1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NCKHSPUD:SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY KẾT HỢP VỚI CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỂ NÂNG CAO KẾT QỦA HỌC TẬP LỊCH SỬ CỦA HỌC SINH LỚP 6 TRƯỜNG THCS

38 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 871,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT ĐỀ TÀI: Trong nhà trường phổ thông nói chung và trường trung học cơ sở nói riêng, bên cạnh việc cung cấp cho học sinh những kiến thức khoa học cơ bản, giáo dục cho họ

Trang 1

MỤC LỤC

I TÓM TẮT ĐỀ TÀI 2

II GIỚI THIỆU 4

1 Hiện trạng 4

2 Giải pháp thay thế 5

3 Một số nghiên cứu liên quan đến đề tài: 8

4 Vấn đề nghiên cứu 9

5 Giả thuyết nghiên cứu 9

III PHƯƠNG PHÁP 9

1 Khách thể nghiên cứu 9

2 Thiết kế 9

3 Quy trình nghiên cứu 10

4 Đo lường 20

IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ 23

1 Phân tích dữ liệu 23

2 Bàn luận kết quả 24

V BÀI HỌC KINH NGHIỆM 25

VI KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 25

VII TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

VIII CÁC PHỤ LỤC CỦA ĐỀ TÀI 29

Phụ lục 1: Xác định đề tài nghiên cứu 29

Phụ lục 2: Kế hoạch nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng 30

Phụ lục 3: Bài kiểm tra trước tác động 31

Phụ lục 4: Bài kiểm tra sau tác động 33

Phụ lục 5: Phân tích dữ liệu 35

Phụ lục 6.1: Kế hoạch bài học 36

Phụ lục 6.2: Bản đồ tư duy về chiến thắng Bạch Đằng năm 938 40

Trang 2

I TÓM TẮT ĐỀ TÀI:

Trong nhà trường phổ thông nói chung và trường trung học cơ sở nói riêng, bên cạnh việc cung cấp cho học sinh những kiến thức khoa học cơ bản, giáo dục cho học sinh cách tư duy sáng tạo, cách làm việc khoa học, có khả năng cảm thụ được cái đẹp… thì việc hình thành cho học sinh về tư tưởng chính trị, lòng yêu nước, niềm tự hào của dân tộc cũng không kém phần quan trọng Một trong những môn học góp phần làm nên nhiệm vụ đó chính là môn Lịch sử Học Sử là để hiểu về những gì cha ông đã làm, hiểu về đất nước, về con người

và hiểu về những giá trị mà con người hiện nay đang được hưởng Học Sử còn

là để từng bước xây dựng tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ Bác Hồ của chúng ta cũng đã viết:

“Dân ta phải biết Sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.

Chính vì vậy bộ môn Lịch sử trong nhà trường phổ thông có ý nghĩa rất quan trọng góp phần vào nhiệm vụ thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo nên những công dân toàn diện cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước hiện nay.

Thực tế cho thấy việc đổi mới phương pháp dạy học trong thời gian qua

đã thu được nhiều kết quả đáng kể, người thầy đã sử dụng nhiều phương pháp dạy học như phát vấn, nêu và giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm, kể chuyện, sử dụng đồ dùng trực quan, khai thác kênh hình, quy nạp và diễn giải, thuyết trình, đàm thoại, đóng vai, kiểm tra đánh giá, trò chơi…nhưng chưa thực sự làm tăng hiệu qủa trong việc làm cho học sinh chủ động, tích cực hơn nữa khi học bộ môn Lịch sử Bên cạnh đó học sinh cũng chưa tìm ra cách học phù hợp cho riêng mình, thụ động trong tiếp thu kiến thức Có những học sinh khi cô giáo giảng bài chỉ cắm cúi ghi vào trong vở của mình, về nhà mở sách, vở ra học mặc dù ghi được rất nhiều nhưng đọc mãi mà vẫn không hiểu kiến thức hoặc có hiểu được thì kiến thức không thành hệ thống Việc học như vậy khiến các em mất nhiều thời gian mà chưa đem lại hiệu quả cao Và cuối cùng dẫn đến học sinh quay lưng lại với việc học môn Lịch sử, chỉ vì với lý do là học Lịch sử khô

Trang 3

khan, không hấp dẫn, nặng nề, khó nhớ, … Như vậy trong cách giảng dạy có điểm nào bất cập, chưa hợp lý chăng? Đó là câu hỏi mà bản thân tôi luôn trăn trở và cố gắng tìm ra hướng khắc phục.

Trong quá trình công tác, tôi đã học tập được nhiều kinh nghiệm của các đồng nghiệp trong và ngoài đơn vị, được tham gia nhiều lớp tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ, về phương pháp dạy học Bên cạnh đó, sự phủ sóng rộng khắp của hệ thống Internet đã mang lại cho bản thân có cơ hội được học hỏi, trao đổi kinh nghiệm trong việc giảng dạy bộ môn Một trong những nội dung thu mà tôi tâm đắc nhất là việc sử dụng Bản đồ tư duy (BĐTD) - một phương pháp giảng dạy mới do Tiến sĩ Trần Đình Châu tiến hành nghiên cứu và tìm cách đưa phương pháp bản đồ tư duy ứng dụng vào hoạt động giảng dạy tại Việt Nam (Người sáng lập là Anthony Tony Peter Buzan, sinh năm 1942 tại Luân Đôn – Anh Là một tác gia, nhà tâm lý và là cha đẻ của phương pháp tư duy Mind map.) Qua nghiên cứu và ứng dụng thực tế vào dạy học môn Lịch sử, chúng tôi nhận thấy được những lợi ích của Bản đồ tư duy trong dạy học là rất lớn, từ đó muốn phát triển ý tưởng kết hợp bản đồ tư duy với những phương pháp đang được sử dụng như vấn đáp, nêu vấn đề, kể chuyện, thuyết trình, trò chơi, thảo luận nhóm, bài tập về nhà, kiểm tra thường xuyên (15 phút, kiểm tra miệng) …

và sau khi áp dụng thấy có hiệu quả, chúng tôi mạnh dạn đi sâu nghiên cứu và chia sẻ ý tưởng này với các đồng nghiệp có cùng mối quan tâm thông qua đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng (NCKHSPƯD): “Sử dụng bản đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học để nâng cao kết quả học tập lịch sử của học sinh lớp 6 trường THCS Bùi Thị Xuân”.

Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương là hai lớp 6 trường THCS Bùi Thị Xuân Lớp 6A2 (18 học sinh) làm lớp thực nghiệm; lớp 6A3 (18 học sinh) làm lớp đối chứng Lớp thực nghiệm được tổ chức dạy và học bằng bản đồ tư duy có phối hợp với các phương pháp khác như vấn đáp, nêu vấn đề,

kể chuyện, thuyết trình, trò chơi, thảo luận nhóm, nêu và giải quyết vấn đề, kiểm tra thường xuyên (15 phút, kiểm tra miệng), bài tập về nhà,… sau đó cho các em trình bày sản phẩm của mình bằng một số phương pháp phù hợp như thuyết

Trang 4

trình những vấn đề, những nội dung đã được học; kể chuyện từ bản đồ tư duy của các em Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của học sinh Điểm trung bình (giá trị trung bình) thang đo kết quả của lớp thực nghiệm là 5,67; của lớp đối chứng là 4,94 Kết quả kiểm chứng t-test cho thấy p = 0,0001<0,05 có nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Điều đó chứng minh rằng việc Sử dụng bản

đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học Lịch sử 6 giúp học sinh yêu thích, hứng thú hơn, từ đó giúp các em nhớ kiến thức lâu hơn và học tập đạt kết quả tốt hơn đối với môn Lịch sử.

II GIỚI THIỆU

1 Hiện trạng:

Môn Lịch sử góp phần giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và một số kĩ năng sống cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Thực tế cho thấy lịch sử là môn học với nhiều lượng thông tin, các vấn đề của lịch sử cần được xâu chuỗi một cách logic nhằm giúp học sinh nhận biết được quy luật, tiến trình lịch sử, nhưng

do nhiều nguyên nhân mà người học vẫn cảm thấy nhàm chán trong việc học Lịch sử hiện nay Việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đang được tiến hành đồng bộ và thu được nhiều thành tựu đáng kể, tuy nhiên một thực tế mà chúng ta đều biết về việc kết quả thi tuyển vào lớp 10, thi tốt nghiệp THPT và kể cả kỳ thi tuyển sinh vào các trường cao đẳng, đại học của môn lịch sử quá thấp Tại trường THCS Bùi Thị Xuân, kết qủa học tập môn Lịch sử của học sinh chưa cao, đặc biệt đối với học sinh lớp 6 Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân như

sự quan tâm của gia đình về việc học của con em đối với bộ môn chưa được

đúng mức như những bộ môn tự nhiên (Trong nhận thức của phụ huynh học sinh cũng như của học sinh đây là môn học có vai trò thứ yếu hay còn gọi là môn phụ), học sinh lớp 6 chưa thích ứng với cách học mới ở THCS nên chưa

hứng thú học tập Trong khi đó, phương pháp dạy học của giáo viên còn đơn điệu, chưa phong phú gây tâm lý nặng nề, thiếu hứng thú cho học sinh; tài liệu

Trang 5

phục vụ cho bộ môn lịch sử như sách tham khảo, tài liệu băng đĩa hình, truyện tranh, hiện vật phục chế, sa bàn, … còn thiếu.

Các môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội nói chung và môn Lịch sử nói riêng thường xuyên được tiếp xúc với kiến thức lí thuyết nhiều nên để lĩnh hội kiến thức đòi hỏi mỗi người học phải ghi chép thường xuyên Đối với những người có phương pháp ghi chép bằng những kí hiệu, bằng những cách hiểu biết của mình thì ít gặp phải khó khăn trở ngại (điều này thể hiện rõ nhất ở kĩ năng

tốc kí của các nhà báo), nhưng đối với mỗi học sinh, đặc biệt là các em học sinh

lớp 6 thì việc ghi chép của các em gặp rất nhiều khó khăn

Như vậy muốn học sinh học tập tích cực thì giáo viên cũng phải có những phương pháp dạy học tích cực; thay vì học sinh lệ thuộc vào giáo viên, sách giáo khoa và học tập một cách thụ động, có một công cụ hiệu quả giúp tôi và các đồng nghiệp hướng dẫn học sinh tự tìm tòi, lĩnh hội, hệ thống hoá kiến thức – đó

là phương pháp dạy học sử dụng bản đồ tư duy kết hợp những phương pháp dạy học môn Lịch sử.

Việc sử dụng bản đồ tư duy rất hữu ích với người dạy, có thể giúp học sinh thiết lập và phát triển khả năng phân tích, tổng hợp, khát quát nội dung bài học Đây là cách làm khả thi có thể góp phần giải quyết tận gốc phương pháp dạy học “đọc – chép” truyền thống mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo khắc phục trong thời gian qua.

2 Giải pháp thay thế:

Để khắc phục thực trạng như trình bày ở trên, tôi và các đồng nghiệp đã thực hiện các giải pháp như chú trọng sử dụng kênh hình, tư liệu tham khảo; tổ chức ngoại khóa Lịch sử; phát huy vai trò của các phương pháp dạy học đang sử dụng; ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy; tăng cường bài tập về nhà Tuy nhiên, giải pháp gây hứng thú, thu hút sự quan tâm rất lớn của tôi đó là phương pháp dạy học sử dụng bản đồ tư duy kết hợp những phương pháp dạy học môn Lịch sử.

Những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học trong những năm gần đây cho thấy bộ não không tư duy theo dạng tuyến tính mà bằng cách tạo ra

Trang 6

những kết nối, những nhánh thần kinh Việc ghi chép tuần tự theo lối truyền thống đã khiến cho con người cảm thấy nhàm chán Từ trước đến nay đã có một số quan điểm cho rằng con người không sử dụng hết 100% công suất bộ não Trực giác đóng vai trò rất quan trọng trong sáng tạo; cơ sở của trực giác là trí tưởng tượng Khi ta suy nghĩ một vấn đề gì đó, thông tin từng bước được tích luỹ trong não; bằng trí tưởng tượng của mình, con người xây dựng các sơ đồ, mô hình và tiến hành phát triển nó theo nội dung của vấn đề Khi những sự kiện mới làm nảy sinh, kích thích, khơi gợi, những thông tin trong não bật ra tự nhiên và

dễ dàng giúp con người phán đoán nhanh và cái mới xuất hiện

Những hình vẽ, kí hiệu, màu sắc đóng vai trò quan trọng trong tưởng tượng, tạo ra sự liên kết giữa các ý tưởng Như vậy, trong bản đồ tư duy, học sinh tự do phát triển các ý tưởng, xây dựng mô hình và thiết kế mô hình để giải quyết những vấn đề thực tiễn Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng, là một công cụ nền tảng trong việc tư duy Dựa vào cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy chúng ta có thể vận dụng vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hoá kiến thức sau mỗi bài, mỗi chương… Chương trình Lịch sử 6 trong trường THCS có nhiều nội dung phù hợp cho việc phát huy hiệu quả khi giáo viên tổ chức cho học sinh thiết kế bản đồ tư duy.

Thiết kế bản đồ tư duy rất phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh phổ thông khi các em muốn thể hiện mình, muốn được bạn bè tôn trọng, thừa nhận khả năng, đồng thời khắc phục sự nhàm chán của phương pháp dạy học thụ động, một chiều Học sinh có thể ghi chép nhanh, tự do, linh hoạt, kích thích tư duy tích cực, tạo hứng thú học tập.

Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học mang lại hiệu quả cao, phát triển

tư duy logic, khả năng phân tích tổng hợp, học sinh dễ hiểu bài, nhớ sự kiện không theo kiểu máy móc (học vẹt) từ đó giúp các em khắc sâu kiến thức đã học Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học giúp cho việc ghi nhớ lí thuyết dưới dạng sơ đồ hoá kiến thức, có thể vận dụng trong bất kì điều kiện hoàn cảnh nào của nhà trường mà không phụ thuộc vào cơ sở vật chất bởi bản đồ tư duy có cấu

Trang 7

tạo như một cái cây có nhiều nhánh lớn và một nhánh lớn lại có nhiều nhánh nhỏ mọc xung quanh mà chính cái cây ở giữa bản đồ là một ý tưởng chính Các nhánh lớn (nhánh tầng 1) sẽ được phân thành nhiều nhánh nhỏ (nhánh tầng 2), rồi nhánh nhỏ hơn (nhánh tầng 3), nhánh nhỏ hơn nữa (nhánh tầng 4)… nhằm thể hiện nội dung chủ đề ở mức độ sâu hơn Sự phân nhánh, chia ý các kiến thức, hình ảnh vừa cụ thể vừa kết nối với nhau Sự liên kết này tạo ra một bức tranh tổng thể, mô tả kiến thức một cách hệ thống, đầy đủ, rõ ràng.

Cách tiến hành giải pháp:

Các cách tạo lập bản đồ tư duy phối hợp với các phương pháp dạy

học khác:

 Học sinh lập bản đồ tư duy theo nhóm (kết hợp phương pháp thảo luận)

 Tạo lập bản đồ tư duy theo gợi ý trực tiếp, cụ thể của giáo viên (kết hợp phương pháp phát vấn).

 Tạo lập bản đồ tư duy sau khi học hết nội dung bài học, nội dung chương, (kết hợp phương pháp hệ thống hóa kiến thức).

 Học sinh lập bản đồ tư duy theo cá nhân (kết hợp phương pháp nêu và giải quyết vấn đề).

 Tạo lập bản đồ tư duy tại lớp hoặc chuẩn bị trước ở nhà (phong cách tự học độc lập)

 Tạo lập bản đồ tư duy theo ý tự do của học sinh với chủ đề chính được đưa ra (phương pháp gợi mở, sáng tạo theo nhóm hoặc cá nhân).

 Tạo lập bản đồ tư duy kết hợp phương pháp một trò chơi, một cuộc thi nhỏ, ….

 Tạo lập bản đồ tư duy trước khi học hoặc tìm hiểu nội dung bài học.

 Tạo lập bản đồ tư duy nhằm kiểm tra kiến thức qua kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút (phương pháp diễn giải vấn đề, giáo viên gợi cho học sinh các ý chính của nhánh lớ để học sinh tìm và phát triển các ý của các nhánh nhỏ)

Học sinh trình bày sản phẩm bản đồ tư duy:

 Học sinh đại diện của các nhóm lên báo cáo, thuyết minh, kể chuyện, diễn giải… về bản đồ tư duy mà nhóm mình hoặc mình đã tạo lập (Giáo viên đặt yêu

Trang 8

cầu, đề ra mục tiêu kết hợp cách thức thực hiện như thuyết trình, kể chuyện, thảo luận, … cho HS khi đứng trước tập thể.)

 Học sinh được rèn luyện sự tự tin, khả năng thuyết trình, bao quát, tổng hợp vấn đề …

Tập thể lớp cùng hoàn thiện bản đồ tư duy :

 Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện bản đồ tư duy về cấu trú, nội dung kiến thức của bài học

 Giáo viên giữ vai trò là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh bản đồ tư duy theo yêu cầu đã đặt ra.

 Củng cố kiến thức bằng một bản đồ tư duy mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn hoặc một bản đồ tư duy mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, gọi học sinh lên trình bày, thuyết minh về kiến thức đó.

Vai trò của giáo viên trong khâu trình bày kết quả học tập bằng bản

đồ tư duy:

 Hướng dẫn học sinh tạo lập Bản đồ tư duy.

 Yêu cầu về nhà làm: Tìm tư liệu và viết, vẽ theo cách hiểu của mình.

 Khi hướng dẫn học sinh học bài bằng bản đồ tư duy tại lớp giáo viên là người trọng tài, phân giải các cuộc tranh luận, đồng thời bổ sung những phần kiến thức mà các em chưa phân tích sâu.

 Chấm điểm, nhận xét sau khi học sinh hoàn thành.

3 Một số nghiên cứu liên quan đến đề tài:

- Đề tài: áp dụng bản đồ tư duy trong việc tăng cường hứng thú học tập

môn Lịch sử ở trường THPT hiện nay của sinh viên Nguyễn Thị Thanh - Lớp QH-2007-S Sư phạm Lịch sử trường đại học quốc gia Hà Nội.

Đề tài: “Ứng dụng bản đồ tư duy nhằm hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học lịch sử trong chương trình lịch sử 7” của tác giả Vương Trần Huyền Trân – giáo viên trường THCS Nguyễn Văn Trỗi, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đề tài: “Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc hệ thống hóa kiến thức môn lịch sử THPT” của sinh viên Đặng Thị Tuyết Mai - lớp QH-2007-S Sư phạm Lịch sử trường đại học quốc gia Hà Nội.

3

Trang 9

- Đề tài: “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy Văn học ở trường THPT Ngọc Hồi” - Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Anh Nguyệt – Giáo viên môn văn trường THPT Ngọc Hồi” - Hà Nội

Qua tham khảo những đề tài và các nguồn tài liệu khác nhau, chúng tôi nhận thấy sự hiệu quả độc lập của bản đồ tư duy nhưng việc phối hợp giữa các phương pháp dạy học với bản đồ tư duy chưa được đề cập nhiều, vì vậy chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu sự phối hợp giữa việc sử dụng bản đồ tư duy với các phương pháp dạy học đang sử dụng

4 Vấn đề nghiên cứu:

Việc phối hợp một số phương pháp dạy học môn Lịch sử với phương pháp sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học lịch sử 6 có làm tăng hiệu quả học tập môn Lịch sử của học sinh lớp 6 trường THCS Bùi Thị Xuân hay không?

5 Giả thuyết nghiên cứu:

Có, việc sử dụng bản đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học môn Lịch sử làm cho kết quả học tập môn lịch sử 6 của học sinh trường THCS Bùi Thị Xuân được nâng cao.

Chọn hai nhóm của 2 lớp: Nhóm học sinh lớp 6A2 là nhóm thực nghiệm

và nhóm học sinh lớp 6A3 là nhóm đối chứng Tôi dùng bài kiểm tra để kiểm tra

4

5

6

Trang 10

khả năng nhận biết, thông hiểu, vận dụng của học sinh trước tác động (kiểm tra vào tiết 4 của ngày có thời khóa biểu 3 tiết) Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai nhóm có sự khác nhau, do đó tôi dùng phép kiểm chứng T- Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của 2 nhóm trước khi tác động.

O4

3 Quy trình nghiên cứu:

3.1 Tạo lập bản đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học khác.

3.1.1 Quy trình học làm quen cách thiết kế bản đồ tư duy:

Bước 1: cho học sinh đọc hiểu bản đồ tư duy cho trước.

Bước 2: học cách thiết kế bản đồ tư duy bằng cách cho học sinh hoàn

thiện các BĐTD do GV vẽ sẵn nhưng còn thiếu nhánh, thiếu nội dung…

Bước 3: thực hành vẽ bản đồ tư duy trên giấy, bảng.

3.1.2 Cách thức tạo nên một bản đồ tư duy:

7

Trang 11

Bước 1: bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh (hoặc từ khóa) của chủ đề.

Dùng hình ảnh giúp cho trí tưởng tượng được phát huy một cách tốt nhất; một hình ảnh ở trung tâm sẽ khiến tư duy tập trung cao vào chủ đề chính và tạo nên

sự hưng phấn hơn cho học sinh.

Bước 2: hình vẽ, chữ viết luôn sử dụng màu sắc, bởi vì màu sắc có tác

dụng kích thích não giống như hình ảnh.

Bước 3: nối các nhánh tầng 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh tầng

2 đến các nhánh tầng 1 và tiếp tục phát triển các nhánh tầng 3, nhánh tầng 4 thành nhiều nhánh nhỏ theo yêu cầu của nội dung kiến thức bằng các đường kẻ Các đường nối càng ở gần hình ảnh trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn Khi nối các đường với nhau, người tạo lập bản đồ tư duy sẽ hiểu và nhớ nhiều thứ hơn rất nhiều do bộ não được làm việc bằng sự liên tưởng.

Bước 4: thiết kế, tạo lập hoàn chỉnh nhánh (mỗi từ, ảnh, ý) nên đứng độc

lập và được nằm trên một đường nối.

Bước 5: trang trí hoàn thiện bản đổ tư duy (kiểu đường kẻ, màu sắc, hình

ảnh, )

Bước 6: nên dùng các đường nối cong thay vì các đường thẳng vì các

đường cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của thị giác hơn các đường thẳng rất nhiều.

Bước 7: bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm.

3.1.3 Ví dụ minh họa:

* Tạo lập bản đồ tư duy kết hợp với phương pháp thảo luận nhóm trong giảng dạy bài mới.

Mục tiêu cần đạt: Quan sát bản đồ tư duy, bất kỳ thành viên nào của

nhóm cũng có thể thuyết trình được nội dung bài học Bản đồ tư duy cung cấp cho học sinh cái nhìn chi tiết và cụ thể; khi mọi người tập trung vào chủ đề ở giữa thì bộ não của mỗi thành viên đều hướng tới trọng tâm sẽ tạo nên sự đồng thuận tập thể, cùng hướng tới một mục tiêu chung và định hướng được kết quả.

Các nhánh chính của bản đồ tư duy đưa ra cấu trúc tổng thể giúp các thành viên định hướng tư duy một cách logic Bên cạnh đó, các nhánh phụ kích

Trang 12

thích tính sáng tạo đồng thời hiểu được tư duy cũng như sự tích cực của mỗi thành viên Như vậy sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học nhóm đã phát huy được tính sáng tạo, tối đa hoá khả năng của mỗi cá nhân đồng thời kết hợp sức mạnh cá nhân thành sức mạnh tập thể để có thể giải quyết được các vấn đề một cách hiệu quả

Bài 6: VĂN HÓA CỔ ĐẠI:

Mục 2 Người Hi Lạp và Rô Ma đã có những đóng góp gì về văn hóa?

Cả lớp chia thành 4 nhóm, hoàn thiện bản đồ tư duy còn dở dang của giáo viên thành 4 bản đồ tư duy của riêng 4 nhóm hoặc chia lớp thành 4 nhóm hoàn thiện 4 nhánh lớn chính của 1 bản đồ tư duy như sau:

* Tạo lập bản đồ tư duy kết hợp với phương pháp phát vấn trong

giảng dạy bài mới.

Bài 6: VĂN HÓA CỔ ĐẠI:

Trang 13

Mục 1 Các dân tộc phương Đông thời cổ đại đã có những thành tựu văn hóa gì?

Sau khi học sinh hiểu rõ về bản đồ tư duy và cách tạo lập bản đồ tư duy, giáo viên yêu cầu cả lớp học theo hình thức ghi vở bằng bản đồ tư duy, các em chuẩn bị tâm thế, vật dụng để tạo lập bản đồ tư duy của cá nhân trong vở ghi.

Hướng dẫn học sinh tìm ý trung tâm bằng cách chắt lọc ý từ đề mục 1 Có thể có những từ khóa như “thành tựu văn hóa phương Đông cổ đại” hoặc “Văn hóa phương Đông cổ đại”…

Tiếp tục tìm ý lớn ở nhánh lớn bằng cách tìm trong các đoạn tư liệu nội dung sách giáo khoa mục 1 (trang 16)

Giáo viên tiếp tuc đặt những câu hỏi gợi mở cho học sinh phát triển bản

đồ tư duy:

Ở đây có 4 đoạn, mỗi đoạn nói về một lĩnh vực văn hóa, có 4 ý lớn chính,

đó là 4 lĩnh vực nào? (Thiên văn; Chữ viết; Toán học; Kiến trúc).

-Trong lĩnh vực thiên văn, họ đã biết được điều gì? (Sự chuyển động của

Mặt Trời, Mặt Trăng và các hành tinh)

-Tại sao họ cần quan tâm tới điều đó? (Vì họ cần biết để thuận lợi cho

việc cày cấy đúng thời vụ và năng suất mùa vụ cao hơn).

Trang 14

-Từ những hiểu biết đó, người phương Đông đã sáng tạo ra điều gì? (sáng

tạo ra lịch; biết làm đồng hồ)

Cứ như thế, hoàn thiện nội dung của 3 nhánh chính còn lại là: Chữ viết, Toán học, và Kiến trúc.

* Tạo lập bản đồ tư duy kết hợp với phương pháp sử dụng trò chơi

trong giảng dạy bài mới.

Bài 6: VĂN HÓA CỔ ĐẠI.

Mục 1 Các dân tộc phương Đông thời cổ đại đã có những thành tựu văn hóa gì?

Trang 15

Sau hướng dẫn học sinh thực hiện hình thức ghi vở bằng bản đồ tư duy, giáo viên tiếp tục hướng dẫn học sinh tìm ý trung tâm và các ý ở các nhánh của bản đồ tư duy như đã trình bày ở phần kết hợp bản đồ tư duy với phương pháp phát vấn.

Giáo viên chuẩn bị một bản đồ tư duy trên bảng phụ hoặc vẽ khung bản

đồ tư duy trực tiếp trên bảng của lớp học, chỉ có 4 ý lớn, còn lại là các nhánh trống Chuẩn bị 13 ô nội dung kiến thức tương ứng nhưng cắt rời để thực hiện

trò chơi lắp ghép nhanh.

Thể lệ: Chia thành 13 ô dữ liệu phát xuống cho cả lớp.

Trong vòng 3 phút, HS phải xác định miếng ghép của mình sẽ nằm ở đâu trên bản đồ tư duy và chạy lên dán vào đúng vị trí.

Ngoài ra giáo viên có thể linh hoạt tạo ra những trò chơi khác với những hình thức và tên gọi khác nhau nhằm đem lại hứng thú cho học sinh hơn

Trang 16

Ví dụ:

Trò chơi “Thêm cánh cho hoa”: Thiết kế bản đồ tư duy trên bảng hoặc

bảng phụ theo hình dáng một bông hoa, có nhụy hoa là từ khóa trung tâm hoặc hình ảnh chủ đề, sau đó phát triển ý thành mạng lưới kiến thức là những cánh hoa, có thể xếp chồng lên thành hoa nhiều lớp cánh như kiểu ý cấp 1, cấp 2.

Trò chơi “Tiếp sức”: Để hoàn thành một bản đồ tư duy trên bảng, có thể

theo hình thức chạy tiếp sức, học sinh thứ nhất chạy lên tạo nhánh nội dung cấp

1 xong, chạy về vị trí, học sinh thứ hai tiếp tục, cứ như thế cho tới khi hoàn thiện thanh một bản đồ tư duy hoàn chỉnh.

* Tạo lập bản đồ tư duy kết hợp với phương pháp kiểm tra đánh giá năng lực học sinh bằng bài kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì.

Đề bài cho hình thức kiểm tra này nên mang tính gợi mở, hay nói cách khác là sử dụng phối hợp với phương pháp nêu và giải quyết vấn đề sẽ hiệu quả hơn việc đưa ra những câu hỏi mang tính liệt kê, tái hiện những nội dung từ sách giáo khoa.

Ví dụ: Yêu cầu học sinh thể hiện câu trả lời bằng bản đồ tư duy với câu

hỏi: Em biết gì về chính sách cai trị của phong kiến phương Bắc đối với nước ta trong suốt thời kì Bắc thuộc? Suy nghĩ của em về vấn đề nêu trên.

Để trả lời được câu hỏi này, học sinh phải trình bày những kiến thức về chính sách cai trị của phong kiến phương Bắc như chính sách thuế, chính sách lao dịch, chính sách cống nạp sản vật quý hiếm, chính sách đồng hóa Đồng thời học sinh sẽ trả lời thêm ý kiến đánh giá của cá nhân đối với những chính sách

đó Chính sách nào là thâm hiểm nhất? Có thể gợi ý thêm cho học sinh khá, giỏi việc liên hệ so sánh với chính sách thuế hiện nay, hoặc vấn đề đồng hóa trong giai đoạn hiện nay có hay không, hay dưới dạng hình thức nào? Có phải một bộ phận nhỏ trong xã hội vì đua đòi, ăn chơi đã dần dần tự đánh mất bản sắc cá nhân mình, bản sắc dân tộc mình, đang tự biến mình thành cái bóng của những giá trị hư ảo du nhập từ nước ngoài hay không? Đó có thể gọi là quá trình tự đồng hóa hay không?

Trang 17

* Tạo lập BĐTD phối hợp phương pháp sử dụng phần mềm ImindMap 5.3 và phần mềm PowerPoint.

Bài 27: Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938.

Mục 1 Ngô Quyền đã chuẩn bị đánh quân xâm lược Nam Hán như thế nào?

Sau khi khai thác và giảng dạy nội dung tóm tắt về nhân vật Ngô Quyền, thiết kế bằng phần mềm ImindMap 5.3 hai bản đồ tư duy như sau:

Tạo thứ tự cho các hiệu ứng và liên kết với các slide trong các nhánh mà giáo viên muốn làm rõ cho nhánh đó Sau đó trình chiếu kết hợp giảng dạy, giải thích, phát vấn, thảo luận nhóm,…để tìm ra ý tiếp theo cho đến hết ý cần trình bày trong bản đồ tư duy.

Trang 18

Đến phần củng cố kiến thức giáo viên có thể thực hiện bằng một bài tập trắc nghiệm như sau: Mỗi nhánh kiến thức là một câu trắc nghiệm, học sinh sẽ tìm câu trả lời để điền vào nhánh kiến thức đó cho tới khi hoàn thành bản đồ tư duy trên phần mềm PowerPoint.

3.2 Trình bày sản phẩm BĐTD.

3.2.1 Đối với giáo viên:

Trong quá trình giảng dạy, hướng dẫn học sinh tạo lập bản đồ tư duy, giáo viên dùng từ khóa, viết tắt, hình ảnh, … nhưng khi hoàn thành giáo viên phải diễn giải dưới hình thức tường thuật, kể chuyện hoặc thuyết trình một cách mạch lạc, khúc chiết bằng ngôn ngữ ngắn gọn, cụ thể, đầy đủ về nội dung của bản đồ

tư duy, từ đó, học sinh sẽ được khắc họa lại một lần nữa về bức tranh tổng thể của nội dung bài học, đây là điều nhất thiết giáo viên phải thực hiện vì đối tượng của mình là học sinh lớp 6, khả năng tiếp nhận của các em phải được hình thành

từ sự hướng dẫn và làm mẫu cụ thể, khi học sinh đã quen với việc học tập cùng bản đồ tư duy thì các em có thể tự mình thuyết trình với sản phẩm của chính mình.

3.2.2 Đối với học sinh:

Nếu với cách ghi chép thông thường, học sinh luôn phải tuân theo một quy luật, trình bày theo một khuôn mẫu có sẵn (giống như trong vở ghi bài), học sinh sẽ bị động, phụ thuộc vào từ ngữ và trình bày một cách máy móc, mất đi sự thoải mái trong lúc thuyết trình.

Với bản đồ tư duy, học sinh đặt các chủ đề của bài thuyết trình ở trung tâm của trang giấy và phát triển dựa trên các hình ảnh và từ khoá mà các em dự định trình bày Cách làm này rất khoa học giúp học sinh tự tin rất nhiều Ngoài

ra, học sinh sẽ phải tự tìm ra cách để diễn đạt các ý từ ý trung tâm tới ý các nhánh bằng ngôn ngữ nói, ngôn ngữ biểu cảm, từ đó góp phần giúp các em phát triển ngôn ngữ giao tiếp, chủ động lĩnh hội và khắc sâu kiến thức.

3.3 Học sinh hoàn thiện bản đồ tư duy cùng tập thể lớp:

Trong quá trình học, học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện bản đồ tư duy về kiến thức của bài học; người giáo viên sẽ là người cố vấn đặt

Trang 19

câu hỏi gợi ý, khuyến khích học sinh phát biểu, sắp xếp ý tưởng, làm trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh bản đồ tư duy, nắm kiến thức của bài học.

Sau khi các em hoàn thiện xong nội dung bài học bằng bản đồ tư duy và trình bày lại cho cả lớp nghe sẽ giúp học sinh một lần nữa khắc sâu kiến thức và thuộc bài rất nhanh, rèn luyện tính tự tin, khả năng thuyết trình, phát triển khả năng thẩm mỹ, sắp xếp ý tưởng một cách khoa học, hệ thống, ghi nhớ sâu kiến thức.

Giáo viên có thể củng cố kiến thức bằng một bản đồ tư duy mà giáo viên

đã chuẩn bị sẵn hoặc một bản đồ tư duy mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, học sinh lên trình bày, thuyết minh về kiến thức đó

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng bản đồ tư duy là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm học sinh có chung một kiểu bản đồ tư duy mà giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho học sinh về mặt kiến thức, góp ý thêm về đường nét vẽ, màu sắc và hình thức để khuyến khích tính sáng tạo của học sinh.

3.4 Vai trò của giáo viên trong quá trình thực hiện:

Để hướng dẫn học sinh làm bản đồ tư duy, giáo viên cần tận dụng thời gian thích hợp như kết hợp với việc học buổi chiều (học 3 tiết theo thời khóa biểu) hoặc ngày thứ 7; còn trong tiết dạy chính khoá vẫn hoàn thành bài giảng theo đúng phân phối chương trình.

Trong quá trình dạy ở trên lớp, giáo viên cần ghi chép, quan sát kĩ các thiết kế bản đồ tư duy và cách thuyết trình của học sinh để nhận xét, góp ý và làm trọng tài, phân giải các cuộc tranh luận Đồng thời bổ sung những phần kiến thức mà các em chưa phân tích sâu Sau khi kết thúc một bài học, giáo viên yêu cầu học sinh về nhà tìm tư liệu và viết, vẽ bản đồ tư duy theo cách hiểu của mình.

Sử dụng phương pháp chấm bài bằng cách cho các em nhận xét, chấm bài của nhau, động viên, khuyến khích kịp thời và đặc biệt cần chú ý người giáo viên chỉ là người hướng dẫn, nêu chủ đề để học sinh là chủ thể của hoạt động.

3.5 Tiến hành thực nghiệm:

Ngày đăng: 23/10/2020, 21:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sau hướng dẫn học sinh thực hiện hình thức ghi vở bằng bản đồ tư duy, giáo viên tiếp tục hướng dẫn học sinh tìm ý trung tâm và các ý ở các nhánh của bản đồ tư duy như đã trình bày ở phần kết hợp bản đồ tư duy với phương pháp phát vấn. - NCKHSPUD:SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY  KẾT HỢP VỚI CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC  ĐỂ NÂNG CAO KẾT QỦA HỌC TẬP LỊCH SỬ CỦA HỌC SINH LỚP 6  TRƯỜNG THCS
au hướng dẫn học sinh thực hiện hình thức ghi vở bằng bản đồ tư duy, giáo viên tiếp tục hướng dẫn học sinh tìm ý trung tâm và các ý ở các nhánh của bản đồ tư duy như đã trình bày ở phần kết hợp bản đồ tư duy với phương pháp phát vấn (Trang 15)
4/ Con sông nào sau đây có vai trò quan trọng trong việc hình thành quốc gia Ai cập? - NCKHSPUD:SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY  KẾT HỢP VỚI CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC  ĐỂ NÂNG CAO KẾT QỦA HỌC TẬP LỊCH SỬ CỦA HỌC SINH LỚP 6  TRƯỜNG THCS
4 Con sông nào sau đây có vai trò quan trọng trong việc hình thành quốc gia Ai cập? (Trang 31)
Vì các quốc gia cổ đại phương Đông được hình thành trên lưu vực các con sông lớn, đất đai màu mỡ, thuận lợi cho  việc trồng lúa và các sản phẩm nông nghiệp khác. - NCKHSPUD:SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY  KẾT HỢP VỚI CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC  ĐỂ NÂNG CAO KẾT QỦA HỌC TẬP LỊCH SỬ CỦA HỌC SINH LỚP 6  TRƯỜNG THCS
ca ́c quốc gia cổ đại phương Đông được hình thành trên lưu vực các con sông lớn, đất đai màu mỡ, thuận lợi cho việc trồng lúa và các sản phẩm nông nghiệp khác (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w