Để góp phần xây dựng qui trình ương cá linh trong ao đất, đề tài khảo sát các yếu tố thủy lý, hóa và xác định thành phần, mật độ của thực vật và động vật phiêu sinh trong 3 ao ương cá li
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THẮNG CẢNH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG NƯỚC
AO ƯƠNG CÁ LINH (Cirrhinus jullieni)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THẮNG CẢNH MSSV: LT09203
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG NƯỚC
AO ƯƠNG CÁ LINH (Cirrhinus jullieni)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CBHD: TS LAM MỸ LAN
Trang 3TÓM TẮT
Cá linh ống (Cirrhinus jullieni Sauvage) là cá nước ngọt đang được nghiên cứu
sản xuất giống Để góp phần xây dựng qui trình ương cá linh trong ao đất, đề tài khảo sát các yếu tố thủy lý, hóa và xác định thành phần, mật độ của thực vật và động vật phiêu sinh trong 3 ao ương cá linh ở Ô Môn Cần Thơ từ tháng 05 năm
2011 đến tháng 07 năm 2011 Các yếu tố thủy lý hóa được đo bằng các bộ test nhanh, thực vật và động vật phiêu sinh được thu bằng phương pháp thu lọc, cố định bằng formol 4% rồi quan sát dưới kính hiển vi để xác định thành phần loài và đếm số lượng Mẫu được định kỳ thu hàng tuần và thu trong 5 tuần, thu vào lúc 7 – 8 giờ sáng Kết quả cho thấy các yếu tố thủy lý, hóa ổn định qua các lần thu mẫu, oxy dao động trong khoảng 4 – 6 mg/L, pH dao động từ 7,5 – 8,5, nhiệt độ dao động từ 27 – 32◦C Trong nghiên cứu này xác định được 48 loài tảo, trong đó tảo lục chiếm tỷ lệ cao nhất với 45% và loài động vật phiêu sinh với phần lớn là Rotatoria với 49% Mật độ tảo ao số 2 cao nhất với 747.148 ± 96.373 cá thể/L, thấp nhất là ao 3 với 531.216 ± 66.679 cá thể/L Mật độ phiêu sinh động vật cao nhất là ao 2 và ao 3 với hơn 9500 cá thể/m3, ao 1 có mật độ là 8.946 ± 1.095 cá thể/m3 Số lượng tảo cao dần qua các lần thu mẫu nhưng có xu hướng giảm dần về cuối vụ ương, mật độ động vật nổi ổn định qua các lần thu mẫu tuy nhiên số loài giảm dần do loài có kích thước lớn ăn loài nhỏ hơn Nhìn chung, các yếu tố thủy lý hóa và phiêu sinh thực vật, động vật khảo sát được thích hợp để ương cá linh
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Hoàn thành đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, công nhân viên chức của Trung tâm giống nông nghiệp Thành phố Cần Thơ đã cho phép và hỗ trợ trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này
Xin cảm ơn đến các anh Hoàng Minh Đức lớp cao học Nuôi trồng thủy sản K16, các bạn lớp Nuôi trồng thủy sản liên thông K35 và các bạn lớp Nuôi trồng thủy sản K33 đã giúp đỡ, động viên để tôi có thể hoàn thành được đề tài này
Đặc biệt, xin cảm ơn cô hướng dẫn đề tài này TS Lam Mỹ Lan cùng các thầy cô, cán bộ trại cá nước ngọt Khoa thủy sản trường Đại học Cần Thơ đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu của tôi được hoàn thành
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
Trang Danh sách bảng i
Danh sách hình ii
Chương I Giới thiệu 1
1.1 Giới thiệu chung 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Nội dung của đề tài 2
1.4 Thời gian thực hiện 2
Chương II Tổng quan tài liệu 3
2.1 Các yếu tố thủy l ý hóa 3
2.1.1 Nhiệt độ 3
2.1.2 Độ trong 3
2.1.3 Oxy hòa tan 4
2.1.4 pH…… 5
2.1.5 Tổng đạm Ammonium 6
2.2 Động vật và thực vật phù du 6
2.2.1 Thực vật phù du 6
2.2.2 Động vật phù du 7
Chương III Phương pháp nghiên cứu 8
3.1 Vật liệu 8
3.2 Phương pháp nghiên cứu 8
3.3 Phương pháp thu và phân tích số liệu 11
Chương IV Kết quả thảo luận 12
4.1 Các yếu tố thủy lý, hóa 12
4.1.1 Nhiệt độ 12
4.1.2 pH 12
4.1.3 Oxy hòa tan 13
4.1.4 Tổng đạm Ammonium (N-NH4 + ) 15
4.1.5 Độ trong 15
4.2 Thực vật và động vật phiêu sinh 16
4.2.1 Thực vật phiêu sinh 16
4.2.2 Động vật phiêu sinh 22
Chương V Kết luận – Đề xuất 26
5.1 Kết luận 26
5.2 Đề xuất 26
Tài liệu tham khảo
Phụ Lục
Trang 6DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Một số yếu tố thủy lý hóa trung bình qua các đợt thu mẫu 12
Bảng 4.2 Số lượng thực vật phiêu sinh 19
Bảng 4.3 Số lượng động vật phiêu sinh 24
Trang 7DANH SÁCH HÌNH
Trang Hình 3.1 Các bộ test O2, pH, NH4+ 10
Hình 4.1 Biến động pH qua các lần thu mẫu 13
Hình 4.2 Biến động hàm lượng oxy hòa tan trong các ương 14
Hình 4.3 Hàm lượng N-NH4 + qua các lần thu mẫu 15
Hình 4.4 Độ trong các ao ương cá linh 16
Hình 4.5 Thành phần giống loài thực vật phiêu sinh trong ao 1 17
Hình 4.6 Thành phần giống loài thực vật phiêu sinh trong ao 2 17
Hình 4.7 Thành phần giống loài thực vật phiêu sinh trong ao 3 18
Hình 4.8 Số lượng tảo theo ngành trong ao 1 20
Hình 4.9 Số lượng tảo theo ngành trong ao 2 21
Hình 4.10 Số lượng tảo theo ngành trong ao 3 21
Hình 4.11 Thành phần loài động vật phiêu sinh 22
Hình 4.12 Số loài động vật phiêu sinh trong 3 ao ương qua các lần thu mẫu 23
Hình 4.13 Số lượng động vật phiêu sinh ao 1 24
Hình 4.14 Số lượng động vật phiêu sinh ao 2 25
Hình 4.15 Số lượng động vật phiêu sinh ao 3 25
Trang 8
CHƯƠNG I GIỚI THIỆU
1 1 Giới thiệu chung
Nghề nuôi thủy sản ở nước ta đã bắt đầu từ những năm 1960 và phát triển nhanh chóng trong vòng mười năm trở lại đây Theo thống kê của Bộ Thủy sản (2006) thì năm 1999 cả nước có tổng cộng trên 524.619 ha nuôi thủy sản, đạt sản lượng 480.767 tấn Năm 2005, cả nước có gần 1.000.000 ha nuôi thủy sản, đạt sản lượng 1.437.356 tấn, trong đó sản lượng nuôi thủy sản nước lợ - măn là 546.716 tấn, sản lượng nuôi nước ngọt đạt 890.650 tấn Hiện nay, đối tượng nuôi và mô hình nuôi thủy sản ở Việt Nam khá phong phú, tuy nhiên chủ lực nhất vẫn là nuôi cá tra thâm canh ở vùng nước ngọt và nuôi tôm ở vùng nước lợ ven biển Đặc biệt, năm
2007, sản lượng nuôi cá tra và basa đạt trên 1.200.00 tấn và sản lượng tôm nuôi đạt 307.000 tấn Theo kế hoạch, đến năm 2010 diện tích nuôi trồng thủy sản cả nước là 1.000.000 ha, đạt sản lượng 2.000.000 tấn và kim ngạch xuất khẩu đạt 2.500.000 USD, thu hút 2.800.000 lao động nuôi trồng thủy sản (Bộ Thủy Sản, 2006)
Tuy nhiên, hiện nay việc nuôi cá tra, cá ba sa hay các đối tượng giáp xác như tôm, cua đòi hỏi có nguồn vốn lớn và trình độ kỹ thuật cao Điều đó không phù hợp với đại đa số người dân, đặc biệt là vùng đồng bằng Sông Cửu Long với số đông là các hộ nuôi nhỏ lẻ, trình độ kỹ thuật thấp nên việc nuôi cá tra hay tôm sú thường không mang lại hiệu quả cao và sức cạnh tranh thấp Chiến lược đặt ra là phát triển các loài cá bản địa có giá trị kinh tế như cá lóc, cá rô, cá trê, cá linh,…Trong đó cá linh là một trong các loài cá nuôi mới bởi vì hàng năm loài cá này có sản lượng lớn khai thác ngoài tự nhiên, chủ yếu là các tỉnh đầu nguồn như An Giang, Đồng Tháp Tuy vậy, sản lượng của chúng cũng ngày một ít đi do khai thác quá nhiều nên hướng sản xuất giống và nuôi trong điều kiện nhân tạo được mở ra, tạo điều kiện để phát triển phong phú loài nuôi hơn cho người dân
Việc ương nuôi cá linh cũng như các đối tượng thủy sản khác, môi trường nước là điều kiện vô cùng quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của chúng Các yếu tố thủy l ý hóa ảnh hưởng đến hô hấp, trao đổi chất, điều hòa áp suất thẩm thấu… của cá, bên cạnh đó các loài phiêu sinh động và thực vật cũng góp phần không nhỏ, chúng là thức ăn tự nhiên, góp phần ổn định môi trường và cân bằng
hệ sinh thái trong ao nuôi Chính vì thế nên đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm
Trang 9
1.2 Mục tiêu của đề tài
Đề tài khảo sát sự biến động của một số chỉ tiêu thủy l ý hóa, sự biến động về thành phần và mật độ của phiêu sinh thực vật, động vật trong quá trình ương cá linh góp
phần làm cơ sở xây dựng qui trình ương cá linh trong ao đất
1.3 Nội dung của đề tài
- Khảo sát một số yếu tố thủy l ý hóa môi trường nước trong ao ương cá linh
- Khảo sát sự biến động thành phần loài và số lượng thực vật và động vật phiêu sinh
1.4 Thời gian thực hiện
Đề tài được được thực hiện từ tháng 04 năm 2011 đến tháng 07 năm 2011
Trang 10
CHƯƠNG II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Các yếu tố thủy l ý hóa
2.1.1 Nhiệt độ
Cá là động vật biến nhiệt nên sự thay đổi của nhiệt độ môi trường luôn ảnh hưởng rất lớn đến quá trình trao đổi chất của cá và các sinh vật khác trong thủy vực Khoảng nhiệt độ tối ưu cho sinh trưởng của cá vùng nước ấm là 25 – 30oC (Trương Quốc Phú, 2009)
Các quá trình hô hấp của sinh vật và phản ứng hóa học trong nước sẽ xảy ra nhanh gấp 2 lần nếu nhiệt độ tăng 10oC (Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2010)
Nhiệt độ môi trường nước biến động chủ yếu theo sự biến động của nhiệt độ không khí, nguồn chính gây nên nhiệt độ nước là từ bức xạ mặt trời Để quản l ý tốt nhiệt độ trong ao nuôi thì cần phải chọn vùng nuôi có điều kiện thích hợp và chọn đối tượng nuôi thích hợp với điều kiện vùng nuôi đó, thiết kế - thi công công trình phù hợp như ao phải đủ lớn, độ sâu từ 1,2 - 1,5 m thì có thể duy trì được nhiệt độ thích hợp (Trương Quốc Phú, 2009)
Dụng cụ để xác định nhiệt độ là nhiệt kế phân độ từ 0 - 100oC Theo kết quả của nhiều nghiên cứu trước đây nhiệt độ môi trường nước ao ương, nuôi thủy sản dao động từ 25 - 32o
C Ao nuôi trong mô hình kết hợp cá - heo ở Ô Môn (Cần Thơ) nhiệt độ từ 25 - 30oC (Thạch Thanh Thảo, 1996) Nhiệt độ nước trong mô hình nuôi kết hợp lúa cá ở Nông trường Sông Hậu – Cần Thơ là 28 – 30oC (Nguyễn Minh Trị, 1996) Nhiệt độ ao nuôi cá rô đồng và ao nuôi cá rô phi có nhiệt độ từ
27 – 31oC (Nguyễn Văn Nị, 2004) Theo Tô Công Tâm (2002) thì nhiệt độ trong
ao nuôi cá tra trong mùa lũ biến động từ 27,9 - 31,5oC Nhiệt độ ao nuôi biến động
từ 26 - 30oC là kết quả nghiên cứu của Bùi Ngọc Thể (1996) trong ao nuôi kết hợp
cá - heo tại nông trường Sông Hậu - Cần Thơ và đó cũng là kết quả của Trần Vũ Thanh (1997) trong ao nuôi cá thịt ở huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang Theo Lê Chánh Khoa (2002) nhiệt độ trong ruộng nuôi kết hợp lúa – cá và lúa – tôm dao động từ 27,8 – 31o
C
2.1.2 Độ trong
Độ trong của nước gây ra do các chất lơ lửng trong nước, mật độ động thực vật phù du có trong nước Nếu độ trong là mật độ động và thực vật phù du gây ra chủ
Trang 11
Dụng cụ để đo độ trong hiện nay là đĩa Secchi, có hình tròn với đường kính là 20
cm, được chia thành 4 phần đều nhau và sơn 2 màu trắng, đen xen kẻ với nhau, có dây ở tâm của đĩa để giữ đĩa khi đo (đôi khi được làm dấu về kích thước để xác định ngay độ trong lúc đo) Khi xác định độ trong, cho đĩa Secchi chìm dần dần trong nước đến khi không còn phân biệt được 2 màu sơn trên đĩa thì xác định độ trong là khoảng cách đó (Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2010)
Kết quả của một số nghiên cứu cho thấy độ trong của thủy vực nuôi thủy sản và tự nhiên dao động khá lớn, tùy theo thủy vực mà có độ trong khác nhau Ruộng nuôi kết hợp lúa – cá, lúa – tôm ở Ô Môn – Cần Thơ, có độ trong khá thấp 6,5 – 10 cm (Lê Chánh Khoa, 2002), cũng mô hình cá – lúa ở Ô Môn theo nghiên cứu của Thạch Thanh Thảo (1996) là 10 – 15 cm, trong khi ao nuôi kết hợp cá – heo có độ trong cao hơn 14 – 24 cm Theo Nguyễn Minh Trị (1996) nghiên cứu môi trường nước ở nông trường Sông Hậu thì độ trong trong ao nuôi kết hợp lúa – cá là 18,5 –
33 cm Đối với thủy vực nước mặn thì độ trong cao hơn so với thủy vực nước ngọt Ở mô hình nuôi thủy sản kết hợp với rừng ngập mặn tại lâm trường Ngọc Hiển – Cà Mau độ trong được xác định dao động từ 15 – 53 cm (Bùi Trung Quân, 2001)
Theo Trương Quốc Phú (2009) độ trong thích hợp cho ao nuôi thủy sản nước ngọt
từ 15 – 40 cm
1.3 Oxy hòa tan
Oxy là chất khí quan trọng đối với đời sống thủy sinh vật, sinh vật nào cũng cần
hô hấp để sống Hàm lượng oxy hòa tan có thể giảm rất thấp gây chết sinh vật nuôi Tuy nhiên, ảnh hưởng bất lợi của oxy hòa tan thấp thường gây giảm sinh trưởng và dễ nhạy cảm với bệnh Trong ao có hàm lượng oxy thấp thường xuyên, sinh vật sẽ ít ăn và chúng sẽ không chuyển hóa thức ăn một cách hiệu quả như ở
ao nuôi có hàm lượng hòa tan bình thường (Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2010)
Oxy trong thủy vực được cung cấp từ các nguồn: quang hợp của thực vật thủy sinh, khuếch tán oxy từ không khí, trong đó chủ yếu là từ sự quang hợp của thực vật Nguồn tiêu hao oxy thủy vực gồm: hô hấp của thủy sinh vật, các phản ứng oxy hóa trong thủy vực, sự khuếch tán trở lại không khí Hàm lượng oxy thích hợp cho cá >3 mg/L Các nguyên nhân gây thiếu oxy trong thủy vực thường gặp là: tảo phát triển quá mức vào ban đêm chúng sẽ hô hấp mạnh làm biến động oxy theo ngày đêm lớn, đó cũng là nguyên nhân khiến cá hay nỗi đầu vào sáng sớm do
Trang 12
thiê ú oxy Khi tảo tàn sẽ tiêu hao lượng lớn oxy để phân hủy từ đó gây thiếu oxy nghiêm trọng có khi oxy xuống dưới 1 mg/L Ngoài ra các phản ứng phân hủy vật chất hữu cơ trong ao cũng tiêu tốn lượng lớn oxy hòa tan Để hạn chế việc thiếu oxy nên thiết kế ao nuôi thoáng, không cho ăn, bón phân quá thừa, ao nuôi cần có
hệ thống trao đổi nước tốt (Trương Quốc Phú, 2009) Biện pháp đển xác định oxy hòa tan là thu mẫu về phòng thí nghiệm phân tích hoặc test nhanh tại hiện trường bằng bộ test Oxy
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng oxy hòa tan trong nước biến động lớn tùy theo điều kiện môi trường nuôi Ở mô hình nuôi kết hợp cá – heo tại Ô Môn – Cần Thơ hàm lượng oxy từ 2,4 – 3,5 mg/L (Thạch Thanh Thảo, 1996) Hàm lượng Oxy trong ao nuôi cá tra thâm canh ở An Giang trung bình là 5,61 mgL, ở Hậu Giang là 5,02 mg/L và ở Cần Thơ là 6,9 mg/L (Võ Thanh Vũ Phong, 2008) Biến động oxy trong ao cá tra vào mùa lũ là 1 – 5 mg/L (Tô Công Tâm, 2002) Trong ao nuôi cá tra thâm canh ở An Giang thì có hàm lượng oxy dao động
hô hấp của thủy sinh vật pH tăng do nguyên nhân: quá trình quang hợp, bón vôi
pH ảnh hưởng lớn đến đời sống của cá Khi pH thấp sẽ gấy tiết dịch nhờ bề mặt mang, giảm trao đổi khí và ion, mất cân bằng acid – base, giảm NaCl trong máu, rối loạn điều hòa áp suất thẩm thấu, tế bào máu trương phồng, mất khả năng điều hòa chất điện giải, giảm khả năng vận chuyển khí oxy Khi pH tăng cao làm cho biểu bì phiến mang bị sưng phồng, tổn thương thủy tinh thể và giác mạc, mất cân bằng acid – base Ngoài ra pH còn ảnh hưởng đến độ độc của NH3 và H2S, ảnh hưởng đến hoạt tính của hóa chất khi bón vào ao Để tránh pH thấp thì không nên phơi nứt nẻ đáy ao ở vùng đất phèn, tránh đất phèn tiếp xúc với không khí, nên bón vôi xung quanh ao trước những cơn mưa đầu mùa Tránh pH cao thì cần cải tạo ao tốt, không cho ăn thức ăn quá thừa và bón phân quá liều Để khắc phục pH thấp thì có thể thay nước mới có pH cao hơn, bón vôi, bón phân Khi pH cao có thể dùng phèn để hạ pH xuống 8,34 pH thích hợp cho hầu hết các loài cá tôm là từ
6 - 9 (Trương Quốc Phú, 2009)
Trang 13
Việc xác định pH nước có thể dùng máy đo pH ở phòng thí nghiệm, máy đo pH tại hiện trường, test pH bằng mẫu quỳ tím, test pH bằng bộ kit test pH Có nhiều
nghiên cứu khảo sát về pH Theo nghiên cứu của Huỳnh Trường Giang và ctv
(2006) pH trong ao nuôi cá tra thâm canh ở An Giang dao động từ 6,73 – 9,2 và không có khác biệt giữa các mùa Ao nuôi cá rô đồng và ao nuôi cá rô phi có pH
từ 6,7 – 7,75 (Nguyễn Văn Nị, 2004) Trong mô hình nuôi kết hợp lúa – cá ở một
số tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long có giá trị pH dao động trong khoảng 6,5 – 7 (Nguyễn Văn Lành, 2000) Theo Bùi Ngọc Thể (1996) pH trong ao nuôi kết hợp
NH3 trong nước cao, chúng tích lũy trong máu dẫn đến rối loạn trao đổi chất, có thể dẫn đến chết cá Hàm lượng NH3 thích hợp cho cá, tôm là nhỏ hơn 0,1 mg/L
NH4 không độc nhưng hàm lượng quá cao (>2 mg/L) dẫn đến tảo phát triển gây biến động pH, DO và CO2 (Trương Quốc Phú, 2009)
Xác định N_NH4
+
dùng phương pháp Phenate (Indophenol Blue) hoặc test bằng
bộ kit NH4 có trên thị trường Theo kết quả nghiên cứu của Huỳnh Văn Diệp (2000) thì hàm lượng NH4+dao động từ 0,1 – 0,9 mg/L Hàm lượng NH4+ trong ao nuôi theo mô hình kết hợp cá – heo dao động từ 0,1 – 0,35 mg/L Trong ao nuôi kết hợp cá – vịt ở nông trường Sông Hậu dao động từ 0,05 – 0,7 mg/L (Thạch Thanh Thảo, 1996) Biến động hàm lượng NH4
Trang 14
trường, xác định địa tầng và địa chất, giải thích các vấn đề của tiến hóa và các biến đổi của môi trường Bên cạnh đó tảo cũng gây ra những tác hại như: tiết ra độc tố, gây biến động pH, làm giảm oxy của thủy vực
Theo các nghiên cứu trước đây, việc định tính và định lượng tảo bằng cách thu mẫu qua lưới phiêu sinh thực vật, sau đó phân tích trong phòng thí nghiệm, quan sát dưới kính hiển vi để định danh và đếm số lượng tảo qua buồng đếm để định lượng Một số kết quả nghiên cứu cho thấy ở các thủy vực nước ngọt các ngành tảo thường gặp là tảo lục (Chlorophyta), tảo lam (Cyanophyta), tảo mắt (Euglenophyta), tảo khuê (Bacilariophyta) Trong ao nuôi kết hợp lúa cá tại nông trường Sông Hậu – Cần Thơ thì có 28 loài tảo trong đó tảo lục chiếm đa số với 9 loài và tảo mắt chiếm ít nhất với 4 loài, số lượng tảo được xác định dao động từ 23.100 – 38.300 cá thể/L (Nguyễn Minh Trị, 1996) Theo kết quả nghiên cứu của Thạch Thanh Thảo (1996) mật độ tảo trong ao nuôi kết hợp cá- heo là 996.300 – 177.380 cá thể/L Trong ruộng nuôi kết hợp lúa – cá tạo Ô Môn – Cần Thơ mật độ tảo được xác định từ 6.219 – 20.690 cá thể/L (Nguyễn Văn Lành, 2000)
2.2 Động vật phù du (Zooplankton)
Là các động vật bơi lội thụ động, sống trôi nổi trong nước, không vận động hoặc vận động rất yếu, không có khả năng bơi ngược dòng nước Zooplankton bao gồm một số nhóm như: nguyên sinh động vật (Protozoa), luân trùng (Rotatoria), giáp xác râu ngành (Cladocera), giáp xác chân chèo (Copepoda) Động vật thủy sinh là thành phần quan trọng trong mạng lưới thức ăn của thủy vực, đóng góp vào năng suất sinh học của thủy vực, một số loài có khả năng lọc sạch thủy nước của thủy vực như làm giảm chất hữu cơ do đặc tính ăn lọc (Protozoa, Rotatoria, Cladocera), chúng còn làm sinh vật chỉ thị cho môi trường Để thu và phân tích mẫu động vật phù du thì người ta dùng lưới phiêu sinh động vật để thu mẫu và đem phân tích dưới kính hiển vi trong phòng thí nghiệm để định tính và định lượng các loài thủy sinh động vật trên (Vũ Ngọc Út, 2009)
Kết quả của một số nghiên cứu trước đây về thành phần và mật độ của động vật phiêu sinh cho thấy các nhóm chủ yếu là Protozoa, Rotatoria, Cladocera, Copepoda Theo Nguyễn Minh Trị (1996) mật độ động vật phiêu sinh trong ao nuôi kết hợp lúa – cá ở nông trường Sông Hậu là từ 28.770 – 35.493 cá thể/m3trong đó chủ yếu là nhóm Rotatoria với khoảng 29 – 40% và ít nhất là nhóm Protozoa khoảng 0,9 –1,1 % Trong ao nuôi kết hợp cá – heo thì mật độ này là 418 – 63.180 cá thể/m3 có tổng cộng 32 loài trong đó đa số là Rotatoria với 17 loài, ít
Trang 15
nhất là Protozoa với 3 loài (Thạch Thanh Thảo, 1996) Trong ao nuôi cá kết hợp lúa ở Ô Môn có mật độ zooplankton dao động từ 208 – 754 cá thể/lít (Nguyễn Văn Lành, 2000) Đối với thủy vực tự nhiên ở 2 tuyến kênh Ô Môn – Xà No có mật độ phiêu sinh động vật dao động từ 6.350 – 27810 cá thể/m3 (Đặng Văn Thanh, 2000)
CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu
Vật liệu dùng thu và phân tích mẫu nước
- Nhiệt kế (phân độ 100oC)
- Đĩa Secchi
- Các bộ test nhanh các chỉ tiêu: pH, Oxy, NH4,
Vật liệu dùng thu và phân tích mẫu phiêu sinh động thực vật
- Lưới phiêu sinh thực vật
- Lưới phiêu sinh động vật
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Địa điểm thu mẫu: 03 ao ương cá linh ở Ô Môn (Cần Thơ), mỗi ao 500 m2
Mật độ cá thả như sau: ao 1: 500 con/ m2, ao 2: 600 con/m2, ao 3: 400 con/m2 Trong suốt thời gian ương cá linh, cả 3 ao đều được cung cấp thức ăn công nghiệp
Thời gian thu mẫu sẽ được tiến hành từ tháng 05 năm 2011 đến tháng 06 năm
2011, định kỳ 1 tuần thu mẫu một lần, thu vào lúc 7- 8 giờ sáng
Lần 1: ngày 21/05/2011
Trang 16Các chỉ tiêu thủy l ý hóa
Nhiệt độ: dùng nhiệt kế thủy ngân, phân độ từ 0 – 100oC Đặt nhiệt kế xuống nước khoảng 15 – 20 cm sâu, sau khoảng 3 - 5 phút (khi nhiệt kế không còn thay đổi cột thủy ngân) thì nghiêng nhiệt kế và đọc kết quả nhiệt độ nước sau
đó mới lấy nhiệt kế lên Thời gian đo nhiệt độ từ 7 – 8 giờ sáng
Độ trong: Dùng đĩa Secchi để xác định độ trong của nước, giữ lấy dây của
đĩa, thả nhẹ nhàng đĩa xuống nước theo phương vuông góc với mặt nước, đến khi không còn phân biệt được màu trắng và đen trên đĩa thì dừng lại và đọc kết
quả Đo độ trong phải được thực hiện trước tiên so với các chỉ tiêu còn lại Oxy: đo bằng bộ test nhanh nhãn hàng Sera của Đức Cách đo như sau:
Rửa lọ thủy tinh nhiều lần bằng mẫu nước cần kiểm tra, sau đó đổ đầy mẫu nước đến mép lọ Lau khô bên ngoài lọ
Lắc đều chai thuốc thử trước khi sử dụng Nhỏ 6 giọt thuốc thử số 1 + 6 giọt thuốc thử số 2 vào lọ chứa mẫu nước cần kiểm tra, đậy nắp lọ thử ngay sau khi nhỏ (phải đảm bảo không có bất kỳ bọt khí nào trong lọ), lắc đều, sau đó mở nắp lọ ra
Đặt lọ thử nơi nền trắng của bảng so màu, so sánh màu kết tủa của lọ với các cột màu và xác định nồng độ Oxy (mg/l) Thực hiện việc so màu dưới ánh sáng
tự nhiên, tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp chiếu vào
pH: Dùng bộ test nhanh để đo pH, nhãn hàng Sera của Đức cách đo như sau:
Rửa lọ thủy tinh nhiều lần bằng mẫu nước cần kiểm tra, sau đó đổ đầy 5 ml mẫu nước vào lọ Lau khô bên ngoài lọ
Lắc đều chai thuốc thử trước khi sử dụng Cho 4 giọt thuốc thử vào lọ thủy tinh chứa mẫu nước cần kiểm tra, đóng nắp lọ, lắc nhẹ rồi mở nắp ra
Trang 17
So sánh kết quả thử nghiệm với bảng so màu: đặt lọ thủy tinh vào vùng trắng của bảng so màu, đối chiếu giữa kết quả thử nghiệm với bảng so màu rồi xem giá trị pH tương ứng
NH 4 + : Dùng bộ test nhanh NH4+ nhãn hàng Sera của Đức Cách đo như sau: Làm sạch trong và ngoài lọ thủy tinh bằng nước máy trước và sau mỗi lần kiểm tra Lắc đều các chai thuốc thử trước khi sử dụng
Rửa lọ thủy tinh nhiều lần bằng mẫu nước cần kiểm tra, sau đó đổ 5ml mẫu nước vào lọ Lau khô bên ngoài lọ
Cho 3 giọt thuốc thử của chai thuốc thử 1 vào lọ thuỷ tinh chứa mẫu nước cần kiểm tra, đóng nắp và lắc đều
Mở nắp, cho 3 giọt thuốc thử của chai thuốc thử 2 vào lọ, đóng nắp và lắc đều rồi
mở nắp ra
Cho tiếp 3 giọt thuốc thử của chai thuốc thử 3 vào lọ, đóng nắp lọ, lắc đều
Sau 5 phút, đối chiếu màu của dung dịch với bảng màu
Ở bảng so màu, hàng a biểu thị mẫu nước ngọt, hàng b biểu thị mẫu nước mặn Ở đây ao ương cá linh thuộc nước ngọt nên chỉ so với hàng a
Các chỉ tiêu này được đo vào buổi sáng, lúc 7 – 8 giờ sáng
Hình 3.1 Các bộ test O2, pH, NH4
+
Trang 18
Cách thu và phân tích mẫu động vật và thực vật phiêu sinh
Thu mẫu động vật và thực vật phù du có cách thu và phân tích mẫu định tính và định lượng giống nhau, chỉ khác nhau ở chỗ thực vật thu qua lưới phiêu sinh thực vật (kích thước mắt lưới 27 mm), còn động vật thì thu qua lưới phiêu sinh động vật (kích thước mắt lưới 60 mm)
Định tính: Dùng lưới phiêu sinh theo từng loại (thực vật hay động vật) thu nhiều
điểm trong ao (4 góc ao và giữa ao) đặt lưới nghiêng 300, đảo đều tay theo hình số
8 để thu, sau đó cho vào chai nhựa 110 ml, cố định bằng formol 4% Xác định thành phần giống loài khi quan sát dưới kính hiển vi và dựa vào tài liệu phân loại của Shirota (1966)
Định lượng: Thua mẫu định lượng theo phương pháp thu lọc, dùng xô 20 lít thu 5
xô theo 5 điểm trong ao (4 góc ao và giữa ao), mỗi điểm 1 xô sau đó qua lưới phiêu sinh rồi chứa trong chai nhựa 1 lít, cố định mẫu bằng formol 4%
Trong phòng thí nghiệm: cô đặc mẫu và ghi nhận thể tích mẫu cô đặc Sau đó, khuấy đều mẫu cô đặc, dùng ống hút để hút 1 ml mẫu cho vào buồng đếm Sedgwick – Rafter, xem dưới kính hiển vi (độ phóng đại của vật kính là 10)
Xác định số lượng cá thể theo công thức:
Vmt: Thể tích mẫu thu qua lưới lọc (ml)
3.3 Phương pháp thu và xử l ý số liệu
Trang 194.1 Các yếu tố thủy lý hóa
4.1.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ trong các ao ương qua các đợt thu mẫu dao động trong khoảng 27 – 32oC, nhìn chung nhiệt độ trong các ao không có sự khác biệt lớn giữa các ao ương và giữa các đợt thu mẫu Nhiệt độ từ 25 – 32oC là nhiệt độ thích hợp nhất cho các loài
cá ở khu vực nước ấm (Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2010)
Bảng 4.1 Một số yếu tố thủy lý hóa trung bình qua các đợt thu mẫu
Trang 20Giá trị pH trung bình ở các ao ương dao động trong khoảng 7,8 – 8,1 Không có sự chênh lệch nhiều, mỗi lần thu mẫu pH giữa các ao có sự khác nhau từ 0,5 - 1 độ
pH, giữa các lần thu cũng sai khác cao nhất là 1 độ Với kết quả pH thu được như Hình 4.1 cho thấy pH trong các ao ương là tương đối ổn định vì mỗi lần thu cách nhau 1 tuần nên chưa có sự biến động lớn Mặt khác, ao ương được cung cấp thức
ăn công nghiệp nhưng với liều lượng không cao và có bón phân gây màu trước khi ương mà không bón thêm trong quá trình ương nên ít có sự tích tụ dinh dưỡng làm cho tảo không phát triển nhanh nên không có sự biến động lớn về pH Theo kết quả nghiên cứu của Huỳnh Trường Giang, Vũ Ngọc Út và Nguyễn Thanh Phương
Hình 4.1 Biến động pH qua các lần thu mẫu
Trang 21
không có khác biệt giữa các mùa, trong khi ao nuôi cá rô đồng và ao nuôi cá rô phi
có pH từ 6,7 – 7,75 (Nguyễn Văn Nị, 2004) Qua đây cho thấy pH tăng cao theo mức độ thâm canh và liều lượng thức ăn cung cấp
4.1.3 Oxy hòa tan
Hàm lượng oxy hòa tan trong các ao ương dao động từ 4 – 6 mg/L Nhìn chung không có sự biến động lớn về hàm lượng oxy hòa tan trong các ao ương và giữa các đợt thu mẫu cũng không có sự chênh lệch lớn, nồng độ oxy hòa tan có xu hướng giảm dần qua từng đượt thu mẫu, kết quả được thể hiện trong Hình 4.2
và tương đối ổn định qua các lần thu mẫu, không biến động lớn như trong ao nuôi
cá tra thâm canh ở An Giang từ 0,44 – 15,9 mg/L ở ao cá khỏe và 0,7 – 12,1 mg/L
ở ao cá bệnh (Huỳnh Trường Giang và ctv., 2006)
Hàm lượng oxy hoà tan phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như nhiệt độ, mật độ tảo, hàm lượng vật chất hữu cơ, mặt thoáng của ao… (Trương Quốc Phú, 2009) Do thời gian thu mẫu ngắn, ao ương không tích tụ nhiều dinh dưỡng nên oxy không
Hình 4.2 Biến động hàm lượng oxy hòa tan trong các ương
Trang 22
biến động lớn Trong khi đó các ao có biến động oxy lớn do nuôi mức độ thâm canh cao, càng về cuối vụ tích tụ dinh dưỡng càng lớn, tảo phát triển mạnh gây biến động oxy lớn Do đó trong quá trình ương nuôi nên khống chế mật độ tảo vừa phải và không nên ương nuôi với mật độ quá cao
4.1.4 Tổng đạm Ammonium (N-NH 4 + )
Hàm lượng NH4 trong các ao ương cá linh dao động trong khoảng 0,1 – 0,5 ppm (Hình 4.3), kết quả này nằm trong khoảng cho phép nhỏ hơn 2 mg/L (Trương Quốc Phú, 2009), không gây ảnh hưởng đến sự phát triển của cá
Hình 4.3 Hàm lượng N-NH4+ qua các lần thu mẫu
NH 4
+
(mg/L)
Lần thu mẫu
Trang 234.2 Thực vật và động vật phiêu sinh trong ao ương cá linh
4.2.1 Thực vật phiêu sinh
Hình 4.4 Độ trong các ao ương cá linh
Độ trong (cm)
Lần thu mẫu
Trang 24
4.2.1.1 Số loài và thành phần loài thực vật phiêu sinh
Tổng số loài tảo thu được ở cả 03 ao ương cá linh qua 5 lần thu mẫu là 48 loài Trong đó, tảo lục có số lượng loài nhiều nhất với 21 loài, trong khi tảo giáp ít nhất
với chỉ 1 loài là Peridinium umbonatum
Cyanophyta 13%
Euglenophyta 33%
Bacilariophyta 7%
Dianophyta 2%
Chlorophyta 45%
Cyanophyta 13%
Euglenophyta 33%
Bacilariophyta 8%
Dianophyta 2%
Chlorophyta 44%
Hình 4.5 Thành phần giống loài thực vật phiêu sinh trong ao 1
Trang 25
Cyanophyta 11%
Euglenophyta 33%
Bacilariophyta 9%
Dianophyta 2%
Chlorophyta 45%
Nhìn chung thành phần các nhóm ngành tảo giữa các ao không có sự khác biệt lớn, tảo lục chiếm tỷ lệ cao nhất là 44 – 45% (Hình 4.5), thấp nhất là tảo giáp 2% Ao
số 2 có tổng số loài cao nhất với 48 loài, ao số 3 có số loài ít nhất với 45 loài, trong khi ao số 1 có tổng số loài là 46 Các giống loài tiêu biểu của tảo lục là
Scenedesmus dimorphus, Scenedesmus quadricauda, Pediastrum biradiatum; tảo lam là: Spirulina major, Oscillatoria limosa; tảo mắt là Euglena acus, Phacus alata, Phacus longicauda…
Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Ngọc Thanh và ctv (2002) thì thành phần loài
tảo nước ngọt nội địa Việt Nam bao gồm 1403 loài trong đó nhiều nhất là tảo lục với 530 loài, tảo lam 344 loài, tảo mắt có 78 loài Trong khi tảo giáp và tảo khuê ít phát triển ở nước ngọt, chúng phát triển mạnh ở nước lợ - mặn với thành phần giống loài phong phú
Kết quả thu được trong nghiên cứu này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của
Đặng Ngọc Thanh và ctv (2002), tảo lục luôn phát triển mạnh và chiếm tỷ lệ cao
nhất trong khi tảo khuê và tảo giáp chiếm tỷ lệ thấp trong môi trường nước ngọt Tuy nhiên về số lượng loài thì có rất ít vì phạm vi thu mẫu rất hẹp cùng với thời gian thu mẫu ngắn nên thu được nhiều giống loài như trong phạm vi rộng Các ao ương được tiến hành bố trí thí nghiệm cùng lúc, bón phân gây màu cùng liều lượng, thức ăn cung cấp giống nhau và được cấp nước từ chung một nguồn nên thành phần loài tảo trong các ao không có sự khác biệt lớn
Hình 4.7 Thành phần giống loài thực vật phiêu sinh trong ao 3
Trang 26
Về số lượng loài và thành phần loài tảo qua từng đợt thu mẫu cũng không có sự khác biệt lớn ở các lần thu mẫu Số lượng loài khá ổn định ở cả 3 ao ương Tảo lục biến động từ 19 -21 loài ở ao 1, 20 – 21 loài ở ao 2 và 18 – 20 loài ở ao 3; tảo lam biến động từ 4 – 6 loài ở ao 1 và ao 2, 4 – 5 loài ở ao 3; tảo mắt biến động từ 12 –
15 loài ở ao 1, 14 – 16 loài ở ao 2, ao 3 từ 14 – 15 loài; tảo giáp chỉ có 1 loài ở tất
cả các lần thu; tảo khuê có 2-3 loài ở ao 1 và 3 – 4 loài ở ao 2 và ao 3 Điều này được lý giải do thời gian tiến hành ương cá và thu mẫu phiêu sinh diễn ra ngắn (5 tuần), các chỉ tiêu thủy lý, hóa trong ao khá ổn định nên không ảnh hưởng lớn đến thành phần các loài tảo vì theo Dương Thị Hoàng Oanh (2009) thì thành phần loài tảo phụ thuộc rất nhiều vào dinh dưỡng trong ao và điều kiện thủy lý, hóa
2.1.2 Số lượng thực vật phiêu sinh
Số lượng cá thể tảo trong ao ương cá linh dao động từ 450.000 – 863.000 cá thể/L
Ao số 2 có số lượng tảo cao nhất qua các đợt thu mẫu với 747.618 ± 96.375 cá thể/L, ao 3 thấp nhất với 531.216 ± 66.679 cá thể/L, ao 1 có tổng số lượng tảo là 690.142 ± 125.156 cá thể/L (Bảng 4.2)
Bảng 4.2 Số lượng thực vật phiêu sinh (cá thể/L)
(Cá thể/L)
Ao 2 (Cá thể/L)
Ao 3 (Cá thể/L)