1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân Tích Chỉ Số Giá Tiêu Dùng Nước Ta Trong Những Năm Qua Và Dự Báo Trong Năm 2010

66 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 808,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế nước ta trong giai đoạn này là tình hình lạm phát tăng cao, giá một số mặt hàng tăng nhanh ví dụ như: giá gạo, xăng, điện, … gây ản

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA H ỌC TỰ NHIÊN

B Ộ MÔN TOÁN



LU ẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NƯỚC TA TRONG NHỮNG NĂM QUA VÀ

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên th ực hiện:

PG s.TS Lê KhươngNinh Nguy ễn Đặng Long Hải

Khoa: Kinh t ế _ QTKD Ngành: Toán Ứng Dụng

C ẦN THƠ - 2010

Trang 2

L ỜI CẢM ƠN



Tôi xin chân thành biết ơn sâu sắc đến:

Thầy cô giảng dạy lớp Toán Ứng Dụng K32 đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn quý báu cho tôi đặc biệt là cố vấn học tập

đã hướng dẫn hết lòng trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Thầy Lê Khương Ninh đã tận tình hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện

tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài để hoàn thành luận văn đúng thời

hạn

Các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã dành thời gian quý báu

tạo điều kiện cho tôi trình bày qua đó học hỏi được nhiều kiến thức, bổ sung và hoàn thiện đề tài nghiên cứu

Con gửi lòng thành kính sâu sắc đến Ba, Mẹ đã sinh thành và nuôi dạy con khôn lớn Tạo mọi điều kiện thuận lợi và khuyến khích con trong suốt quá trình thực

hiện luận văn

Cuối cùng, xin chân thành gửi đến tập thể các bạn lớp Toán Ứng Dụng K32 lời

cảm ơn VÌ đã có những ý kiến đóng góp và trao đổi bổ ích cho tôi trong quá trình học

tập cũng như nghiên cứu Chúc các bạn thành đạt trong cuộc sống

Cần Thơ, tháng 6 năm 2010

Nguyễn Đặng Long Hải

Trang 3

DANH MỤC BIỂU BẢNG



B ảng Tên b ảng Trang

3.1 Quyền số để tính chỉ số giá tiêu dùng 20

3.2 Giá điện bán lẻ áp dụng cho các hộ gia đình 24

3.3 Giá xăng dầu Tổng công ty xăng dầu Việt nam Petrolimex 25

3.4 Giá vé tàu lửa đi từ Thành phố Hồ Chí Minh 27

4.1 Mức độ giải thích của các biến độc lập lên biến phụ thuộc 48

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng 48

4.3 So sánh kỳ vọng giả định và hệ số ước lượng từ mô hình các biến có ý nghĩa 49

Trang 4

DANH M ỤC HÌNH



Hình Tên hình Trang

3.1 Biểu đồ giá xăng tăng từ ngày 3.7.2005 - 21.7.2008 25

3.2 Sơ đồ dự báo thống kê 36

4.1 Đồ thị biểu diễn biến động của chỉ số giá tiêu dùng 42

Trang 5

DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT



CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Amazing effects of

modernization

Output Rate

Fund

WTO Tổ chức thương mại thế giới World Trade Organization

Trang 6

M ỤC LỤC



Trang

Trang phụ bìa i

Lời cảm ơn ii

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục biểu bảng vii

Danh mục hình viii

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 TẦM QUAN TRỌNG ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

1.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 2

1.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 2

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

1.4.1 Không gian 2

1.4.2 Thời gian 2

1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1986 ĐẾN 2009 4

2.1 TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM GAI ĐOẠN 1986-2006 4

2.2 TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM GAI ĐOẠN 2006-2009 6

2.2.1 Giai đọan 2006-2008 6

2.2.2 Năm 2009 13

CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 17

3.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 17

3.1.1 Khái niệm chỉ số giá tiêu dùng 17

3.1.2 Giá một rổ hàng hóa 18

3.2 NHỮNG MẶT HÀNG TRONG RỔ HÀNG HÓA 20

Trang 7

3.2.1 Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 20

3.2.2 Đồ uống và thuốc lá 21

3.2.3 May mặc, mũ nón và giày dép 22

3.2.4 Nhà ở và vật liệu xây dựng 22

3.2.5 Thiết bị đồ dùng gia đình 25

3.2.6 Thuốc và dịch vụ y tế 25

3.2.7 Giao thông 26

3.2.8 Bưu chính viễn thông 26

3.2.9 Giáo dục 27

3.2.10 Văn hóa, thể thao, giải trí 27

3.2.11 Đồ dùng và dịch vụ khác 27

3.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CPI VÀ LẠM PHÁT 28

3.3.1 Định nghĩa và phân lọai lạm phát 28

3.3.2 Nguyên nhân gây ra lạm phát 29

3.3.3 Đo lường lạm phát 30

3.4 CÔNG THỨC TÍNH CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 32

3.5 PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO THỐNG KÊ 34

3.5.1 Khái quát về dự báo thống kê 34

3.5.2 Đặc điểm của dự báo thống kê 35

3.5.3 Phân lọai dự báo thống kê 35

3.5.4 Phương pháp luận trong dự báo thống kê 36

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 38

4.1 PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 38

4.2 THIẾT LẬP MÔ HÌNH HỒI QUY ĐA BIẾN 45

4.3 DỰ BÁO CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG TRONG NĂM 2010 49

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51

5.1 KẾT LUẬN 51

5.2 NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT 52

5.2.1 Những khó khăn trong việc kiềm chế lạm phát 52

5.2.2 Một số giải pháp kiềm chế lạm phát 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

PHỤ LỤC

Trang 9

Chương 1: GIỚI THIỆU

1.1 T ẦM QUAN TRỌNG ĐỀ TÀI

Hiện nay các nước trên thế giới đang cố gắng khôi phục nền kinh tế sau cuộc

khủng hoảng kinh tế vừa xảy ra vào năm 2008 Việt Nam cũng là một trong những

quốc gia phải chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng trên

Khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra đã gây ra những khó khăn ảnh hưởng đến các nước phát triển mạnh và các nước đang phát triển về một số lĩnh vực, đặc biệt là về kinh tế Một trong những ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế nước

ta trong giai đoạn này là tình hình lạm phát tăng cao, giá một số mặt hàng tăng nhanh (ví dụ như: giá gạo, xăng, điện, …) gây ảnh hưởng đến đời sống nhân dân trong nước, đặc biệt là người dân lao động có nguồn thu nhập thấp ở Việt Nam Lạm phát không

chỉ làm giảm thu nhập và tiền công thực tế của người nghèo, ngoài ra nó còn góp phần làm tăng tỷ lệ thất nghiệp Mặc dù Việt Nam là một trong những nước có nền kinh tế tăng trưởng tương đối ổn định, nhưng mức thu nhập bình quân đ ầu người của người nước ta vẫn còn rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới Hiện nước ta

có thu nhập bình quân đầu người đạt trên 1.000 USD mỗi năm, song Việt Nam vẫn

nằm trong nhóm thu nhập thấp nhất châu Á, theo đánh giá của quỹ tiền tệ thế giới (IMF) và ngân hàng thế giới (WB) Chính vì thu nhập thấp kết hợp với giá cả các mặt hàng ngày càng tăng nên đời sống của người dân ta vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong

bối cảnh đất nước đang trên đường hội nhập với khu vực và thế giới

Chính vì những lý do trên nên đề tài sẽ được tiến hành nghiên cứu: “Phân tích

ch ỉ số giá tiêu dùng của nước ta trong những năm vừa qua và dự báo trong năm 2010”

Chính những nhân tố trên đã tác động đến giá tiêu dùng của nước ta Chỉ số giá tiêu dùng đo lường sự biến động của giá tiêu dùng Sự tăng giảm của chỉ số giá tiêu dùng liên quan đến nhiều yếu tố trực tiếp và gián tiếp như lượng hàng hoá dịch vụ được

sản xuất, cung cấp ra thị trường, giá thành sản xuất, cung cấp hàng hoá dịch vụ, sức mua

của dân cư, … Vì vậy, c hỉ số giá tiêu dùng là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng, thường được sử dụng trong phân tích kinh tế, đánh giá tình hình lạm phát, quan hệ cung cầu, sức mua của dân cư, là cơ sở tham khảo cho việc điều chỉnh lãi suất ngân hàng, tiền lương, tính toán điều chỉnh tiền công trong các hợp đồng sản xuất kinh doanh

Trang 10

1.2 M ỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 M ục tiêu chung: Mục tiêu chung của đề tài là thống kê, phân tích chỉ số giá

tiêu dùng của nước ta từ năm 2006 đến năm 2009 và dự báo chỉ số giá tiêu dùng trong năm 2010

1.2.2 M ục tiêu cụ thể: Để đạt được mục tiêu chung như trên, bài viết có các mục tiêu

cụ thể sau:

M ục tiêu 1: Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố có liên quan đến sự biến động của chỉ

số giá tiêu dùng trong những năm vừa qua

M ục tiêu 2: Lập mô hình hồi quy đa biến và dự báo chỉ số giá tiêu dùng trong năm

2010

M ục tiêu 3: Nhận xét, đánh giá mô hình dự báo và đưa ra kết luận

1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.3.1 Phương pháp thu thập số liệu: Đề tài lấy số liệu thứ cấp trên trang web tổng

cục thống kê www.gso.gov.com và một số nguồn số liệu thứ cấp khác có liên quan tại các trang Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), …

1.3.2 Phương pháp xử lý số liệu: Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, hồi

quy tuyến tính để đáp ứng mục tiêu đề ra

1.4 PH ẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Không gian: Đề tài nghiên cứu dựa trên số liệu của nền kinh tế Việt Nam

1.4.2 Th ời gian: Số liệu đề tài tiến hành nghiên cứu dựa trên dữ liệu trong 42 tháng,

bắt đầu từ tháng 5 năm 2006 đến tháng 10 năm 2009

1.4.3 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của

nước ta

1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

“Ch ỉ số giá tiêu dùng và các yếu tố tác động – phương pháp tiếp cận định lượng” của nhóm tác giả Trương Văn Phước và Chu Hoàng Long, đăng tại website

Tổng cục thống kê, năm 2005

Nội dung của bài viết là: “Nghiên cứu những yếu tố tác động đến tình hình lạm phát

của nước ta, dãy số liệu lấy theo tháng (126 tháng) từ tháng 7 năm 1994 đến tháng

12 năm 2004, từ đó làm rõ các yếu tố tác động đến lạm phát.” Bài viết đã kết

luận: “Kết quả cho thấy đã có mối quan hệ dài hạn giữa CPI, tỷ giá, M2, giá xăng dầu,

Trang 11

giá gạo thế giới và mức dư cầu Tác động của tỷ giá đến CPI lớn hơn so với giá xăng

dầu và giá gạo quốc tế Kết quả này là phù hợp với tỷ trọng khá lớn của nhóm các hàng hoá có thể tham gia thương mại quốc tế trong rổ hàng hoá tiêu dùng Việc giá xăng dầu thế giới không có tác động ngay lập tức đến CPI có thể là kết quả của việc

kiểm soát giá trực tiếp Mức cung ứng tiền tệ có tác động đến CPI tuy với cường độ rất

nhỏ và với độ trễ 6 tháng Điều này có cho thấy các công cụ của chính sách tiền tệ không tác động nhiều đến CPI”

“Phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng” , trang web www.gso.gov của Tổng

cục Thống kê Việt Nam

Nội dung bài viết đề cập đến “Các khái niệm cơ bản về chỉ số giá tiêu dùng, cách thu thập giá bán lẻ, mạng lưới điều tra, phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng của từng vùng thành thị hay nông thôn và một số trường hợp đặc biệt trong việc xử lý số liệu” Bài viết trên đã giúp cho đề t ài biết thêm một số khái niệm cơ bản về chỉ số giá tiêu dùng, công thức tính chỉ số giá tiêu dùng của nước ta ở mỗi vùng và quy trình xử lý số

liệu tính toán

“Gi ảm lạm phát bằng niềm tin”, PGs–TS Lê Khương Ninh, Khoa Kinh tế và

Quản trị Kinh doanh, Đại học Cần Thơ

Nội dung bài viết nghiên cứu về: “Những nguyên nhân gây ra lạm phát và lạm phát kỳ vọng” Bài viết đã đi đến kết luận: “Lạm phát xuất hiện do nhiều nguyên nhân như: lạm phát do cầu kéo, lạm phát do chi phí đẩy, lạm phát kỳ vọng Trong thời gian qua, do chưa tách bạch được mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân nên ta đã quá chú trọng đến việc sử dụng các chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát Các chính sách này trong một chừng mực là có tác dụng tốt nhưng lại tạo ra sự bất ổn trong nền kinh tế khiến cho Chính phủ phải đưa ra nhựng chính sách mâu thuẫn nhau nên đã vô

hiệu hóa hiệu lực của các chính sách trước đó Cho đến khi nào lạm phát còn cao thì người nghèo – đại bộ phân dân chúng, kể cả nông dân – còn cảm thấy bất an do chất lượng cuộc sống của họ giảm đi quá nhanh Theo đó, niềm tin của họ vào sự lãnh đạo

của Đảng và năng lực của Chính phủ cũng bị xói mòn Điều quan trọng bây giờ là lấy

lại niềm tin, không chỉ để kiềm chế lạm phát mà còn khẳng định mục tiêu của Đảng ta

là vì lợi ích của toàn dân.” Qua đó, giúp đề tài biết được những nguyên nhân chính gây

ra lạm phát và những nguyên nhân làm cho các chính sách tiền tệ kiềm chế lạm phát ở nước ta bị vô hiệu hóa

Trang 12

C hương 2: TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN 1986 ĐẾN 2009

2.1 T ỔNG QUAN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986-2006

Sau 20 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, nền Việt Nam đã ra khỏi

khủng hoảng kinh tế, đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, tăng cường cơ sở vật chất và

tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển mới công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành

một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Đó là hai trong số năm thành tựu mà Việt Nam đạt được qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006)

Theo ông Trần Đức Khiển, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư, trong 20 năm qua, nét nổi bật của Việt Nam là từ một nước trì trệ, tăng trưởng thấp, tích luỹ phần

lớn nhờ vào vay mượn bên ngoài, đến nay đã trở thành một nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực Việt Nam đã tạo được khả năng tích luỹ để đầu tư cho phát triển và

cải thiện đời sống của người dân Tổng tích luỹ tăng từ 9,5 – 11,3%/năm tuỳ giai đoạn Nhưng cơ bản, Việt Nam đã đổi mới được cơ chế quản lý, nhờ đổi mới mà Việt Nam

từng bước xây dựng được vai trò của mình trong hội nhập khu vực và quốc tế

Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đến năm 1995, lần đầu tiên, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch Nhà nước 5 năm 1991-1995 được hoàn thành và hoàn thành vượt mức Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1986 – 1990: GDP tăng 4,4%/năm Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế

quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống KTXH và giải phóng sức sản xuất

1991 – 1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trình trệ, suy thoái, đạt được

tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện GDP bình quân năm tăng 8,2% Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước

Trang 13

Từ năm 1996 - 2000, là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách Tuy nhiên, giai đoạn này Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước 7%/năm

Năm 2000 - 2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, GDP bình quân mỗi năm đạt 7,5% Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP theo giá

hiện hành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng, tương đương với 640USD Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn - 1 triệu

tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Năm

2005, nước ta đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về cao

su, thứ 2 về hạt điều và thứ nhất về hạt tiêu

Về cơ cấu ngành, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1988 là 46,3%, năm 2005 còn 20,9% Trong nội bộ ngành nông nghiệp, cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi

đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng các sản phẩm có năng suất và hiệu

quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu

Giá trị tạo ra trên một đơn vị diện tích ngày một tăng lên Trong kế hoạch 5 năm

2001 - 2005, giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,5%/năm, giá trị tăng thêm

bằng khoảng 3,89%/năm

Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục Năm 1988 là 21,6%, năm 2005 lên 41% Từ chỗ chưa khai thác dầu mỏ, đến nay, mỗi năm đã khai thác được khoảng gần 20 triệu tấn quy ra dầu Ngành công nghiệp chế tác chiếm 80% giá

trị sản lượng công nghiệp Công nghiệp xây dựng phát triển mạnh với thiết bị công nghệ ngày càng hiện đại

Sản phẩm công nghiệp xuất khẩu ngày càng tăng, có chỗ đứng trong những thị trường lớn Trong kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, giá trị sản xuất công nghiệp và xây

dựng tăng 15,9%/năm, giá trị tăng thêm đạt 10,2%/năm

Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,1% năm

2005 Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu

cầu của sản xuất và đời sống Ngành du lịch, bưu chính viễn thông phát triển với tốc

độ nhanh Các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý, có bước phát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả

Trang 14

Qua 20 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đượ c xây dựng tương đối đồng bộ

Từng bước phát triển đồng bộ và quản lý sự vận hành các loại thị trường cơ bản, theo

cơ chế mới Thị trường hàng hoá phát triển với quy mô lớn, tốc độ nhanh Các thị trường dịch vụ, lao động, khoa học và công nghệ, bất động sản đang được hình thành Các cân đối vĩ mô của nền kinh tế cơ bản được giữ ổn định, tạo môi trường và điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế Tiềm lực tài chính ngày càng được tăng cường, thu ngân sách tăng trên 18%/năm; chi cho đầu tư phát triển bình quân chiếm khoảng 30% tổng chi ngân sách

Xuất khẩu, nhập khẩu tăng rất nhanh cả về quy mô và tốc độ Tổng kim ngạch

xuất khẩu hàng hoá trước thời kỳ đổi mới chỉ đạt khoảng 1 tỷ USD/năm, đến nay tổng kim ngạch xuất khẩu đã vượt hơn 50% GDP, tức là trên 25 tỷ USD/năm

Một số sản phẩm của Việt Nam đã có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới với

những thương hiệu có uy tín Đáng chú ý là xuất khẩu dịch vụ tăng rất nhanh, tăng 15,7%/năm, bằng 19% tổng kim ngạch xuất khẩu Thị trường xuất khẩu được mở rộng sang những nền kinh tế lớn

Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá từ năm 2000 đến 2005 tăng khoảng 19%/năm, nhập siêu khoảng 4 tỷ USD/năm, bằng 17,5% tổng kim ngạch xuất khẩu

Nhập siêu tuy còn cao nhưng vẫn trong tầm kiểm soát và có xu hướng giảm dần

Cơ cấu xuất nhập khẩu chuyển biến theo hướng tích cực Tỷ trọng hàng công nghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 37,2% năm 2000 xuống còn 36% năm 2005, hàng nông, lâm thuỷ sản giảm từ 29% xuống 24%; hàng công nghiệp nh‹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 38,8% lên 39,8%

2.2 T ỔNG QUAN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006-2009

2.2.1 Giai đoạn 2006-2008 1

Sau 2 năm vào WTO, tình hình kinh tế Việt Nam có nhiều khởi sắc đáng ghi

nhận Tốc độ tăng trưởng khá cao, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt

Sự kiện nổi bật nhất của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn này là nước ta chính

thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới (viết tắt là WTO) vào ngày 7 tháng 11 năm

2006 Nước ta là thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức này

1

Ngu ồn: Tạp chí Cộng sản số 10 (178) năm 2009

Trang 15

kỷ lục, xuất khẩu tăng trưởng cao, tình hình tài chính lành mạnh Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu, nền kinh tế vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập

Sau khi vào WTO, nông nghiệp Việt Nam bước đầu mang dáng dấp của một nề n

sản xuất hàng hoá có những nét hiện đại đáp ứng được các yêu cầu của thị trường trong nước với nhu cầu cao hơn về chất lượng Tốc độ tăng trưởng của khu vực này theo GDP năm 2007 tăng 3,76%, năm 2008 tăng 4,07%, theo giá trị sản xuất, tăng 4%

và 6% theo 2 năm tương ứng, cao hơn tốc độ tăng các năm trước Sản phẩm nông nghiệp sản xuất bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia trong mọi tình

huống dù cho cuộc khủng hoảng lương thực thế giới cuối năm 2007 đầu năm 2008

diễn ra gay gắt

Nh ững thành tựu đáng ghi nhận

Tổng sản phẩm trong nước (GDP), năm 2007 tăng 8,46%; năm 2008 tăng 6,18%

Cơ cấu kinh tế theo giá thực tế chuyển dịch theo hư ớng tích cực, năm 2007, tỷ trọng GDP khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm còn 20,0% so với 20,81% năm 2006; 20,97% năm 2005; 21,81% năm 2004 và 22,54% năm 2003 Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng dần và chiếm 41,7% so với 41,56%; 41,02% ; 40,21% và 39,47% và khu vực dịch vụ tăng nhẹ, chiếm 38,30% so với 38,08%; 38,01%; 37,98% và 37,99% các năm tương ứng Nét mới trong năm 2007 là tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng cao trong điều kiện có nhiều khó khăn nhiều mặt, nhất là dịch vụ vận tải, du lịch, thương

mại, tài chính ngân hàng Năm 2008 lại có xu h ướng chuyển dịch ngược lại do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu là khó tránh khỏi Do kinh tế tăng trưởng cao nên tình hình tài chính 2 năm qua khá lành mạnh Thu chi ngân sách nhà nước cân đối, bội chi ngân sách trong phạm vi Quốc hội cho phép

Đạt được kết quả trên đây là do sau khi vào WTO các ngành sản xuất và dịch vụ

có chuyển biến tích cực theo hướng hội nhập với kinh tế thế giới

Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển toàn diện, tăng trưởng khá và chuyển

dịch theo hướng hàng hoá Tranh thủ thời cơ thuận lợi do WTO tạo ra, 2 năm qua, nông nghiệp Việt Nam đã từng bước chuyển thành nền nông nghiệp đa canh, có tỷ suất hàng hoá ngày càng cao gắn với thị trường trong nước và xuất khẩu Số lượng sản

phẩm tăng nhanh, chủng loại sản phẩm đa dạng, chất lượng ngày càng cao, cơ cấu sản

phẩm có nhiều thay đổi, điều kiện và tính chất của các yếu tố sản xuất cũng có nhiều điểm mới so với trước

Trang 16

Nông sản hàng hoá Việt Nam vẫn đáp ứng đầy đủ nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến như mía đường, rau quả, lúa gạo, chè Các hợp đồng xuất khẩu đã ký

kết với khách hàng được thực hiện theo đúng cam kết WTO Chính phủ đã thực hiện xoá bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản theo đúng cam kết WTO và mở cửa thị trường,

giảm thuế suất đối với các mặt hàng nông sản nhập khẩu theo đúng lộ trình như thịt,

sữa bột, thức ăn chăn nuôi Tình trạng trợ cấp mua lúa, cà phê, tạm trữ xuất khẩu như các năm trước đã không còn Năm 2007 và năm 2008 giá cả nông sản, thủy sản trong nước tuy có tăng cao hơn năm 2006 nhưng về cơ bản vẫn ổn định, không có cơn sốt

lớn về thiếu lương thực thực phẩm như các năm trước Lượng gạo hỗ trợ đồng bào vùng bị thiên tai tăng cao nhưng vẫn đáp ứng đủ nhu cầu cơ bản của đời sống dân cư Lượng gạo xuất khẩu năm 2008 đạt trên 4,7 triệu tấn, kim ngạch đạt trên 2,9 tỉ USD tăng 94,8% so năm 2007

Sản xuất công nghiệp tuy gặp khó khăn về thị trường, nhất là 6 tháng cuối năm

2008 nhưng đánh giá chung 2 năm vào WTO vẫn tăn g trưởng khá cao Năm 2007, giá

trị sản xuất công nghiệp tăng 17,1% cao hơn năm 2006 (17,0%), trong đó khu vực ngoài nhà nước tăng 26,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,2%

Năm 2008 tuy có khó khăn do suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng sản xuất côn g nghiệp vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá 13,9%, trong đó khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 18,0%, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 18,0% Cơ cấu

sản xuất công nghiệp đã có chuyển biến tích cực: ngành công nghiệp chế biến đã đạt

tốc độ tăng trưởng cao, năm 2007 tăng 19,1%, năm 2008 tăng 15,3% và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn

Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến giảm tỷ trọng công nghiệp khai thác khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên Vị trí của khu vực công nghiệp, xây dựng trong GDP tăng từ 41,54% năm 2006 lên 41,48% năm 2007 Năm 2008, tỷ lệ này còn 39,73% do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu là chủ yếu Nhiều tỉnh, thành phố có quy mô sản xuất công nghiệp lớn đều đạt tốc độ tăng trưởng cao như: Vĩnh Phúc, Bình Dương, Đồng Nai, Cần Thơ, Hải Dương, Quảng Ninh, …

Kinh tế đối ngoại phát triển toàn diện cả về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và mở rộng thị trường xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ Trong 2 năm 2007 và

2008, cả nước đã thu hút 2116 dự án FDI đăng ký mới với số vốn 81.105 triệu USD,

Trang 17

chiếm 21% số dự án, 54,59% tổng số vốn đăng ký cả nước và bằng 43,7% tổng số vốn điều lệ còn hiệu lực từ năm 1988 đến cuối năm 2008 Điều đó cho thấy sau khi vào WTO, Việt Nam thực sự là điểm đến đầu tư hấp dẫn của nhiều tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới và khu vực

Về xuất nhập khẩu: Sau khi vào WTO, thực hiện các cam kết quốc tế, thị trường

xuất nhập khẩu của Việt Nam được mở rộng cả về quy mô, đối tác, hàng hoá, dịch vụ

Tổng mức lưu chuyển ngoại thương năm 2007 đạt 109,2 tỉ USD, tăng 48,2% so năm

2006, năm 2008 đạt 143,1 tỉ USD 31,0% so năm 2007

Xuất khẩu tăng trưởng cao cả về thị trường, lượng hàng hoá, kim ngạch và giá

cả Theo các cam kết của WTO về mở cửa thị trường, hoạt động xuất khẩu theo hướng tăng chất lượng, ổn định giá, thực hiện đúng hợp đồng, … để tăng sức cạnh tranh trên

thị trường truyền thống đồng thời mở rộng thị trường mới, mặt hàng mới đi đôi với các chính sách xoá dần sự bảo hộ của Nhà nước trên một số mặt hàng

Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt 48,561 tỉ USD, tăng 21,9% so với năm 2006, năm 2008 đạt 62,7 tỉ USD, tăng 29,5% so với năm 2007 Đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cả 3 khu vực đều tăng khá: Khu vực kinh tế trong nước năm 2007 tăng 22,2% và chiếm 42%; năm 2008 tăng 34,7% và chiếm 50,3% tổng kim

ngạch; khu vực kinh tế FDI không kể dầu thô năm 2007 tăng 30,4%, năm 2008 tăng 26,8%

Số mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD tăng từ 10 năm 2007 lên trên

20 năm 2008, trong đó có 8 mặt hàng đạt trên 2 tỉ USD: dầu thô 10,45 tỉ USD, dệt may 9,11 tỉ USD, giày dép 4,7 tỉ USD, thủy sản 4,56 tỉ USD, cao hơn nhiều so với các năm trước Thị trường xuất khẩu mở rộng

Một số thị trường lớn, tốc độ tăng cao sau khi vào WTO như Mỹ, năm 2007 đạt

10 tỉ USD, chiếm 20,7% thị phần và tăng 28%; năm 2008 đạt 11,6 tỉ USD, tăng 14,5% Thị trường ASEAN năm 2007 đạt 8 tỉ USD, tăng 26%, năm 2008 đạt 10,2 tỉ USD, tăng 31% so năm 2007 Thị trường EU năm 2007 đạt 8,7 tỉ USD, tăng 24%, năm

2008 đạt 10 tỉ USD, tăng 15% so năm 2007 Thị trường Nhật Bản năm 2007 đạt 5,5 tỉ USD, năm 2008 đạt 8,8 tỉ USD, tăng 45% so với năm 2007

Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu cũng đã biến động theo chiều hướng tăng tỷ trọng hàng hoá công nghiệp chế biến và nông sản chất lượng cao Nă m 2007, kim ngạch

xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 2,4 tỉ USD, tăng 22,4%, năm 2008 đạt 2,8 tỉ USD, tăng

Trang 18

16,6%; mặt hàng máy tính điện tử năm 2007 đạt 2,2 tỉ USD, tăng 27,5%, năm 2008 đạt 2,7 tỉ USD, tăng 22,7%

Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực không chỉ giữ vững vị trí hàng nhất, nhì thế giới về số lượng mà bước đầu vươn tới cả chất lượng , giá cả và vệ sinh an toàn

thực phẩm Tính chung 2 năm sau khi vào WTO, kim ngạch xuất khẩu nông sản, thủy

sản Việt Nam tiếp tục tăng trưởng cao; năm 2007 đạt 10,9 tỉ USD, tăng 21,7% so năm

2006, năm 2008 đạt 15,6 tỉ USD tăng 43,1% so năm 2007 Kim ngạch xuất khẩu một

số mặt hàng chủ lực đã tăng cao hơn mức cùng kỳ 2007, trong đó: hạt điều tăng 42,8%; gạo tăng 94,6%; cà phê tăng 83,2%; cao su tăng 73,1%, chè tăng 22,6%, thủy

sản tăng 33,7% so với năm 2007

Nét nổi bật trong những kết quả xuất khẩu nông sản trong 2 năm qua không phải

chỉ tăng số lượng mà là tăng chất lượng và độ an toàn thực phẩm nên giá cả xuất khẩu tăng lên, thị trường mở rộng kể cả thị trường khó tính nh ư Nhật Bản, EU và Mỹ Nhiều mặt hàng nông sản Việt Nam đã xâm nhập ngày càng nhiều vào các thị trường

mới như Nam Mỹ, châu Phi, Nam Á là thành viên WTO với lượng và giá tăng dần Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, thị trường xuất khẩu biến động bất lợi,

nhất là Hoa Kỳ và EU, nh ưng hoạt động xuất khẩu năm 2007 và năm 2008 đạt kết quả

nh ư trên là đáng ghi nhận

Kim ngạch nhập khẩu năm 2007 đạt 62,7 tỉ USD, tăng 39,6%; năm 2008 đạt 80,7

tỉ USD, tăng 28% so năm 2007 Nhìn chung, kim ngạch nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước đều tăng, chủ yếu do giá nhập khẩu tăng, trong đó giá một số mặt hàng tăng ở mức cao như: phân bón, xăng dầu, thiết bị,

dụng cụ phụ tùng, vải, linh kiện, nguyên phụ liệu dệt, may, da; phân bón; thức ăn gia súc, …

Nguyên nhân của thực tế đó, bên cạnh yếu tố khách quan còn có tác động của

một số yếu tố chủ quan liên quan đến cơ chế chính sách về tổ chức, quản lý và đầu tư

của từng ngành Trong sản xuất công nghiệp tăng trưởng chưa vững, nhất là khu vực

Trang 19

kinh tế nhà nước Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2006 tăng 17,1% nhưng năm 2007 tăng 17,0%, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 10,4%, năm 2008 tăng 14,6% và 4% Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng của giá trị tăng thêm ngành công nghiệp 2 năm vào WTO vẫn chưa có tiến bộ so với các năm trước: năm 2007 tăng 10,22%, năm

2008 tăng 6,11% trong khi đó năm 2006 là 10,38%, năm 2005 tăng 10,69% Chênh

lệch giữa tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm của khu vực này vẫn cao, từ 6% -7% Do chi phí trung gian cao, nên sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp còn thấp, khó đứng vững trên thị trường trong nước với hàng ngoại nhập trong

bối cảnh giảm thuế suất nhập khẩu theo cam kết WTO Tỷ trọng công nghiệp gia công

chế biến còn lớn, nhất là dệt may, giày dép và máy tính điện tử Sản phẩm công nghiệp công nghệ cao mới chiếm khoảng 19% tổng giá trị sản phẩm công nghiệp, còn lại là

loại trung bình và thấp nên chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường, nhất là xuất khẩu

Tổ chức sản xuất ngành công nghiệp công nghệ cao chưa phù hợp, nặng về khép kín, chưa chuyên môn hoá sâu, chưa có ngành công nghiệp phụ trợ phù hợp Hoạt động giá công bằng nguyên liệu vật liệu nhập khẩu là chủ yếu Trình độ kỹ thuật nói chung còn

lạc hậu Năng suất lao động, năng suất máy móc, trình độ của công nhân công nghiệp còn thấp, chưa theo kịp yêu cầu tăng sức cạnh tranh theo các cam kết WTO

Trong khu vực nông, lâm, thủy sản, tốc độ tăng GDP chưa bền vững: năm 2007 tăng 3,76%, năm 2008 tăng 4,07% trong khi đó năm 2006 là 4,02%, năm 2005 là 4,36% Tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi 2 năm sau WTO lại thấp hơn các năm trước đó: năm 2007 tăng 4,6%, năm 2008 tăng 6% so với tốc độ tăng 11,4% năm

2005 và 6,9% năm 2006 (có dịch cúm gia cầm trên diện rộng) Nguyên nhân có nhiều,

một phần do dịch gia súc, gia cầm nhưng một phần do tác độ trực tiếp của một số chính sách trong quá trình thực hiện cam kết WTO về giảm thuế suất nhập khẩu nông

sản và mở cửa thị trường thức ăn gia súc chưa hợp lý đã và đang ảnh hưởng đến lợi ích

của người chăn nuôi Trong khi đó một số chương trình phát triển chăn nuôi hàng hoá không đem lại hiệu quả như: bò sữa, bò lai sind, lợn hướng nạc, chăn nuôi tập trung ,

… Lâm nghiệp vẫn chưa có lối ra dù tăng trưởng rất thấp Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng không đạt kết quả mong muốn buộc Quốc hội phải điều chỉnh cả về quy

mô, cơ cấu, thời gian Đến nay, nguyên liệu cho công nghiệp đồ gỗ xuất khẩu vẫn dựa

chủ yếu vào nhập khẩu trong khi diện tích rừng kinh tế và trữ lượng gỗ trong nước

giảm dần, nghề rừng giảm Thủy sản tăng trưởng nhanh nhưng chưa ổn định vì phụ

Trang 20

thuộc quá lớn vào thị trường ngoài nước cả về thức ăn, con giống và tiêu thụ sản

phẩm

Thị trường ít sôi động, giá cả diễn biến phức tạp, sức mua của dân giảm mạnh,

nhập siêu cao Sau 2 năm vào WTO thị trường trong nước chưa có nhiều khởi sắc Tốc

độ tăng trưởng tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ 2 năm qua

nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì chỉ đạt 6,4% – 6,5% Các tốc độ này thấp hơn những năm trước khi vào WTO

Nhập siêu hàng hoá tăng cao so với các năm trước đó Năm 2006 là 6,6 tỉ USD, chiếm 15,5% kim ngạch xuất khẩu, năm 2007 tăng lên 14,2 tỉ USD, chiếm 29,5% và năm 2008 là 17 tỉ USD, chiế m 27,7 % tổng kim ngạch xuất khẩu Năng lực sản xuất nhiều mặt hàng nông sản, khoáng sản đã đến ngưỡng, khó có khả năng tăng trưởng cao

về sản lượng như những năm trước

Du lịch tăng chậm do sản phẩm còn nghèo, chất lượng phục vụ chậm được cải

tiến, cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo, giá cả thuê phòng cao Khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2007 đạt 4,2 triệu lượt khách quốc tế, năm 2008 đạt 4,25 triệu lượt người, tăng 1,1% so với năm 2007

Giá tiêu dùng tăng cao Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 năm 2005 là 8,3%, năm

2006 tăng 7% so tháng 12 năm 2005, năm 2007 tăng 12,6%, năm 2008 tăng 19,9% Giá cả các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và đời sống tăng cao đã và đang ảnh hưởng

trực tiếp đến sản xuất và đời sống của dân cư nhưng chậm được khắc phục

Như vậy, s au 2 năm vào WTO, tình hình kinh tế Việt Nam có nhiều khởi sắc đáng ghi nhận Tốc độ tăng trưởng khá cao, nông nghiệp liên tục được mùa, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt kỷ lục, xuất khẩu tăng trưởng cao, tình hình tài chính lành mạnh Bên cạnh thành tựu, nền kinh tế vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập

Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa vững chắc, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm và không đều, chất lượng và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, các ngành còn

thấp, sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ chưa theo kịp yêu cầu hội nhập sâu vào

nền kinh tế thế giới theo cam kết của WTO

Trong bối cảnh khó khăn nhiều hơn thuận lợi, nhất là suy thoái kinh tế toàn cầu tác động trực tiếp đến nước ta, những thành tựu đạt được trong 2 năm vào WTO là to

lớn và cơ bản Những hạn chế và bất cập tuy còn nhiều nhưng chỉ là khó khăn tạm

Trang 21

thời, khó tránh khỏi trong bối cảnh chung của nền kinh tế đang chuyển đổi với điểm

xuất phát thấp và bước đầu hội nhập vào WTO

2.2.2 Năm 2009 2

Năm 2009, trước tình hình khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới,

Việt Nam đã chuyển sang mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế và giữ ổn định kinh tế

vĩ mô Kinh tế Việt Nam năm 2009 bên cạnh những điểm sáng thể hiện thành tựu đạt được vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế và thách thức Việc đánh giá, nhìn nhận lại kinh tế

Việt Nam năm 2009 để rút ra những bài học, chỉ rõ những thách thức và giải pháp cho năm 2010 có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam

Thực tế, có thể tiếp cận và đánh giá một nền kinh tế từ nhiều cách Bài viết đánh giá

bức tranh kinh tế Việt Nam 2009 từ góc độ vĩ mô dựa trên diễn biến tình hình kinh tế trong năm và các chỉ số kinh tế vĩ mô cơ bản

Trước những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu và ngăn chặn suy giảm kinh tế, từ đầu năm 2009, chính phủ đã đưa ra gói kích thích kinh tế Gói kích thích kinh tế đã triển khai được phân thành các cấu phần sau: (i) gói hỗ trợ lãi suất 4%; (ii) gói hỗ trợ tiêu dùng bao gồm miễn thuế thu nhập cá nhân và hỗ trợ người nghèo ăn Tết; (iii) gói hỗ trợ đầu tư bao gồm miễn, giảm, giãn thuế doanh thu, thuế VAT cho các doanh nghiệp và cho nông dân vay vốn không lãi suất để mua thiết bị, máy móc sản xuất công nghiệp; (iv) đầu tư công bao gồm xây dựng kết cấu hạ tầng, nhà ở cho sinh viên và khu chung cư cho người thu nhập thấp Tuy chưa được đánh giá

một cách sâu sắc và toàn diện về hiệu quả của gói kích thích kinh tế, nhưng về cơ bản

nó đã đạt được mục tiêu đề ra là ngăn chặn được đà suy giảm kinh tế Tron g đó, các

cấu phần có tác động mạnh nhất là gói hỗ trợ lãi xuất 4% và chính sách miễn, giảm, giãn thuế cho doanh nghiệp Các gói này được xem như một liều thuốc “giải cứu” giúp nhiều doanh nghiệp vay được vốn để phục hồi và duy trì sản xuất và giải quyết việc làm Đồng thời, chúng còn góp phần quan trọng làm cho hệ thống ngân hàng cải thiện được tính thanh khoản và duy trì khả năng trả nợ của khách hàng Tuy nhiên, bên cạnh

những kết quả trên, gói kích thích kinh tế vẫn bộc lộ nhiều tồn tại và hệ lụy Thứ nhất, làm phát sinh tình trạng không công bằng giữa các doanh nghiệp được vay và không được vay vốn hỗ trợ lãi suất, tạo ra môi trường kinh doanh bất bình đẳng Thứ hai,

Gói kích thích kinh t ế

2 Nguồn: Báo điện tử Hoạt động khoa học công nghệ của các trường khối kinh tế Việt Nam

Trang 22

việc thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất cùng với việc thực hiện chính sách tài khóa mở

rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng làm cho tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng ở mức cao gây nguy cơ tái lạm phát, gây đột biến trên thị trường ngoại hối, thị trường vàng, thị trường bất động sản Thứ ba, hiệu quả của gói đầu tư công và cho nông dân vay vốn mua thiết bị máy móc còn rất hạn chế do những khó khăn về nguồn

vốn và thủ tục Vì vậy, những thành công và hạn chế của gói kích thích kinh tế quả

thật là những vấn đề rất đáng được nghiên cứu và đánh giá để đưa ra những chính sách phù hợp trong thời gian tới

Trong bối cảnh suy giảm kinh tế, những khó khăn trong sản xuất kinh doanh và

hiệu quả đầu tư kinh doanh giảm sút đã ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động đầu tư phát triển Trước tình hình đó, Chính phủ đã thực hiện các giải pháp kích cầu đầu tư, tăng cường huy động các nguồn vốn, bao gồm việc ứng trước kế hoạch đầu tư ngân sách nhà nước (NSNN) của các năm sau, bổ sung thêm nguồn vốn trái phiếu Chính

phủ, vốn tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu, tín dụng đào tạo lại cho người lao động

bị mất việc làm, … Với những nỗ lực đó, nguồn vốn đầu tư toàn xã hội năm 2009 đã đạt được những kết quả tích cực Ước tính tổng đầu tư toàn xã hội năm 2009 đạt 708,5 nghìn tỷ đồng, bằng 42,2% GDP, tăng 16% so với năm 20081 Trong đó, nguồn vốn đầu tư nhà nước (gồm đầu tư từ ngân sách nhà nước, nguồn trái phiếu Chính phủ, nguồn tín dụng đầu tư theo kế hoạch nhà nước và nguồn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước) là 321 nghìn tỷ đồng, tăng 43,3% so với năm 2008; nguồn vốn đầu tư của tư nhân và của dân cư là 220,5 nghìn tỷ, tăng 22,5% Những kết quả này cho thấy các nguồn lực trong nước được huy động tích cực hơn Tuy nhiên, trong khi các nguồn

vốn đầu tư trong nước có sự gia tăng thì nguồn vốn FDI năm 2009 lại giảm mạnh

Tổng số vốn FDI đăng ký mới và tăng thêm ước đạt 20 tỷ USD (so với 64 tỷ USD năm 2008), vốn thực hiện ước đạt khoảng 8 tỷ USD (so với 11,5 tỷ USD năm 2008) Tổng

vốn ODA ký kết cả năm ước đạt 5,456 tỷ USD, giải ngân đạt khoảng 3 tỷ USD Tăng

vốn đầu tư trong bối cảnh khó khăn kinh tế toàn cầu là một điểm sáng của kinh tế Việt Nam năm 2009 để vượt qua tình trạng suy giảm kinh tế Ty nhiên, những hạn chế trong hiệu quả đầu tư đã xuất hiện từ nhiều năm nay và càng trở thành vấn đề cần giải quyết Nếu như năm 1997, chúng ta đạt được tốc độ tăng trưởng 8,2% với vốn đầu tư

chỉ chiếm 28,7% GDP thì cũng với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ như vậy năm 2007

Đầu tư phát triển

Trang 23

(8,5%) chúng ta phải đầu tư tới 43,1% GDP Đến năm 2009, trong khi tổng mức đầu

tư toàn xã hội lên tới 42,2% GDP, thì tốc độ tăng trưởng lại chỉ đạt 5,2% Chỉ số ICOR năm 2009 đã tăng tới mức quá cao, trên 8 so với 6,6 của năm 2008 Bên cạnh đó, còn

xảy ra tình trạng chậm trễ trong giải ngân nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, lãng phí, thất thoát vốn đầu tư ở tất cả các khâu của quá trình quản lý dự án đầu tư Những đặc điểm này là đáng báo động về cả trước mắt

cũng như lâu dài

Duy trì tốc độ tăng lạm phát và giá cả của năm 2009 ở mức một con số là một điểm sáng nữa trên bức tranh kinh tế Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thế giới chưa thoát khỏi suy thoái kinh tế Thành tựu kiềm chế lạm phát trong năm 2009 có tác động tích cực đến ổn định kinh tế - xã hội cũng như tạo thuận lợi cho việc triển khai các chính sách kích thích kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội

Mặc dù xu hướng tăng của giá tiêu dùng chưa có biểu hiện rõ rệt, nhưng một số yếu tố

chủ yếu có thể sẽ tác động làm tăng nguy cơ tái lạm phát cao trở lại Đó là tăng trưởng tín dụng đang ở mức cao 3 do thực hiện các chính sách tài chính, tiền tệ nhằm ngăn

chặn suy giảm kinh tế; giá của các mặt hàng nước ta nhập khẩu với khối lượng lớn trên

thị trường thế giới bắt đầu có xu hướng tăng cao do sự phục hồi của kinh tế toàn cầu, đặc biệt giá xăng dầu Mặt khác, những nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát cao ở

Việt Nam năm 2008 vẫn còn Đó là sự thiếu kỷ luật tài chính trong đầu tư công và trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và tập đoàn lớn Do vậy,

L ạm phát và giá cả

Nếu như năm 2008 là năm chứng kiến một tốc độ lạm phát cao kỷ lục trong vòng hơn một thập kỷ qua thì năm 2009 lại chứng kiến một mức lạm phát ở mức dưới hai con số Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước qua 10 tháng đầu năm chỉ tăng 4,49% so

với tháng 12/2008 Đây là mức tăng chỉ số giá tiêu dùng khá thấp so với những năm

gần đây và là mức tăng hợp lý, không gây ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của người dân Nhiều loại hàng hoá có ảnh hưởng mạnh trong rổ hàng hoá để tính CPI tăng thấp Chỉ số CPI lương thực tăng nhẹ trong 6 tháng đầu năm (0,59%) nhưng lại có

xu hướng giảm trong những tháng cuối năm Như vậy, nếu như lương thực, thực phẩm luôn là đầu tàu kéo lạm phát đi lên trong những năm 2007 và 2008 thì ở năm 2009 nhân tố này không còn đóng vai trò chính nữa

Trang 24

kích cầu đầu tư thông qua nới lỏng tín dụng cho các DNNN và tập đoàn mà thiếu sự

thẩm định và giám sát thận trọng chắc chắn sẽ kích hoạt cho lạm phát trở lại

T ỷ giá

Trong nhiều năm trở lại đây, Ngân hàng nhà nước (NHNN) kiên trì chính sách ổn định đồng tiền Việt Nam so với đồng đô la Mỹ Diễn biến tỷ giá trong năm 2009 là tương đối phức tạp Mặc dù NHNN đã điều chỉnh nâng tỷ giá liên ngân hàng và biên

độ từ + 3% lên + 5% vào tháng 4/2009, trên thị trường tự do giá ngoại tệ nhanh chóng

áp sát mức 18.300 đồng/đô la Mỹ và đến tháng 11 đã lên trên 19.000 đồng/đô la Mỹ

Trang 25

Chương 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

3.1 CÁC KHÁI NI ỆM CƠ BẢN

3.1.1 Khái ni ệm chỉ số giá tiêu dùng

vụ phục vụ trực tiếp cho đời sống hàng ngày Giá tiêu dùng được biểu hiện bằng giá bán lẻ hàng hoá trên thị trường và giá dịch vụ phục vụ sinh hoạt đời sống; không bao

gồm giá đất đai, giá hàng hoá bán cho sản xuất và các công việc có tính chất sản xuất kinh doanh

hàng tiêu dùng theo thời gian (hoặc nói một cách đơn giản là đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi “người tiêu dùng thông thường” một cách có lựa chọn

Cần chú ý là Chỉ số giá tiêu dùng không phản ánh mức giá mà đo lường mức độ

bi ến động giá giữa hai khoảng thời gian Ví dụ: Chỉ số gía tháng 4/2003 so tháng

3/2003 của nhóm hàng "Thiết bị đồ dùng gia đình " là 100,5% và Chỉ số g iá nhóm hàng "Dược phẩm, Y tế" là 101,3% không có nghĩa là "hàng y tế "đắt hơn "thiết bị đồ dùng gia đình" mà chỉ là : so với tháng 3, gía các mặt hàng y tế tăng mạnh hơn giá các

mặt hàng thiết bị đồ dùng gia đình

) Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì chỉ số này chỉ dựa vào một rổ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng Đây là chỉ số phổ biến nhất để phản ánh sự thay đổi mức giá chính là

100 và giá của các kỳ khác được biểu hiện bằng tỷ lệ phần trăm so với giá kỳ gốc Ví

dụ: Tháng 4/2003 so với tháng 3/2003, giá của toàn bộ các mặt hàng trong danh mục đại diện tăng 0,2% thì Chỉ số giá là 100,2%

Hiện nay Chỉ số giá tiêu dùng được tính hàng tháng, cho 3 gốc: tháng trước, cùng

kỳ năm trước và tháng 12 năm trước

Trang 26

3.1.2 Giá m ột rổ hàng hóa

Chỉ tiêu phổ biến nhất để đo lường giá hàng hóa của một nền kinh tế là chỉ số giá tiêu dùng CPI Việc tính chỉ số giá tiêu dùng được bắt đầu bằng việc tập hợp giá của các hàng hóa đại diện cho nền kinh tế, mà không phải là giá của tất cả các loại hàng hóa, vì

có vô số loại hàng hóa được sản xuất ra trong nền kinh tế Nói cách khác CPI là chỉ tiêu

đo lường giá tổng thể của hàng hóa tiêu dùng đại diện cho một nền kinh tế

Làm thế nào các nhà kinh tế tổng hợp giá của nhiều loại hàng hóa thành một chỉ số

đo lường đáng tin cậy? Họ có thể tính giá trung bình số học Phương pháp tính này xem các loại hàng hóa có tầm quan trọng như nhau trong nền kinh tế Song, do ta mua thịt gà nhiều hơn trứng cá hồi nên giá của thịt gà có ảnh hưởng nhiều lên mức giá chung của

nền kinh tế hơn là trứng cá hồi Vì vậy, cơ quan thống kê của chính phủ sẽ tính bình quân gia quyền với quyền số khác nhau đối với giá của một rổ hàng hóa được tiêu dùng

bởi một người dùng tiêu biểu của nền kinh tế CPI là giá của hàng hóa này vào một năm

nào đó so với giá của nó vào năm “năm gốc”

Ví dụ, mỗi năm người dùng tiêu biểu mua 5 quả táo và 2 quả cam Khi đó CPI là

tỷ số giữa giá của rổ hàng hóa bao gồm 5 quả táo và 2 quả cam của năm hiện hành so

với năm gốc Như thế CPI được tính bằng công thức:

94T C94

5*P 2*P CPI

tốn kém như thế nào so với năm 1994 Nếu CPI = 120% thì ta có thể nói giá của 5 quả táo và 2 quả cam tăng 20% so với năm 1994

Để tính toán chỉ số CPI, chính phủ các nước đều xây dựng cấu trúc rổ hàng hóa cho nước mình trong đó xác định rõ quyền số từng loại hàng hóa Cấu trúc rổ hàng hóa

của nước ta được trình bày trong bảng 2.1

Trang 27

B ảng 3.1 Bảng cập nhật mới nhất về quyền số để tính chỉ số giá tiêu dùng

Mã Các nhóm hàng và d ịch vụ Quy ền số (%)

04 IV Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng 10,01

Điểm đáng chú ý nhất trong cách tính mới là tỷ trọng nhóm hàng ăn và dịch vụ

ăn uống giảm chỉ còn 39,93% thay vì mức 42,85% trước đây, và rổ hàng hàng hóa mới

sẽ bao gồm 573 mặt hàng, tăng 78 mặt hàng so với “rổ” hàng hóa cũ

Ngày 31/12 tại Hà Nội, đại diện Tổng cục Thống kê, Vụ trưởng Vụ Thống kê thương mại, dịch vụ và giá cả Trần Thị Hằng cho biết, cách tính CPI ở Việt Nam thời

Trang 28

Cơ cấu quyền số (tỷ trọng chi tiêu của từng nhóm hàng hoá, dịch vụ so với tổng giá trị chi tiêu) giữa các nhóm hàng hóa cũng có sự thay đổi để phản ánh sát thực và chính xác hơn với xu hướng tiêu dùng hiện nay Điều này được thể hiện rõ nét nhất qua việc quyền số của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (thuộc nhóm hàng cấp I)

giảm chỉ còn 39,93%, thay vì mức 42,85% trước đây

Nhóm hàng này cũng được tách chi tiết thành 3 nhóm hàng gồm lương thực (8,18

%), thực phẩm (24,35 %) và ăn uống ngoài gia đình (7,4 %)

Theo ông Nguyễn Đức Hòa, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê, Thứ trư ởng

Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẳng định: do mức sống của người dân có xu hướng ngày càng được cải thiện, tỷ lệ tiêu dùng dành cho ăn uống có xu hướng giảm xuống Các nhóm hàng hóa còn lại đều có cơ cấu quyền số tăng lên trong rổ hàng hóa chung

Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ tiếp tục không nằm trong chỉ số giá tiêu dùng và được công bố hàng tháng cùng với chỉ số giá tiêu dùng

Việc thay đổi một số nội dung trong phương án tính CPI nhằm đảm bảo chất lượng và tăng độ chính xác cho chỉ số CPI (thước đo lạm phát của nền kinh tế); trên cơ

sở đó giúp Chính phủ và các nhà hoạch định có các chính sách điều hành hiệu quả

nhất

3.2 NH ỮNG MẶT HÀNG TRONG RỔ HÀNG HÓA

Qua cấu trúc của một rổ hàng hóa để tính CPI ở Việt Nam ta thấy có 11 thành tố

của chỉ số giá tiêu dùng Để đánh giá đúng tầm quan trọng của từng nhóm hàng, đề tài

sẽ tiến hành phân tích vị thế, nhu cầu và giá cả của từng mặt hàng hàng trên thị trường kinh tế nước ta

3.2.1 Hàng ăn và dịch vụ ăn uống

Đây là nhân tố ảnh hưởng hàng đầu đến chỉ số CPI Nó ba o gồm: lương thực,

thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình

Trong yếu tố lương thực có rất nhiều mặt hàng tác động trực tiếp như giá các loại thóc gạo, giá các loại lương thực chế biến sẵn và giá một số lương thực khác Hiện nay, mặc dù nước ta đang là nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới nhưng giá gạo trong nước cũng đã tăng mạnh trong thời gian gần đây.3

3 Việt Nam đã xuất 500.000 tấn gạo trong quý 4/2007 Cả năm 2007, nước ta xuất được tổng cộng 4,5 triệu tấn và là quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 3 trên thế giới sau Thái Lan và Ấn Độ.

Đặc biệt vào cuối tháng 4 năm

2008, giá một số loại gạo đã tăng kỷ lục và tăng hơn 200% Sự kiện đã khiến người

Trang 29

dân hoang mang, ùn ùn kéo đi mua gạo về dự trữ, khiến mặt hàng này càng trở nên khan hiếm

Giá các loại thực phẩm như: rau củ, trái cây, thịt, sữa, đường, trứng, cũng tăng

nhẹ trong thời gian gần đây Cụ thể vào dịp cuối năm, giá một số mặt hàng thực phẩm

sẽ tăng mạnh hơn trước vì đây là khoảng thời gian người tiêu dùng cần mua nhiều mặt hàng để phục vụ Tết Nguyên đán Mặt hàng gia vị như: nước mắm, bột canh, mỳ chính, bột nêm, đường, đến các sản phẩm đông lạnh như tôm, cá chả giò, cũng đều nhích lên so với trước Tết

Đối với mặt hàng sữa, với lý do tỷ giá VND/USD tăng thêm, các hãng sữa đồng

loạt tăng giá bán từ 5 - 10% ngay từ những ngày đầu năm mới 2010 Đón đầu đợt điều

chỉnh này, nhiều đại lý đã chủ động tăng giá sữa trước khoảng 5%.4

3.2.2 Đồ uống và thuốc lá

Ngoài ra việc ăn uống ngoài gia đình như tổ chức các buổi lễ, tiệc cũng chi phối

một phần đến yếu tố hàng ăn và dịch vụ ăn uống Trên thị trường hiện nay có rất nhiều nhà hàng, các quán ăn phục vụ cho nhiều tầng lớp của người tiêu dùng Nhìn chung, nhu cầu về nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống đang rất phát triển và đang thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngòai nước tham gia

Hiện nay trên thị trường nước ta có rất nhiều mặt hàng đồ uống và thuốc lá có

xuất xứ từ khắp nơi trên thế giới từ khi nước ta gia nhập WTO Sức tiêu thụ đối với hai

mặt hàng này là tương đối cao

Trang 30

để sản xuất quần, áo, mũ nón và giày dép Bên cạnh đó là sự cạnh tranh từ các nhãn

hiệu nổi tiếng trên Thế giới Chính vì thế đã làm cho thị trường may mặc rất sôi động

và ngày càng phát triển

Kể từ khi Chính phủ áp dụng bắt buộc người khi tham gia giao thông bằng xe môtô phải đội mũ bảo hiểm thì thị trường nón bảo hiểm đã có những biến động nhất định Theo Ủy ban an toàn giao thông quốc gia, càng gần đến thời điểm bắt buộc đội nón bảo hiểm (NBH) trên mọi tuyến đường (từ 15-12-2007), các loại NBH càng có

biểu hiện “sốt giá” Hiện nay nhiều loại NBH đã tăng giá từ 30%-50% so với 9 tháng đầu năm 2007 Ví dụ NBH Honda tăng từ 178.000-180.000đ/chiếc lên 280.000đ/chiếc, NBH Protec tăng từ 165.000 lên 215.000đ/chiế c, NBH Amoro tăng từ 95.000 lên 150.000đ/chiếc…

So với năm ngoái thì năm nay, mặt hàng giày dép có nhiều cải tiến về chất lượng,

kiểu dáng và mẫu mã, do sản lượng cũng tăng từ 25% đến 30%, giá cũng tăng mạnh

3.2.4 Nhà ở và vật liệu xây dựng

Trong nhóm nhà ở v à vật liệu xây dựng bao gồm: tiền thuê nhà ở, điện, nước,

chất đốt và vật liệu xây dựng

V ật liệu xây dựng: Những năm gần đây giá của nhà ở và vật liệu xây dựng có

những biến động lớn Ngày 7/01/2010 thi giá thép, kính xây dựng sẽ tăng theo giá dầu

Bởi để sản xuất ra một tấn thép, chi phí nhiên liệu tiêu hao khoảng 50 kg madút

Như vậy, từ ngày 1-4, madút tăng thêm 400 đồng/kg, chi phí cho mỗi tấn thép

phải đội thêm ít nhất 20.000 đồng nữa Đó là chưa kể đến chi phí vận chuyển.6

5Nguồn: Báo điện tử www.vietbao.vn ngày 12/3/2008

6 Nguồn: báo điện tử www.taichinhdientu.vn

Trang 31

Mặt bằng của cả nước tháng này tăng 1,05%, gấp đôi so với mức tăng tháng trước, chủ yếu do đây là thời gian giáp Tết, nhu cầu mua sắm tăng cao Đáng chú ý, giá nhà ở và vật liệu xây dựng tăng tới 3,08%, gấp 6 lần tháng trước Theo các chuyên gia nhà đất, thị trường bất động sản đang có dấu hiệu ấm lên Trong đó, một số khách hàng giàu lên nhờ chứng khoán đã đổ xô tậu nhà Thời gian này cũng là dịp các gia đình, công sở rậm rịch tân trang nhà cửa, nên vật liệu xây dựng, trang trí cũng được

dịp tăng giá Tháng 12/2006, nhóm hàng vật liệu xây dựng và nhà ở chỉ tăng 0,5% Còn cùng kỳ năm ngoái, mức tăng cũng chỉ là 0,8%

Điện: Do ảnh huởng từ giá nguyên vật liệu tăng nên giá thuê nhà, giá điện, nước

tăng Bộ Công Thương vừa ban hành thông tư quy định giá bán điện năm 2009 và hướng dẫn thực hiện giá điện mới từ ngày 1-3-2009 Theo đó, giá bán lẻ điện sinh hoạt tính lũy tiến 7 bậc được áp dụng với các hộ gia đình sử dụng điện cho nhu cầu sinh

hoạt có hợp đồng mua bán điện trực tiếp với bên bán điện

B ảng 3.2 Giá điện bán lẻ áp dụng cho các hộ gia đình GIÁ ĐIỆN BÁN LẺ ÁP DỤNG CHO CÁC HỘ GIA ĐÌNH

Nước: Bộ Tài chính vừa ban hành khung giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt tại các

khu vực đô thị và nông thôn, theo đó giá nước sạch sinh hoạt tối đa tại đô thị đặc biệt,

đô thị loại 1 tối thiểu là 3.000 đồng/m3, tối đa là 12.000 đồng/m3 Cụ thể, theo Thông

tư số 100 /2009/TT-BTC do Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Văn Hiếu ký ban hành ngày 20/5, giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt các hộ dân cư tại đô thị loại 2, loại 3, loại

4, loại 5 tối thiểu là tối thiểu là 2.000 đồng/m3, tối đa là 10.000 đồng/m3 Riêng khu

vực nông thôn, giá nước sạch sinh hoạt tối thiểu là 1.000 đồng/m3 và tối đa là 8.000

Trang 32

đồng/m3 Đối với nước sạch sinh hoạt tại khu công nghiệp thì áp dụng khung giá nước

sạch sinh hoạt tại đô thị nơi có khu công nghiệp

Do giá điện và nước tăng nên giá thuê nhà cũng đồng loạt tăng giá Có một thực

trạng hiện nay đang xảy ra tại các thành phố lớn, nơi tập trung đông đúc các sinh viên, giá thuê nhà trọ của sinh viên sau mỗi đợt Tết đều tăng giá Đây là một vấn đề mà

những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn luôn phải đau đầu trong những năm gần đây

Xăng dầu: Mặt hàng có những biến động lớn trong thời gian qua là xăng dầu Ta

có biểu đồ thể hiện giá xăng A92 trong thời gian từ năm 1995 đến tháng 7/2008

S ản phẩm

Hình 2.1: Bi ểu đồ giá xăng tăng từ ngày 3.7.2005 - 21.7.2008

Vào ngày 21/7/2008 giá xăng dầu đã đạt mức kỷ lục Theo đó, giá xăng A92 tăng lên thành 19 nghìn đồng/lít; giá xăng A95 tăng thành 19,5 nghìn đồng/lít Giá dầu diesel là 15,950 nghìn đồng/lít; dầu hỏa là 20 nghìn đồng/lít Hiện nay tình hình giá xăng dầu luôn thay đổi liên tục do Chính phủ đã thực hiện chính sách thả nổi đối với

Trang 33

3.2.5 Thi ết bị, đồ dùng gia đình

Giá thiết bị, đồ dùng gia đình cũng bị ảnh huởng từ giá nguyên vật liệu tăng Tại

thị trường Hà Nội, hiện loại vở 72 trang của Hồng Hà, Mai Hà, Tiến Thành có giá bán giao động từ 3 500 đồng đến 8.000 đồng; vở 120 trang từ 6.000 đồng đến 12.000 đồng/quyển; vở ôly 48 trang có giá bán từ 3.300 đồng đến 6.000 đồng, vở ô-ly 96 trang từ 8 000 đồng đến 9.000 đồng/quyển, tuỳ theo độ sáng, trắng tự nhiên của sản

phẩm.Không chỉ có vở học sinh mới tăng giá mà các loại sách giáo khoa (sách giáo khoa) giá cũng đã tăng khoảng 10% so với năm học trước, trung bình mỗi bộ sách giáo khoa tăng từ 6000-9000 đồng/bộ.7

bi, viết chì thì giá bán lẻ và sỉ tại các chợ và các nhà sách hiện nay cũng tăng nhẹ từ

500 đồng đến 20.000 đồng/cây, bút bi Thiên Long loại thường trước đây có 12.000 đồng/chục, nay lên đến 18000 đồng/chục, tại chợ Bình Tây, quận 6, Tp.HCM các loại bút lông dạ quang của Trung Quốc từ 18.000 đồng/chục cũng lên 22.000 đồng/chục

Hiệp hội Sản xuất kinh doanh dược phẩm, hôm 23-12 cho hay giá dược phẩm trên thị trường đã có ít nhiều biến động và có một số mặt hàng tăng giá gần 6%, cá biệt

có mặt hàng tăng 9%

Đối với mặt hàng thuốc do trong nước sản xuất, qua khảo sát 4.668 lượt mặt hàng tại khu vực Hà Nội thì có 96 lượt mặt hàng tăng giá với tỷ lệ tăng trung bình khoảng 4,6% Riêng thị trường miền Trung và miền Nam, giá cả thuốc nội tương đối

ổn định Tuy nhiên, đáng lo ngại là thuốc ngoại nhậ p có dấu hiệu tăng lên do biến động của tỷ giá đô la Mỹ, euro và giá xăng

Qua khảo sát 5.676 mặt hàng thuốc ngoại, trong tháng 12 đã có 59 mặt hàng tăng giá với mức tăng trung bình gần 6%, so với mức tăng khoảng 4% trong tháng 11 Các

loại thuốc cảm cúm, giảm sốt, vitamine thông dụng có mức tăng lên đến 9% Cụ thể,

7 Theo tác giả Đinh Phong – Kim Dũng ở báo www.vneconomy.vn

Ngày đăng: 23/10/2020, 22:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w