1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp Luật Về Quan Hệ Kết Hôn Có Yếu Tố Nước Ngoài

65 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mặt quản lí, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản qui phạm pháp luật nhằm điều chỉnh và đáp ứng nhu cầu kết hôn có yếu tố nước ngoài như: Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Pháp lệnh h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Đề tài:

PHÁP LUẬT VỀ QUAN HỆ KẾT HÔN CÓ

YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS Bùi Thị Mỹ Hương Huê Duy Nguyên

Bộ môn: Luật kinh doanh và thương mại MSSV: 5075129

Lớp :Thương mại 2-Khóa 33

Cần Thơ, tháng 04 năm 2011

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

  

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 5

2 Phạm vi nghiên cứu 6

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Bố cục của đề tài 7

CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 8

1.1 Kết hôn có yếu tố nước ngoài và pháp luật điều chỉnh kết hôn có yếu tố nước ngoài

8 1.1.1 Kết hôn có yếu tố nước ngoài 8

1.1.1.1 Khái niệm kết hôn 8

1.1.1.2 Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài 8

1.1.2 Pháp luật điều chỉnh kết hôn có yếu tố nước ngoài 9

1.2 Lịch sử phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam 10

1.2.1 Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 10

1.2.2 Giai đoạn năm 1946 đến năm 1959 11

1.2.3 Giai đoạn năm 1959 đến năm 1986 13

1.2.4 Giai đoạn năm 1986 đến năm 2000 14

1.2.5 Giai đoạn từ năm 2000 đến nay 15

1.3 Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 16

1.3.1 Yếu tố chủ thể 16

1.3.2 Yếu tố khách thể 18

1.3.3 Yếu tố sự kiện pháp lý 19

1.4 Phương pháp điều chỉnh 19

1.4.1 Phương pháp xung đột 20

1.4.2 Phương pháp thực chất 21

1.5 Các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 22

1.5.1 Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài 22

1.5.2 Nguyên tắc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 23

1.5.3 Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài 25

1.5.4 Nguyên tắc áp dụng pháp luật Việt Nam 26

1.6 Các nguyên tắc chuyên biệt 26

1.6.1 Nguyên tắc luật quốc tịch 27

1.6.2 Nguyên tắc luật nơi cư trú 27

1.6.3 Nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi 28

1.7 Nguồn luật điều chỉnh 29

1.7.1 Pháp luật quốc gia 29

1.7.2 Điều ước quốc tế 30

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 32

2.1 Kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam 32

2.1.1 Thẩm quyền giải quyết việc kết hôn 32

2.1.2 Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn 33

2.1.2.1 Về điều kiện kết hôn 33

2.1.2.2 Về nghi thức kết hôn 38

2.1.2.3 Về thủ tục kết hôn có yếu tố nước ngoài 40

Trang 4

2.2 Kết hôn có yếu tố nước ngoài theo điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc

tham gia 44

2.2.1 Thẩm quyền giải quyết việc kết hôn 44

2.2.2 Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn 44

2.2.2.1 Về điều kiện kết hôn 45

2.2.2.2 Về nghi thức kết hôn 45

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG TỒN TẠI TRONG KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 47

3.1 Thực trạng về kết hôn có yếu tố nước ngoài 47

3.1.1 Tác động của kết hôn có yếu tố nước ngoài 47

3.1.2 Các yếu tố tác động đến việc kết hôn có yếu tố nước ngoài 48

3.1.2.1.Kết hôn vì tình yêu chân chính 48

3.1.2.2.Kết hôn vì mục đích kinh tế 49

3.1.2.3 Kết hôn theo phong trào 49

3.1.2.4 Kết hôn do môi giới bất hợp pháp 50

3.1.2.5 Kết hôn vì những nguyên nhân khác 50

3.1.3 Các tồn tại xung quanh kết hôn có yếu tố nước ngoài 51

3.1.3.1 Tồn tại về mặt chủ thể 51

3.1.3.2 Tồn tại về mặt rào cản ngôn ngữ 52

3.1.3.3 Tồn tại trong việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ Việt Nam sau khi kết hôn 53

3.1.3.4 Tồn tại về các qui định của pháp luật 54

3.1.4 Những hệ lụy phát sinh 56

3.2 Giải pháp khắc phục những hạn chế trong kết hôn có yếu tố nước ngoài 57

3.2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục 57

3.2.2 Tăng cường công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động… 61

3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các qui định về kết hôn có yếu tố nước ngoài

60

KẾT LUẬN 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Quan hệ hôn nhân được xây dựng trên nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng

Ngày nay, cùng với sự hội nhập, hợp tác quốc tế, việc kết hôn cũng đã vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ quốc gia, vượt ra khỏi phạm vi quốc tịch Quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, với người Việt Nam định cư ở nước ngoài ngày càng phổ biến và gia tăng về số lượng Theo thống kê chưa đầy đủ, hàng năm có rất nhiều trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Về mặt quản lí, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản qui phạm pháp luật nhằm điều chỉnh và đáp ứng nhu cầu kết hôn có yếu tố nước ngoài như: Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Pháp lệnh hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài năm 1993, Nghị định 184/CP ngày 30 tháng 11 năm 1994 của Chính phủ qui định về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu công dân Việt Nam với người nước ngoài Tiếp đến là ngày 09 tháng 6 năm 2000, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thay thế Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; Chính phủ ban hành Nghị định số 68/2002/NĐ-CP và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 qui định chi tiết về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài… Các văn bản trên đây ngày càng góp phần hoàn thiện những qui định của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội và tạo điều kiện cho mọi công dân thực hiện quyền tự do kết hôn Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành vẫn còn tồn tại những thiếu sót bất cập trong quá trình áp dụng Từ đó cho thấy, việc không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng luôn là nhiệm vụ thường xuyên ở nước ta

Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, trên thực tế, đã mang lại nhiều giá trị

và ý nghĩa tích cực trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần tạo nên sự giao lưu hội nhập toàn diện trong đời sống quốc tế Với những giá trị tích cực như vậy, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một quan hệ bình thường rất được hoan nghênh từ phía nhà nước và xã hội Tuy nhiên, kết hôn có yếu tố nước ngoài cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế, tiêu cực trong xã hội Kết hôn có yếu tố nước ngoài đã

có lúc, có nơi trở thành phong trào, trở thành đối tượng kinh doanh, người phụ nữ trở thành hàng hóa của cuộc mua bán Những thành phần mà xã hội gọi là “cò mồi” đã thừa cơ hội thực hiện hành vi môi giới, lừa đảo, làm mất trật tự xã hội Nhiều trường hợp kết hôn rõ ràng là vi phạm đạo đức, trái với truyền thống tốt đẹp của dân tộc; không nhằm mục đích xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc,và bền vững Thậm chí, có nhiều trường hợp, phẩm giá và nhân cách của người phụ nữ Việt Nam bị xâm phạm nghiêm trọng Tuy những trường hợp đó không phải là phổ biến nhưng đã tạo ra sự phẫn nộ trong dư luận xã hội, xúc phạm lòng tự tôn dân tộc của người Việt Nam Thực trạng đó tồn tại và phát triển theo chiều hướng phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến đường lối, chủ trương, chính sách đối nội và đối ngoại của Nhà nước

Trang 6

Có thể nói, tình hình công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, đặc biệt

là phụ nữ Việt Nam kết hôn với công dân Đài Loan, Hàn Quốc đang được dư luận xã hội hết sức quan tâm, có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau khi đánh giá thực trạng này, trong sự tác động về mặt xã hội, về khía cạnh pháp lí và đạo đức Chính điều này

đã đặt ra cho pháp luật và xã hội nhiều vấn đề cần quan tâm giải quyết Đó là, làm thế nào để vừa đảm bảo quyền tự do kết hôn của công dân, đảm bảo quan hệ đối ngoại với các quốc gia trên thế giơi không bị ảnh hưởng xấu; đồng thời đảm bảo trật tự xã hội trong nước, hạn chế và ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực trong kết hôn có yếu tố nước ngoài

Vì những lí do trên, người viết chọn đề tài “Pháp luật về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài” làm luận văn tốt nghiệp của mình Đề tài này sẽ đề cập đến tình

trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở những thực trạng nghiên cứu được, đề tài sẽ đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm đóng góp cho các qui định hiện hành Thông qua đề tài này, người đọc sẽ nhìn nhận vấn đề kết hôn

có yếu tố nước ngoài một cách bao quát

2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn này, bên cạnh việc tập trung nghiên cứu những vấn đề

lí luận chung về kết hôn có yếu tố nước ngoài, người viết còn phân tiến hành phân tích những qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành và những qui định của các điều ước quốc tế là những Hiệp định tương trợ tư pháp điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài làm cơ sở pháp lí cho đề tài nghiên cứu Đồng thời, trong quá trình thực hiện đề tài, người viết còn tìm hiểu và phân tích những vấn đề mang tính thực tiễn xung quanh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài

3 Mục đích nghiên cứu

Hiện là sinh viên năm cuối, sắp rời giảng đường đại học, người viết mong muốn mình có thể hiểu kĩ hơn về kết hôn có yếu tố nước ngoài Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, xu hướng giao lưu dân sự quốc tế đã trở nên phổ biến hơn bao giờ hết

Vì vậy, mục tiêu nghiên cứu của người viết là nhằm giúp chúng ta có thể hiểu

rõ hơn những qui định của pháp Việt Nam và điều ước quốc tế về kết hôn có yếu tố nước ngoài trên các phương diện: áp dụng pháp luật, phân định thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến điều kiện kết hôn, trình tự thủ tục tiến hành đăng kí kết hôn… Bên cạnh đó, người viết có thể đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

+ Phương pháp phân tích luật viết: phân tích những qui định của pháp luật hiện hành điều chỉnh việc kết hôn có yếu tố nước ngoài, sau đó đánh giá, tổng hợp kết hợp với hệ thống hóa các cơ sở lí luận để có thể nhìn nhận một cách đầy đủ diễn biến của quan hệ pháp luật kết hôn có yếu tố nước ngoài

+ Phương pháp so sánh, đối chiếu: đối chiếu lí luận với thực tiễn, qua đó đúc kết từ thực tiễn tinh thần chung theo luật và đề ra phương hướng khắc phục những vướng mắc còn tồn tại trong quá trình thi hành pháp luật

+ Ngoài ra, khi tiến hành thực hiện luận văn, người viết đã tiến hành thu thập một số thông tin trên internet, báo chí, sách, giáo trình của một số trường đại học có liên quan đến vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài Vì vậy, để cho việc nghiên cứu một cách nhanh chóng, chính xác, hiệu quả, người viết còn sử dụng một số phương

Trang 7

pháp khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp liệt kê, phương pháp diễn dịch, phương pháp qui nạp…

5 Bố cục của đề tài

Đề tài được sắp xếp thành 3 chương Nội dung chính của các chương được bố trí như sau:

+ Chương 1 Lí luận chung về kết hôn có yếu tố nước ngoài

+ Chương 2 Những qui định của pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài + Chương 3 Thực trạng và giải pháp khắc phục những tồn tại trong kết hôn có yếu tố nước ngoài

Thực trạng và giải pháp khắc phục những tồn tại của kết hôn có yếu tố nước ngoài là một đề tài rộng và phức tạp Với vốn kiến thức hạn hẹp, nhất là chưa từng trãi nghiệm thực tế nên chắn chắc người viết sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, khuyết điểm Vì vậy người viết kính mong nhận được từ quí thầy cô, nhà chuyên môn, cùng tất cả những người quan tâm đế vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam những ý kiến đóng góp, cũng như những lời phê bình, nhận xét để vấn đề này được nhìn nhận toàn diện hơn

Trang 8

CHƯƠNG 1

LÍ LUẬN CHUNG VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

1.1 Kết hôn có yếu tố nước ngoài và pháp luật điều chỉnh kết hôn có yếu tố

nước ngoài

1.1.1 Kết hôn có yếu tố nước ngoài

1.1.1.1 Khái niệm kết hôn

Theo quan điểm Mác – Lênin, gia đình được coi là đơn vị tổ chức nhỏ nhất của

xã hội, là tế bào của xã hội, có tác động tích cực thúc đẩy xã hội phát triển Bởi vì gia đình là đơn vị nhỏ nhất của xã hội nên gia đình gắn liền với đời sống, hạnh phúc của mỗi cá nhân, ghóp phần quan trọng vào sản xuất, đào tạo con người Tiền đề của gia đình chính là hôn nhân

“Hôn nhân là quan hệ vợ chồng sau khi đã kết hôn” 1 Như vậy kết hôn là sự

kiện là điểm khởi đầu cho cuộc sống vợ chồng; bắt đầu quá trình lao động, sản xuất của gia đình và tái sản xuất của con người

Theo quan điểm truyền thống, kết hôn là việc gia đình hai bên nam, nữ tổ chức

lễ cưới theo phong tục tạp quán, được gia đình, họ hàng thừa nhận Khi đó, hai bên nam, nữ chính thức và công khai bắt đầu cuộc sống vợ chồng, tạo lập một gia đình mới Từ khi nhà nước điều chỉnh quan hệ hôn nhân bằng pháp luật, việc kết hôn phải tuân theo những qui định mà pháp luật đặt ra Vì vậy, dưới những gốc độ khác nhau, khái niệm kết hôn được hiểu theo nhiều cách khác nhau

Dưới góc độ xã hội, dân gian, kết hôn được định nghĩa như sau: “Kết hôn là lấy nhau làm vợ chồng”2 Với cách hiểu này, quan hệ hôn nhân được xác lập theo những điều kiện, thủ tục do phong tục tạp quán qui định hoặc theo những nghi thức và ảnh hưởng của tôn giáo, chưa có sự can thiệp và điều chỉnh của nhà nước và pháp luật

Dưới góc độ Luật học, kết hôn được định nghĩa như sau: “Kết hôn là sự liên kết giữa một người đàn ông và người đàn bà thành vợ chồng được pháp luật công nhận”3

Ở đây, quan niệm về kết hôn được nhìn nhận trên cơ sở khoa học pháp lí Việc kết hôn trước hết phải là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà, với mục đích xác lập quan hệ vợ chồng Đồng thời quan hệ này phải được pháp luật công nhận, tức là phải có sự quản lí và điều chỉnh của Nhà nước và pháp luật

Theo qui định tại khoản 2 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 định

nghĩa: “Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo qui định của pháp luật

về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn” Đây là lần đầu tiên Luật hôn nhân và gia đình

đưa ra định nghĩa chính thức về khái niệm này Theo đó kết hôn chỉ có thể là sự kết hợp giữa người nam và người nữ, pháp luật không thừa nhận quan hệ giữa những người có cùng giới tính Việc xác lập quan hệ vợ chồng phải tuân thủ đầy đủ các qui định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn Các bên có thể tuân thủ hay không tuân thủ các điều kiện, qui định của phong tục tạp quán hay của tôn giáo nhưng bắt buộc phải tuân thủ các điều kiện và nghi thức do pháp luật qui định Như vậy, kết hôn chính là sự thừa nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc xác lập quan hệ vợ chồng của những người khác giới, làm phát sinh giữa quyền và nghĩa

vụ pháp lí giữa họ với nhau

1.1.1.2 Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài

Trang 9

Hiện nay, do sự phát triển của các mối quan hệ giao lưu dân sự quốc tế - kết quả tất yếu từ quá trình thực hiện chính sách “hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới”4 của Đảng và Nhà nước ta, các quan hệ hôn

nhân có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn bề sâu 5 Lí giải điều này là do hành lang pháp lí ngày càng trở nên thông thoáng để thực hiện chính sách hội nhập của Đảng và Nhà nước, các chủ thể là người nước ngoài dễ dàng đến Việt Nam sinh sống và làm ăn Ở chiều ngược lại, công dân Việt Nam cũng có thể ra nước ngoài học tập, làm việc Vì thế, giữa nam và nữ có điều kiện ở gần nhau, từ đó, tình cảm giữa họ có điều kiện nảy sinh

Việc điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng, ngày càng trở nên quan trọng và cấp bách nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ được quyền lợi ích của công dân Việt Nam cũng như công dân của tất cả các nước tham gia vào mối quan hệ này

Việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài không chỉ phụ thuộc vào pháp luật trong nước mà còn phụ thuộc vào pháp luật nước ngoài và các điều ước quốc tế mà các nước kí kết hoặc gia nhập cũng như các tạp quán quốc tế

Để điều chỉnh quan hệ này, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam định nghĩa thế nào là kết hôn có yếu tố nước ngoài?

Trên cơ sở kế thừa các qui định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có đề cập đến vấn đề kết hôn và

quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Theo khoản 2 điều 8 thì Kết hôn là việc nam

và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo qui định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn; bên cạnh đó, theo khoản 14 điều 8 thì Quan hệ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình:

a) Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài;

b) Giữa người nước với nhau thường trú tại Việt Nam

c) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài

Từ những qui định trên đây, có thể biết được kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo qui định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn thuộc một trong các trường hợp: Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; Giữa người nước với nhau thường trú tại Việt Nam; Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài

1.1.2 Pháp luật điều chỉnh kết hôn có yếu tố nước ngoài

Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài chịu sự tác động của hệ thống các qui phạm pháp luật do nhà nước đặt ra hoặc các qui định của các điều ước quốc tế do quốc gia kí kết hoặc gia nhập, nhằm đảm bảo cho chúng phát triển phù hợp với ý chí và quyền lợi của mình Pháp luật với tư cách là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội luôn tác động và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống xã hội Cũng như pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội khác, pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài vừa thể hiện tính giai cấp vừa thể hiện tính xã hội Tuy nhiên, xuất phát từ đối tượng điều chỉnh của quan hệ pháp luật này là kết hôn có yếu tố nước ngoài, đã vượt

Trang 10

quá phạm vi điều chỉnh của hệ thống luật quốc gia nên pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài mang những đặc điểm riêng

Khác với pháp luật nói chung, pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là pháp luật được lựa chọn để điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội nhất định – đó là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Pháp luật được lựa chọn này có thể là pháp luật quốc gia hoặc có thể là điều ước quốc tế do hai hay nhiều nước kí kết Đây là những phương tiện để bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước, của xã hội và của các bên tham gia vào quan hệ pháp luật này Pháp luật này bao gồm tổng thể các qui phạm xung đột và qui phạm thực chất Qui phạm xung đột là qui phạm pháp luật ấn định luật của nước nào cần phải áp dụng để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong tình huống thực tế, còn qui phạm thưc chất là qui phạm qui định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các chủ thể Trong các qui phạm pháp luật đó, qui phạm xung đột là loại qui phạm cơ bản điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Từ những phân tích trên, có thể nêu khái niệm về pháp luật điều chỉnh quan hệ

kết hôn có yếu tố nước ngoài như sau: “ Pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu

tố nước ngoài là tổng thể các nguyên tắc, qui phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau được lựa chọn để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phát sinh trong đời sống quốc tế” 6

1.2 Lịch sử phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam

1.2.1 Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Trước năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình thời kì này được điều chỉnh bởi các qui phạm được qui định trong một số Bộ luật dân sự, tiêu biểu là hai bộ luật là Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ

Quốc triều hình luật hay còn gọi là Bộ Luật Hồng Đức, được ban hành dưới

triều nhà Hậu Lê Bộ luật Hồng Đức là một công trình luật học vĩ đại đã kế thừa các di sản pháp luật của các đời vua trước, đồng thời tiếp thu có gạn lọc Bộ luật nhà Đường ở Trung Quốc, mà vẫn giữ được nét độc đáo của nền luật cổ Việt Nam, giữ được phong tục tập quán lâu đời và truyền thống văn hóa dân tộc 7

Hoàng Việt luật lệ, còn gọi là Bộ luật Gia Long, ban hành vào đầu thời nhà

Nguyễn (1815) Tuy nhiên, ngay từ khi ban hành, bộ luật này đã có nhiều qui định lạc hậu hơn so với Bộ luật Hồng Đức

Hai bộ luật này qui định khá cụ thể việc điều chỉnh quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình nói chung và quan hệ pháp luật về kết hôn nói riêng

Dưới thời Pháp thuộc, đất nước ta bị chia cắt thành ba kì là Bắc Kì, Trung Kì và Nam Kì Sau khi xâm lược Việt Nam và đặt ách đô hộ ở Nam Kì, thực dân Pháp đã

ban hành Bộ dân luật giản yếu Nam Kì áp dụng ở Nam Kì và ba thành phố lớn ở Việt Nam là Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng Bộ dân luật Bắc Kì được ban hành vào ngày

30/03/1931 theo Nghị định của Thống sứ Bắc Kì để thi hành trên toàn Bắc Kì từ ngày

01/07/1931 thay cho Bộ luật Gia Long Hoàng Việt Trung Kì hộ luật được ban hành

vào năm 1939 thi hành trên toàn Trung Kì Tuy nhiên, pháp luật dân sự trong thời kì này có những mặt hạn chế nhất định Một trong những mặt hạn chế đó là các qui định

Trang 11

về hôn nhân và gia đình, kết hôn, li hôn… mang nặng tư tưởng phong kiến, đề cao nho giáo, trọng nam khinh nữ

Trong thời kì Pháp thuộc, mặc dù có ba Bộ luật điều chỉnh các quan hệ dân sự nói chung, quan hệ hôn nhân gia đình nói riêng ở cả ba miền Bắc – Trung – Nam nhưng không có Bộ luật nào có các qui phạm qui định một cách cụ thể quan hệ kết hôn

có yếu tố nước ngoài Thực tế trong gần một thế kỉ dưới sự đô hộ của thực dân Pháp,

có không ít trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài, đặc biệt là các trường hợp liên quan đến người Pháp

Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng, hôn nhân và gia đình nói chung, trong thời kì Pháp thuộc tại Việt Nam không được qui định trong các Bộ luật dân sự cũng như các văn bản qui phạm pháp luật khác ở Việt Nam lúc bấy giờ cũng là dễ

hiểu Bởi vì quyền lợi của công dân Pháp trong quan hệ hôn nhân với dân “xứ An Nam” được coi là rất quan trọng, mà vấn đề quan trọng thì pháp luật của nước thuộc

địa đương nhiên sẽ không được sử dụng để điều chỉnh

Như vậy, có thể thấy rằng:

Thứ nhất, trong thời kì phong kiến, xuất phát từ chính sách đối ngoại “bế quan

tỏa cảng, chính sách kinh tế “ức thương” nên các Bộ luật dân sự thời kì này không thực sự có qui định điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, hoặc nếu có thì

chỉ là những qui định cấm đoán Ví dụ như qui định tại điều 71, chương Cấm vệ trong

Quốc triều hình luật: “Nếu kết vợ chồng với người nước ngoài phải chịu lưu đi châu

xa, đôi vợ chồng ấy phải li dị và bắt về nước”8

Thứ hai, trong thời kì Pháp thuộc, nước ta đã manh nha có quan hệ với các

nước như Trung Quốc, các nước Đông Nam Á, các nước phương Tây nhưng “quan hệ ngoại giao của nước ta vẫn còn bó hẹp, quan hệ ngoại thương cũng rất hạn chế, chưa

có ngoại thương song phương”9 Pháp luật thời kì này bắt đầu có một số qui về vấn đề hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhưng chủ yếu là điều chỉnh vấn đề quốc tịch

1.2.2 Giai đoạn năm 1946 đến năm 1959

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02/09/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Từ đây, đất nước ta thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp

Trong giai đoạn này, lần đầu tiên văn bản pháp lí có giá trị cao là Hiến pháp đề cập gián tiếp đến quan hệ kết hôn, đó là bản Hiến pháp 1946 Bản Hiến pháp này được Quốc Hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thông qua ngày 09/11/1946 Điều 9

Hiến pháp này qui định: “Đàn bà ngang quyên với đàn ông về mọi phương diện” Mọi

phương diện ở đây được hiểu là tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đây người phụ nữ Việt Nam ta đã có quyền thực hiện mọi công việc như nam giới, điều mà họ bị

xã hội cũ tước đoạt qua hàng ngàn năm lịch sử Có thể nói, đây là một nội dung tiến

bộ, thể hiện bản chất tốt đẹp của một xã hội văn minh, xã hội mà trong đó mọi người được bình đẳng ở mọi lĩnh vực, trong đó đương nhiên là có quan hệ kết hôn

Ngày 22/05/1950, Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa kí sắc lệnh

97-SL qui định sửa đổi một số qui lệ và chế định dân luật Sau khi đã đưa ra một số qui định tiến bộ điều chỉnh các quan hệ dân sự, trong đó có quan hệ hôn nhân và gia đình Sắc lệnh số 97-SL đã tuyên bố bãi bỏ việc thi hành các qui định trái với các nguyên tắc

Trang 12

tiến bộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình Điều 14 Sắc lệnh 97-SL qui định: “Tất cả các qui định trong Dân luật Bắc Kì, Dân pháp điển Trung Kì, Pháp qui giản yếu 1883 (Sắc lệnh ngày 3 tháng 10 năm 1883) thi hành ở Nam Kì, và những luật lệ theo sau, trái với những điều khoản trên này đều bị bãi bỏ”

Sắc lệnh 97-SL đã đưa ra nhiều qui định khá chi tiết về quan hệ hôn nhân nói chung, quan hệ kết hôn nói riêng, với những điều khoản rất tiến bộ Ví dụ như qui định tại điều 2 Sắc lệnh này: “Người con đã thành niên không bắt buộc phải có cha mẹ bằng lòng mới kết hôn được”

Sự ra đời của Sắc lệnh số 97-SL đã xóa bỏ những qui định lạc hậu trong ba bộ Dân luật trước đó, đồng thời ghi nhận những nội dung tiến bộ điều chỉnh quan hệ hôn nhân nói chung, quan hệ kết hôn nói riêng Trong giai đoạn này, các vấn đề liên quan đến kết hôn sẽ tuân theo qui định của Sắc lệnh số 97-SL Tuy nhiên, tất cả các qui phạm trong văn bản này, không có một điều khoản nào ghi nhận việc điều chỉnh quan

hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Tuy chưa có văn bản riêng điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình điều chỉnh vấn

đề kết hôn có yếu tố nước ngoài nhưng vấn đề này đã được đề cập trong các văn bản điều chỉnh những quan hệ pháp luật khác Ví dụ, trong Sắc lệnh số 53-SL ngày 20/10/1945 về Quốc tịch Việt Nam Điều 5, điều 6 Sắc lệnh này đã công nhận một thực tế khách quan là có tồn tại quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, tức là tồn tại quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Hiến pháp 1959 là cơ sở pháp lí quan trọng để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung, quan hệ kết hôn nói riêng, trong thời kì này thời kì này Tuy vậy, vẫn chưa có qui định cụ thể điều chỉnh trực tiếp quan

hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Nhìn chung, pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân nói chung, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng trong giai đoạn này có các những đặc điểm sau:

Thứ nhất, pháp luật trong nước về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài còn

đơn giản, chưa được tập hợp thành hệ thống, chưa điều chỉnh đầy đủ các quan hệ đó Ngoài các văn bản hướng dẫn về đường lối xét xử của tòa án nhân dân tối cao đối với các vụ việc có yếu tố nước ngoài, nhà nước ta chủ trương chưa ban hành văn bản pháp luật riêng để điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nươc ngoài mà chỉ điều chỉnh quan hệ hôn nhân trong nước theo Hiến pháp 1946 – Hiến pháp đã ghi nhận nam nữ bình đẳng với nhau về mọi mặt Đó là cơ sở pháp lí quan trọng để xây dựng chế độ hôn nhân mới, dân chủ và tiến bộ ở ta Ngoài ra, trong thời kì này quan hệ hôn nhân còn được điều chỉnh theo một số sắc lệnh Các sắc lệnh đã xóa bỏ những qui định lạc hậu về kết hôn của chế độ thực dân phong kiến, ghóp phần giải phóng phụ nữ, thúc đẩy xã hộ phát triển

Thứ hai, quan hệ hợp tác giữa nước ta thời kì này và các nước xã hội chủ nghĩa

khác mới bắt đầu kiến lập và dần được cũng cố Bên cạnh sự giúp đỡ về chính trị, kinh

tế và khoa học kĩ thuật, các nước còn tiếp nhận đào tạo nhiều công dân Việt Nam ở nhiều ngành nghề khác nhau Thời kì này, Việt Nam bắt đầu gửi sang Liên Xô và các nước Đông Âu nhiều công dân để học tập, nghiên cứu Đồng thời, Việt Nam cũng tiếp nhận nhiều chuyên gia, cán bộ của các nước đến cộng tác, giúp đỡ và huấn luyện cho cán bộ Việt Nam Trong bối cảnh đó, các quan hệ có yếu tố nước ngoài phát sinh, đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh Mặc dù vậy, vấn đề điều chỉnh quan hệ hôn nhân

có yếu tố nước ngoài cũng chưa thật sự là một vấn đề cấp bách Nhưng chính nhờ đó

Trang 13

đã nảy sinh khả năng tiềm tàng cho sự phát triển tiếp tục các xu hướng điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong các giai đoạn sau 10

1.2.3 Giai đoạn năm 1959 đến năm 1986

Trong giai đoạn này, bản Hiến pháp mới của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã được Quốc hội thông qua tại kì họp thứ 11, ngày 31/12/1959 tiếp tục khẳng định và ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ Xuất phát từ tình hình quan hệ hôn nhân và gia đình trong thời kì mới, Luật hôn nhân và gia đình đã được Quốc hội thông qua tại kì họp thứ 11, ngày 29/12/1959 và được Chủ tịch nước kí sắc lệnh số 02/SL công bố ngày 13/01/1960 Về quan hệ hôn nhân, luật đã điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng Tuy nhiên, luật hôn nhân gia đình năm 1959 không có qui phạm điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn này có sự phát triển nhất định so với giai đoạn trước, biểu hiện ở một số nội dung sau:

+ Pháp luật trong nước đã điều chỉnh một số quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Ở Miền Bắc, trong năm 1961 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04 ngày 16/01/1961 kèm theo điều lệ về đăng kí hộ tịch, trong đó qui định các vấn đề sinh, tử, kết hôn Ngày 21/06/1961, Bộ Nội vụ ban hành thông tư 05/NV hướng dẫn thi hành Điều lệ đăng kí hộ tịch nói trên Tuy nhiên, trong văn bản pháp luật này chưa điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đầy đủ nhưng những qui định đó sẽ là nền tảng cở bản để giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Ở Miền Nam, dưới sự cai trị của chế độ Ngụy quyền miền Nam, các quan hệ dân sự nói chung và quan hệ hôn nhân nói riêng trong thời kì này vẫn chịu sự điều chỉnh của Pháp qui giản yếu 1883 cho đến năm 1959 Dưới sự cai trị của chính quyền Ngô Đình Diệm, ngày 02/01/1959, Luật gia đình của chính quyền họ Ngô được ban hành Về mặt pháp lí, luật gia đình này đã chấm dứt sự điều chỉnh của Pháp qui giản yếu 1883 đối với các quan hệ hôn nhân trong khu vực tạm thời nằm trong sự cai trị của chính quyền Ngụy quyền ở Miền Nam

Tháng 11/1963 chính quyền họ Ngô bị lật đổ, chính quyền bù nhìn mới lên thay

đã ban hành Sắc luật số 15/64 thay cho luật gia đình 1959

Ngày 20/12/1972 Bộ dân luật được ban hành Bộ luật này đã thay thế Sắc luật 15/64 cùng những văn bản sửa đổi bổ sung sắc luật này trước đó

Về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Bộ dân luật qui định tại

điều 125 như sau: “Trong trường hợp hôn thú lập ở ngoại quốc, trong vòng ba tháng sau khi trở về lãnh thổ Việt Nam, người có quốc tịch Việt Nam phải xuất trình một bản sao chứng thư hôn thú cũ nhất là ba tháng gửi cho biện lí tòa án nơi trú ngụ Biện lí sẽ

ra lệnh đăng kí vào sổ giá thú đương nhiên và ghi chú vào lề chứng thư khai sinh của đương sự, ở sổ chánh cũng như sổ kép”

Nhìn chung các văn bản pháp luật dưới chế độ ngụy quân, ngụy quyền miền Nam là các văn bản có nội dung đi ngược lại với lợi ích của quốc gia và dân tộc Mặc

dù đã xóa bỏ chế độ đa thê nhưng vẫn thể hiện nguyên tắc bất bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa các con trong và ngoài giá thú, cấm vợ chồng li hôn

Sau khi đã thống nhất đất nước, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước ngày càng được mở rộng Trong bối cảnh có nhiều công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập nghiên cứu, học tập và làm việc, cũng như có nhiều chuyên gia nước ngoài vào

10

TS Nông Quốc Bình, TS Nông Hồng Bắc, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kì hội nhập quốc tế, Nxb Tư Pháp, 2006, trang 148.

Trang 14

Việt Nam đã làm phát sinh ngày càng nhiều các quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, đòi hỏi phải có pháp luật điều chỉnh Để xử lí vấn đề này, nước ta đã kí kết nhiều Hiệp định tương trợ tư pháp (HĐTTTP) với các nước như Cộng Hòa Dân Chủ Đức (1980), Liên Xô (1981), Tiệp Khắc (1982), Cu Ba (1984), Hungari (1985), Bungari (1986) Các Hiệp định này đã tạo lập một khung pháp lí khá hoàn chỉnh để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân có liên quan giữa hai nước kí kết với nhau Song song với việc kí kết các HĐTTTP, nhà nước cũng ban hành một số văn bản để điều chỉnh một số vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài riêng lẻ 11

+ Đã kí kết các hiệp định tương trợ tư pháp với một số nước Ngoài quan hệ hợp tác quốc tế với các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, Việt Nam đã dần mở rộng quan hệ với các nước khác, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài cũng dần phức tạp hơn Tuy vậy trong giai đoạn này, các HĐTTTP chỉ được kí kết giữa các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, có nội dung cơ bản giống nhau Các HĐTTTP này đã điều chỉnh khá toàn diện các vấn đề về quan hệ hôn nhân như: quan hệ kết hôn, quan hệ li hôn… Vấn đề xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền được giải quyết khá cụ thể Việc thiết lập quan

hệ điều ước quốc tế như vậy cũng đặt ra khả năng đàm phán và kí kết với các nước khác những hiệp định tương tự và cũng đặt ra yêu cầu cần thiết hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong những

giai đoạn sau

1.2.4 Giai đoạn năm 1986 đến năm 2000

Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta bước sang một thời kì mới, chuyển dần sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trước những thay đổi to lớn của đất nước, Nhà nước ta đã kịp thời ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh những quan hệ mới phát sinh

Ngày 29/12/1986, Luật hôn nhân và gia đình đã được Quốc hội thông qua Luật này có nhiều qui định phù hợp với sự phát triển của đất nước Luật đã dành riêng một chương để điều chỉnh về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Về phần kết hôn được qui định với nội dung như sau:

Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên tuân theo những qui định của pháp luật nước mình về kết hôn Nếu việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tiến hành ở Viêt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo những qui định tại điều 5, điều 6, điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam Trường hợp đã có hiệp định tương trợ tư pháp về hôn nhân và gia đình giữa Việt Nam và nước ngoài thì tuân theo những qui định đó

Có thể nói việc dành riêng một chương trong Luật hôn nhân và gia đình năm

1986 để qui định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là một bước phát triển quan trọng trong công tác lập pháp ở nước ta về lĩnh vực này Nó không những thể hiện sự quan tâm của nhà nước đến vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài,

mà còn thể hiện một xu thế thời đại là qui định của pháp luật Việt Nam đã bước đầu có những nội dung phù hợp với pháp luật quốc tế và tạp quán quốc tế trong quan hệ hôn nhân

Năm 1993 Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 02/12/1993 và có hiệu lực thi hành ngày 01/03/1994 Đây là văn bản riêng biệt đầu tiên điều chỉnh một phần quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Trong đó lần đầu tiên qui định áp

11

TS Nông Quốc Bình, TS Nông Hồng Bắc, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kì hội nhập quốc tế, Nxb Tư Pháp, 2006, trang 154.

Trang 15

dụng tạp quán quốc tế để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Để qui định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định 184-CP ngày 30/11/1994 về thủ tục kêt hôn, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài Việc ban hành Nghị định 184-CP đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng trong việc thực hiện tốt công việc của mình

Bên cạnh sự ra đời của các văn bản pháp luật nêu trên, trong giai đoạn

1993-2000 một số văn bản pháp luật khác điều chỉnh lĩnh vực này cũng được ban hành Đó

là Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/1993, Pháp lệnh Thi hành án dân sự được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông quan ngày 21/04/1993, Bộ luật dân sự năm

1995, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998, Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng kí hộ tịch

Khi nghiên cứu pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn 1986-2000 có những nhận xét sau:

Việt Nam đã xây dựn được hệ thống pháp luật khá đầy đủ, đồng bộ, qui định tương đối chi tiết điều chỉnh các vấn đề thuộc quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Các văn bản này đã ghóp phần quan trọng vào việc thực hiện chính sách đối ngoại mở rộng của nhà nước ta trong thời kì mới, tăng cường cũng cố các mối quan hệ hữu nghị,

ổn định các mối quan hệ xã hội phát sinh hết sức đa dạng và phức tạp trong thời kì mở cửa

Về mặt quản lí nhà nước, các văn bản pháp lí này đã định ra cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Tư pháp với Ủy ban nhân dân tỉnh trong giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, đưa công tác này vào nền nếp, khắc phục những bất cập trước đây

1.2.5 Giai đoạn từ năm 2000 đến nay

Trước thực tế khách quan của các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ kết hôn

có yếu tố nước ngoài nói riêng phát sinh ngày càng đa dạng và phức tạp, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được ban hành để điều chỉnh các quan hệ đó Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993, Nghị định 184/CP và các văn bản hướng dẫn thi hành

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng dành một chương để qui định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Chương này gồm có 7 điều từ Điều 100 đến Điều 106 Các điều luật đã xác định rõ các nguyên tắc, cách giải quyết các xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Sự ra đời của Luật Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đã đáp ứng được yêu cầu thực tế trong việc giải quyết các vấn đề hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Nó có phạm vi điều chỉnh rộng hơn so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993 Cụ thể là việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam Đặt biệt, Luật hôn nhân và gia đình 2000 có đề cập đến việc có qui định riêng áp dụng cho vùng biên giới trong quan

hệ pháp luật này (Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình 2000)

Điểm chung nhất của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 trong điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là xu hướng áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực này Bên cạnh đó, thẩm quyền giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cũng có tính rõ ràng

Trang 16

và tính khả thi hơn so với luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và Pháp lệnh năm 1993

Để qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, cần phải ban hành nghị định mới thay thế nghị định số 184/NĐ-CP, bởi vì qua 6 năm thi hành nghị định này đã bộc lộ một số tồn tại bất cập,

đó là :

+ Thời điểm xây dựng nghị định chúng ta chưa có điều kiện khảo sát, so sánh pháp luật pháp luật về thủ tục với các nước, mà chỉ mới xuất pháp từ thực tiển trong nước, trong khi đó đối tượng điều chỉnh của Nghị định 184/NĐ-CP/ rất rộng, chủ thể nước ngoài tham gia vào quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam rất đa dạng, đến từ nhiều nước Điểm này đưa đến tình trạng khi áp dụng pháp luật phát sinh vướng mắc pháp lí do sự khác biệt về hệ thống pháp luật giữa Việt Nam và nước có liên quan

+ Các qui định trong của Nghị định 184/CP chưa mang tính dự liệu cao 12 Nhiều qui định của Nghị định này còn chung chung, đòi hỏi các bộ, ngành có liên quan phải ban hành các thông tư liên tịch để hướng dẫn áp dụng một cách thống nhất

Ngoài ra, trong quá trình tổ chức, thực hiện ở một số tỉnh có hiện tượng buông lỏng quản lí, tạo điều kiện cho các hành vi vi pham pháp luật phát sinh

Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình 2000 về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được thông qua Ngày 16/12/2002, Bộ Tư pháp ra Thông tư

số 07/2002/TT-BTP hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số

68/2002/NĐ-CP Các văn bản pháp lí này đã tạo điều kiện cho việc áp dụng dễ dàng và thống nhất các qui định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Như vậy, cùng với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đã được hình thành và phát triển qua từng giai đoạn lịch sử Sự phát triển của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đã phản ánh khách quan xu thế đối ngoại của nhà nước ta trong lĩnh vực này Các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bằng các văn bản pháp luật có giá trị pháp lí cao, đó là Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, tiếp đó là Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Ngoài ra, các quan hệ này còn được điều chỉnh bằng các hiệp định song phương mà Nhà nước ta kí kết với các nước Các hiệp định này đã đánh dấu những bước phát triển mới trong quan hệ quốc tế giữa nước

ta với các nước liên quan trong nhiều lĩnh vực, ghóp phần mở rộng quan hệ pháp lí quốc tế, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của công dân, tạo môi trường pháp lí thuận lợi trong việc hợp tác giải quyết nhiều vấn đề pháp lí phực tạp và đa dạng, trong đó có quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

1.3 Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Thực tiễn cho thấy, yếu tố nước ngoài trong quan hệ kết hôn đã làm cho việc điều chỉnh mối quan hệ này có khác so với việc điều chỉnh quan hệ kết hôn trong nước thuần túy, cụ thể là quan hệ pháp luật này bị phức tạp hóa bởi yếu tố nước ngoài

Vì vậy, cần phải xác định yếu tố nước ngoài trong mối quan hệ dân sự này Thực tế ở các nước, người ta dựa vào một trong ba dấu hiệu sau đây để xác định yếu tố nước ngoài Các dấu hiệu đó là: yếu tố chủ thể, yếu tố khách thể, yếu tố sự kiện pháp lí làm

phát sinh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Trang 17

Khi nói đến vấn đề xác định tư cách chủ thể trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, trong thực tiễn pháp luật Việt Nam thường căn cứ vào hệ thuộc luật nhân thân của đương sự, tức là dựa vào yếu tố cư trú của đương sự hoặc dựa vào yếu tố quốc tịch của đương sự Vấn đề này được xác định như sau:

Theo khoản 14 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì chủ thể trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là: công dân Việt Nam (bao gồm công dân Việt Nam ở trong nước và cư trú ở nước ngoài) và người nước ngoài (người nước ngoài bao gồm công dân nước ngoài và người không quốc tịch) Căn cứ theo qui định này thì yếu tố chủ thể có thể được chia thành hai trường hợp như sau:

Trường hợp thứ nhất, chủ thể là công dân Việt Nam

Chủ thể là công dân Việt Nam được xác định như sau: Theo qui định tại Điều

49 Hiến pháp năm 1992 thì “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” Như vậy có thể thấy được, một trong những cơ sở pháp

lí quan trọng để xác định tư cách chủ thể trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

là quốc tịch của các bên chủ thể tham gia vào quan hệ kết hôn Bởi vì, quốc tịch thể hiện sự lệ thuộc của một cá nhân vào một nhà nước, là tiền đề pháp lí bắt buộc để cá nhân đó được hưởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ công dân của mình đối với nhà nước, đồng thời, cá nhân đó phải chịu sự chi phối, quản lí, tác động về mọi mặt của nhà nước mà mình mang quốc tịch Ở Việt Nam, vấn đề quốc tịch qui định trong Luật quốc tịch Việt Nam được ban hành ngày 28/11/2008 Theo qui định của Luật này thì người mang quốc tịch Việt Nam là người: được sinh ra mà có cha mẹ đều là công dân Việt Nam, không kể người đó sinh ra trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam (Điều 15); là người được sinh ra trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam mà có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam còn người kia không rõ là ai (khoản 1 Điều 16); là người được sinh ra có cha hoặc mẹ

là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con Trường hợp người được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì người đó có quốc tịch Việt Nam (khoản 2 Điều 16); là người được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha

mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam (khoản 1 Điều 17); là người được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam (khoản 2 Điều 17); là người dưới 15 tuổi bị

bỏ rơi được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam ( Điều 18) Ngoài ra, theo qui định của Luật Quốc tịch Việt Nam 2008, xác định quốc tịch Việt Nam còn có những căn cứ sau:

+ Các trường hợp được nhập quốc tịch Việt Nam, điều này thể hiện trong Luật quốc tịch Việt Nam 2008, từ Điều 18 đến Điều 22;

+ Các trường hợp được trở lại quốc tịch Việt Nam, điều này thể hiện trong Luật quốc tịch Việt Nam 2008, từ Điều 23 đến Điều 25;

+ Các trường hợp căn cứ theo Luật quốc tịch Việt Nam 2008, tại Điều 35, Điều 37;

+ Các trường hợp căn cứ theo Điều ước quốc tế mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia

Khi tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, trước tiên công dân Việt Nam cần phải có năng lực chủ thể theo pháp luật Việt Nam Nói đến năng lực chủ thể tức là nói đến năng lực pháp luật và năng lực hành vi được xác định trên cơ sở

Trang 18

pháp luật dân sự Việt Nam Đây là những thuộc tính pháp lí, là những đặc trưng không thể thiếu của các chủ thể pháp luật Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân

sự được xác định tại Điều 14, Điều 17 Bộ luật dân sự 2005

Trường hợp thư hai, chủ thể là người nước ngoài

Ngoài công dân Việt Nam là chủ thể cơ bản của quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thì người nước ngoài cũng là chủ thể cơ bản trong quan hệ này Khái niệm người nước ngoài được sử dụng trong nhiều văn bản khác nhau của nhà nước ta Ở Việt Nam, người nước ngoài được hiểu là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch Theo giải thích thuật ngữ

“quốc tịch nước ngoài” tại khoản 1, Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam 2008 thì “Quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam”

Theo đó, người có quốc tịch nước ngoài là người có quốc tịch của một nước khác mà không phải là quốc tịch Việt Nam Khái niệm người nước ngoài còn được qui định tại Điều 9 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về quan hệ hôn nhân và

gia đình có yếu tố nước ngoài như sau: “Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm công dân nước ngoài và người không quốc tịch” Theo qui

định này thì người nước ngoài còn bao gồm người không quốc tịch Theo khoản 2

Điều 3, Luật quốc tịch Việt Nam 2008 thì: “Người không quốc tịch là người không có quôc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài” Giống như chủ thể là

công dân Việt Nam thì chủ thể là người nước ngoài khi tham gia vào quan hệ kết hôn với công dân Việt Nam thì người nước ngoài đó phải có năng pháp luật và năng lực hành vi dân sự Theo điều 761 Bộ luật dân sự 2005 thì năng lực pháp luật dân sự của

cá nhân là người nước ngoài thì được xác định theo pháp luật của nước mà người đó mang quốc tịch, người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có qui định khác Theo điều 762 Bộ luật dân sự 2005 thì năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định thep pháp luật của nước mà người đó là công dân, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có qui định khác Khi người nước ngoài thực hiện, xác lập các giao dịch dân

sự tại Việt Nam thì năng lực chủ thể của người đó được xác định theo pháp luật của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ các giao dịch dân sự của người nước ngoài, trong đó có quan hệ hôn nhân, khi người nước ngoài đó có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo qui định của pháp luật Việt Nam Qua đó, có thể thấy rằng, Việt Nam sử dụng nguyên tắc luật quốc tịch để xác định năng lực pháp lực và năng lực hành vi của chủ thể Bên cạnh đó, năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài, trong một số trường hợp còn được xác

định theo pháp luật Việt Nam

đảm bảo cho hôn nhân sau này tồn tại lâu bền Quyền nhân thân giữa các đương sự

tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài chiếm vị trí hàng đầu trong hệ thống pháp luật điều chỉnh mối quan hệ đó Vì vây, khi nói đến khách thể của quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài cần nhấn mạnh đến quyền nhân thân của các đương sự

Trang 19

Trong pháp luật Việt Nam, xung đột pháp luật phát sinh đối với quyền nhân thân của các đương sự tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thường được giải quyết theo nguyên tắc luật nhân thân (lex personalis) của đương sự Ở Việt Nam, tùy vào từng trường hợp cụ thể mà pháp luật Việt Nam cho phép lựa chọn áp dụng luật quốc tịch (lex patriae) hay áp dụng luật nơi cư trú (lex domicile) của chủ thể

để giải quyết Việc lựa chọn luật nào điều chỉnh xung đột pháp luật về quyền nhân thân của các chủ thể trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phải xuất phát từ thực

tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đồng thời phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể

Ngoài ra, xung đột pháp luật về quyền nhân thân của các đương sự tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài còn được điều chỉnh theo nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi (lex loci actus) Nghiên cứu các qui phạm xung đột của Việt Nam điều chỉnh quyền nhân thân giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam cho thấy, xung đột pháp luật về quyền nhân thân giữa các chủ thể phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam (ví dụ khoản 3 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) Tranh chấp về quyền nhân thân giữa các chủ thể mà một bên là công dân Việt Nam còn bên kia là công dân nước ngoài mà Việt Nam đãn kí kết điều ước quốc tế sẽ được điều chỉnh theo qui

phạm được ghi nhận trong các điều ước quốc tế đó

1.3.3 Yếu tố sự kiện pháp lý

Theo lí luận về nhà nước và pháp luật thì “sự kiện pháp lý là những sự kiện thực tế mà sự xuất hiện hay mất đi của chúng được pháp luật gắn với việc hình thành, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật Sự kiện pháp lí có thể coi là cầu nối giữa qui phạm pháp luật và quan hệ pháp luật”13

Sự kiện pháp lí trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài phải là sự kiện pháp lí xảy ra ở nước ngoài Nó có thể là sự kiện, hành vi phù hợp với pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài Trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, sự kiện pháp lí có thể là một sự biến hay một hành vi làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm

dứt quan hệ này Trong kết hôn có yếu tố nước ngoài, sự kiện pháp lí chính là sự kiện làm xác lập quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Có thể nêu ví dụ trường hợp hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở nước ngoài, trước cơ quan thẩm quyền của nước ngoài Trong trường hợp này, pháp luật được áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lí liên quan như xác định điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn của các bên sẽ là pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài Thông thường, pháp luật Việt Nam sẽ điều chỉnh điều kiện kết hôn đối với công dân Việt Nam dựa trên dấu hiệu quốc tịch của họ, còn pháp luật nước ngoài sẽ điều chỉnh nghi thức kết hôn dựa trên nguyên tắc chọn pháp luật nơi tiến hành kết hôn Hôn nhân này được coi là hợp pháp khi các bên chủ thể đủ điều kiện kết hôn theo luật pháp của nước mà mình mang quốc tịch, đồng thời nghi thức kết hôn của hôn nhân này phù hợp với pháp luật của nơi tiến hành kết hôn

1.4 Phương pháp điều chỉnh

Phương pháp điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là phương pháp xung đột và phương pháp thực chất Hai phương pháp này được kết hợp hài hòa và tác động tương hỗ nhau trong điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nhằm đảm bảo một trật tự pháp lí dân sự quốc tế ổn định trong điều kiện hội nhập hiện nay

13

PGS.TS Lê Minh Tâm, Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Tư Pháp, 2004, trang 447

Trang 20

1.4.1 Phương pháp xung đột

Phương pháp xung đột là phương pháp điều chỉnh gián tiếp, chủ yếu dựa vào các qui tắc được ấn định để áp dụng pháp luật của một nước được chỉ định nhằm giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phát sinh thông qua các qui phạm xung đột pháp luật14 Phương pháp xung đột được hình thành và phát triển trên nền tảng hệ thống các qui phạm xung đột của quốc gia và các qui phạm xung đột trong các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên Qui phạm xung đột là qui phạm pháp luật ấn định luật của nước nào cần phải áp dụng để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong tình huống thực tế

Như vậy, các qui phạm xung đột không trực tiếp qui định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài này sẽ được điều chỉnh như thế nào mà chỉ qui định pháp luật của nước nào cần được áp dụng để điều chỉnh quan hệ cụ thể đó Vì vậy, có thể nói qui phạm xung đột là là loại qui phạm dẫn chiếu Theo sự dẫn chiếu của qui phạm xung đột, các cơ quan có thẩm quyền chọn được hệ thống pháp luật tối ưu để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

Ví dụ đoạn 1 khoản 1 Điều 103 Luật hôn nhân và gia đình 2000 qui định:

“Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn”

Nội dung của qui định trên đây không điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc kết hôn mà chỉ qui định chọn pháp luật để áp dụng Theo qui định này, mỗi bên phải tuân theo pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn; trong trường hợp kết hôn trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn

Từ ví dụ trên đây, chúng ta có thể thấy được tính gián tiếp của phương pháp xung đột được thể hiện ở việc dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật áp dụng, còn việc điều chỉnh cụ thể ra sao thì hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung pháp luật của nước mà được qui phạm xung đột dẫn chiếu đến

Qui phạm xung đột có cơ cấu khác với các qui phạm pháp luật thường gặp khác Qui phạm pháp luật phổ biến thường được cấu thành từ ba bộ phận là giả định, qui định, chế tài Tuy nhiên, qui phạm xung đột chỉ được cấu thành từ hai bộ phận là: phần phạm vi (tương đương với phần giả định) và phần hệ thuộc (tương đương phần qui định) Để giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực kết hôn có yếu tố nước ngoài, các nước thường sử dụng một số kiểu hệ thuộc (qui tắc lựa chọn pháp luật) cơ

bản sau: hệ thuộc luật nhân thân (lex personalis) gồm hai biến dạng là hệ thuộc luật quốc tịch (lex patriae) và hệ thuộc luật nơi cư trú (lex domicili); hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi (lex loci astus) Một điểm đặc biệt là không có qui phạm xung đột nào

có phần chế tài

Trong khoa học pháp lí các nước phân chia qui phạm xung đột thành các loại khác nhau Xét về mặt kĩ thuật xây dựng qui phạm, qui phạm xung đột được phân chia thành hai loại: đó là qui phạm xung đột một bên (là qui phạm chỉ ra quan hệ dân sự chỉ áp dụng pháp luật của một nước cụ thể) và qui phạm xung đột hai bên (là qui phạm định ra nguyên tắc chung để cơ quan tư pháp có quyền lựa chọn luật của một nước nào

đó sẽ áp dụng để điều chỉnh quan hệ tương ứng)

Qui phạm xung đột còn được phân thành các loại: qui phạm xung đột trong nước và qui phạm xung đột trong điều ước quốc tế hoặc được phân loại theo các nhóm quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh hoặc dựa theo tính chất của qui phạm xung đột

14

Hoàng Phước Hiệp và Lê Hồng Sơn, Các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2001,tr 233

Trang 21

Qui phạm xung đột được ghi nhận trước hết trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia Ở Việt Nam, qui phạm xung đột được ghi nhận trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và một số văn bản pháp luật khác Ngoài ra, qui phạm xung đột còn được ghi nhận trong các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam và các nước đã kí kết

Phương pháp xung đột được áp dụng khá phổ biến để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Phương pháp này áp dụng thông qua phương pháp xung đột Qui phạm xung đột là qui phạm pháp luật đặc biệt, nó không qui định trực tiếp quyền

và nghĩa vụ của chủ thể tham gia quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài mà nó chỉ ra pháp luật của nước nào được áp dụng để điều chỉnh mối quan hệ này

1.4.2 Phương pháp thực chất

Phương pháp thực chất là phương pháp điều chỉnh trực tiếp, chủ yếu dựa vào việc sử dụng các qui phạm thực chất để giải quyết quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài trong pháp luật của từng nước, qui định rõ quyền và nghĩa vụ cụ thể cho các chủ thể trong quan hệ này, bằng cách định ra các qui phạm thực chất thống nhất 15 Qui phạm thưc chất là qui phạm qui định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các chủ thể Qui phạm này được áp dụng để giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo hai trường hợp sau:

Một là, khi qui phạm thực chất được pháp luật qui định áp dụng để điều chỉnh

quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thì các qui định điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam cũng sẽ được áp dụng cho người nước ngoài tại Việt Nam

Hai là, trong trường hợp có qui phạm xung đột dẫn chiếu đến, mà khi phát sinh

quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thì vấn đề chọn luật điều chỉnh được đặt ra Việc chọn pháp luật áp dụng sẽ được tiến hành dựa vào nội dung của qui phạm xung đột Nếu qui phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật của nước nào thì pháp luật của nước

đó sẽ được áp dụng Khi áp dụng pháp luật của nước dẫn chiếu thì thực chất là áp dụng các qui phạm trong pháp luật nước đó mà chủ yếu là áp dụng qui phạm thực chất

Việc dẫn chiếu của qui phạm xung đột để chọn pháp luật áp dụng bao gồm cả dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba Trường hợp dẫn chiếu ngược xảy ra khi qui phạm xung đột của pháp luật nước thứ nhất dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ hai, trong khi đó pháp luật của nước thứ hai lại có qui phạm xung đột dẫn chiếu ngược lại pháp luật nước thứ nhất, thì pháp luật của nước thứ nhất được áp dụng Trường hợp dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba xảy ra khi pháp luật của nước thứ nhất có qui phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ hai, trong khi đó pháp luật nước thứ hai lại có qui phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba thì pháp luật của nước thứ ba được áp dụng Trong các trường hợp dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba thì qui phạm pháp luật qui định trong pháp luật được qui phạm xung đột dẫn chiếu đến để điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là các qui phạm thực chất

Qui phạm thực chất có thể được xây dựng trong các điều ước quốc tế gọi là qui phạm thực chất thống nhất Việc xây dựng các qui định thực chất trong các điều ước quốc tế điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng là hết sức cần thiết Nó làm hài hòa sự khác biệt trong pháp luật của các quốc gia và có tính chất đơn giản hóa, hữu hiệu hóa trong điều chỉnh các quan hệ dân sự nói chung và quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng Khi các quốc gia kí kết với nhau về các điều ước quốc tế, trong

đó có qui phạm thực chất thống nhất, cơ quan có thẩm quyền sẽ chiếu theo đó để xem

15

Hoàng Phước Hiệp và Lê Hồng Sơn, Các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 233

Trang 22

xét và giải quyết thực chất vấn đề trên cơ sở áp dụng ngay qui phạm đó Việc áp dụng các qui phạm thực chất sẽ loại trừ vấn đề phải chọn luật và cả vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài

Qui phạm thực chất còn được xây dựng trong luật quốc gia Loại qui phạm này gọi là qui phạm thực chất thông thường Qui phạm thực chất của từng quốc gia trực tiếp điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài không chỉ có trong pháp luật Việt Nam mà ngay cả trong pháp luật nước ngoài cũng có loại qui phạm này

Như vậy, để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, các quốc gia thường sử dụng phương pháp xung đột và phương pháp thực chất, với các qui phạm xung đột (bao gồm qui phạm xung đột thống nhất, qui phạm xung đột thông thường)

và qui phạm thực chất (bao gồm qui phạm thực chất thống nhất, qui phạm thực chất thông thường) Các loại qui phạm này cùng tồn tại, hỗ trợ cho nhau, với những chức năng khác nhau điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Có thể nói, sự thống nhất trong cơ cấu hệ thống các qui phạm xung đột và qui phạm thực chất là nền tảng cần thiết của hai phương pháp điều chỉnh để giải quyết một loại quan hệ pháp luật

đó là quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

1.5 Các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là những nguyên lí, tư tưởng chỉ đạo các qui phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn

có yếu tố nước ngoài Ở Việt Nam, các nguyên tắc này được qui định trong Hiến pháp, các văn bản qui phạm pháp luật, đặc biệt là Luật hôn nhân và gia đình 2000 Ngoài các nguyên tắc được qui định tại Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình 2000 còn có các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài sau:

1.5.1 Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Theo nguyên tắc này, việc các bên chủ thể tham gia vào quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là quyền dân sự Do vậy, quyền này sẽ được tôn trọng và bảo vệ Điều này được qui định rõ ở khoản 1 Điều 100 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000:

“Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các qui định của pháp luật Việt Nam

và các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia” Thực tế, các biện pháp bảo vệ quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước

ngoài được qui định trong Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 Bộ luật này dành cả chương XV (từ Điều 146 đến Điều 152) qui định về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình Theo đó, các hành vi vi phạm sẽ tùy theo mức độ nghiêm trọng

mà bị xử lí với những tội danh có những khung hình phạt khác nhau Việc áp dụng các tội danh với các cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình là hết sức quan trọng, đảm bảo cho các qui định của pháp luật về hôn nhân và gia đình được thực thi một cách nghiêm chỉnh

Ngoài các biện pháp xử lí hình sự, thì Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 của Chính phủ qui định về Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Đây là các qui định cần thiết nhằm triển khai thi hành luật hôn nhân

và gia đình Nghị định này đã qui định cụ thể các hành vi vi phạm pháp luật, hình thức

xử phạt, mức xử phạt và người có thẩm quyền xử phạt nhằm phân định rõ ranh giới giữa vi phạm hành chính và phạm tội hình sự Việc xác định rõ ranh giới này rất quan trọng, có tác dụng tránh được tình trạng bỏ sót các hành vi vi phạm pháp luật mà không bị xử lí, đồng thời cũng không hình sự hóa đối với các quan hệ hôn nhân và gia đình

Trang 23

Do đó, các chủ thể khi tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nếu

bị vi phạm thì chủ thể đó có thể sử dụng các biện pháp bảo vệ mà pháp luật cho phép như yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi cho mình Các biện pháp bảo vệ quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài phải là các biện pháp phù hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia Một điểm cần chú ý, điều ước quốc tế có giá trị ưu tiên hơn so với pháp luật trong nước, tức là trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam có kí kết hoặc tham gia qui định khác với pháp luật Việt Nam thì qui định của điều ước quốc tế đó được áp dụng

1.5.2 Nguyên tắc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Nguyên tắc này xuất phát từ qui định tại Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000:

“1 Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan hệ hôn nhân và gia đình

có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia

2 Trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác

3 Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế

4 Các quy định của Chương này cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân

và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài”

Qui định này vừa có ý nghĩa như một tuyên ngôn của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo về quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, vừa là cơ sở pháp lí để tòa án vận dụng nhằm giải quyết các vụ việc cụ thể khi cần thiết Nội dung của qui phạm này có một số điểm quan trọng sau:

Thứ nhất, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố thừa nhận,

tôn trọng và bảo vệ các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài trên cơ sở pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc gia nhập Như vậy:

+ Quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài không bị hạn chế, ngăn cản hay cấm đoán dưới bất kì hình thức nào, mà được nhà nước tôn trọng, thừa nhận và bảo vệ bằng nhiều biện pháp thích hợp

+ Quan hệ hôn nhân giữa người nước ngoài với nhau trên lãnh thổ Việt Nam cũng được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo vệ, phù hợp với pháp luật Việt Nam

và điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia Tuy nhiên, xuất phát từ mục tiêu bảo đảm trật tự an toàn xã hội, Nhà nước Việt Nam không thừa nhận các quan hệ hôn nhân của người nước ngoài tại Việt Nam nếu các quan hệ đó trái với các nguyên tắc của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

Thứ hai, trong quan hệ kết hôn với công dân Việt Nam, người nước ngoài tại

Việt Nam được hưởng các quyền và có những nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp Việt Nam có qui định khác Đây là tuyên bố của nhà nước Việt Nam về việc áp dụng chế độ đãi ngộ như công dân Việt Nam với người nước ngoài trong quan

hệ kết hôn với công dân Việt Nam Như vậy, về nguyên tắc, có thể nói trong quan hệ kết hôn, người nước ngoài ở Việt Nam được hưởng những quyền và gánh chịu nghĩa

Trang 24

vụ tương đối ngang bằng với công dân Việt Nam, trừ trường hợp văn bản pháp luật của Việt Nam có qui định khác

Trong một số trường hợp liên quan đến chính sách của Đảng, lợi ích của Nhà nước hoặc để bảo đảm vấn đề an ninh quốc gia mà người nước ngoài tại Việt Nam không được hưởng các quyền và lợi ích ngang bằng với công dân Việt Nam trong quan hệ kết hôn

Thứ ba, bên cạnh việc thừa nhận và bảo hộ quyền lợi của công dân nước ngoài,

Nhà nước tuyên bố bảo hộ quyền lợi của công dân Việt Nam trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại và điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia

Qui định này có ý nghĩa rất quan trọng, nó tạo cơ sở pháp lí thống nhất để Nhà nước tiến hành bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Hiện nay có khoảng 3 triệu người Việt đang sinh sống ở nước ngoài, định cư trên 80 quốc gia trên thế giới16 ,vì nhiều nguyên nhân khác nhau, như học tập, làm ăn…Đa số họ đều giữ quốc tịch Việt Nam nhưng cũng nhập tịch nước ngoài Địa vị pháp lí của người Việt Nam định cư ở nước ngoài do nước sở tại qui định Ngoài ra, địa vị pháp lí của họ còn được qui định trong pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia hoặc kí kết Việc bảo vệ quyền lợi của công dân định cư ở nước ngoài được thực hiện thông qua cơ quan đại diện ngoại giao, là cơ quan đại diện của nước ta ở nước ngoài

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến người Việt Nam định cư ở nước ngoài Điều này được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam 1992 sửa đổi bổ sung năm 2000

Điều 75 Hiến pháp này qui định như sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ

phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam, giữ

quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước”

Và khái niệm “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” cũng được giải thích rõ trong Luật quốc tịch Việt Nam 2008 Căn cứ theo Điều 3 của Luật này thì: “ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” Đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, Nhà nước Việt Nam có

chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để họ giữ được mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, ghóp phần xây dựng đất nước, đồng thời Nhà nước cũng có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người mất quốc tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam Khi công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, quyền và lợi ích hợp pháp của họ được pháp luật Việt Nam bảo hộ Trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, vấn đề bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài được thực hiện tại cơ đại diện ngoại giao

đã được pháp luật về hôn nhân và gia đình nước ta ghi nhân Cụ thể, khoản 2 Điều 102

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 qui định như sau: “ Cơ quan đại diện ngoại giao,

Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc đăng ký kết hôn, giải quyết các việc về nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật này, các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà

16

Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia, http://vi.wikipedia.org/wiki/Việt_kiều, [ngày truy nhập 11/01/2011]

Trang 25

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia, nếu việc đăng ký, giải quyết đó không trái với pháp luật của nước sở tại; có trách nhiệm thực hiện việc bảo

hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ”

Như vậy, trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, dù họ là người Việt Nam hay là người nước ngoài Việc thực hiện quyền lợi của các bên đều được thực hiện trên cơ sở các qui định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của Việt Nam, và các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia Việt Nam cũng bày tỏ thái độ kiên quyết đấu tranh chống các hành vi lợi dụng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngòa nhằm mục đích ngoài hôn nhân, như mua bán, bốc lột sức lao động, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì các mục đích trục lợi khác

1.5.3 Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài

Theo nguyên tắc này, thì việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài phải không trái với pháp luật Việt Nam

Điều 101 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam qui định như sau: “Trong trường hợp Luật này, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam có quy định hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia viện dẫn thì pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc quy định trong Luật này”

Để điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, các quốc gia cần phải xây dựng qui phạm xung đột trong hệ thống pháp luật nước mình và trong các điều ước quốc tế mà nước đó là thành viên Khi có qui phạm xung đột dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật nước ngoài để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam sẽ áp dụng hệ thống pháp luật của nước được viện dẫn để điều chỉnh quan hệ kết hôn này Việc áp dụng pháp luật nước ngoài

để giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là hết sức cần thiết Bởi vì nó sẽ đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự

Căn cứ theo qui định của điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thì pháp luật nước ngoài sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài khi:

Một là, được Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hoặc các văn bản pháp luật

khác của Việt Nam (Pháp lệnh, nghị định,…) qui định Chẳng hạn, theo qui định tại

điều 103 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì “trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn” Như vậy, trong quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người

nước ngoài, thì pháp luật nước ngoài mà người đó là công dân sẽ được áp dụng để xem xét điều kiện kết hôn của công dân nước đó

Hai là, khi điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia viện dẫn Các

điều ước quốc tế đó có thể là điều ước song phương hoặc đa phương Trong các điều ước quốc tế thường qui định những qui phạm thống nhất làm cơ sở cho việc lựa chọn pháp luật áp dụng để giải quyết các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Thực tiễn cho thấy, các qui phạm được qui định trong điều ước quốc tế có giá trị pháp lí cao hơn pháp luật của quốc gia Vì vậy, trong trường hợp mà điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia có qui định khác với qui định của Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản pháp luật khác của Việt Nam thì qui định của điều ước quốc tế đó sẽ được áp dụng

Trang 26

Ba là, pháp luật nước ngoài chỉ được áp dụng nếu việc áp dụng hoặc hậu quả

của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Đây là qui định có tính nguyên tắc trong việc áp dụng pháp luật nước ngoài, nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật nước ngoài không ảnh hưởng xấu đến đạo đức, thuần phong mỹ tục, đến chế độ hôn nhân và gia đình… trong xã hội Việt Nam Nguyên tắc này thường được gọi là “bảo lưu trật tự công cộng” trong khoa học luật Tư pháp quốc tế Nguyên tắc này được các quốc gia áp dụng nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền và trật

tự xã hội của quốc gia đó Nguyên tắc này thực chất đã hạn chế hiệu lực của các qui phạm xung đột dẫn chiếu đến luật nước ngoài cần áp dụng

Ngoài những vấn đề nêu trên, trong nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài, Việt Nam cũng ghi nhận trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu ngược trở lại

pháp luật Việt Nam Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 qui định: “Trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam” Như vậy, pháp luật Việt Nam đã chấp

nhận trường hợp dẫn chiếu ngược trở lại Điều này có nghĩa là khi ta áp dụng pháp luật nước ngoài, thì sẽ phải chấp nhận áp dụng toàn bộ pháp luật của nước được viện dẫn,

kể cả luật nội dung cũng như luật xung đột Cũng từ đây, có thể nói khi pháp luật nước ngoài dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba, thì pháp nước thứ ba đó cũng sẽ được áp dụng

1.5.4 Nguyên tắc áp dụng pháp luật Việt Nam

Nguyên tắc này được ghi nhận tại khoản 1 Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình

năm 2000 với nội dung như sau: “Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật này có quy định khác” Như vậy,

theo qui định này nếu trong chương XI không có qui định để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thì sẽ áp dụng các qui định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Ngoài ra, các qui định của Bộ luật dân sự liên quan đến quan hệ hôn nhân cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân trong trường hợp pháp luật về hôn nhân và gia đình không có qui định Phương pháp này được đặt ra trong trường hợp hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, các nước hữu quan chưa kí kết được các điều ước quốc tế, trong

hệ thống pháp luật trong nước chưa có qui phạm thực chất cũng như không có qui phạm xung đột để chọn luật

Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của quá trình giao lưu dân sự quốc tế, quan hệ trong hôn nhân có yếu tố nước ngoài trở nên phức tạp hơn Chính vì vậy, đôi khi có những quan hệ không có qui phạm pháp luật nào giải quyết trực tiếp hoặc hướng dẫn chọn luật để điều chỉnh, vì không phải trường hợp nào nhà làm luật cũng dự liệu được hết mọi khả năng mà sự việc đó có thể diễn biến đến Nếu trong trường hợp mà quan

hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài xảy ra mà không có qui phạm pháp luật nào điều chỉnh thì việc điều chỉnh quan hệ này được thực hiện theo nguyên tắc “áp dụng tạp quán và qui định tương tự pháp luật” Theo điều 3 Bộ luật dân sự 2005 việc áp dụng

tạp quán và qui định tương tự pháp luật được ghi nhận như sau: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật Tập quán và quy định tương tự của pháp luật không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật này”

1.6 Các nguyên tắc chuyên biệt

Trang 27

Ngoài các nguyên tắc chung được qui định trong pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, quan hệ này còn được điều chỉnh theo các

nguyên tắc chuyện biệt, bao gồm các nguyên tắc sau:

1.6.1 Nguyên tắc luật quốc tịch

Nguyên tắc luật quốc tịch xuất hiện lần đầu tiên vào 1851 do nhà bác học, luật

học tên là Pasquale Stanislac Mancini đưa ra trong tác phẩm “Tính dân tộc là cơ sở của quốc gia”17 Nguyên tắc luật quốc tịch của đương sự (lex patriae) được áp dụng phổ biến, rộng rãi ở các nước để điều chỉnh quan hệ dân sự quốc tế, trong đó có quan

hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Dựa vào nguyên tắc này, thì quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài giữa công dân của các nước, khi đó công dân nước nào thì sẽ áp dụng pháp luật của nước đó để điều chỉnh Nếu việc xác lập quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài giữa hai chủ thể có

quốc tịch khác nhau thì hai hệ thống pháp luật mà hai chủ thể là công dân đều có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ kết hôn này Khi đó việc chọn luật áp dụng sẽ dựa

vào các yếu tố sau: Thứ nhất, điều ước quốc tế được kí kết giữa các quốc gia mà đương sự mang quốc tịch đã thỏa thuận với nhau; thứ hai, qui phạm xung đột của quốc

gia mà đương sự mang quốc tịch có dẫn chiếu chọn hệ thống pháp luật điều chỉnh

Từ học thuyết của Mancini mà hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa nguyên tắc này vào pháp luật dân sự của nước mình như: Bộ luật dân sự Italia năm

1865, Bộ luật dân sự Đức năm 1986, các đạo luật về tư pháp quốc tế của Nhật Bản năm 1898, của Trung Quốc năm 1918, Bộ luật dân sư Braxin năm 1916, các Công ước

La Haye về tư pháp quốc tế cũng thừa nhận nguyên tắc này Cho đến đầu thế kỉ XX, hầu hết các hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới đều thừa nhận nguyên tắc luật quốc tịch để giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ dân sư có yếu tố nước ngoài trong đó có quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 18

Ở Việt Nam, trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, vấn đề áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch được ghi nhận trong Luật hôn nhân và gia đình 2000 như

sau: “Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn”(khoản 1 Điều 103) Theo như qui định này, cụm từ “phải tuân theo pháp luật nước mình” được hiểu là đương sự tham

gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, mang quốc tịch nước nào thì phải tuân theo qui định của nước đó về điều kiện kết hôn

Bên cạnh đó, nguyên tắc luật quốc tịch cũng được sử dụng và trở thành nguyên tắc quan trọng trong các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam kí kết với các nước Cuba, Hungari, Bungari, Tiệp Khắc (cũ) và các nước khác

1.6.2 Nguyên tắc luật nơi cư trú

Nguyên tắc luật nơi cư trú của đương sự được áp dụng phổ biến ở các nước áp dụng hệ thống pháp luật Án lệ (common law) Ở Việt Nam ngoài việc ghi nhận nguyên tắc luật quốc tịch của đương sự để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ kết hôn, pháp luật Việt Nam còn ghi nhận và áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú (lex domicili) để điều chỉnh quan hệ này Theo nguyên tắc luật nơi cư trú, hệ thống pháp luật của nước mà đương sự cư trú sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Có thể thấy nguyên tắc áp dụng luật nơi cư trú qua các điều khoản được ghi nhận ở Luật hôn nhân và gia đình 2000 Điểm b, khoản 14 Điều 8 có qui định nội dung

Trang 28

sau: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình: giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam” Khoản 2 Điều 8 qui

định: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo qui định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn” Bên cạnh đó, ngoài việc luật này có

những qui định về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn thì khoản 1 Điều 7 qui định:

“Các qui định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật này có qui định khác” Qua những qui định này, có thể

hiểu người nước ngoài thường trú tại Việt Nam kết hôn với nhau, phải tuân theo pháp luật Việt Nam, về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn, tức là áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú

Khi áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú của đương sự thì tùy theo nội dung pháp luật của từng nước mà yếu tố cư trú có thể được hiểu là nơi cư trú cuối cùng hoặc nơi thường trú cuối cùng Trong trường hợp mà đương sự là người không quốc tịch hoặc đương sự là người có hai hay nhiều quốc tịch, việc xác định đúng yếu tố cư trú của đương sự càng có ý nghĩa quan trọng, bởi vì trong những trường hợp này pháp luật được áp dụng để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là pháp luật của nước mà đương sự cư trú

Như vậy, có thể thấy rằng việc áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú của đương sự

đã làm đơn giản hóa quá trình dẫn chiếu của qui phạm xung đột trong trường hợp đương sự là người không quốc tịch hay đương sự là người có hai hay nhiều quốc tịch Bằng cách áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú của đương sự đã hạn chế được những qui phạm xung đột phát sinh giữa các quốc gia trong việc chọn luật để điều chỉnh quan

hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài vì thông thường nơi cư trú của đương sự cũng là mà đương sự là công dân (tất nhiên là cũng có những trường hợp, nơi mà đương sự cư trú

không phải là nơi mà đương sự là công dân)

1.6.3 Nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi

Theo nguyên tắc này thì hành vi được thực hiện ở nước nào thì sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật của nước đó Nguyên tắc này được áp dụng chủ yếu để điều chỉnh

về nghi thức kết hôn trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Hầu hết pháp luật của các nước cũng như các điều ước quốc tế điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, khi điều chỉnh vấn đề nghi thức kết hôn đều dựa vào nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi, tức là dựa vào luật của nước mà các đương sự tiến hành kết hôn Ở Việt Nam, trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, vấn đề áp dụng nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi được ghi nhận tại khoản 1 Điều 103 Luật hôn nhân và gia đình

2000 như sau: “Việc kết hôn giữa những người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo qui định của Luật này về điều kiện kết hôn” Theo qui định này thì người nước ngoài tiến hành kết hôn tại Việt

Nam thì phải tuân theo qui định pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, tức là áp dụng nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi kết hôn

Tuy nhiên, các nước thường có những qui định về bảo lưu như trong trường hợp việc kết hôn được tiến hành theo nghi thức mà nghi thức đó không phù hợp với pháp luật của nước nơi tiến hành kết hôn nhưng lại phù hợp với nươc mà đương sự mang quốc tịch thì cuộc hôn nhân đó cũng có giá trị pháp lí Theo pháp luật hôn nhân

và gia đình Việt Nam, thì nguyên tắc này cũng được thừa nhận để giải quyết các vấn

đề phát sinh trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, chủ yếu là về vấn đề nghi thức kết hôn Theo đó việc kết hôn giữa những người nước ngoài với nhau hoặc giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tại Việt Nam, trước cơ quan có thẩm quyền

Trang 29

của Việt Nam, phải tuân theo các qui định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn thì cuộc hôn nhân đó mới có giá trị pháp lí

Như vậy, những nguyên tắc cơ bản nêu trên để điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, luôn gắn bó chặt chẽ bổ sung cho nhau, tạo cơ sở pháp lí vững chắc

để bảo vệ lơi ích quốc gia, lợi ích của các bên đương sự,ghóp phần thúc đẩy giao lưu dân sự quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập quốc tế

1.7 Nguồn luật điều chỉnh

Nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là các hình thức chứa đựng các nguyên tắc, các qui phạm điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Như vậy có thể nói rằng, bất cứ một hình thức nào chứa đựng một hoặc nhiều các qui phạm nhằm điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài đều được coi là nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Bao gồm:

1.7.1 Pháp luật quốc gia

Pháp luật quốc gia là tổng thể các qui tắc, các qui định điều chỉnh mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội của chính quốc gia đó Đây là công cụ cơ bản chủ yếu để một nhà nước thực hiện chức năng của mình

Pháp luật quốc gia với tư cách là nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là các hình thức chứa đựng các nguyên tắc, các qui phạm pháp luật trong nước nhằm điều chỉnh các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Trong thực

tế, có rất nhiều hình thức chứa đựng các nguyên tắc, các qui phạm điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên hình thức nào được coi là nguồn pháp luật quốc gia điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thì hoàn toàn phụ thuộc vào qui định của từng hệ thống pháp luật của các quốc gia

Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các vấn đề liên quan đến quyền

và nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào quan hệ kêt hôn có yếu tố nước ngoài được qui định trong các văn bản sau:

+ Hiến pháp: Đây là văn bản pháp luật có giá trị pháp lí cao nhất ở Việt Nam,

trong đó qui định các nguyên tắc cơ bản về mặt pháp lí đối với tất cả các vấn đề quan trọng của đất nước như: Chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, tố chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó bao gồm quyền kết hôn Quyền kết hôn được xem là quyền cơ bản của công dân, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Điều này được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của Việt Nam

như: Điều 9 Hiến pháp năm 1946 được ghi nhận: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông

về mọi phương diện”, đây được coi là cơ sở pháp lí để khẳng định sự bình đẳng nam

nữ trong quan hệ kết hôn; tại Điều 24 Hiến pháp 1959 ghi nhận: “Phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình, nhà nước bảo hộ quyền hôn nhân”; tại Điều 64 Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Nhà nước bảo hộ quan hệ hôn nhân và gia đình, hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”

+ Bộ luật dân sự: Quan hệ dân sự nói chung và quan hệ hôn nhân, trong đó có

quan hệ kết hôn có yếu nước ngoài nói riêng, được qui định trong phần Quan hệ dân

sự có yếu tố nước ngoài của Bộ luật dân sự 2005.Những nguyên tắc được qui định trong phần này được kết hợp với những qui định về hôn nhân và gia đình nói chung trong Bộ luật dân sự đã tạo thành những nguyên tắc cơ bản trong việc điều chỉnh quan

hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam

+ Luật hôn nhân và gia đình: Luật hôn nhân và gia đình là văn bản pháp luật

điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình bao gồm cả quan hệ kết hôn có yếu tố

Trang 30

nước ngoài Tính đến nay, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành được ba Luật hôn nhân và gia đình, đó là: Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Luật hôn nhân

và gia đình năm 2000 được Quốc hội khóa X thông qua ngày 09 tháng 6 năm 2000 Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 cho đến nay Trong đó, chương thứ XI (từ điều 100 đến điều 106) là những qui định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

+ Bên cạnh Luật hôn nhân và gia đình, các văn bản pháp luật hiện hành khác do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành đã đóng một vai trò to lớn trong việc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Các văn bản đó là: Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân

và gia đình có yếu tố nước ngoài, Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và

gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1.7.2 Điều ước quốc tế

Điều ước quốc tế là văn bản thỏa thuận giữa các chủ thể của luật quốc tế, chủ yếu là các quốc gia với nhau nhằm điều chỉnh các vấn đề về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong quan hệ quốc tế 19

Việc xác định một điều ước quốc tế có phải là nguồn pháp luật điều chỉnh quan

hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài hay không thì cần căn cứ vào đối tượng điều chỉnh của điều ước quốc tế đó Theo đó, tất cả các điều ước quốc tế có qui phạm điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài đều được xem là nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ này

Trong lĩnh vực điêu chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, hầu hết các nước đều tham gia kí kết các điều ước song phương với nước hữu quan để giải quyết các vấn đề có liên đến quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Nội dung các điều ước quốc tế về kết hôn có yếu tố nước ngoài thường không qui định cụ thể việc giải quyết các vấn đề trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài mà chỉ qui định các nguyên tắc chọn pháp luật áp dụng Như vậy có thể nói rằng, các qui phạm được qui định trong các điều ước quốc tế về hôn nhân thường là các qui phạm xung đột

Cho đến nay, cho dù chưa kí kết hoặc tham gia một điều ước quốc tế đa phương nào về việc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, nhưng Việt Nam đã tích cực kí kết các điều ước song phương với một số nước trên thế giới, trong đó qui định một số vấn đề cơ bản điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Đó là các hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lí Trong các hiệp định này, bên cạnh việc đưa ra các qui định điều chỉnh các vấn đề tương trợ tư pháp đối với các vấn đề hình sự, các Hiệp định này còn qui định các vấn đề về dân sự, bao gồm cả các vấn đề liên quan đến quan

hệ hôn nhân như kết hôn, li hôn,…

Trong các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam kí kết với các nước đã thỏa thuận các nguyên tắc chọn pháp luật áp dụng trong trường hợp có xung đột pháp luật trong lĩnh vực kết hôn có yếu tố nước ngoài Các nguyên tắc và qui định trong hiệp định tương trợ tư pháp về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài mà Việt Nam đã kí kết với các nước là cơ sở pháp lí cho Việt Nam và các nước có liên quan thực hiện việc

19

TS Nông Quốc Bình, TS Nông Hồng Bắc, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong thời kỳ hội nhập quốc tế, NXB Tư pháp, Hà Nội (2006), tr 122.

Trang 31

điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài liên quan đến công dân của nước mình

Trang 32

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN

CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

2.1 Kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

2.1.1 Thẩm quyền giải quyết việc kết hôn

Căn cứ vào pháp luật Việt Nam, cụ thể Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2006 thì thẩm quyền giải quyết việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, hoặc giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết việc hôn nhân này được qui định như sau:

+ Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân:

Khoản 1 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 qui định: “Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam” Vấn đề một lần nữa được khẳng định tại khoản 1 Điều

12 Nghị định số 68/NĐ-CP: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc đăng kí kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài Trong trường hợp người nước ngoài thường trú tại Việt Nam xin kết hôn với nhau thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của một trong hai bên đương sự thực hiện việc đăng kí kết hôn”

Bên cạnh đó, nếu công dân Việt Nam không hoặc chưa có hộ khẩu thường trú nhưng đã đăng kí tạm trú có thời hạn thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi công dân Việt Nam đăng kí tạm trú sẽ thực hiện việc đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài Điều này

được ghi nhận ở khoản 1 Điều 12 Nghị định số 68/NĐ-CP với nội dung:“Trong trường hợp công dân Việt Nam không có hoặc chưa có hộ khẩu thường trú nhưng đã đăng kí tạm trú có thời hạn theo qui định của pháp luật về hộ khẩu thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tạm trú có thời hạn của công dân thực hiện việc đăng kí kết hôn giữa người đó với người nước ngoài”

Ngoài Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết việc đăng kí kết hôn

có yếu tố nước ngoài thì Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn cũng có thẩm quyền giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài khi việc kết hôn được thực hiện giữa công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam Nội dung này được ghi nhận ở khoản 2 Điều 3, Điều 66 Nghị định số 68/NĐ-CP Điều 66 Nghị định số 68/NĐ-CP qui định :

“Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định tại Nghị định này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch” Trong nội dung này, “khu vực biên giới

với Việt Nam” nói đến ở đây được hiểu là “các đơn vị hành chính của các nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và Vương quốc Căm-pu-chia tương đương với xã, phường, thị trấn của Việt Nam, có địa giới hành chính tiếp

giáp với đường biên giới quốc gia trên đất liền với Việt Nam”

+ Thẩm quyền của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam:

Nếu việc đăng kí kết hôn được thực hiện giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, quan hệ này được xác lập trước

Ngày đăng: 23/10/2020, 23:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w