Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 59 ngày 09 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ thì: “Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Mssv: 5075078 Lớp: Luật Thương mại 1-K33
Cần Thơ, 4/2011
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Cần Thơ,…Ngày … Tháng… Năm … Giảng viên hướng dẫn
Trang 3NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
Cần Thơ,…Ngày … Tháng… Năm … Hội đồng phản biện
Trang 4MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Cơ cấu luận văn 3
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Ở VIỆT NAM 4
1.1 Các khái niệm chung 4
1.1.1 Khái niệm chất thải 4
1.1.2 Khái niệm chất thải rắn 4
1.1.3 Khái niệm về quản lý chất thải rắn 5
1.2 Phân loại chất thải rắn 7
1.2.1 Phân loại chất thải rắn thông thường 7
1.2.2 Phân loại chất thải rắn nguy hại 8
1.3 Nguồn phát sinh chất thải rắn 8
1.4 Sự cần thiết phải có các quy định về quản lý chất thải rắn ở Việt Nam 9
1.4.1 Lịch sử phát triển và sự cần thiết phải quản lý chất thải rắn ở Việt Nam 9
1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn 11
1.5 Những nguyên tắc chung trong việc quản lý chất thải rắn ở Việt Nam 12
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Ở VIỆT NAM 16
2.1 Chiến lược trong quản lý chất thải rắn ở Việt Nam 16
2.2 Trách nhiệm và quyền hạn của các chủ thể trong hoạt động quản lý chất thải rắn ở Việt Nam 18
2.2.1 Trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động quản lý chất thải rắn 18
2.2.2 Trách nhiệm và quyền lợi của các chủ thể khác trong hoạt động quản lý chất thải rắn 21
2.3 Các công cụ trong hoạt động quản lý chất thải rắn ở Việt Nam 24
2.4 Nội dung quản lý nhà nước về chất thải rắn 28
2.4.1 Ban hành các chính sách, văn bản pháp luật về hoạt động quản lý 29
Trang 52.4.2 Ban hành quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng cho hoạt động quản lý
chất thải rắn 31
2.4.3 Quản lý việc lập, thẩm định, phê duyệt và công bố quy hoạch quản lý chất thải rắn 33
2.4.4 Quản lý quá trình đầu tư cho thu gom, vận chuyển, xây dựng công trình xử lý chất thải rắn 35
2.4.5 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong quá trình hoạt động quản lý chất thải rắn 38
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Ở VIỆT NAM 43
3.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn ở Việt Nam 43
3.1.1 Thực trạng ban hành và áp dụng các quy định pháp luật trong hoạt động quản lý chất thải rắn 43
3.1.2 Thực trạng thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn 44
3.1.3 Thực trạng tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng 49
3.2 Giải pháp về hoạt động quản lý chất thải rắn 50
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật và cơ chế chính sách 52
3.2.2 Đẩy mạnh công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn 54
3.2.3 Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng 56
KẾT LUẬN 58 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn gốc chủ yếu của mọi biến đổi về môi trường sống của con người đang xảy ra hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta là các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội của con người Các hoạt động này một mặt cải thiện chất lượng môi trường sống của con người Hơn nữa, con người hiện đại có cuộc sống đầy đủ về vật chất, an toàn về sinh mệnh, phong phú về văn hóa và các chuẩn mực khác Tuy nhiên, bên cạnh đó thì các hoạt động này lại tạo ra hàng loạt các vấn đề nóng bỏng
về môi trường Môi trường hiện nay đang là vấn đề bức bách của mọi quốc gia dù
đó là quốc gia phát triển hay là quốc gia đang phát triển Sự ô nhiễm môi trường ngày càng diễn ra ở mức độ cao hơn đã và đang đặt con người trước những sự trả thù ghê gớm của thiên nhiên Nguy cơ môi trường đặc biệt nóng bỏng ở các quốc gia đang phát triển Nơi mà nhu cầu về cuộc sống hàng ngày của con người và nhu cầu phát triển của xã hội xung đột mạnh mẽ với sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường Việt Nam là một trong những nước đang phát triển và cũng đang phải đối đầu với các vấn đề môi trường nóng bỏng hiện nay
Ngày nay, sự phát triển khoa học kỹ thuật, sự gia tăng dân số đã đẩy nhanh tốc độ sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người Nhưng song song với sự gia tăng các của cải vật chất đó thì lượng chất thải rắn cũng không ngừng tăng lên Ở nước ta hiện nay thì tình trạng chất thải rắn tràn lan ngày càng phổ biến từ thành thị đến nông thôn đang ở mức báo động và nan giải Trước thực trạng cấp bách đó nên người viết đã chọn đề tài nghiên cứu Luận văn của mình với tên gọi là “ Quản lý chất thải rắn ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” Bởi ta có thể thấy rằng, nếu các chất thải rắn này không được xử lý và quản
lý chặt chẽ thì có thể chúng sẽ gây ô nhiễm đến môi trường đất, nước, không khí, làm giảm mỹ quan và đặc biệt là ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người Một
số quốc gia phát triển đã lợi dụng sự thiếu thốn của các quốc gia đang phát triển và kém phát triển để tìm cách xuất khẩu vào các nước này những chất thải rắn Đặc biệt là chất thải rắn điện tử và y tế
Do đó, người viết thấy rằng để góp phần quản lý chất thải rất tốt nhằm phòng ngừa, hạn chế các thực trạng và khắc phục hậu quả từ các thực trạng đó thì việc đi sâu vào để tìm hiểu các quy định của pháp luật liên quan đến chất thải rắn nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu cho công tác quản lý chất thải rắn là hết sức cần thiết và cấp bách
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trang 7Trong những năm gần đây, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về vấn
đề chất thải rắn của Việt Nam không ngừng được ban hành và áp dụng vào thực tế Tuy nhiên, bên cạnh những hiệu quả mà các quy định này mang lại thì nó cũng bộc
lộ những hạn chế và vướng mắc nhất định như hệ thống văn bản pháp luật và cơ chế chính sách chưa đồng bộ, chưa chặt chẽ, còn nhiều lỗ hổng, nhiều quy định được ban hành nhưng không mang tính khả thi và một số vấn đề vẫn chưa được các quy định của pháp luật điều chỉnh Mục đích của đề tài là nghiên cứu, phân tích sâu hơn để làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về vấn đề liên quan đến hoạt động quản lý chất thải rắn Từ đó, ta sẽ nhận thấy được những quy định nào còn hạn chế
ta sẽ sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện còn những quy định nào mang lại hiệu quả ta sẽ phát huy hơn nữa để công tác quản lý chất thải rắn đạt hiệu quả cao nhất
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Quản lý chất thải rắn là một khía cạnh trong hoạt động quản lý chất thải nói chung Bởi chất thải rắn chính là một dạng vật chất ở thể rắn của chất thải Hiện nay, ở nước ta thì việc quản lý chất thải rắn đã và đang được các cấp, ngành đặc biệt quan tâm và chú ý Bằng chứng là đã có nhiều văn bản pháp luật và các chính sách được ban hành để điều chỉnh vấn đề này Ta có thể thấy rằng các văn bản này
đã góp phần không nhỏ trong việc giảm thiểu lượng chất thải rắn phát sinh, bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng Tuy nhiên, nó vẫn còn có những hạn chế và bất cập nhất định
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài “Quản lý chất thải rắn ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” với thời gian có giới hạn nên người viết chỉ tập trung vào nghiên cứu những quy định hiện hành của các văn bản pháp luật và các chính sách
về hoạt động quản lý chất thải rắn, ưu - nhược điểm và thực trạng của công tác quản lý chất thải rắn trên thực tế hiện nay Từ đó, rút ra những nhận định và đưa ra những giải pháp để góp phần cho công tác quản lý chất thải rắn ở nước ta được hiệu quả hơn
4 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu về một đề tài luận văn thì có rất nhiều phương pháp nghiên cứu mà ta có thể áp dụng Trong phạm vi nghiên cứu đề tài của mình thì người viết chủ yếu vận dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
− Sử dụng phương pháp phân tích luật viết, phương pháp tổng hợp, so sánh, kết hợp những lí luận chung và thực tế
− Thu thập tài liệu, thông tin từ sách, báo, tạp chí, những nghiên cứu khoa học đồng thời tìm hiểu thực tế để kiểm chứng và nhìn nhận vấn đề đúng đắn và đầy đủ hơn
− Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin
Trang 8để góp phần làm sáng tỏ hơn vấn đề Đồng thời, người viết còn kết hợp với việc nghiên cứu lịch sử để đánh giá vấn đề
5 Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mục lục, lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung chính của luận văn được người viết trình bày trong ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
Chương 2: Cơ sở pháp lý về quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
Chương 3: Thực trạng và giải pháp quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
Trang 9
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Ở VIỆT NAM
1.1 Các khái niệm chung về chất thải rắn
1.1.1 Khái niệm chất thải
Theo cách hiểu thông thường thì chất thải là những vật chất trong quá trình sản xuất nào đó nó không có khả năng sử dụng nữa Nó bị loại ra từ các quá trình sản xuất có thể là sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, hoạt động du lịch, hoạt động sinh hoạt từ đời sống hằng ngày và kể cả từ các hoạt động du hành vũ trụ
Dưới góc độ pháp lý thì chất thải được hiểu và nhìn nhận khác hơn: “Chất thải
là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”1 Từ khái niệm này, ta có thể thấy chất thải bao gồm 3 loại: chất thải ở thể lỏng (nước thải), chất thải ở thể khí (khí thải) và chất thải ở thể rắn (chất thải rắn)
1.1.2 Khái niệm chất thải rắn
Chất thải rắn (rác) xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của con người và sinh vật trên trái đất Con người đã lấy từ thiên nhiên những nguyên vật liệu cũng như những thức ăn để phục vụ cho nhu cầu của chính mình rồi sau đó lại thải vào môi trường những chất thải rắn Theo cách hiểu thông thường thì chất thải rắn là những thứ vụn vặt không dùng đến hoặc đã qua sử dụng bị ta vứt bỏ hoặc các chất bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt và hoạt động sản xuất Chẳng hạn, các chai nước rửa chén, các bọc đựng dầu gội, xà phòng, giấy vụn Trong cuộc sống, rác được hình dung là những chất không còn được sử dụng cùng với những chất độc được xuất ra từ chúng Còn theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 59 ngày 09 tháng 4 năm
2007 của Chính phủ thì: “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”
Theo triết học thì vật chất là chỉ hiện thực khách quan tồn tại ngoài ý thức độc lập với ý thức ở trạng thái luôn luôn vận động và biến đổi Còn theo ý nghĩa thông thường thì ta có thể hiểu: vật chất là những vật cụ thể cần thiết cho sản xuất, đời sống và
nó thuộc về đời sống sinh lí Ví dụ: căn nhà để ở, bệnh viện để khám chữa bệnh, ngôi trường để học và muôn vàn những thứ khác nữa mà ta không thể liệt kê hết được Vật chất xung quanh chúng ta muôn màu muôn vẻ, đa dạng và phong phú Vì lẽ đó, ta có thể hiểu rằng vật chất sẽ trở thành chất thải khi đáp ứng các tiêu chí sau: chất thải đó phải là vật chất, có thể tồn tại dưới những dạng như rắn, lỏng, khí Ở đây, trong phạm vi nghiên cứu của mình về chất thải rắn nên người viết chỉ nói đến khía cạnh vật chất ở thể rắn thôi Do đó, ta có thể hiểu là những yếu tố phi vật chất hoặc vật chất ở thể lỏng, khí không thể là chất thải rắn được và điều này cũng hoàn toàn phù hợp với những yếu tố cấu thành môi trường theo Luật Bảo vệ Môi trường và cả những quy định riêng về quản
lý chất thải rắn của Nghị định số 59/2007/NĐ-CP Tuy nhiên, không phải vật chất nào ở thể rắn cũng đều là chất thải rắn hết mà vật
1 Xem: Khoản 10 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005
Trang 10chất ở thể rắn đó phải được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác thì mới được xem
là chất thải rắn.
Từ định nghĩa trên, ta có thể thấy rằng giữa hai khái niệm chất thải và chất thải rắn thì khái niệm chất thải theo quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 có nội hàm rộng hơn và bao trùm cả khái niệm chất thải rắn theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 59/2009/NĐ-CP Tức là, chất thải rắn chính là một dạng vật chất ở thể rắn của chất thải Do đó, một số quy định cũng như chính sách trong việc quản lý chúng cũng sẽ khác nhau Chẳng hạn như: phế liệu là sản phẩm, vật liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng được thu hồi để làm nguyên liệu sản xuất2 Về bản chất thì phế liệu chỉ là tên gọi trong việc quản lý hay trong thương mại của chất thải rắn đã qua phân loại, xử lý bước đầu Sau khi nhập khẩu, phế liệu sẽ qua xử lý ở quy mô công nghiệp để trở thành nguyên liệu tinh phục vụ cho sản xuất khác và luật pháp của Việt Nam công nhận buôn bán, chế biến phế liệu là một ngành kinh doanh Còn một khi đã gọi là chất thải thì người viết nghĩ rằng sẽ không có một quốc gia nào lại cho phép hoặc khuyến khích việc nhập khẩu chất thải để làm nguyên liệu phục vụ cho sản xuất cả Tuy nhiên, đối với phế liệu mặc
dù luật không cấm nhập khẩu khi các doanh nghiệp có nhu cầu về nguyên liệu để sản xuất Nhưng việc cho phép nhập khẩu phế liệu đó phải đi kèm một số điều kiện cụ thể cho từng loại phế liệu với những tiêu chí bảo vệ môi trường trong quá trình vận chuyển
và sản xuất nhất định
1.1.3 Khái niệm về quản lý chất thải rắn
Quản lý chất thải rắn là vấn đề then chốt để đảm bảo môi trường sống của con người nhưng trước hết ta cần phải hiểu rõ hoạt động quản lý chất thải rắn là gì vì chỉ khi hiểu rõ về nó thì ta mới thực hiện tốt được Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 59 ngày 09 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ thì: “Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản
lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại tới môi trường và sức khỏe của con người”
+ Hoạt động quy hoạch quản lý chất thải rắn là quy hoạch chuyên ngành xây dựng, bao gồm: điều tra, khảo sát, dự báo chi tiết nguồn và tổng lượng phát thải các loại chất thải rắn thông thường và nguy hại; xác định vị trí và quy mô các trạm trung chuyển, phạm vị thu gom, vận chuyển; xác định vị trí, quy mô cơ sở xử lý chất thải rắn trên cơ sở đề xuất công nghệ xử lý thích hợp; xây dựng kế hoạch và nguồn lực nhằm thu gom và xử lý triệt để chất thải rắn
+ Cơ sở quản lý chất thải rắn là các cơ sở vật chất, dây chuyền công nghệ, trang thiết bị được sử dụng cho hoạt động thu gom, phân loại, vận chuyển, xử lý chất thải rắn Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận Đối với việc lưu giữ chất thải rắn ta có thể hiểu
đó chính là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý Còn vận
2 Xem: Khoản 13 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005
Trang 11chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng
+ Tái chế, tái sử dụng: là việc chế tạo lại hoặc sử dụng lại chất thải từ những sản phẩm cũ, hỏng, hoặc từ đồ phế thải và hoạt động tái chế đã có từ lâu ở Việt Nam Tái chế, tái sử dụng chất thải rắn giúp tiết kiệm nhiên liệu, tận dụng, mang lại giá trị kinh tế cao và giảm ô nhiễm môi trường Ví dụ như: tái chế rác thải điện tử Ta thấy rằng, rác thải điện tử không phải là thứ bỏ đi hoàn toàn Theo tính toán của Công ty Yokohama Metal ở Nhật Bản, một tấn quặng vàng trung bình chỉ cho khoảng 5 gam vàng nhưng một tấn diện thoại di động bỏ đi có thể thu được ít nhất 150 gam vàng3 Quản lý chất thải rắn trong đó tái chế, tái sử dụng chất thải rắn hiện nay ở Việt Nam
là một trong những ưu tiên của công tác bảo vệ môi trường, góp phần kiểm soát ô nhiễm, hướng tới phát triển bền vững đất nước
+ Xử lý chất thải rắn được hiểu như sau: xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn; thu hồi, tái chế, tái sử dụng các thành phần
có ích trong chất thải rắn4 Do đó, việc xử lý chất thải rắn phụ thuộc rất nhiều vào các công nghệ và kỹ thuật Có khi việc xử lý chất thải rắn không tốt là do ý thức của người thải bỏ rác hoặc người quản lý chất thải rắn nhưng cũng có trường hợp con người muốn xử lý tốt nhưng lại thiếu công nghệ và kỹ thuật Khi áp dụng các công nghệ, kỹ thuật ta có thể loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn mà điều này ta không thể thực hiện bằng những biện pháp thông thường Chẳng hạn như khi nhìn ta không thể biết chất thải rắn đó có những thành phần nào có lợi và thành phần nào có hại được hoặc khi muốn đốt những chất thải độc hại ta không thể đốt một cách tùy tiện mà phải được xử lý và đốt bằng hệ thống chuyên dụng Ngoài ra, khi xử lý chất thải rắn ta sẽ biết được thành phần nào có ích
từ đó ta sẽ tái chế, tái sử dụng chúng một cách hiệu quả
Từ những phân tích trên, người viết thấy rằng việc quản lý chất thải rắn rất phức tạp Để hoạt động quản lí chất thải rắn có hiệu quả thì ta cần phải biết rõ chất thải rắn gồm những loại nào, vì đối với những loại chất thải rắn khác nhau ta phải có những biện pháp quản lý khác nhau
1.2 Phân loại chất tải rắn
1.2.1 Phân loại chất thải rắn thông thường
Chất thải rắn thông thường: từ tất cả các nguồn thải khác nhau được phân loại theo hai nhóm chính:
+ Nhóm các chất có thể thu hồi để tái sử dụng, tái chế: phế liệu thải ra từ quá
3
http://dantri.com.vn/c36/s36-382951/rac-thai-dien-tu-khong-phai-thu-bo-di-hoan-toan.htm , [9/3/2011]
4 Xem: Khoản 9 Điều 3 Nghị định sô 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ
Trang 12trình sản xuất; các thiết bị điện, điện tử dân dụng và công nghiệp; các phương tiện giao thông; các sản phẩm phục vụ sản xuất và tiêu dùng đã hết hạn sử dụng; bao bì bằng giấy, kim loại, thuỷ tinh, hoặc chất dẻo khác Có thể thấy rằng, việc phân loại các chất thải rắn thông thường theo nhóm này có rất nhiều điểm hay và tiện ích Vì phân loại theo nhóm các chất thải rắn có thể thu hồi để tái sử dụng, tái chế thì ta sẽ thấy được những giá trị không nhỏ của chất thải rắn Chẳng hạn: sau khi uống xong những chai nước thay vì ta vứt bỏ nó thì ta có thể dùng nó để đựng nước uống vừa tiết kiệm vừa bảo vệ môi trường hoặc khi mua sách ta có thể lấy bọc nylon đựng sách
đó rửa sạch để đựng những thứ khác Ngoài ra, ta còn có thể tái chế rác điện tử vì nó đem lại giá trị kinh tế rất lớn
+ Nhóm các chất thải cần xử lý, chôn lấp: các chất thải hữu cơ như các loại cây, lá cây, rau, thực phẩm, xác động vật; các sản phẩm tiêu dùng chứa các hoá chất độc hại như pin, ắc quy, dầu mỡ bôi trơn; các loại chất thải rắn khác không thể tái sử dụng Khi các chất thải không thể tái sử dụng, tái chế thì ta cần phải xử lý, chôn lấp chúng
Chất thải rắn xây dựng: bùn hữu cơ, đất đá, các vật liệu xây dựng thải ra trong quá trình tháo dỡ công trình được phân loại như sau:
+ Đất, bùn hữu cơ từ công tác đào đất, nạo vét lớp đất mặt có thể sử dụng để bồi đắp cho đất trồng cây Nếu ta biết cách xử lý thì chất thải rắn xây dựng sẽ rất có lợi cho con người Chẳng hạn như bùn hữu cơ rất tốt cho cây trồng
+ Đất đá, chất thải rắn từ vật liệu xây dựng (gạch, ngói, vữa, bê tông, vật liệu kết dính quá hạn sử dụng) có thể tái chế hoặc tái sử dụng làm vật liệu san lấp cho các công trình xây dựng Trong quá trình xây dựng thì đất đá, gạch, ngói được thải ra rất nhiều, ta có thể dùng những đất đá đó để tạo bờ kè ở các con sông để tránh hiện tượng sụp lở hoặc những đá vụn ta có thể lót ở trước sân để trang trí cho sân của ta thêm đẹp
+ Các chất thải rắn ở dạng kính vỡ, sắt thép, gỗ, bao bì giấy, chất dẻo có thể tái chế, tái sử dụng Các kính vỡ ta có thể tái sử dụng để trong các chậu cây kiểng hoặc trong các hồ nước nuôi cá
1.2.2 Phân loại chất thải rắn nguy hại
Chất thải rắn nguy hại là chất thải rắn chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính: phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác Chẳng hạn, các loại rác chứa các chứa CO2,
CH4 Trong những năm gần đây, kinh tế – xã hội ngày càng phát triển Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó là lượng rác thải, đặc biệt là rác thải nguy hại phát sinh ngày càng nhiều với số lượng rất lớn Chất thải rắn nguy hại thường phát sinh tại các khu công nghiệp Do đó, những thông tin về phân loại và các đặc tính khác nhau của chất
Trang 13thải rắn nguy hại là rất quan trọng và cần thiết Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ ban hành danh mục các chất thải rắn nguy hại Còn việc phân loại chất thải rắn nguy hại từ các hoạt động sản xuất, dịch vụ, nghiên cứu thử nghiệm thì sẽ do các
Bộ, ngành hướng dẫn cụ thể để phục vụ cho công tác thu gom, phân loại chất thải rắn được dễ dàng và hiệu quả
Tóm lại, việc phân loại chất thải rắn là rất quan trọng vì các kế hoạch quản lý cũng như các dự án xử lý chất thải rắn dù lớn và hiện đại đến đâu cũng sẽ thất bại nếu phân loại chất thải rắn đầu nguồn không tốt Đồng thời, phân loại chất thải rắn giúp cho việc quản lý chất thải rắn tốt và hiệu quả hơn từ đó làm cơ sở quan trọng cho việc quy định nghĩa vụ xử lý chất thải rắn và các hậu quả phát sinh từ việc vi phạm nghĩa
vụ này Việc biết rõ nguồn gốc phát sinh ra chất thải rắn sẽ giúp cho hoạt động phân loại chất thải rắn nhanh chóng, hiệu quả và tiết kiệm chi phí
1.3 Nguồn phát sinh chất thải rắn
Chất thải rắn xuất hiện từ rất nhiều nguồn khác nhau Điển hình có một số nguồn sau: rác nông nghiệp, rác công nghiệp, rác khu thương mại, rác khu xây dựng, rác đô thị, rác vũ trụ, rác khu dân cư5
+ Rác nông nghiệp: từ xưa, nước ta luôn gắn liền với nền nông nghiệp và nó
đã đem lại nhiều nguồn lợi ích to lớn nhưng bên cạnh đó thì nông nghiệp cũng tạo ra nguồn rác không nhỏ Rác nông nghiệp bao gồm: các loại nông phẩm hư, chất thải cây trồng, rơm rạ, xác cây nông nghiệp… Rác nông nghiệp rất đa dạng, phong phú nhưng nó lại không đồng nhất
+ Rác công nghiệp: tuỳ vào dây chuyền công nghệ mà tạo ra các loại rác thải khác nhau Chẳng hạn, trong nhà máy nước thì rác là bùn; trong công nghiệp thực phẩm đồ hộp là các lon, các bao bì hư; trong công nghiệp hoá chất thì thải ra các rác
có chứa các chất rất độc hại còn trong công nghiệp nhựa thì rác thải là các đồ nhựa
+ Rác khu xây dựng: trong khi tiến hành xây dựng thì các vật liệu xây dựng, các vật dụng khi trang trí nội thất được thải ra như các gạch vụn, gỗ vụn, các thùng
bê
+ Rác khu thương mại, chợ: có thể nói, một trong những nơi tập trung khá đông người đó chính là các khu thương mại và chợ Ở đây, có rất nhiều loại rác, thực phẩm thừa, ôi thiu; xác gà, vịt, heo và các thứ được vứt bỏ khác khi tiến hành giết
mổ
+ Rác đô thị: hiện nay, ở hầu hết các đô thị đều trong tình trạng ứ đọng rác thải
và đang đặt ra nhiều vấn đề cấp bách cần quan tâm đối với tất cả chúng ta Rác đô thị bao gồm rất nhiều loại rác trừ rác nông nghiệp Ở các đô thị tập trung nhiều ngành nghề nhất do đó nó là nơi chứa đựng nhiều loại rác khác nhau nhất Nguồn thải của
5 Lê Huy Bá, Môi Trường, Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, năm 2000, tr.205
Trang 14rác thải đô thị rất khó quản lý tại các nơi đất trống bởi vì tại các vị trí này sự phát sinh các nguồn chất thải là một quá trình phát tán
+ Rác khu dân cư: ta có thể thấy rằng, ở các khu dân việc sử dụng bếp củi còn khá nhiều nên khi đun nấu thì đã tạo ra một lượng tro bếp không nhỏ Ngoài ra, còn
có thêm các loại thực phẩm thừa, giấy vụn, đồ dùng gia đình bị hư, quần áo bỏ, các chai nước rửa chén và nhiều thứ khác nữa Đồng thời, thói quen thích dùng bao nhựa, bao nylon của con người một cách vô tư thoải mái đã làm cho rác lan tràn ngày càng nhiều hơn Bao nylon được con người sử dụng trong một thời gian rất ngắn, vài phút hay vài giờ rồi bỏ, và từ đó về sau trở thành một thứ rác tai hại mà con người không
hề ngờ tới Sự tiện dụng của bao nylon vừa có lợi nhưng ẩn sâu bên trong là những hậu quả khôn lường
Hiện nay, chúng ta còn nghe đến một nguồn nữa là rác vũ trụ Những tàu vũ trụ bị cháy, nổ; những vệ tinh nhân tạo bị hư hỏng đã tạo ra những mảnh vỡ và đó chính là một trong những rác vũ trụ mà ta thường nghe nói đến Đồng thời, ngoài nguồn rác trong nước ra hiện nay còn xuất hiện tình trạng nhập khẩu rác Rác được nhập khẩu vào nước ta do những người chỉ biết nghĩ đến lợi ích của riêng họ mà không nghĩ tới lợi ích chung của toàn xã hội Do đó, việc tăng cường công tác quản lý
và hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật cũng như các chiến lược về quản lý chất thải rắn là rất quan trọng và sự ra đời của các quy định pháp luật về quản lý chất thải rắn là rất cần thiết
1.4 Sự cần thiết phải có các quy định về quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
1.4.1 Lịch sử phát triển và sự cần thiết phải quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
Chất thải rắn có từ khi con người có mặt trên trái đất Con người và động vật
đã khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên trên trái đất để phục vụ cho đời sống của mình và thải ra các chất thải rắn Khi ấy, sự thải bỏ các chất thải từ hoạt động của con người không gây ra vấn đề ô nhiễm môi trường trầm trọng bởi vì mật độ dân cư còn thấp Bên cạnh đó, diện tích đất còn rộng nên khả năng đồng hoá các chất thải rắn rất lớn, do đó đã không làm tổn hại đến môi trường Khi xã hội phát triển, con người sống tập trung hơn thì sự tích lũy các chất thải rắn trở thành một trong những vấn đề nghiêm trọng đối với cuộc sống của toàn nhân loại Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước với nhịp độ tăng trưởng kinh tế khá cao trong nhiều năm qua cùng với tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh Vì thế, vấn đề quản lý chất thải nói chung và chất thải rắn nói riêng là những vấn đề nan giải trong công tác bảo vệ môi trường và sức khỏe nhân dân
Ta thấy rằng mối quan hệ giữa sức khỏe cộng đồng với việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn không hợp lý đã thể hiện rõ ràng Do không có kế hoạch quản lý chất thải rắn nên lượng chất thải rắn càng nhiều
Trang 15hơn Vào cuối thập kỷ 70 của thế kỷ trước tại châu Nam Cực thì lỗ thủng tầng ozon
đã xuất hiện Mãi đến thế kỷ 19 thì con người mới thật sự quan tâm hơn đến các chất thải làm ô nhiễm môi trường Điển hình là ngày 16 tháng 9 năm 1987 tại thành phố Montreal, Canada Nghị định thư Montreal đã được ký kết và nó chính là Nghị định thư của Công ước Vienna (1985) về bảo vệ tầng ozon Nghị định thư Montreal ra đời nhằm kiểm soát các hoá chất gây ô nhiễm tầng ozon và trong đó các nước cũng đề cập đến vấn đề rác thải Vào tháng 1 năm 1994, Chính phủ nước Việt Nam chính thức phê chuẩn tham gia Công ước Vienna về bảo vệ tầng ozon và Nghị định thư Montreal của Công ước về các chất làm suy giảm tầng ozon
Đồng thời, Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993 ra đời nhưng lúc đó vấn đề về chất thải rắn chưa được quan tâm thật sự Sau đó, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005
đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì vấn đề về chất thải nói chung và chất thải rắn nói riêng mới được quy định cụ thể Ngày nay với nền công nghiệp và nông nghiệp phát triển cùng với sự bùng nổ dân số và khoa học kỹ thuật, con người đang đứng trước những thách thức lớn về môi trường nói chung cũng như chất thải rắn nói riêng Do đó, vào ngày 09 tháng 4 năm 2007 thì Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn của Chính phủ đã được ban hành Tuy nhiên, Nghị định lại không vạch ra những chiến lược để quản lý tổng hợp chất thải rắn nên hiệu quả trong quản lý chất thải rắn chưa cao Chính vì thế mà ngày 17 tháng 12 năm 2009 thì Quyết định số 2149/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 ra đời Việc ban hành Quyết định số 2149/QĐ-TTg này là cần thiết và có ý nghĩa rất lớn nhằm hạn chế ảnh hưởng của chất thải rắn gây ra đối với con người và môi trường thiên nhiên
1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn
Chất thải rắn đã và đang là vấn đề bức xúc, gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cộng đồng và phát triển bền vững của Việt Nam Tổng khối lượng chất thải rắn phát sinh cả nước mỗi năm vào khoảng 28 triệu tấn Dự báo tổng lượng chất thải rắn sẽ phát sinh đến năm 2015 khoảng 43,6 triệu tấn; năm 2020 khoảng 67,6 triệu tấn; năm 2025 khoảng 91 triệu tấn6 Việc quản lý chất thải rắn không hợp lý là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí) Hằng ngày, con người cứ thản nhiên thải ra muôn vàn các loại rác từ sinh hoạt, sản xuất, du lịch, dịch vụ nhưng con người không hề hay rằng các loại rác thải đó có những tác hại khôn lường đối với con người và thiên nhiên Chúng
ta có thể thấy rõ một số ảnh hưởng cụ thể như sau:
6 http://www.sggp.org.vn/moitruongdothi/2011/3/253924/ , [15/3/2011]
Trang 16+ Rác làm giảm mỹ quan ở các khu công cộng và đô thị: chúng ta có thể thấy rằng, tình trạng sống chung, chơi chung với rác không còn quá xa lạ vì ở các bãi cát vui chơi thì rác còn nhiều hơn cát Rõ ràng, người ta đã và đang chơi với rác nên người ta không còn thấy rác cũng như không nghe mùi của rác thải xung quanh Hiện nay, từ thành thị đến nông thôn; từ sông ra tới biển; từ nơi ăn uống, vui chơi, giải trí cho đến những địa điểm du lịch, ngoài đường đến nhà cửa, xí nghiệp, cơ quan nơi nào cũng có rác hiện diện Chẳng hạn như: ở các bãi biển thì rác thải làm mất đi giá trị mỹ cảm, vẻ đẹp của các vùng ven biển như các bãi tắm, các cảnh quan dưới nước, gây khó chịu cho người sử dụng biển, các nhà hàng, khách sạn và những người sống nhờ vào du lịch sẽ bị giảm thu nhập Vì khi chúng ta đi du lịch ở các bãi biển nhưng ở các bãi biển đó toàn là rác và rác thì chắc chắn là chúng ta rất khó chịu và có thể chúng ta
sẽ phản đối nếu người thân của chúng ta có ý định đến đó để du lịch Do đó, nếu chúng ta để cho việc du lịch giảm sút và ngày càng đi xuống chỉ vì rác thì quả thật là không đáng
+ Rác làm ô nhiễm môi trường nước: các chất thải rắn nếu là chất thải hữu cơ trong môi trường nước sẽ bị phân hủy một cách nhanh chóng và tạo ra những chất trung gian như CO2, CH4, H2O Tất cả những chất này đều gây mùi thối và là độc chất Bên cạnh đó, còn biết bao nhiêu vi trùng và siêu vi trùng làm ô nhiễm nguồn nước Nếu rác là những chất kim loại thì nó gây nên hiện tượng ăn mòn trong môi trường nước Rác còn làm cản dòng chảy, làm ứ đọng nước
+ Rác còn làm ô nhiễm môi trường đất: trong rác có các thành phần có thể phân huỷ trong môi trường đất tạo ra các chật độc gây hại cho đất Thậm chí, những chất độc hại này theo nước trong đất chảy vào mạch nước ngầm làm cho mạch nước ngầm cũng bị ô nhiễm
Đồng thời, rác còn làm cho không khí bị ô nhiễm trầm trọng do quá trình bay hơi, phân giải các hợp chất hữu cơ, hoạt động của vi sinh vật trong rác mang theo mùi hôi và chất độc làm ô nhiễm bầu không khí Như ta biết thì không khí có ý nghĩa đặc biệt đối với con người Sở dĩ như vậy là vì con người có thể nhịn đói mấy bữa không
ăn, uống nhưng không thể không thở dù là một giờ Có thể nói rằng, rác thải là một trong những nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm không khí Bên cạnh đó, rác thải không trung cũng là vấn đề nguy hiểm đã trở thành bãi rác do đủ thứ mà con người vứt bỏ
và đó chính là mối đe dọa thường xuyên cho các tàu vũ trụ
Ngoài ra, trong các bãi rác có một lượng nước nhất định hoặc do mưa xuống ngấm vào rác tạo ra một loại nước rò rỉ, trong loại nước rò rỉ này chứa những chất hoà tan, những chất lơ lửng, chất hữu cơ và mầm bệnh Đặc biệt là, rác thải ảnh hưởng khôn lường đến sức khỏe của con người: thực phẩm thừa, các chất thải hữu cơ, xác chết động vật và các loại chất thải rắn khác bị thải bỏ bừa bãi khắp nơi trong các
Trang 17thị trấn, trên các đường phố, đường quê, sông hồ, các khu đất trống đã tạo môi trường thuận lợi cho sự sinh sản và phát triển vi sinh vật gây bệnh Chúng là nguyên nhân gây nên bệnh về đường hô hấp, dịch hạch, quái thai và cả bệnh ung thư Có trường hợp còn bị nhiễm HIV vì giẫm phải kim tiêm và rác thải y tế.
Hiện nay, lượng chất thải rắn phát sinh ngày càng nhiều đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng, nghiêm trọng nhất là đối với dân cư khu đô thị, khu vực làng nghề, gần khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải Từ thành thị đến nông thôn ô nhiễm chất thải rắn đã đến mức báo động Chính vì vậy, mà việc ra đời của các quy định pháp luật về quản lý chất thải rắn là rất cần thiết và ý nghĩa Nhưng để áp dụng các quy định này vào thực tế một cách linh hoạt thì ta cần phải nắm vững các nguyên tắc cơ bản trong việc quản lý chất thải rắn để đảm bảo cho việc quản lý một cách đồng bộ và hiệu quả
1.5 Những nguyên tắc chung trong việc quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
Quản lý chất thải rắn mục đích cuối cùng cũng là bảo vệ con người, bảo vệ môi trường Do đó, trước khi áp dụng các nguyên tắc chung trong việc quản lý chất thải rắn các cơ quan có thẩm quyền cần nắm rõ các nguyên tắc bảo vệ môi trường cũng như các nguyên tắc trong việc quản lý chất thải nói chung Các nguyên tắc quản
lý chất thải rắn trước tiên phải phản ánh các yêu cầu khách quan của các quy luật tự nhiên, kinh tế và xã hội đang chi phối quá trình quản lý chất thải rắn Điều đó có nghĩa là, muốn thực hiện đầy đủ và hiệu quả các nguyên tắc quản lý chất thải rắn thì
ta cần phải nghiên cứu, nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan vào điều kiện
cụ thể của từng đối tượng quản lý Quản lý chất thải rắn phải dựa trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản sau7:
+ Tổ chức, cá nhân xả thải hoặc có hoạt động làm phát sinh chất thải rắn phải nộp phí cho việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn Nguyên tắc này có thể dùng làm cơ sở cho các quy định về thuế, phí, lệ phí và các quy định xử phạt hành chính đối với vi phạm về quản lý chất thải rắn Từ nguyên tắc này, ta có thấy rằng một khi tổ chức, cá nhân xả thải hay có hoạt động làm phát sinh chất thải rắn thì họ phải nộp một khoản phí bao gồm chi phí đầu tư phương tiện, trang thiết bị, chi phí giải phóng mặt bằng, chi phí đầu tư xây dựng, chi phí quản lý và vận hành cơ sở thu gom, vận chuyển chất thải rắn Có thể nói rằng đây là một trong những nguyên tắc quan trọng trong việc quản lý chất thải rắn bởi nó xác định được chủ thể xả thải hoặc
có hoạt động phát sinh chất thải rắn và mức độ trách nhiệm khi họ vi phạm Tuy nhiên, mục đích của hoạt động quản lý chất thải rắn là nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và con người nhưng khi tổ chức cá nhân vi phạm về quản lý chất thải rắn chỉ phải nộp phí cho việc thu gom, vận chuyển và xử lý
7 Xem: Điều 4 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ
Trang 18chất thải rắn thôi chớ không hề đề cập đến trách nhiệm của họ nếu gây thiệt hại đến sức khỏe của con người Người viết nghĩ rằng, nguyên tắc này chưa đảm bảo được sự phát triển bền vững và toàn diện trong việc quản lý chất thải rắn
+ Chất thải phải được phân loại tại nguồn phát sinh, được tái chế, tái sử dụng,
xử lý và thu hồi các thành phần có ích làm nguyên liệu và sản xuất năng lượng Nguyên tắc này rất có ý nghĩa bởi để quản lý chất thải rắn tốt, tiện lợi và dễ dàng thì việc phân loại tại nguồn phát sinh là rất cần thiết Nguồn gốc phát sinh của chất thải rắn là cơ sở quan trọng trong thiết kế, lựa chọn công nghệ xử lý và đề xuất các chương trình quản lý chất thải rắn thích hợp Có thể nói, nguyên tắc này quyết định hiệu quả của việc quản lý chất thải rắn
+ Ưu tiên sử dụng các công nghệ xử lý chất thải rắn khó phân huỷ, có khả năng giảm thiểu khối lượng chất thải được chôn lấp nhằm tiết kiệm tài nguyên đất đai Như ta biết, thì đất nước ta xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu Ngày nay, trong quá trình hội nhập và phát triển thì nước ta đã đạt nhiều thành tựu về phát triển kinh tế – xã hội nói chung và trong lĩnh vực quản lý môi trường nói riêng Khoa học công nghệ – kỹ thuật ngày càng phát triển thì ta càng có nhiều cơ hội tiếp cận với các ứng dụng khoa học công nghệ mới và tiên tiến hơn Tuy nhiên, việc sử dụng các công nghệ đó phải đi đôi với việc tiết kiệm và hiệu quả Tức là, áp dụng công nghệ phù hợp để xử lý chất thải rắn một cách nhanh chóng và hiệu quả Như ta biết thì các lò đốt rác hiện nay sử dụng để đốt rác được sử dụng hai công nghệ cơ bản là: lò đốt truyền thống và lò đốt bằng hồ quang (Plasma) Nhưng mỗi công nghệ lại có ưu và nhược điểm khác nhau Chẳng hạn như: lò đốt truyền thống thì đơn giản, dễ chế tạo, chi phí lại thấp nhưng nhiệt lượng thấp, khả năng gây ô nhiễm môi trường cao do thải
ra nhiều khí độc hại, không đốt được những rác ở nhiệt độ cao Còn lò đốt rác bằng
hồ quang thì nhiệt lượng rất cao, ít ô nhiễm, đốt được rất nhiều rác, tuy nhiên chi phí
để tạo ra nó rất cao Để có thể áp dụng được nhiều hơn nữa những công nghệ tiến bộ thì việc tăng cường hợp tác quốc tế là rất cần thiết
+ Nhà nước khuyến khích việc xã hội hoá công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải rắn Trong quản lý môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn nói riêng không thể thiếu sự khuyến khích của nhà nước Ta thấy rằng, có trường hợp ta phải bắt buộc hoặc cưỡng chế thì mới đảm bảo việc thực hiện tốt nhưng cũng có trường hợp khuyến khích lại đạt hiệu quả cao hơn Ý thức của con người rất quan trọng Chẳng hạn như khi con người đã nhận thức rõ và quyết tâm thực hiện một điều gì đó thì thường đem lại kết quả rất cao Xã hội hóa không chỉ quan trọng đối với đời sống của cá nhân mà nó còn giúp cho xã hội phát triển liên tục và nhanh chóng Do đó, khi toàn xã hội đồng lòng ý thức, quan tâm và đóng góp vào công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải rắn thì tin rằng việc quản lý chất
Trang 19thải sẽ có những kết quả bất ngờ và một Việt Nam không rác thải là hoàn toàn có thể Ngoài ra, theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP trong hoạt động đầu tư quản lý chất thải rắn cũng có những nguyên tắc như: Nhà nước khuyến khích mọi hình thức đầu tư cho lĩnh vực chất thải rắn: hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), xây dựng - khai thác - chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao
- khai thác (BTO), hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) Có thể nói các hình thức đầu tư nêu trên là những hình thức đầu tư phổ biến nhất ở nước ta hiện nay Nhà nước
ta đã đưa ra rất nhiều ưu đãi cho những hình thức này để khuyến khích các nhà đầu tư cho lĩnh vực quản lý chất thải rắn Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan Hoạt động đầu tư là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư
Đồng thời, đầu tư cho quản lý chất thải rắn phải đồng bộ, giải quyết triệt để chất thải rắn, bảo đảm hiệu quả kinh tế - kỹ thuật và yêu cầu bảo vệ môi trường Không chỉ riêng trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn mà trong bất kì lĩnh vực nào cũng cần phải quản lý đồng bộ, giải quyết triệt để thì mới đạt hiệu quả cao được Tuy nhiên, không chỉ quản lý đồng bộ và giải quyết triệt để chất thải rắn là đủ mà còn phải đầu tư quản lý sao cho đảm bảo hiệu quả kinh tế – xã hội, đồng thời bảo vệ môi trường một cách tốt nhất Bên cạnh đó, đầu tư cho thu gom, vận chuyển, xây dựng trạm trung chuyển và cơ sở xử lý chất thải rắn được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư và xây dựng Có thể nói, nguyên tắc này rất cần thiết đối với việc quản
lý chất thải rắn hiện nay nói chung nhưng đây lại là một trong những nguyên tắc dễ gặp khó khăn và tốn kém nhất Từ việc đầu tư cho hệ thống thu gom đến vận chuyển, xây dựng các trạm trung chuyển và cơ sở xử lý chất thải rất đều không hề đơn giản Đặc biệt là, cơ sở xử lý chất thải rắn cũng là một vấn đề đáng quan tâm Bởi khi xây dựng một cơ sở xử lý chất thải rắn phụ thuộc rất nhiều yếu tố như: đất để xây dựng cơ
sở xử lý chất thải rắn vì không phải có đất trống là có thể xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn được mà phải đảm bảo kinh tế – xã hội và môi trường hoặc phải trang bị các dây chuyền công nghệ, trang thiết bị và các công trình phụ trợ khác phục vụ cho hoạt động xử lý chất thải rắn
Sở dĩ ngoài việc nắm vững các nguyên tắc trong hoạt động quản lý chất thải rắn ta còn phải nắm vững thêm các nguyên tắc trong hoạt động đầu tư cho việc quản
lý chất thải rắn vì: đầu tư là một trong những hoạt động quan trọng của công tác quản
lý chất thải rắn Muốn quản lý chất thải rắn tốt thì ngoài sự ý thức và đồng lòng ủng
hộ của toàn xã hội thì vấn đề về vốn để đầu tư cho hoạt động quản lý chất thải rắn là hết sức cần thiết Như đã biết thì Ngân sách Nhà nước là có giới hạn Bởi thế cho nên
Trang 20việc tăng cường huy động vốn đầu tư trong việc quản lý chất thải rắn là rất quan trọng Các nhà đầu tư sẽ góp phần đáng kể trong việc đầu tư vào việc bảo vệ môi trường nói chung và đầu tư trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn nói riêng Tuy nhiên, không phải vì việc cần nguồn vốn đầu tư mà ta có thể để cho việc đầu tư một cách tự phát, tràn lan mà phải tuân theo những nguyên tắc nhất định và ta cần phải xem xét nhà đầu tư có kinh nghiệm trong quản lý chất thải rắn hay không; tài chính của họ có
đủ đảm bảo cho việc quản lý chất thải rắn hiệu quả hay không
Từ những phân tích trên, người viết thấy rằng việc áp dụng linh hoạt các nguyên tắc trong quản lý chất thải rắn rất nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng là rất quan trọng vì công tác quản lý chất thải rắn thành công hay thất bại phụ thuộc rất nhiều bởi việc áp dụng các nguyên tắc này vào thực tế Xã hội ngày càng phát triển, khoa học công nghệ tiến bộ thì yêu cầu quản lý đối với chất thải rắn càng cao Do đó,
sự ra đời của các quy định về quản lý chất thải rắn ngày càng chặt chẽ là rất cần thiết
và có ý nghĩa khi khuyến khích các hình thức đầu tư này trong quản lý chất thải rắn
Trang 21CHƯƠNG 2
CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Ở VIỆT NAM
2.1 Chiến lược về quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
Ngày 17 tháng 12 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 Quyết định nêu rõ một số quan điểm sau:
2149/QĐ-+ Quản lý tổng hợp chất thải rắn là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong
đó Nhà nước có vai trò chủ đạo, đẩy mạnh xã hội hóa, huy động tối đa mọi nguồn lực, tăng cường đầu tư cho công tác quản lý tổng hợp chất thải rắn
+ Quản lý tổng hợp chất thải rắn được thực hiện liên vùng, liên ngành, đảm bảo sự tối ưu về kinh tế, kỹ thuật, an toàn về xã hội và môi trường, gắn với các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch xây dựng và các quy hoạch phát triển khác
+ Quản lý tổng hợp chất thải rắn là một trong những ưu tiên của công tác bảo
vệ môi trường, góp phần kiểm soát ô nhiễm, hướng tới phát triển bền vững đất nước
+ Quản lý tổng hợp chất thải rắn phải đáp ứng theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, theo đó các tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm đóng góp kinh phí, khắc phục, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật
+ Quản lý chất thải rắn phải được thực hiện theo phương thức tổng hợp, nhằm phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh chất thải tại nguồn là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, tăng cường tái sử dụng, tái chế để giảm khối lượng chất thải phải chôn lấp
Từ những quan điểm trên, ta có thể thấy rằng công tác quản lý chất thải rắn phải được xã hội hóa sâu rộng vì nó là một trong những nội dung cơ bản không thể tách rời trong hoạt động quản lý môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn nói riêng Do đó, việc khuyến khích và đa dạng hóa các thành phần kinh tế cùng tham gia quản lý chất thải chất thải rắn là hết sức quan trọng Đồng thời, trong hoạt động quản
lý chất thải rắn thì tất cả các khâu thu gom, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải cần phải được quan tâm ở mọi cấp chính quyền và phải được thực hiện trên
cơ sở một khung pháp lý đồng bộ về luật pháp, tổ chức, kinh tế, tài chính Như chúng
ta đã biết, quản lý tổng hợp chất thải rắn là một cách tiếp cận mới trong quản lý chất thải được nhiều nước trên thế giới áp dụng
Ở nước ta, quản lý chất thải nói chung và quản lý tổng hợp chất thải rắn nói riêng theo hướng bền vững là một trong bảy chương trình ưu tiên cao nhất được xác định trong Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia 2001 – 2010 và định hướng 2020,
Trang 22đồng thời nó cũng là một nội dung thuộc lĩnh vực ưu tiên trong chính sách phát triển của Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) Bên cạnh đó, thì Quyết định số 2149/QĐ-TTg còn nêu rõ quan điểm
là “người gây ô nhiễm phải trả tiền” Có thể nói, đây không chỉ là quan điểm mà nó còn là một nguyên tắc vì nó tạo cơ sở cho việc xử lý vi phạm hành chính và tạo ra các khoản kinh phí đáng kể cho việc khắc phục hậu quả từ chất thải rắn Đóng góp kinh phí để thu gom và xử lý chất thải sinh hoạt tại các đô thị là trách nhiệm của mọi người dân nhằm giảm bớt gánh nặng đối với nguồn ngân sách của nhà nước dành cho việc quản lý chất thải rắn, đồng thời nâng cao ý thức, nhận thức của cộng đồng về công tác bảo vệ môi trường Ngoài ra, Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 còn nêu ra một quan điểm hết sức quan trọng trong hoạt động quản lý tổng hợp chất thải rắn là phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh chất thải tại nguồn Không chỉ trong hoạt động quản lý chất thải rắn mà hầu hết các lĩnh vực thì phòng ngừa luôn là biện pháp được ưu tiên hàng đầu Ta có thể thấy rằng, chi phí để ta phòng ngừa sẽ thấp hơn rất nhiều lần so với chi phí để khắc phục hậu quả Do đó, việc giảm thiểu sự phát sinh chất thải rắn tại nguồn, thu hồi, tái
sử dụng và tái chế chất thải rắn được coi là quốc sách nhằm giảm bớt gánh nặng cho việc xử lý chất thải tại “cuối đường ống”, tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn ngày càng trở nên khan hiếm ở Việt Nam vì theo kinh nghiệm quốc tế thì cách tiếp cận quản lý “cuối đường ống” thường đòi hỏi chi phí rất lớn
Tuy nhiên, để quản lý tổng hợp chất thải rắn hiệu quả thì ta phải có những mục tiêu cụ thể và tổng quát Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 đã đặt ra mục tiêu đến năm 2025 là 100% các đô thị có công trình tái chế chất thải rắn công nghiệp không nguy hại và nguy hại; 90% tổng lượng chất thải rắn xây dựng đô thị và chất thải rắn phát sinh tại các điểm dân cư nông thôn được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường Lượng túi nylon sử dụng tại các siêu thị và trung tâm thương mại sẽ giảm 85% so với năm 2010 Phấn đấu tới năm 2050, tất cả các chất thải rắn phát sinh đều được thu gom, tái sử dụng, tái chế và
xử lý triệt để bằng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, phù hợp với điều kiện thực tế, hạn chế khối lượng chất thải rắn phải chôn lấp đến mức thấp nhất Đây
là tầm nhìn đã được nêu ra trong chiến lược và nó đóng vai trò rất quan trọng trong việc đưa ra những mục tiêu phù hợp để hoạt động quản lý tổng hợp chất thải rắn có hiệu quả Kết quả đạt được của những mục tiêu phụ thuộc rất nhiều vào tầm nhìn của những người đưa ra chiến lược
Đồng thời, thúc đẩy nghiên cứu khoa học, tăng cường hợp tác quốc tế Bên cạnh đó, một biện pháp hết sức quan trọng là tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về quản lý chất thải rắn nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung
Trang 23Chiến lược đã đặt ra những mục tiêu xây dựng và thực hiện các chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng ở các trường học, cộng đồng dân cư và các cơ
sở kinh doanh, khuyến khích tham gia vào các hoạt động phân loại tại nguồn, giảm thiểu, tái chế tái sử dụng chất thải rắn, hạn chế sử dụng túi nylon, không đổ rác bừa bãi Đồng thời, sẽ đưa giáo dục môi trường vào các cấp học với nội dung và thời lượng phù hợp với nhận thức của từng lứa tuổi; đưa nội dung quản lý chất thải rắn vào nội dung đào tạo, tập huấn quản lý doanh nghiệp (ngăn ngừa, giảm thiểu phát sinh chất thải rắn, sử dụng các nguyên liệu thân thiện với môi trường, thu gom, vận chuyển chất thải rắn theo đúng các quy định)
Qua phân tích trên, có thể thấy rằng việc đưa nội dung quản lý chất thải rắn vào nội dung đào tạo ở các cấp học là hết sức cần thiết và ý nghĩa Vì chính những học sinh, sinh viên khi đã nhận thức đầy đủ về vấn đề quản lý chất thải rắn thì sẽ có tác động rất lớn trong việc thay đổi nhận thức của các thành viên khác trong gia đình
từ đó ý thức cao hơn trong hoạt động quản lý chất thải rắn và bảo vệ môi trường Nhưng để công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng trong hoạt động quản lý chất thải rắn thì Nhà nước ta phải tạo được lòng tin của nhân dân bằng cách là rà soát và ban hành đồng bộ các văn bản luật, dưới luật về quản lý chất thải rắn Đồng thời kịp thời sửa đổi, bổ sung những quy định của Luật Bảo vệ môi trường
để đảm bảo hiệu lực của Luật Bảo vệ Môi trường nói chung và nâng cao hiệu quả trong quản lý chất thải rắn nói riêng Bên cạnh đó thì các cơ quan quản lý phải có đầy
đủ năng lực và những kinh nghiệm cần thiết Hơn thế nữa là, phải phân công trách nhiệm rõ ràng nhưng phải phối hợp hoạt một cách chặt chẽ và nhịp nhàng
2.2 Trách nhiệm và quyền hạn của các chủ thể trong hoạt động quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
2.2.1 Trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động quản lý chất thải rắn
Trong Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 thì Quyết định số 2149/QĐ-TTg đã nêu rõ: quản lý tổng hợp chất thải rắn là trách nhiệm chung của toàn xã hội Tuy nhiên, để quản lý chất thải rắn được hiệu quả thì các cơ quan có thẩm quyền phải thể hiện trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan đầu tàu của mình trước
Chính phủ - cơ quan quản lý thống nhất Nhà nước về bảo môi trường8: Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, thi hành các chính sách bảo vệ, cải tạo, tái sinh và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Ủy ban nhân dân các cấp: theo quy định tại Điều 69 Luật Bảo vệ Môi trường
8 Xem: Khoản 1 Điều 121 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005
Trang 24năm 2005 thì trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý chất thải như sau: lập quy hoạch, bố trí mặt bằng cho việc tập kết chất thải rắn sinh hoạt, xây dựng
hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tập trung, khu chôn lấp chất thải; đầu tư, xây dựng, vận hành các công trình công cộng phục vụ quản lý chất thải thuộc phạm vi quản lý của mình; kiểm tra, giám định các công trình quản lý chất thải của tổ chức, cá nhân trước khi đưa vào sử dụng; ban hành và thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho hoạt động quản lý chất thải theo quy định của pháp luật Ngoài ra, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong hoạt động quản lý chất thải rắn còn được quy định rất cụ thể theo quy định tại khoản 2 Điều 94, khoản 2 Điều 79 và khoản 2 Điều 80 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 và khoản 11 Điều 2 Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ Còn trách nhiệm và quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã thì theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP
Từ những quy định trên, ta có thể thấy trách nhiệm và quyền hạn của Ủy ban nhân dân các cấp đã được quy định khá rõ Tuy nhiên, chỉ có trách nhiệm và quyền hạn của Ủy ban nhân cấp tỉnh thì được quy cụ thể và tương đối đầy đủ Còn trách nhiệm và quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã thì rất ít Bằng chứng
là, trong Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 chỉ có duy nhất một điều luật là Điều 69 quy định về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý chất thải và trong Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ cũng chỉ có duy nhất Điều 28 quy định về trách nhiệm và quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã Nhưng đặc biệt là, cả hai điều này đều không quy định trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng của Ủy ban nhân dân cấp huyện
và Ủy ban nhân cấp xã Như đã biết thì Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã lại là hai cơ quan quản lý gần gũi với nhân dân nhất Vì thế, nếu hai cơ quan này thiếu trách nhiệm trong việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng thì tình trạng chất thải rắn bị vứt bừa bãi, tràn lan đặc biệt là ở nông thôn
là không thể tránh khỏi
Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường: Bộ Xây dựng điều phối việc triển khai thực hiện các nội dung Chiến lược quản lý tổng hợp chất thải rắn; hướng dẫn, chỉ đạo và tổng kết đánh giá tình hình thực hiện Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn; rà soát, ban hành đồng bộ hệ thống quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật về quản
lý chất thải rắn; tổ chức nghiên cứu lập quy hoạch quản lý chất thải rắn cho các vùng, liên tỉnh, liên đô thị và vùng đặc thù Phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ
Trang 25chức lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược trình duyệt theo quy định9 Đồng thời, Bộ Xây dựng còn chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn, kiểm tra, xác nhận cơ sở xử lý chất thải rắn nguy hại, cơ sở tái chế, tiêu hủy, khu chôn lấp chất thải rắn thông thường và nguy hại Còn Bộ Tài nguyên và Môi trường thì xây dựng, ban hành các chính sách, cơ chế, công cụ về phòng ngừa, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải, phân loại chất thải rắn tại nguồn; xây dựng cơ sở
dữ liệu về chất thải rắn trên toàn quốc; xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn môi trường về chất thải rắn, các hướng dẫn kỹ thuật về giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải; thực hiện các chương trình nâng cao nhận thức, nâng cao năng lực về quản lý tổng hợp chất thải rắn; theo dõi, giám sát tình hình ô nhiễm môi trường do chất thải rắn trên toàn quốc; phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng trong việc điều phối, thực hiện các nội dung của Chiến lược về quản lý tổng hợp chất thải rắn và tổ chức lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược Bên cạnh đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường còn hướng dẫn việc đăng ký chủ nguồn thải chất thải rắn nguy hại; ban hành danh mục các chất thải rắn nguy hại; ban hành chính sách ưu đãi về đất đai cho hoạt động quản lý chất thải rắn
Ngoài ra, các Bộ ngành khác cũng đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý chất thải rắn Chẳng hạn như khi đề cập đến việc cân đối vốn ngân sách hàng năm cho công tác quy hoạch quản lý chất thải rắn theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước thì ta không thể không nhắc tới hai Bộ rất quan trọng là Bộ Tài chính, Bộ
Kế hoạch và Đầu tư Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức nghiên cứu, chuyển giao các công nghệ xử lý, công nghệ chế tạo, sản xuất các thiết bị và vật liệu mới phục vụ cho lĩnh vực quản lý tổng hợp chất thải rắn Như chúng ta đã biết, chất thải rắn y tế đã và đang là vấn đề cấp bách hiện nay nên trách nhiệm của Bộ Y tế càng quan trọng và nặng nề hơn Bộ Y tế chịu trách nhiệm tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các cơ
sở y tế, thực hiện nghiêm túc các quy định về quản lý chất thải y tế trên toàn quốc Đồng thời, để nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường nói chung, quản lý tổng hợp chất thải rắn nói riêng và các nhà đầu tư hiểu rõ và nắm bắt kịp thời các thông tin để thuận tiện trong việc đầu tư thì trách nhiệm xây dựng và thực hiện các kế hoạch truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng của Bộ Thông tin và Truyền thông đóng một vai trò rất lớn Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng góp phần không nhỏ trong việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng Ngoài ra, còn có các Bộ khác cũng đóng vai trò rất quan trọng
Ta có thể thấy rằng, trách nhiệm và quyền hạn của các Bộ trong hoạt động quản lý chất thải rắn đã được phân công khá rõ Việc phân công trách nhiệm và quyền hạn giữa các Bộ trong việc quản lý chất thải rắn là rất quan trọng Khi trách nhiệm và
9 Xem: Khoản 1 Điều 2 Quyết định 2149/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ
Trang 26quyền hạn đã được phân công thì mỗi Bộ sẽ biết trách nhiệm và quyền hạn của mình bao gồm những gì và phạm vi tới đâu Đồng thời, khi xảy ra vi phạm thì ta sẽ biết nó thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ nào Do đó, các Bộ sẽ có trách nhiệm hơn trong việc quản lý chất thải rắn Nhưng nó cũng dễ phát sinh tình trạng tùy tiện, chia cắt trong hoạt động quản lý chất thải rắn là những biểu hiện cụ thể của sự thiếu phối hợp
Vì thế, các Bộ cần phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý chất thải rắn để hoạt động quản lý chất thải rắn đạt hiệu quả
2.2.2 Trách nhiệm và quyền lợi của các chủ thể khác trong hoạt động quản lý chất thải rắn
Trách nhiệm và quyền lợi của chủ đầu tư: chủ đầu tư là tổ chức, cá nhân sở hữu vốn hoặc người thay mặt chủ sở hữu hoặc người vay vốn và trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tư Đầu tiên, đối với chủ đầu tư cơ sở xử lý chất thải rắn phải có trách nhiệm trong việc thực hiện đầu tư xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn và các hạng mục công trình phụ trợ theo đúng quy định của pháp luật về đầu
tư xây dựng; thực hiện nghĩa vụ bồi thường, chi phí giải phóng mặt bằng, di dời mồ
mả, hỗ trợ chuyển đổi nghề cho dân cư thuộc vùng triển khai dự án theo quy định của pháp luật Ngoài ra, khi có nhu cầu thay đổi về nội dung đầu tư xây dựng hoặc thay đổi công nghệ, chủ đầu tư cần thực hiện theo các nội dung và trình tự về đầu tư xây dựng theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, chủ đầu tư xử lý chất thải rắn sẽ có những quyền lợi nhất định như: được kinh doanh và hưởng lợi từ các sản phẩm thu được của hoạt động xử lý chất thải rắn theo dự án đầu tư; hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP và các quy định của pháp luật liên quan Đặc biệt là, chủ đầu tư cơ
sở xử lý chất thải rắn còn được chuyển nhượng cơ sở xử lý chất thải rắn và các công trình phụ trợ liên quan cho chủ đầu tư mới theo quy định của pháp luật
Tuy nhiên, chủ đầu tư mới phải có trách nhiệm thực hiện các trách nhiệm được quy định tại Điều 17 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP và quy định của pháp luật liên quan Ngược lại, chủ đầu tư mới cũng được hưởng những ưu đãi mà chủ đầu tư cũ được hưởng Ta có thể thấy rằng, quy định này thể hiện tính công bằng rất cao và nó còn là một trong những yếu tố để kích thích đầu tư Ngoài ra, trong quá trình vận hành thì chủ đầu tư cơ sở xử lý chất thải rắn cũng sẽ có những trách nhiệm tổ chức, vận hành cơ sở quản lý chất thải rắn theo nội dung của dự án đã được duyệt; có trách nhiệm nộp các khoản thuế, các nghĩa vụ tài chính cho nhà nước theo quy định của pháp luật Khi phát hiện sự cố môi trường, chủ đầu tư phải có trách nhiệm thực hiện các biện pháp khẩn cấp để bảo đảm an toàn cho người và tài sản; tổ chức cứu người, tài sản và kịp thời thông báo cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan chuyên môn
về bảo vệ môi trường nơi xảy ra ô nhiễm hoặc sự cố môi trường để phối hợp xử lý
Trang 27Còn trong trường hợp đóng bãi chôn lấp hoặc chấm dứt hoạt động của cơ sở
xử lý chất thải rắn, chủ đầu tư phải gửi công văn tới các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường để thông báo thời gian đóng bãi chôn lấp, chấm dứt hoạt động của các cơ sở xử lý chất thải rắn Ngay sau khi đóng bãi chôn lấp hoặc kết thúc hoạt động của cơ sở xử lý chất thải rắn, chủ đầu tư phải tiến hành phục hồi, cải thiện cảnh quan khu vực và phải có các biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm môi trường Chậm nhất sau 02 năm kể từ ngày đóng bãi chôn lấp và sau 01 năm kể từ ngày chấm dứt hoạt động của
cơ sở xử lý chất thải rắn, chủ đầu tư phải hoàn tất các thủ tục bàn giao lại đất cho nhà nước Bên cạnh đó, chủ đầu tư còn có trách nhiệm quan trắc môi trường, theo dõi biến động môi trường ít nhất sau 05 năm, kể từ ngày đóng bãi chôn lấp hoặc chấm dứt hoạt động của cơ sở xử lý chất thải rắn Kết quả quan trắc môi trường phải được thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường địa phương
Từ những quy định trên, đã thể hiện khá rõ trách nhiệm của chủ đầu tư Tuy nhiên, trách nhiệm của các chủ đầu tư như thế nào khi họ không thực hiện đúng nghĩa
vụ của mình thì lại không quy định rõ Ta có thể thấy rằng, bên cạnh một số trách nhiệm thì các chủ đầu tư được hưởng rất nhiều quyền lợi Các chủ đầu tư có thể đầu
tư thành lập hợp tác xã, hộ kinh doanh hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật để thực hiện việc thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn tại khu vực điểm dân cư nông thôn, làng nghề chưa có dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải rắn; được hưởng rất nhiều ưu đãi của Nhà nước Có thể nói, nhà nước ta đã rất ưu đãi đối với các chủ đầu tư trong tất cả các hoạt động quản lý nói chung và đầu tư trong hoạt động quản lý chất thải rắn nói riêng
Trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ nguồn chất thải rắn: như chúng ta đã biết thì chủ nguồn chất thải rắn là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có hoạt động làm phát sinh chất thải rắn Đối với cá nhân khi có hoạt động làm phát sinh chất thải rắn thông thường thì phải có các trách nhiệm và nghĩa vụ là phải bỏ chất thải rắn đúng quy định nơi công cộng Còn đối với các hộ gia đình thì phải phân loại chất thải rắn bằng các dụng cụ chứa hợp vệ sinh hoặc trong các túi có màu sắc phân biệt, đổ chất thải vào đúng nơi quy định; khi tiến hành các hoạt động cải tạo hoặc phá dỡ công trình xây dựng phải thực hiện đăng ký với các công ty môi trường đô thị hoặc ký hợp đồng trực tiếp với các đơn vị được phép vận chuyển chất thải rắn xây dựng để đổ chất thải đúng nơi quy định Các hộ gia đình tại các đô thị, làng nghề có tổ chức sản xuất tại nơi ở phải có trách nhiệm phân loại chất thải, hợp đồng với các chủ thu gom, vận chuyển,
xử lý chất thải rắn Riêng đối với các hộ gia đình tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa chưa có hệ thống thu gom phải thực hiện xử lý chất thải rắn theo hướng dẫn của chính quyền địa phương, không được đổ chất thải ra đường, sông ngòi, suối, kênh rạch và các nguồn nước mặt Các chất thải ở dạng bao bì chứa hóa chất độc hại hoặc
Trang 28sản phẩm hóa chất đã hết hạn sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp phải được lưu giữ trong các túi riêng, được thu gom, vận chuyển và xử lý riêng Đồng thời,
có nghĩa vụ nộp phí vệ sinh theo quy định của chính quyền địa phương
Đối với các cơ quan, cơ sở kinh doanh, dịch vụ, các cơ sở sản xuất công nghiệp, làng nghề khi có hoạt động làm phát sinh chất thải rắn thông thường thì phải thực hiện các trách nhiệm theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP Còn trong trường hợp chủ nguồn thải chất thải rắn nguy hại thì trách nhiệm và nghĩa vụ tương đối cao hơn Trách nhiệm của chủ nguồn thải chất thải rắn nguy hại bao gồm: thực hiện đăng ký với cơ quan nhà nước về bảo vệ môi trường của địa phương Đồng thời, phải phân loại, đóng gói, bảo quản và lưu giữ theo quy định
về quản lý chất thải rắn nguy hại tại cơ sở cho đến khi vận chuyển đến nơi xử lý theo quy định Các chất thải rắn nguy hại phải được dán nhãn, ghi các thông tin cần thiết theo quy định Như ta biết thì chất thải rắn nguy hại là các chất thải rắn có chứa các hợp chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính như phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ
ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác Vì thế, ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ nguồn thải chất thải rắn nguy hại là rất quan trọng trong hoạt động quản lý chất thải rắn Ta có thể thấy rằng, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ nguồn thải chất thải rắn đã được quy định khá rõ Tuy nhiên, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ nguồn thải chất thải rắn thông thường là cá nhân còn quá ít Cá nhân chỉ có trách nhiệm và nghĩa vụ là bỏ chất thải rắn đúng nơi quy định và cao hơn nữa cũng chỉ nộp các khoản phí vệ sinh Mặc dù, lượng chất thải rắn phát sinh từ một cá nhân thì có thể không đáng kể nhưng nếu hàng ngàn, hàng triệu cá nhân thì lượng chất thải này sẽ không hề nhỏ Do đó, để công tác quản lý chất thải rắn đạt hiệu quả cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm và nghĩa vụ của cá nhân khi có hoạt động làm phát sinh chất thải rắn Đồng thời, việc phối hợp của chủ nguồn thải với cơ quan có thẩm quyền trong việc kiểm soát và giảm thiểu chất thải rắn là rất cần thiết và ý nghĩa
Trách nhiệm của chủ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn: đối với chủ thu gom, vận chuyển chất thải rắn thông thường thì có trách nhiệm như sau: chủ thu gom, vận chuyển chất thải rắn phải có trách nhiệm bảo đảm thường xuyên yêu cầu nhân lực và phương tiện nhằm thu gom, vận chuyển toàn bộ chất thải rắn tại những địa điểm đã quy định Đặt các thùng lưu giữ chất thải rắn ở các nơi được quy định; cung cấp túi đựng chất thải cho các hộ gia đình, hướng dẫn cho các hộ gia đình,
tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải rắn thực hiện việc phân loại chất thải tại nguồn Thông báo rộng rãi về thời gian, địa điểm và tuyến thu gom chất thải rắn tại các điểm dân cư Thu gom, vận chuyển chất thải rắn đến vị trí đã được quy định Ngoài ra, phải chịu trách nhiệm về tình trạng rơi vãi chất thải rắn, phát tán mùi, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường trong quá trình thu gom, vận chuyển; chịu trách nhiệm đào tạo nghiệp
Trang 29vụ, trang bị bảo hộ lao động cho công nhân thu gom, vận chuyển chất thải rắn; chịu trách nhiệm tổ chức khám bệnh định kỳ cho người lao động trong tổ chức thu gom, vận chuyển chất thải rắn và các trách nhiệm khác theo quy định của hợp đồng dịch vụ công ích
Còn đối với chủ thu gom, vận chuyển chất thải rắn nguy hại thì trách nhiệm có phần nghiêm ngặt hơn Vì phải bảo đảm số lượng trang thiết bị thu gom, phương tiện vận chuyển và các trang thiết bị an toàn khác nhằm chuyển toàn bộ chất thải rắn nguy hại đến nơi quy định theo hợp đồng dịch vụ đã ký kết với các chủ nguồn thải Các trang thiết bị thu gom và phương tiện vận chuyển chất thải rắn phải bảo đảm yêu cầu
kỹ thuật khi vận hành, được đăng ký và cấp phép lưu thông trên các tuyến đường bộ hoặc đường thuỷ theo quy định của pháp luật về giao thông Đồng thời, phải sửa chữa, bảo trì và vệ sinh các trang thiết bị, phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải rắn Nhân lực quản lý và hoạt động trực tiếp trong quá trình thu gom, vận chuyển chất thải rắn phải đáp ứng yêu cầu năng lực, được đào tạo về quản lý và vận hành nhằm bảo đảm an toàn và vệ sinh môi trường trong quá trình hoạt động Mặt khác, lao động trực tiếp thu gom, vận chuyển chất thải rắn nguy hại phải được trang bị bảo hộ lao động, được khám bệnh định kỳ Chịu trách nhiệm về việc làm rơi vãi, rò rỉ, phát tán chất thải nguy hại ra môi trường
Vai trò và ý thức trách nhiệm của các chủ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn là rất quan trọng Giả sử, các chủ thu gom, vận chuyển và xử lý mà không có trách nhiệm thì chính việc thu gom, vận chuyển và xử lý đó sẽ là nguy cơ cho sự ô nhiễm và hậu quả đem lại sẽ nặng nề hơn Từ những phân tích trên, ta có thể thấy rằng không chỉ riêng gì cơ quan quản lý chất thải rắn mà các tổ chức, cá nhân khác cũng đóng một vai trò không nhỏ trong hoạt động quản lý chất thải rắn Do đó, cần phát huy hơn nữa vai trò và trách nhiệm của tất cả các chủ thể, các khâu trong hoạt động quản lý chất thải rắn Đặc biệt là, vai trò và trách nhiệm to lớn của toàn xã hội vì một đất nước sạch, không chất thải rắn Nhưng để phát huy vai trò và trách nhiệm của các chủ thể trong hoạt động quản lý chất thải rắn thì rất cần sự trợ giúp của các công
cụ trong hoạt động quản lý chất thải rắn
2.3 Các công cụ trong hoạt động quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
Như chúng ta đã biết, chất thải nói chung và chất thải rắn nói riêng là sự đồng hành tất yếu trong mọi hoạt động kinh tế và phát triển Trong điều kiện tiến bộ khoa học và công nghệ hiện tại và tương lai thì lượng chất thải nói chung và chất thải rắn nói riêng có xu hướng gia tăng cùng với sự gia tăng của sản xuất và tiêu dùng trong quá trình phát triển xã hội Sự gia tăng của chất thải rắn đã, đang và sẽ tiếp tục là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, suy thoái chất lượng môi trường,
đe dọa tính bền vững trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội Do đó, việc áp dụng
Trang 30hiệu quả các công cụ có tác dụng rất lớn trong hoạt động quản lý chất thải rắn ở nước
ta hiện nay Chúng ta có thể thấy một số công cụ phổ biến là luật, chính sách, công cụ hành chính; công cụ kinh tế và công cụ kỹ thuật
Luật, chính sách và công cụ hành chính: pháp luật về quản lý chất thải rắn
có thể được hiểu là một hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan đến chất thải rắn đối với cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và giữa các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường với nhau trong quy trình quản lý chất thải rắn nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng Với tư cách là phương tiện hàng đầu của quản lý nhà nước đối với chất thải rắn, pháp luật xác định địa vị pháp lý của các cá nhân, các tổ chức sản xuất kinh doanh có liên quan đến lĩnh vực chất thải rắn, tạo hành lang pháp lý để các chủ thể này tham gia vào các quan hệ khai thác, sử dụng các thành phần môi trường Đồng thời cũng thông qua pháp luật
mà Nhà nước với vai trò là chủ thể quản lý tạo ra môi trường thuận lợi, tin cậy và chính thức cho các hoạt động quản lý chất thải rắn trong phạm vi cả nước, cần kiểm soát tốt chất thải rắn ngay từ nguồn thải, thực hiện tốt các bước trong quy trình quản
lý chất thải rắn như thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu trữ, xử lý và tiêu hủy chất thải rắn Bên cạnh đó, pháp luật mục đích là tạo nên cơ sở pháp lý thống nhất, đồng
bộ, đảm bảo tính khả thi và môi trường công bằng
Như chúng ta biết, công cụ pháp luật có vai trò rất quan trọng trong việc quản
lý chất thải rắn vì một trong những mục đích của pháp luật trong quản lý chất thải rắn
là bảo vệ môi trường và sức khỏe của cộng đồng Thông qua vấn đề đặt ra các khung pháp lý quy định về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước về môi trường, quyền, nghĩa
vụ của các tổ chức cá nhân liên quan đến chất thải rắn Pháp luật quản lý chất thải rắn
đã phân định rõ quyền hạn cho các cơ quan Nhà nước giúp cho hoạt động quản lý của Nhà nước đối với vấn đề này đạt hiệu quả cao Đồng thời, pháp luật còn định hướng cho hành vi, xử sự của các chủ thể khi tham gia các hoạt động liên quan đến chất thải rắn Qua đó, ngăn ngừa và hạn chế việc gia tăng số lượng chất thải rắn vào môi trường, giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi của nó đối với sức khỏe con người cũng như môi trường sống
Ngoài luật thì các chính sách cũng đóng một vai trò không nhỏ trong việc quản
lý tổng hợp chất thải rắn Như ta biết, chính sách trong hoạt động quản lý chất thải rắn là sách lược và các chủ trương, biện pháp cụ thể để thực hiện đường lối và nhiệm
vụ quản lý chất thải rắn trong thời kì nhằm đem lại hiệu quả cao hơn nữa trong công tác quản lý chất thải rắn Bên cạnh công cụ luật và chính sách thì công cụ hành chính cũng rất quan trọng và cần thiết trong công tác quản lý tổng hợp chất thải rắn Công
cụ hành chính là những biện pháp mang tính chất giấy tờ, mệnh lệnh Chẳng hạn như các quy định xử phạt vi phạm hành chính hoặc các quy định hành chính về các thủ
Trang 31tục để cấp các giấy tờ Công cụ hành chính mục đích là để thực hiện và hỗ trợ cho việc thi hành cơ cấu luật và cơ cấu chính sách nhằm giúp cho hoạt động quản lý tổng hợp chất thải rắn tốt hơn và hiệu quả cao hơn Ta có thể thấy rằng, việc quy định của pháp luật về quản lí chất thải rắn là một trong những vấn đề vô cùng quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới con người và môi trường Thêm vào đó là ảnh hưởng đến hiệu quả trong công tác quản lý chất thải rắn Tuy nhiên, không phải trường hợp nào khi áp dụng luật, chính sách và công cụ hành chính đều đạt kết quả hết mà ta phải áp dụng một công cụ khác để kích thích các chủ thể tham gia quản lý chất thải rắn
Công cụ kinh tế: trong lĩnh vực quản lý môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn nói riêng thì một hệ thống các công cụ nhằm đem lại hiệu quả bảo vệ môi trường cũng như quản lý chất thải rắn cao nhất là rất cần thiết Nhằm hỗ trợ cho công tác quản lý môi trường cũng như trong công tác quản lý chất thải rắn nên các công cụ kinh tế đã được xây dựng và áp dụng Ta có thể hiểu, công cụ kinh tế là việc sử dụng lợi ích vật chất để kích thích hoặc bắt buộc các chủ thể thực hiện những hoạt động có lợi cho hoạt động quản lý chất thải rắn Công cụ này thực hiện thông qua hình thức thu phí chất thải đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh nhằm hạn chế lượng chất thải rắn có thể phát sinh ngay tại nguồn hoặc áp dụng thuế cao đối với những sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường hoặc sức khỏe con người ở mức độ cao; hỗ trợ vốn, miễn giảm thuế cho doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị công nghệ thân thiện môi trường… Công cụ kinh tế rất cần thiết và có hiệu quả phòng ngừa cao vì nó tác động trực tiếp tới nguồn thu nhập, lợi nhuận của doanh nghiệp
Trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn thì có hơn 90 công cụ kinh tế và được chia thành 03 nhóm chính10: nhóm công cụ tạo ra nguồn thu, nhóm công cụ kích thích sự đầu tư và nhóm các hành vi làm thay đổi hành vi Các công cụ kinh tế được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động tới hành vi ứng xử của nhà sản xuất có lợi cho môi trường Mỗi một công cụ kinh tế đều có tác dụng riêng của nó trong việc quản lý chất thải rắn Chẳng hạn như: nhóm công cụ tạo ra nguồn thu: mục đích của nhóm công cụ này là bảo vệ và cải thiện môi trường hoặc được sử dụng cho những mục đích khác Ta có thể thấy nguồn thu của nhóm công cụ này thường được tạo thông qua 03 phương tiện chính là thuế, phí và quỹ
Đối với nhóm công cụ kích thích đầu tư: như chúng ta biết thì tiết kiệm tiền là một trong những mục đích của nhà sản xuất Tiết kiệm tiền có thể thông qua việc giảm trọng lượng sản phẩm từ đó có thể giảm chi phí cho nguyên, nhiên liệu sản xuất
10
http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/nhung-cong-cu-kinh-te-trong-linh-vuc-quan-ly-chat-thai-ran.217244.html, [13/1/2011]
Trang 32cũng như chi phí vận chuyển Rõ ràng, giảm trọng lượng sản phẩm sẽ trực tiếp làm giảm chất thải rắn từ quá trình sản xuất và gián tiếp làm giảm chất thải rắn từ việc tiêu thụ Chi phí chôn lấp là một trong những động lực dẫn đến việc giảm thiểu chất thải Chôn lấp là phương pháp thải bỏ chất thải với giá thành thấp nhất Do đó, việc quản lý đối với vấn đề này phải chặt chẽ để tránh tình trạng chôn lấp một cách bừa bãi, tràn lan gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Hiện nay, ta thường được nghe đến một loại giấy phép có thể mua bán có tên
là Cota ô nhiễm Cota ô nhiễm là một loại giấy phép xả thải chất thải có thể chuyển nhượng mà thông qua đó, nhà nước công nhận quyền các nhà máy, xí nghiệp được phép thải các chất gây ô nhiễm vào môi trường Nhà nước xác định tổng lượng chất gây ô nhiễm tối đa có thể cho phép thải vào môi trường, sau đó phân bổ cho các nguồn thải bằng cách phát hành những giấy phép thải gọi là Cota gây ô nhiễm và chính thức công nhận quyền được thải một lượng chất gây ô nhiễm nhất định vào môi trường trong một giai đoạn xác định cho các nguồn thải Khi có mức phân bổ Cota gây ô nhiễm ban đầu, người gây ô nhiễm có quyền mua và bán Cota gây ô nhiễm Họ
có thể linh hoạt chọn lựa giải pháp giảm thiểu mức phát thải chất gây ô nhiễm với chi phí thấp nhất Sự khác nhau về chi phí đầu tư xử lý ô nhiễm sẽ thúc đẩy quá trình chuyển nhượng Cota gây ô nhiễm Thông qua chuyển nhượng, cả người bán và người mua Cota gây ô nhiễm đều có thể giảm được chi phí đầu tư cho mục đích bảo vệ môi trường, đảm bảo được chất lượng môi trường Tuy nhiên, Cota ô nhiễm chỉ áp dụng phổ biến ở các nước công nghiệp phát triển còn nước ta hiện tại vẫn là một nước nông nghiệp mà Cota ô nhiễm này đòi hỏi phải xác định rõ về nồng độ, lưu lượng chính xác của các đơn vị xả thải Đồng thời, đòi hỏi chúng ta phải có hệ thống quản lý chất lượng môi trường tốt về nhân lực lẫn kinh nghiệm Đó là một trong những nguyên nhân mà nước ta vẫn chưa ứng dụng và phải chờ một thời gian dài nữa thì mới hy vọng việc áp dụng các loại giấy phép này ở Việt Nam
Bên cạnh đó, việc áp dụng các công cụ làm thay đổi hành vi của các chủ thể cũng rất quan trọng và cần được đặc biệt quan tâm hơn nữa Vì không thể có một đất nước sạch nếu người dân không chịu hợp tác với các dịch vụ chất thải rắn được cung cấp Ví dụ như: một hệ thống thu gom được trang bị đầy đủ và hiện đại nhưng người dân không chấp nhận mà vẫn vứt rác bừa bãi ra đường, xuống sông một cách vô ý thức thì người viết tin rằng việc quản lý sẽ rất khó khăn Giả sử như một hay hai người thì ta còn xử lý nặng để răn đe nhưng đặt trường hợp hầu hết tất cả người dân đều không chịu hợp tác thì sao Chẳng lẽ, chúng ta phải xử lý hết tất cả những người dân vi phạm đó Như vậy, thì còn gì là trật tự xã hội nữa Do đó, biện pháp giáo dục, thực hiện các chiến dịch nâng cao nhận thức của người dân là mục tiêu chính của công cụ này Từ đó cho thấy, một số trường hợp khuyến khích thì các chủ thể không