các yếu tố môi trường trong ao nuôi 19
4.2.2 Tăng trưởng của cá sặc rằn trong các ao nuôi 21
4.2.2.1 Tăng trưởng về khối lượng 21
4.2.2.2 Tăng trưởng về chiều dài 23
4.2.3 Tỷ lệ sống và năng suất cá nuôi 23
4.3 Hiệu lợi nhuận mang lại từ mô hình 24
Chương V Kết luận và ñề xuất 25
5.1 Kết luận 25
5.2 Đề xuất 25
Tài liệu tham khảo 26
Phục Lục 28
Trang 7DANH SÁCH BẢNG VÀ HÌNH
Bảng 4.1 Kết quả các chỉ tiêu môi trường ao ương
Bảng 4.2 Kết quả tăng trưởng khối lượng của cá ương
Bảng 4.3 Kết quả tăng trưởng về chiều dài của cá ương
Bảng 4.4 Kết quả tỉ lệ sống, năng suất, FCR, kích cỡ cá ương
Bảng 4.5 Kết quả các chỉ tiêu môi trường ao nuôi
Bảng 4.6 Kết quả về tăng trưởng khối lượng của cá nuôi
Bảng 4.7 Kết quả tăng trưởng về chiều dài của cá nuôi
Bảng 4.8 Ước lượng kết quả tỉ lệ sống, năng suất, kích cỡ cá, FCR nuôi sau 8 tháng nuôi
Bảng 4.9 Ước lượng hiệu lợi nhuận mang lại từ mô hình
Hình 2.1 Hình dạng ngoài của cá Sặc rằn
Hình 3.2 Ao nuôi tại huyện Hồng Dân Tỉnh Bạc Liêu (4000 m2)
Hình 4.1 Sự tăng trưởng về khối lượng của cá ương
Hình 4.2 Sự tăng trưởng về khối lượng của cá nuôi
Hình 4.3 Mẫu cá sặc rằn sau 150 ngày nuôi
Trang 8CHƯƠNG I GIỚI THIỆU
Đặt vấn ñề
Nghề nuôi thủy sản ở nước ta ñang phát triển mạnh mẽ trong những năm gần ñây, ñặt biệt là Đồng bằng sông cữu long mang lại nguồn ngoại tệ ñáng kể cho ñất nước Một số loài như cá tra, tôm sú ñang là ñối tượng ñược nuôi công nghiệp với quy mô rất cao, ngoài ra còn có những loài cá ñồng như cá rô ñầu vuông, cá lóc lai… ñang là ñối tượng ñược người nuôi rất quan tâm trong phong trào nuôi
cá ñang phát triển mạnh mẽ
Trong cá loài cá ñồng Cá Sặc rằn (Trichogaster Pectoralis Regan) là một trong
những loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế cao của vùng ĐBSCL Việt Nam nói riêng và một số nước vùng Đông Nam Á Có khả năng chịu ñựng tốt ở môi trường bất lợi, chất lượng thịt ngon, giá cả hấp dẫn (giá cá sặt rằn thịt thương phẩm từ 25.000 ñến 30.000 ñồng, Khô cá sặt rằn từ 150.000 ñến 200.000 ñ/kg.),
và ñặt biệt Cá sặc rằn còn có khả năng sử dụng nhiều loại thức ăn có nguồn gốc khác nhau như sinh vật nổi, tảo mùn bã hữu cơ, phân ñộng vật và các phế phẩm nông nghiệp khác nên rất ñược bà con ưa chuộng
Cá Sặc rằn là ñối tượng rất thích hợp ñể nuôi ở ruộng cấy lúa mùa vào mùa mưa Ngoài ra cá còn ñựơc sử dụng nuôi chung với nhiều loài cá khác như Lóc, Trê vàng, Thát lát và Rô ñồng Trong ñó, cá Sặc rằn thường ñược ghép với tỉ lệ dao ñộng từ 60 – 70% Mật ñộ thả của cá Sặc rằn từ 1- 2 con/m2 Cá nuôi chủ yếu sử dụng các loại thức ăn tự nhiên, thức ăn bổ sung ít ñược quan tâm Năng suất nuôi thu ñược thấp, thường ñạt từ 100 – 300 kg/ha/năm
Cá sặc rằn thường ñược nuôi trong các mô hình Cá-Lúa, Cá-Heo, nuôi ghép với các loài khác, năng suất không cao Ngày nay, nhu cầu thị trường về cá sặc rằn ngày càng lớn, người tiêu thụ chú trọng ñến vấn ñề về vệ sinh thực phẩm, do ñó việc tìm ra mô hình nuôi ñạt năng suất cao, an toàn vệ sinh ñang trở nên cấp thiết Trước ñây, tại huyện Hồng Dân – Bạc Liêu, Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Cần Thơ, cũng ñã có nhiều nghiên cứu về ương và nuôi một số ñối tượng khác như nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa, nuôi thâm canh cá rô trong ao ñất…với các tiềm năng của cá sặc rằn như ñã nêu trên việc phát mô hình nuôi thâm canh tại ñây sẽ mang lại hiệu quả cao, ngoài ra còn giúp cho nghề nuôi thủy sản phát triển
Xuất phát từ thực tiễn trên, ñề tài “Thực nghiệm ương và nuôi cá sặc rằn
(Trichogaster pectoralis)” tại Hồng Dân-Bạc Liêu ñược thực hiện
Trang 9Mục tiêu
Đề tài thực hiện nhằm mục tiêu cung cấp những dẫn liệu liên quan ñến môi trường nước, tốc ñộ tăng trưởng và tỉ lệ sống, biện pháp kỹ thuật trong quá trình ương và nuôi cá sặc rằn tại Hồng Dân- Bạc Liêu làm cơ sở khoa học cho việc phát triển thêm mô hình nuôi cá nước ngọt cho Huyện Hồng Dân – Bạc Liêu
Nội dung
- Khảo sát các chỉ tiêu về môi trường nước trong ao ương nuôi
- Khảo sát tốc ñộ tăng trưởng, tỷ lệ sống, năng suất của cá ương nuôi
- Hiệu quả lợi nhuận mang lại từ mô hình
Trang 10CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc ñiểm sinh học
2.1.1 Hệ thống phân loại cá sặc rằn
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, (1993):
Cá sặc rằn ñược phân loại như sau:
Ngành: Vertebrata
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Perciformes
Bộ phụ: Anabantoidei
Họ: Anabantoidae
Giống: Trichogaster Loài: Trichogaster pectoralis Regan, 1910
Tên tiếng Anh: Snake Skin Gouramy Tên ñịa phương: cá sặc rằn, cá sặc bổi, cá lò tho 2.1.2 Hình thái D.(VI- VIII),(10-11) A ( X- XI),(35-40)
P.3,(7-8)
V.3-4
Vảy ñường bên: 49-55
Hình 2.1 Hình dạng ngoài của cá Sặc rằn (Trichogaster pectoralis Regan,
1909)
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, (1993) cá Sặc rằn có thân cá
dẹp bên, khá cao Chiều dài chuẩn (khoảng cách từ miệng cá ñến cuống vi ñuôi)
Trang 11gấp 2,4- 2,5 chiều cao thân, và gấp 3,2-3,3 chiều dài ñầu( khoảng cách từ miệng ñến cuối nắp mang) Mõm ngắn Miệng hơi trên, nhỏ rạch miệng rất ngắn, góc miệng cách xa bờ trước của mắt Các môi dày liên tục cá không có râu Lỗ mũi trước mở ra bằng một ống ngắn Mắt lớn vừa nằm trên trục giữa thân, gần chót mõm hơn gần ñiểm cuối nắp mang Phần trán giữa hai mắt cong lồi Cạnh dưới xương trước mắt và xương nắp mang trước có gai mịn Lỗ mang lớn vừa, màng mang hai bên dính nhau nhưng không dính với eo mang
Vảy lược, phủ khắp thân và ñầu, có một số vảy nhỏ chồng lên gốc vi hậu môn, vi ñuôi, vi lưng, vi ngực Đường bên bắt ñầu từ mép trên lỗ mang cong lên phía trên một ñoạn ngắn rồi uốn cong ñến trục giữa thân sau ñó chạy ngoằn ngoèo ñến ñiểm giữa gốc vi ñuôi
Lúc cá còn tươi, phần lưng của thân và ñầu có màu xanh ñen hoặc xám ñen và lợt dần xuống bụng Hai bên thân có nhiều vạch ngang chạy nghiêng màu ñen nâu, chiều rộng hai sọc lớn hơn khoảng cách hai sọc Vây lưng, vây hậu môn và vây ñuôi màu nâu ñiểm các chấm ñen nhỏ Các vây ngực nâu nhạt Ở cá nhỏ các sọc ngang chưa rõ nhưng có một sọc chạy từ mõm ñến gốc vi ñuôi và ở gốc vi ñuôi
có một chấm ñen tròn, chấm và sọc này lợt dần và mất hẳn theo sự lớn lên của cá
Vi cá có màu xanh ñen hoặc xám ñen
2.1.3 Phân bố
Rainboth, 1996 (trích dẫn bởi Lê Như Xuân, 1997) cá sặc rằn là một trong những ñối tượng nuôi quan trọng hiện nay Cá phân bố tự nhiên ở các thủy vực vùng Đông nam Á, Ấn Độ và Nam Việt Nam Cá sinh sản tự nhiên trong ao, mương, kênh, rạch, rừng tràm và ruộng lúa Cá thích sống ở những thủy vực có nhiều cây
cỏ thủy sinh với nhiều chất hữu cơ là nguồn thức ăn tự nhiên của cá Một số tỉnh như: Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ và Kiên Giang là những tỉnh có cá phân bố tập trung và sản lượng cao hiện nay ở ĐBSCL
2.1.4 Sự thích nghi với môi trường
Cá có cơ quan hô hấp khí trời nên sống ñược ở ñiều kiện nước thiếu hoặc không
có hàm lượng oxygen Nhiệt ñộ thích hợp cho cá từ 24 - 30 0C, có thể chịu ñựng ñược nhiệt ñộ 11 – 39 0C Cá cũng có khả năng chịu ñựng ñược môi trường nước bẩn, hàm lượng hữu cơ cao cũng như môi trường có ñộ pH ( Lê Như Xuân, 1993)
2.1.5 Sự sinh trưởng, phát triển và tính ăn cá sặc rằn
Trong ñiều kiện nhiệt ñộ 28 - 30 0C trứng thụ tinh và nở sau 24 - 26 giờ Cá sau khi nở sẽ dinh dưỡng bằng noãn hoàng trong 2,5 - 3 ngày Lúc này cá nổi ngửa bụng trên mặt nước Sau khi tiêu hết noãn hoàng, cá con di chuyển xuống lớp nước dưới ñể kiếm mồi (Lê Như Xuân, 1993)
Trang 12Cá ương trong ao ñạt chiều dài 2 - 3 cm, sau 30 - 35 ngày Thức ăn cho cá con ban ñầu là ñộng vật phiêu sinh cở nhỏ như luân trùng, các chất hữu cơ lơ lững trong nước, tảo phù du Cá càng lớn sử dụng càng nhiều loại thức ăn, khi trưởng thành cá ăn thiên về thực vật phiêu sinh Cá có chiều dài tối ña 25 cm Cá sặc rằn chậm lớn, sau 2 năm nuôi bằng thức ăn tự nhiên, cá ñạt khối lượng dao ñộng từ
120 – 140 g/con Khi nuôi trong ao, ruộng cho ăn bổ sung thức ăn như cám, phân ñộng vật, bèo và các phụ phế phẩm khác, tăng trưởng của cá sẽ nhanh hơn (Kỹ thuật nuôi cá nứoc ngọt Khoa thuỷ sản - Trường ĐHCT, 2003)
Đối với hệ thống nuôi ao - chuồng kết hợp, sau 1 chu kỳ nuôi 6 tháng, trong lượng cá có thể ñạt 70 - 100 g/con Có thể nói rằng, ñây là mô hình nuôi góp phần rút ngắn thời gian nuôi thương phẩm cá sặc rằn (Dương Nhựt Long, 2005)
2.1.6 Đặc ñiểm sinh học sinh sản cá sặc rằn
Mùa vụ sinh sản tự nhiên của Cá sặc rằn thường là mùa mưa từ tháng 4 - 10 Tuy nhiên trong ñiều kiện nuôi trong ao, cá ñẻ quanh năm nhưng tập trung vẫn là những tháng mùa mưa Sự phát triển tuyến sinh dục của cá sặc rằn ở vùng ĐBSCL theo mùa rất rõ Vào mùa khô (tháng 1 – 2), phần lớn cá ở giai ñoạn II, sang tháng 3 giai ñoạn III tăng dần và ñã thấy xuất hiện những cá thể ở thời kỳ ñầu của giai ñoạn IV (Nguyễn Văn Kiểm, 2004)
Vào khoảng thời ñiểm giao mùa (khô sang mưa) là sự chuyển biến rất nhanh của tuyến sinh dục Thời kỳ này, ña số cá có tuyến sinh dục ở giai ñoạn IV, chỉ một ít
cá ở giai ñoạn III Khi mùa mưa tới, nhất là sau những trận mưa rào ñầu mùa, cá tìm tới những nơi nước cạn ven bờ, nhiều cây cỏ thủy sinh ñể sinh sản Cá sinh sản trong suốt mùa mưa, nên trong ñàn luôn xuất hiện những cá thể có mức ñộ thành thục khác nhau (Nguyễn Văn Kiểm, 2004)
Cá ñực có vây lưng dài và nhọn, thân hình thon, bụng nhỏ, sọc trên thân cá hiện
rõ
Ngược lại, cá cái có có vây lưng tròn và ngắn, thường không vượt quá cuốn vây ñuôi, sọc trên thân cá không hiện rõ Bụng cá lúc mang trứng căng tròn, nhìn thẳng vuông gốc với vị trí ñầu, bụng cá có hình chữ U Trong tự nhiên cá ñẻ trong ruộng lúa, ao nuôi nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh Khi sinh sản, cá ñực và cá cái bắt cặp tìm nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh, ven bờ và kín ñáo Con ñực làm tổ, sau ñó cá ñực ñưa cá cái ñến gần tổ và cong mình ép cá cái ñẻ trứng vào trong tổ Trứng cá thuộc trứng nổi do có giọt dầu lớn, ñường kính trứng 0,87 mm và trương nước trứng có ñường kính 0,91 mm.Sức sinh sản cá sặc rằn dao ñộng từ 200.000 - 300.000 trứng/kg cá cái Sau khi cá ñẻ xong, cá ñực bảo vệ trứng chống những cá khác xâm nhập vào tổ, ngay cả cá cái (Lê Như Xuân, 1993) Trong sinh sản nhân tạo, cá thường ñược kích thích bằng kích dục tố như HCG, Não thùy và LHRH + DOM
Trang 132.2 Sơ lược tình hình nuôi cá sặc rằn trên thế giới
Theo Soong (1948) ñược trích dẫn bởi Lê như Xuân (1993) mặc dù không ñược phân bố tự nhiên ở Mã Lai, song những năm ñầu thập kỷ 20 cá sặc rằn ñã ñược nhập từ Thái Lan Sản lượng cá sặc rằn nuôi trong ruộng lúa tại Mã Lai thường chiếm gần 50% so với tổng sản lượng các loài cá ñồng ñược nuôi cùng (Ali,1992) Tại Thái Lan, cá sặc rằn bắt ñầu ñược nuôi từ năm 1922, cũng là thời ñiểm ñánh dấu cho nghề nuôi cá cuả xứ này Theo Yoonpundh (1992) cho rằng loại hình nuôi quảng canh ñược áp dụng nhiều với diện tích từ 3 – 20 ha Tuy nhiên, nuôi cá sặc rằn tại nước này cũng có xu hướng giãm dần, thí dụ như từ năm 1986 sản lượng cá sặc rằn là 18% thì năm 1989 chỉ còn 13,4% trên tổng sản lượng cá nước ngọt Cũng theo Yoonpundh (1992), nguyên nhân giảm sản lượng
là do: Việc quản lý không chặt do diện tích nuôi lớn, thiếu kiến thức về nuôi cá…Vào năm 1991, cục nghề cá Thái Lan cho biết, sản lượng cá sặc rằn chiếm khoảng 10,8% tương ñương 9,7% về giá trị so với tổng sản lượng cá nước ngọt của Thái Lan (Komtorn , 1994)
2.3 Hiện trạng nuôi cá sặc rằn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Cá sặc rằn tăng trưởng chậm so với các loài cá khác, nhưng với ñặc ñiểm tương ñối dể tính trong lựa chọn thức ăn nên có thể nuôi cá sặc rằn trong các mô hình khác nhau và cũng mang lại nguồn thu nhập cho nông hộ Hiện nay cá sặc rằn không chỉ tiêu thụ nội ñịa mà còn xuất khẩu sang một số thị trường khác trên thế giới ở dạng cá khô Nuôi cá sặc rằn ñang là một nhu cầu cấp bách ñể cung cấp nguồn thực phẩm có tiếng này Việc chủ ñộng sản xuất giống nhân tạo và nuôi cá thương phẩm cũng phát triển tại nhiều nơi ở Nam bộ như Tây Ninh, Cần Thơ, Hậu Giang, An Giang Bên cạnh các giải pháp nuôi ghép, có thể áp dụng phương pháp nuôi ñơn dưới dạng bán thâm canh hay thâm canh cá sặc rằn trong ao ñất với mật ñộ cá thả dao ñộng từ 5 – 7 con/m2 tăng lên từ 30 – 40 con/m2 Tuy nhiên với các hình thức nuôi bán thâm canh hay nuôi ghép từ thực tế cho thấy các mô hình này cho hiệu quả không cao do thời gian nuôi kéo dài, năng suất thấp, do ñó việc thực hiện mô hình nuôi thâm canh cá sặc rằn ñang ñược người nuôi thuỷ sản quan tâm (Dương Nhựt Long, 2005)
Thông qua số liệu từ các trạm nông, khuyến ngư của các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang và một số huyện của tỉnh An Giang cho thấy rằng năng suất nuôi nuôi các sặc rằn của các mô hình nuôi như sau: Với mô hình nuôi cá kết hợp với heo, mật
ñộ thả là 10 – 15 con/m2, năng suất cá sặc rằn từ 4 – 5 tấn/ha (tối ña là 7 – 8 tấn/ha); Mô hình nuôi ghép cá loại cá với nhau, mật ñộ thả 10 – 20 con/m2, năng suất ñạt 3 – 4 tấn/ha Trong quá trình nuôi, thức ăn sử dụng cho cá là thức ăn tự chế (cám + các loại phụ phẩm của nhà máy chế biến thuỷ sản, hay cá tạp…) kết hợp với thức ăn công nghiệp, trong ñó thức ăn tự chế chiếm tỉ lệ cao hơn (từ 60 – 70%) Do ñó, khi thả nuôi kết hợp cá sặc rằn với các ñối tượng nuôi khác thì sản
Trang 14năng suất thường không cao và cở cá khi thu hoạch thường nhỏ, không ñáp ứng cho việc làm cá khô xuất khẩu Hiện nay, mô hình nuôi ñơn cá sặc rằn không nhiều ở các tỉnh ĐBSCL, do ñó chưa có số liệu thống kê chính xác về diện tích cũng như tình hình nuôi của mô hình này Theo số liệu tại tỉnh Tiền Giang có 1 vài hộ nuôi chuyên canh cá sặc rằn (khoảng 4 ha) khi sử dụng thức ăn công nghiệp, hàm lượng ñạm từ 32-35%, năng suất sau 8 tháng nuôi ñạt 15 – 20 tấn/ha (Dương Nhựt Long, 2005)
2.4 Những nghiên cứu liên quan tới kỹ thuật sản xuất và nuôi thương phẩm
cá sặc rằn
2.4.1 Kỹ thuật sinh sản
Việc kích thích cá ñẻ bằng các chế phẩm hormon ngày càng ñược mở rộng (Nguyễn Tường Anh, 1994) Từ trước tới nay, hai hoạt chất chủ yếu ñược sử dụng trong sinh sản nhân tạo cá là não thùy (tuyến yên) lấy từ cá và HCG (Human Chorionic Gonadotropin) hay còn gọi là kích dục tố (KDT) nhau thai Nhưng trong những năm gần ñây một loại chế phẩm mới có tên thương mại là Ovaprim (hỗn hợp cuả LHRH-a hoặc sGnRH với domparidone) ñược dùng rất phổ biến ở nhiều nước ñể kích thích sinh sản cá Sự thành công của phương pháp này (phương pháp Linpe) ñã góp phần giải quyết ñược các trở ngại của việc sử dụng những loại hormon truyền thống gây ra Loại hormon này hiện ñược sử dụng rất phổ biến ở nước ta (Nguyễn Tường Anh, 1997)
Não thùy cá (Hypophys) ñược xác nhận là một hormon thích hợp cho kích thích sinh sản nhiều loài cá Tác dụng của não thùy cá là làm chín và rụng trứng vì chúng có chứa hai loại hormon FSH (Follicle Stimulating Hormon) và LH (Lutinizing Hormon) (Nguyễn Tường Anh, 1997) Trong nghiên cứu của mình, Nguyễn Tường Anh và Phan Thanh Chiến ñã thông báo về khả năng sử dụng HCG ñể kích thích cá trắm cỏ nếu sử dụng phép tiêm hai liều, trong ñó liều khởi ñộng là 500-2000 UI/kg và liều quyết ñịnh khoảng 4000-5000 UI/kg (Nguyễn Tường Anh, Phan Thanh Chiến, 1980) Từ những nghiên cứu trên cho thấy HCG rất ít tác dụng khi dùng ñể kích thích sinh sản cá trắm cỏ
Ðối với cá sặc rằn, Nguyễn Tường Anh (2005) ñã sử dụng LRH-A và DOM hoặc HCG ñể cho sinh sản, liều lượng cho cá cái là 80 – 100 mcg LRH-A + 3 - 5mg DOM/kg hoặc 2.500 – 3.000 UI HCG/kg, liều tiêm cho cá ñực bằng ½ liều tiêm cho cá cái, kết quả tốt với tỉ lệ cá ñẻ là 75%, tỉ lệ thụ tinh 92% và tỉ lệ nở là 95% Trong khi ñó nghiên cứu của Lê Sơn Trang và Dương Nhật Long, cho sinh sản cá sặc rằn bằng kết hợp 2 loại hormone HCG và não thuỳ thể cá chép với hàm lượng 1.000 UI – 1.500 UI + 0,54 mg não/kg cá cái, tỉ lệ cá sinh sản 100%, tỉ lệ thụ tinh 95%, tỉ lệ nở 94%
Trang 15Việc sử dụng nhiều loại hormon ñể kích thích sinh sản cá ñã thu ñược kết quả tốt
và cung cấp ñủ số lượng cá giống cho các loại hình thủy vực Tuy vậy, khi sử dụng hormon kích thích sinh sản cá cũng cần chú ý tới các yếu tố sau:
Nuôi cá sặc rằn chủ yếu 2 hình thức là nuôi ghép và nuôi ñơn
Nghiên cứu ứng dụng các mô hình nuôi ghép ñã bắt ñầu từ những ñầu năm của thập kỹ 90 tại khu vực ĐBSCL, nhiều nghiên cứu ñã ñề cập tới các khía cạnh kỹ thuật khác nhau như mật ñộ nuôi, cấu trúc ñàn cá thả, quản lý hệ thống nuôi (Nguyễn Thanh Phương, Dương Nhựt Long và Lý Văn Khánh – Khoa Thuỷ sản, Trường Đại Học Cần Thơ)
Thí nghiệm của Dương Nhựt Long & ctv thực hiện năm 1998 tại huyện Ô-môn,
tỉnh Cần Thơ, mô hình nuôi kết hợp lúa - cá (6 loài cá ñược nuôi ghép theo tỉ lệ
mè vinh (40%), rô phi (20%), chép (15%), mè trắng (10%), sặc rằn (10%) và hường (5%)), mật ñộ cá thả dao ñộng 1- 2 con/m2, cho thấy tỉ lệ sống cá nuôi 1 con/m2 cao hơn 2 con/m2, nhưng năng suất nuôi 1 con/m2 (482 kg/ha) thấp hơn 2 con/m2 (808 kg/ha), có thể ứng dụng các thông số kỹ thuật nầy ñể phát triển và
mở rộng mô hình nuôi với mật ñộ thả 2 con/m2, góp phần cải thiện thu nhập cho
bà con nông dân vùng ĐBSCL, Việt Nam Do ñó có thể nhận thấy năng suất cá nuôi dao ñộng khá lớn tuỳ theo mật ñộ nuôi và phương pháp quản lý mô hình nuôi
Nuôi ghép cá trong ao kết hợp với nuôi heo là một trong những mô hình sản xuất kết hợp phổ biến ở vùng ñồng bằng sông Cửu Long Cá nuôi có thể tận dụng hết các tầng nước và thức ăn tự nhiên sẵn có trong ao như phiêu sinh thực vật, ñộng vật và mùn bã hữu cơ Mật ñộ cá nuôi là một trong những khía cạnh kỹ thuật ảnh hưởng ñến sự sinh trưởng, năng suất và tỉ lệ sống cá nuôi Người dân thường thả cá nuôi với mật ñộ cao nhưng khả năng bổ sung thêm thức ăn cho cá lại thấp
Cá nuôi trong mô hình này chủ yếu sử dụng thức ăn thừa, chất thải từ chuồng
nuôi heo (Lam Mỹ Lan và ctv, năm 2005)
Theo Nguyễn Thị Ngọc Hà (2009) mô hình nuôi ñơn cá Sặc rằn sử dụng thức
ăn công nghiệp, sau 8 tháng nuôi với mật ñộ thả nuôi là 30 con/m2 sự tăng trưởng của cá nuôi trong mô hình dao ñộng từ 0.19 - 0.83 g/ngày, trong ñó khối lượng cá sặc rằn lớn nhất khi thu hoạch trung bình ñạt 92,10±21,13 g/con
và thấp nhất khối lượng trung bình của cá chỉ ñạt 76,60 ± 16,34 g/con
Trang 16CHƯƠNG III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và ñịa ñiểm
- Nhiệt kế, khúc xạ kế, bộ test môi trường
- Cân, thước nhựa
- Chài, thau, xô, lưới
- Ao nuôi (diện tích 3000 – 4000 m2, sâu 1,5 - 2,5 m)
Hình 3.1 Ao nuôi tại huyện Hồng Dân Tỉnh Bạc Liêu (4000 m2)
3.2.2 Nguồn cá thí nghiệm
Cá giống ñược sản xuất nhân tạo và ương tại trung tâm nghiên cứu chuyển giao công nghệ Giống tại huyện Hồng Dân-Bạc Liêu
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Thực nghiệm ương cá sặc rằn trong ao
Thực nghiệm ương cá trong 2 ao Diện tích ao I là 4000 m2, diện tích ao II 3000
m2 Ương với 2 mật ñộ khác nhau 1000 con/m2 ở ao I và 1200 con/m2 ở ao II Trước khi ương cá bột, ao ñược chuẩn bị và cải tạo thật cẩn thận thông qua các thông số kỹ thuật khuyến cáo như thiết kế, xây dựng và cải tạo ao Sau khi lấy nước vào (nước có ñộ mặn 1-4‰) nên tiến hành gây màu nước (bón NPK hoặc DAP với lượng 0.2 - 0.3 kg/100m2) tạo nguồn thức tự nhiên ban ñầu và làm môi
Trang 17trường ương luôn luôn ñược ổn ñịnh nhằm tạo ñiều kiện cho cá bột có nguồn thức tự nhiên (phiêu sinh thực vật, phiêu sinh ñộng vật ) Sau khi ao ương chuẩn
bị xong ñược 2 - 3 ngày, ñồng thời sau thời gian cấp nước, khi thấy màu nước ao ương có màu xanh vỏ ñậu, biểu hiện ao ương có nhiều loại thức ăn tự nhiên thì tiến hành thả cá bột ương giống
3.3.1.1 Thức ăn ương cá bột
Sau khi thả bột khoảng 2 ngày thì cho ăn (dùng 2 kg bột ñậu nành + 10 lòng ñỏ trứng/1.000 m2/ngày), mỗi ngày cho ăn 4 lần Từ tuần thứ 2 sử dụng thức ăn ñậm ñặc kết hợp với cám mịn (6 kg thức ăn + 3 kg cám mịn/ngày), ngày cho ăn 4 lần, lượng thức ăn ñược tăng dần
Từ tuần thứ 3 sử dụng thức ăn dạng tấm mịn có ñộ ñạm từ 35-42% (cho ăn 4 lần/ngày), cho ăn ñến khi thu hoạch cá giống
3.3.1.2 Quản lý và chăm sóc cá giống
Trong quá trình ương giống thường xuyên theo dõi môi trường ao ương, tránh ñể
ao bị ô nhiễm, ñặc biệt chú ý ñến ñộ mặn của ao ương Do nguồn nước cấp không ñược phong phú nên quản lý thức ăn tránh ñể dư thừa làm ô nhiễm nguồn nước
3.3.2 Thực nghiệm nuôi cá sặc rằn
Thực nghiệm nuôi cá trong 2 ao Diện tích ao I là 4000 m2, diện tích ao II 3000
m2 Thực nghiệm nuôi với 2 mật ñộ khác nhau, mật ñộ 40 con/m2 ñược thả nuôi ở
ao I, mật ñộ 50 con/m2 ñược thả nuôi ở ao II
Ao nuôi ñược sử dụng lấy từ các ao ương, ao ñược chuẩn bị và cải tạo thật cẩn thận thông qua các thông số kỹ thuật khuyến cáo như thiết kế, xây dựng và cải tạo ao, ñộ sâu từ 1,5- 2,5 m
Giống cá sặc rằn thả nuôi ñược chuẩn bị sẳn bằng cách tiến hành cho cá bố mẹ sinh sản, thu trứng và tiến hành ương giống tại trung tâm nghiên cứu chuyển giao công nghệ Giống tại huyện Hồng Dân-Bạc Liêu, sau khi ương giống ñược 60 ngày, người sản xuất tiến hành thu hoạch cá giống và nuôi thương phẩm cá sặc
rằn
Trang 183.3.2.1 Thức ăn và cách cho ăn
Sử dụng thức ăn có kích cỡ phù hợp với cỡ cá (1-2mm),có ñộ ñạm từ 25-35% (cho ăn 2 lần/ngày), lượng thức ăn từ 2-10% trọng lượng cá Tùy theo các giai ñoạn phát triển của cá nuôi mà hàm lượng ñạm và kích cỡ viên thức ăn sẽ thay ñổi cho cho phù hợp với kích thước miệng cá cùng với khả năng tăng trưởng và phát triển của cá sặc rằn, giai ñoạn nhỏ sử dụng thức ăn có kích cỡ nhỏ, ñộ ñạm cao, và ngược lại
Thức ăn ñược rãi ñều khắp ao cho cá ăn
3.3.2.2 Quản lý và chăm sóc cá nuôi
Chăm sóc và quản lý cá nuôi: do nuôi với mật ñộ tương ñối cao, sử dụng lượng thức ăn nhiều nên môi trường ao nuôi rất dễ ô nhiễm vì thế cần quản lý chặt chẽ lượng thức ăn cho ăn không ñể dư thừa, ñịnh kỳ trộn thêm Vitamin C vào thức ăn cho cá ñể tăng cường sức ñề kháng Định kỳ xử lý BKC 80% 1lit/m3 15 ngày/lần
ñể phòng bệnh cho cá nuôi, ñịnh kỳ 10 - 15 ngày thay nước một lần và mỗi lần thay khoảng 30 – 40% lượng nước trong ao, sau mỗi lần thay nước, các hộ rải thêm vôi bột ñể hạ phèn, góp phần ổn ñịnh chất lượng nước và phòng ngừa các loại bệnh ký sinh xuất hiện ảnh hưởng ñến chất lượng cá nuôi, vôi ñược sử dụng với liều lượng 2 – 3 kg/100 m2, hoà với nước và tạt ñều khắp ao nuôi
3.3.3 Phương pháp thu mẫu và phân tích mẫu
- Mẫu nước
+ Giai ñoạn ương thu 4 ñợt ñịnh kỳ 15 ngày thu mẫu một lần, giai ñoạn nuôi thu
8 ñợt ñịnh kỳ 30 ngày thu mẫu một lần
+ Các chỉ tiêu thủy lý, thủy hóa theo dõi gồm : nhiệt ñộ, ñộ mặn, pH, Oxy,
N-NH4+, PO3-4 ñược kiểm tra bằng nhiệt kế, khúc xạ kế và so màu bằng bộ Test Sera
+ Đo chiều dài (cm): sử dụng thước nhựa, cá ñược ño chiều dài toàn thân
+ Cân trọng lượng (g): dùng cân ñiện tử cân trọng lượng
Mẫu cá ñược thu bằng cách dùng lưới gạn
Trang 19wi : khối lượng mẫu thứ i
+ Tốc ñộ tăng trưởng khối lượng (g/ngày) :
t t
w w
1 2
1 2
−
−
Trong ñó: w1: là khối lượng trung bình tại thời ñiểm t1
w2: khối lượng trung bình tại thời ñiểm t2
t2−t1 : thời gian kiểm tra
+ Chiều dài trung bình (cm)
=
= n
i i
L
n cm
L
1
1 ) ( Trong ñó: L: chiều dài trung bình
n: số mẫu cá
Li: chiều dài mẫu thứ i
+ Tốc ñộ tăng trưởng về chiều dài (cm/ngày) :
t t
L L
1 2
1 2
−
−
Với:
L1 :chiều dài trung bình tại thời ñiểm t1
L2 : chiều dài trung bình tại thời ñiểm t2
t2−t1 : thời gian kiểm tra
+ Ước lượng năng suất cá nuôi (tấn/ha): dựa vào tổng lượng thức ăn cho ăn trong tháng cuối (ở tháng cuối phần trăm thức ăn khoảng 2%)
+ Ước lượng tỉ lệ sống (%) : Năng suất (kg/m2) x kích cỡ cá (con/kg)
Số cá thả (con/m2)
Tất cả dẫn liệu thực nghiệm từ mô hình ương nuôi chuyên canh cá sặc rằn trong
ao ñất ñược thu thập, phân tích thống kê, so sánh kết quả dựa vào phần mềm Excel
x 100%
Trang 203.3.5 Hiệu quả lợi nhuận của mô hình nuôi
Tổng thu: sản phẩm x ñơn giá
Tổng chi: cải tạo ao + con giống + thức ăn + các chi phí khác Lợi nhuận (ñồng/ha)= tổng thu – tổng chi
Trang 21PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Kỹ thuật ương dưỡng cá sặc rằn
4.1.1 Các yếu tố môi trường trong ao ương
Bảng 4.1 Kết quả các chỉ tiêu môi trường ao ương qua các ñợt thu mẫu
cá trong khoảng 6,5 – 9, pH quá thấp hay quá cao cũng sẽ ảnh hưởng ñến sự sinh trưởng và sinh sản của cá (Trương Quốc Phú, 2000) Vậy pH của các ao phù hợp cho sự phát triển của cá, kiềm chế lại sự ñộc của các khí ñộc
Kết quả khảo sát cho thấy do mật ñộ tảo ở các ao ương ñều cao nên hàm lượng oxy biến ñộng tương ñối lơn giữa ngày và ñêm và thường dao ñộng từ 2-6 ppm Hàm lượng oxygen là chất khí quan trong nhất trong số các chất khí hoà tan trong môi trường nước, nó rất cần ñối với ñời sống của thủy sinh vật Oxy hòa tan trong nước chủ yếu là do khuếch tán từ không khí vào (ñặc biệt là ở thủy vực nước chảy) Ngoài ra, còn do quá trình quang hợp của thực vật thủy sinh trong thủy vực, quá trình này thường xảy ra ở các thủy vực nước tĩnh (giáo trình quản
lý chất lượng nước trong nuôi thủy sản_Trương Quốc Phú) Theo Nguyễn Văn Kiểm (2000) thì hàm lượng oxy hoà tan thích hợp cho hầu hết các loài cá nuôi là trên 3 ppm Nhìn chung hàm lượng oxy cũng phù hợp cho cá
Trang 22Theo bảng thấy ñược N-NH4+ ở ao ương I 0,69±0,375 ppm, ao ương II 0,59±0,48 So với các loài cá khác thì hàm lượng ñạm của ao tương ñối cao nhưng so với sặc rằn thì mức ño có thể chấp nhận ñược.Tổng ñạm amôn bao gồm
NH3 và NH4+ là dạng phân ñạm cần thiết cho sự phát triển của thực vật, nó thúc ñẩy sự phát triển mạnh của tảo trong các ao nuôi NH4+ ñược tạo thành bởi sự hòa tan NH3 trong nước, NH3 có trong thủy vực do quá trình phân hủy các protein, xác bã ñộng thực vật phù du, sản phẩm bài tiết của ñộng vật hay từ phân bón vô
cơ, hữu cơ Amomonia ảnh hưởng lớn ñến tỉ lệ sống, sinh trưởng ñối với thủy sinh vật N-NH4+ ở 2 ao còn nằm trong khoảng thích hợp
Qua bảng 1 thấy ñược hàm lượng lân trong ao ương tương ñối phù hợp 0,63±0,25, do thời gian ñầu thức ăn sử dụng ít nên hàm lương cũng tương ñối Tương tự ao II cũng có hàm lượng thích hợp 0,5±0,35 cho cá ương Lân là nhân
tố giới hạn ñối với ñời sống thực vật thủy sinh, nhiều quá trình trao ñổi chất ñặc biệt là quá trình tổng hợp Protein chỉ tiến hành ñược khi có sự tham gia của
H3PO4 và sự thiếu hụt nó trong thủy vực sẽ làm hạn chế quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ trong thủy vực (theo Trương Quốc Phú, 2006) Theo Dương Nhựt Long (2002) thì chỉ tiêu P-PO43- thích hợp cho nuôi cá thâm canh là (0,1-1mg/l)
Ở 2 ao ương có sự khác biệt về ñộ mặn, ao ương I cá ñược ương ở ñộ mặn 1-4‰,
và ao II ñược ương ở nước ngọt