1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo vệ môi trường biển và khu ven biển pháp luật và thực tiễn

66 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 611,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do yêu cầu của một đề tài luận văn và trong khuôn khổ thời gian cho phép nên người viết chỉ tập trung vào nghiên cứu những quy định hiện hành của pháp luật về bảo vệ môi trường biển và k

Trang 1

KHOA LUẬT -o0o -

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

KHÓA 2007- 2011

Đề tài:

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ KHU

VEN BIỂN - PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS Kim Oanh Na Nguyễn Hoàng Bảo

Bộ môn: Luật Thương mại MSSV: 5075088

Lớp: Luật Thương mại - K33

Cần Thơ, 2011

Trang 2

Kính Thưa quý thầy cô!

Trước tiên cho em xin gởi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô Khoa Luật đã tận tình chỉ bảo em trong suốt bốn năm học qua Giúp em có được khối kiến thức pháp luật nhất định làm hành trang trên con đường sự nghiệp của mình sau này

Thực hiện một đề tài luận văn quả thật không dễ chút nào Trong thời gian làm luận văn vừa qua chính nhờ sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của Thầy Kim Oanh Na đã giúp em hoàn thành luận văn, nếu không nhờ thầy thì có lẽ em không thể hoàn thành đúng tiến độ như ngày hôm nay cho nên em xin gởi lời cảm ơn, lời tri ân sâu sắc nhất đến thầy Nhờ sự giúp đỡ của thầy mà trong thời gian nghiên cứu luận văn bên cạnh học được khối kiến thức về đề tài mình nghiên cứu còn giúp em học thêm những kinh nghiệm quý báu về sự kiên trì chịu khó học hỏi trong công việc Điều này chắc chắn sẽ giúp em rất nhiều trong công việc sau này

Em cũng không quên gởi lời cảm ơn đền các thầy cô lãnh đạo khoa, quản lí thư viện đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để em có thể hoàn thành đúng tiến độ luận văn của mình Một đề tài nghiên cứu của một cử nhân năm tư mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do thời gian, trình độ, đặc biệt là kinh nghiệm còn hạn chế chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự quan tâm và đóng góp những ý kiến quý báu của quý thầy cô để em hoàn thành tốt hơn đề tài này

Cuối lời em xin gởi lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt đến quý thầy cô!

Trân trọng!

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

1/ Lý do chọn đề tài 1

2/ Phạm vi nghiên cứu .1

3/ Mục tiêu nghiên cứu .2

4/ Phương pháp nghiên cứu 2

5/ Kết cấu luận văn .2

Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BIỂN, KHU VEN BIỂN VÀ MÔI TRƯỜNG BIỂN, KHU VEN BIỂN 3

1.1 Một số khái niệm 3

1.1.1 Khái niệm môi trường 3

1.1.2 Khái niệm hoạt động bảo vệ môi trường 4

1.1.3 Khái niệm khu ven biển 4

1.2 Môi trường sinh thái biển và khu ven biển .5

1.3 Những tác động của con người ảnh hưởng đến môi trường biển và khu ven biển 7

1.3.1.Quá trình đô thị hóa 7

1.3.2 Hoạt động giải trí và du lịch 9

1.3.3 Hoạt động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và nghề cá 12

1.3.4 Hoạt động khai thác khoáng sản và dầu mỏ 17

1.3.5 Vận tải biển 20

1.4 Khái quát về biển, khu ven biển và môi trường biển, khu ven biển 21

1.4.1 Khái quát về biển và khu ven biển 21

1.4.2 Khái quát về môi trường biển và khu ven biển Việt Nam 22

Chương 2 BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ KHU VEN BIỂN - PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN 25

2.1 Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường biển và khu ven biển .25

2.1.1 Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường biển 25

2.1.1.1 Bảo vệ môi trường biển trong Luật bảo vệ môi trường 2005 26

2.1.1.2 Bảo vệ môi trường biển trong các văn bản liên quan khác .30

Trang 6

2.2.1 Tổng quan về môi trường biển và khu ven biển Tỉnh Bạc Liêu 37 2.2.2 Chiến lược quản lý môi trường biển và khu ven biển Tỉnh Bạc Liêu 38 2.3 Tồn tại và những đề xuất hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường biển và khu ven biển 41 2.3.1.Tồn tại 41 2.3.2 Những đề xuất hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường biển và khu ven biển 45 2.3.2.1 Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp khu ven biển Việt Nam 45 2.3.2.2 Thiết lập hệ thống các khu bảo tồn và các khu bảo vệ ven biển 49 2.3.2.3 Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan quản lý môi trường và vai trò giám sát môi trường của cộng đồng 53 KẾT LUẬN 57

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU 1/ Lý do chọn đề tài

Biển và khu ven biển luôn là nơi được con người quan tâm do nguồn tài nguyên dồi dào của nó Đây c ̣òn là nơi có vùng đồng bằng màu mỡ và tài nguyên biển phong phú, vùng ven biển cũng là nơi dễ dàng cho sự tiếp cận của thị trường quốc tế Nó tạo ra không gian sống, các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật cho các hoạt động của con người và có chức năng điều hòa đối với môi trường tự nhiên cũng như môi trường nhân tạo

Biển và khu ven biển là trọng tâm của nhiều ngành kinh tế quốc gia, là nơi mà phần lớn các hoạt động về kinh tế, xã hội diễn ra và cũng là nơi mà tác động của các hoạt động này nhiều nhất Đối với những quốc gia có vùng biển, hơn một nửa dân số sống tại đây và tầm quan trọng của vùng ven biển còn gia tăng trong tương lai do sự gia tăng không ngừng của việc di dân từ các vùng sâu trong lãnh thổ tới đây Do vậy, không ngạc nhiên khi có

sự xung đột sâu sắc giữa nhu cầu tiêu dùng hiện nay đối với tài nguyên và việc đảm bảo cho việc tiêu thụ tài nguyên đó trong tương lai Trong một số quốc gia, sự xung đột đó đã đạt đến mức nguy cấp do phần lớn vùng ven biển đã bị ô nhiễm do các nguồn khác nhau Rất nhiều hoạt động phát triển đô thị, công nghiệp và nông nghiệp trên vùng ven biển là nằm trong vùng đất ngập nước ven biển có năng suất cao và các dự án phát triển đang làm biến đổi hệ sinh thái ven biển trên một qui mô rất lớn Nước thải từ hầu hết các đô thị và khu công nghiệp trên thế giới đổ trực tiếp vào biển hoặc gián tiếp qua các hệ thống sông

mà không được xử lý hoặc xử lý rất ít Nghề cá bị sa sút, đất ngập nước bị khô, các rạn san hô bị phá hủy, các bờ biển bị xuống cấp, Để các vùng ven biển được duy trì và bảo

vệ, cần phải có hành động hiệu quả và kịp thời Chính từ những vấn để cấp thiết trên nên

người viết chọn đề tài “Bảo vệ môi trường biển và khu ven biển - Pháp luật và thực

tiễn” làm đề tài luận văn tốt nghiệp với mong muốn tìm hiểu thêm về việc bảo vệ môi

trường biển và khu ven biển cũng như thực trạng áp dụng những văn bản quy phạm pháp luật hiện hành ở nước ta, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao hơn nữa chất lượng cũng như hiệu qủa thực tiễn của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường biển và khu ven biển

2/ Phạm vi nghiên cứu

Do yêu cầu của một đề tài luận văn và trong khuôn khổ thời gian cho phép nên người viết chỉ tập trung vào nghiên cứu những quy định hiện hành của pháp luật về bảo vệ môi trường biển và khu ven biển, tìm ra những tồn tại, một số tác động của con người ảnh hưởng đến môi trường biển và khu ven biển như: hoạt động du lịch, nuôi trồng thủy sản,

đa dạng sinh học,… từ đó đưa ra những nhận định, giải pháp mới góp phần hoàn thiện

Trang 8

pháp luật về bảo vệ môi trường biển và khu ven biển.

3/ Mục tiêu nghiên cứu

Ô nhiễm môi trường đặc biệt là ô nhiễm môi trường biển và khu ven biển nước ta đang ngày càng trở nên bức thiết và quan trọng Bảo vệ môi trường biển và khu ven biển không phải là nhiệm vụ của riêng một cá nhân nào mà là của toàn xã hội Nó đòi hỏi mổi cá nhân, tổ chức xã hội cần nâng cao hơn nữa về ý thức cũng như vai trò và trách nhiệm của mình Pháp luật chính là công cụ, là thước đo hữu hiệu nhất để bảo vệ môi trường biển và khu ven biển Tuy nhiên, việc áp dụng những văn bản quy phạm pháp luật vào đời sống thực tế gặp không ít những vướng mắc Bên cạnh đó trình độ, năng lực quản lý của các cơ quan chuyên trách, ý thức và cách nhìn của người dân còn nhiều hạn chế Vì thế, việc bảo

vệ môi trường biển và khu ven biển ở nước ta gặp rất nhiều khó khăn Vậy làm thế nào để giải quyết một cách hiệu quả nhất vấn đề bảo vệ môi trường biển và khu ven biển ở nước

ta trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai Chính vì lẽ đó mà người viết nhận thấy rằng phải đi sâu vào nghiên cứu các chính sách và pháp luật để làm sáng tỏ vấn đề bảo vệ môi trường biển và khu ven biển Thông qua việc nghiên cứu đề tài người viết đưa ra những vướng mắc trong quá trình áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời rút

ra kết luận, đánh giá những kiến thức có được để đề xuất những giải pháp phù hợp nên

người viết thực hiện mục tiêu nghiên cứu này

4/ Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng trong luận văn này là phương pháp

phân tích, phương pháp liệt kê, so sánh kết hợp lý luận và thực tiễn và nhiều phương pháp khác Bên cạnh đó còn có sự khái quát tổng hợp các vấn đề liên quan đến pháp luật bảo vệ môi trường biển và khu ven biển và ô nhiễm môi trường biển và khu ven biển

5/ Kết cấu luận văn

Gồm có các phần sau đây:

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BIỂN, KHU VEN BIỂN VÀ MÔI TRƯỜNG BIỂN, KHU VEN BIỂN

CHƯƠNG 2: BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ KHU VEN BIỂN - PHÁP LUẬT

VÀ THỰC TIỄN

KẾT LUẬN

Trang 9

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BIỂN, KHU VEN BIỂN VÀ MÔI TRƯỜNG BIỂN, KHU VEN BIỂN.

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm môi trường

Theo từ điển tiếng Việt thì môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên

và xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ con người hay sinh vật ấy1

Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng

Còn theo quy định của pháp luật trước đó thì: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự

nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” 2

Vậy ta có thể hiểu các yếu tố tự nhiên bao gồm môi trường tự nhiên bao quanh con người, tồn tại ngoài ý muốn của con người và có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người Môi trường tự nhiên này bao gồm các yếu tố như đất đai, sông ngòi, không khí, ánh sáng, cây cối…

Theo quy định Luật Bảo vệ môi trường 2005 thì định nghĩa môi trường như sau: “Môi

trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật ” 3

Môi trường nó hình thành và phát triển theo những quy luật tự nhiên vốn có và nằm ngoài khả năng quyết định của con người Con người chỉ có thể tác động đến chúng với những chừng mực nhất định, những tác động của con người đến môi trường ngày càng làm cho môi trường càng ô nhiễm chỉ với mục đích phục vụ lợi ích con người

Tóm lại, môi trường dù được định nghĩa ở nhiều góc độ khác nhau, từ góc độ pháp lý

đến góc độ khoa học khác nhưng tựu chung lại thì nội dung và bản chất của môi trường vẫn không có gì thay đổi: môi trường là tất cả những gì có xung quanh chúng ta cho ta cơ

sở để sống và phát triển Mỗi khái niệm về môi trường giúp cho chúng ta có thêm những

ý niệm mới, cách nhìn mới về nó Giúp chúng ta hiểu thêm về những gì đang tồn tại trong môi trường mà chúng ta đang sống

1 Theo từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, trang 618

2 Tại đoạn 1 điều 1 Luật Bảo vệ môi trường 1993

3 Điều 1 Luật Bảo vệ môi trường 2005

Trang 10

1.1.2 Khái niệm hoạt động bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân, toàn xã hội Hoạt động bảo vệ môi trường nhằm làm cho môi trường giảm ô nhiễm hoặc ngăn chặn việc gây ra ô nhiễm môi trường với những hành động thực tế Đảm bảo cho sự phát triển kinh tế bền vững, xã hội

ổn định thì phải bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường không bị ô nhiễm luôn gắn liền với các hoạt động bảo vệ môi trường Hoạt động bảo vệ môi trường được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như tuyên truyền pháp luật nhằm năng cao ý thức bảo vệ môi trường của xã hội hoặc trực tiếp tham gia vào việc bảo vệ môi trường như thu gom rác thải… Tuy nhiên với những hành động gì, những ý tưởng gì, những biện pháp gì, thì mục đích cuối cùng mong muốn đạt được là bảo vệ môi trường luôn trong lành và sạch đẹp

Tại khoản 1 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 khái niệm hoạt động bảo vệ môi

trường như sau: “Là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa,

hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó với sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học”

Ngày nay vấn đề ô nhiễm môi trường đang thực sự nóng bỏng lan tỏa khắp toàn cầu Tại Việt Nam cũng vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường đang là một vấn đề quan trọng của xã hội Nó đòi hỏi mọi người cùng chung tay hợp sức bảo vệ và khắc phục tình trạng ô

nhiễm môi trường hiện nay bằng những hành động cụ thể

1.1.3 Khái niệm khu ven biển

Hầu hết các ý kiến đều cho rằng khu ven biển là khu vực có giao diện khá hẹp giữa biển và đất liền Đó là nơi các quá tŕnh sinh thái phụ thuộc vào sự tác động lẫn nhau giữa đất liền và biển, các tác động này diễn ra khá phức tạp và nhạy cảm

Khu ven biển thường được hiểu như là nơi tương tác giữa đất và biển, bao gồm các môi trường ven biển cũng như vùng nước kế cận Các thành phần của nó bao gồm các vùng châu thổ, vùng đồng bằng ven biển, các vùng đất ngập nước, các bờ biển và cồn cát, các rạn san hô, các vùng rừng ngập mặn, đầm phá, và các đặc trưng ven biển khác Khái niệm khu ven biển thường được xác định một cách tùy tiện, hơi khác nhau giữa các quốc gia và thường dựa vào giới hạn pháp lý và ranh giới hành chính Ngoài ra, c ̣òn có những điểm khác nhau về sinh thái và kinh tế giữa các vùng, do đó không có một định nghĩa được chấp nhận rộng rải về khu ven biển Thay vào đó, có nhiều định nghĩa bổ sung phục vụ cho những mục đích quản lý khác nhau, trong đó vấn đề ranh giới cần được xem xét Ví

dụ ở một số nước Châu Âu, khu ven biển mở rộng ra tới vùng lãnh hải, một số nước khác

Trang 11

thường lấy đường đẳng sâu làm giới hạn C̣òn về ranh giới đất liền thường cũng rất mơ hồ

do tác động của biển vào khí hậu có thể vào đến vùng nội địa bên trong cũng như vùng đồng bằng ngập lụt rộng lớn

Vấn đề ranh giới vùng ven biển có thể được xác định một cách thực tế bao gồm các khu vực và các hoạt động liên quan đến vấn đề quản lý mà các chương trình sẽ nhắm vào Trong nhiều trường hợp, ranh giới vùng đất và biển được chọn thường có một khoảng cách nhất định với một mốc tự nhiên chẳng hạn như là mức nước thấp trung bình hay mức nước cao trung bình

Theo quy định của Luật biên giới quốc gia năm 2003 thì: “Khu vực biên giới trên biển

tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính xã, phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo” 4

Còn theo khoản 4 điều 3 Nghị định 25/2009/NĐ-CP thì: “Vùng ven biển là vùng

chuyển tiếp giữa lục địa và biển, bao gồm vùng biển ven bờ và vùng đất ven biển được xác định theo ranh giới hành chính để quản lý”

Theo khoản 2 điều 3 Nghị định 25/2009/NĐ-CP thì: “Môi trường biển là các yếu tố vật

lý, hóa học và sinh học đặc trưng cho nước biển, đất ven biển, trầm tích dưới biển, không khí trên mặt biển và các hệ sinh thái biển tồn tại một cách khách quan, ảnh hưởng đến con người và sinh vật”

Môi trường khu ven biển là bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên, nhân tạo xung quanh

biển như: rừng, cồn cát ven biển, bãi bồi, có tác động qua lại và gắn bó mật thiết với môi trường biển

1.2 Môi trường sinh thái biển và khu ven biển

· Vị trí địa lý

Nằm tiếp giáp với đường bờ biển, Đồng bằng thấp và phẳng thuộc khu vực các con sông lớn, chịu ảnh hưởng của thủy triều trải dài từ phía nam đồng bằng sông Hồng tới châu thổ sông Cửu Long Núi cao ăn ra tận biển, địa hình không bằng phẳng, cao hoặc là những g ̣ò đá sát biển và ít chịu ảnh hưởng của thủy triều, vùng đầm lầy hoặc đầm phá Địa hình bờ biển đa dạng: nơi thấp phẳng, nơi nhiều vịnh, đảo, quần đảo Vùng biển nông, tuy nhiên vẫn có vịnh nước sâu thuận lợi cho phát triển kinh tế biển

Trang 12

nhiệt độ dao động ngày và đêm không lớn như ở lục địa Lượng mưa và độ ẩm không khí thường cao hơn các vùng khác Đây cũng là vùng dễ có các sự cố môi trường như bão lốc, sóng thần

· Môi trường đất

Bao gồm các dạng đất như là đất mặn, đất phèn, phèn mặn hoặc đất cát, cồn cát ven biển Dễ mẫn cảm với các điều kiện biến đổi của môi trường như dễ bị xói lở do tác động của sóng gió Môi trường đất bị ảnh hưởng mạnh của cả độ mặn trong nước biển và thủy triều Môi trường sinh thái ở đây không có tính ổn định, dễ phát triển nhưng cũng dễ bị phá hủy, thay đổi

· Môi trường nước

Nước từ mặn cho đến lợ, độ mặn giảm từ biển vào đất liền, điều kiện nước cũng thay đổi theo chế độ thủy văn ở các cửa sông đổ ra biển Trong nước biển, nước sông và nhất

là nước lợ, hàm lượng chất dinh dưỡng cao, có nhiều chất phù sa lơ lững và nhiều hạt sét mịn tạo nên trầm tích nhiều sét

Chế độ thủy triều ảnh hưởng mạnh đến hệ sinh thái thể hiện qua mức triều cực đại hay cực tiểu của chế độ nhật triều hay bán nhật triều Chế độ nước ngọt rất khan hiếm, chỉ thấy từ các nguồn nước mưa hoặc giếng sâu từ tầng nước ngầm

· Môi trường không khí

Thường chất lượng không khí ở các vùng ven biển rất tốt nếu không có các hoạt động công nghiệp Trong những vùng hoạt động công nghiệp ven biển thì môi trường không khí sẽ bị ảnh hưởng Tuy nhiên khả năng đảo nhiệt thường ít xảy ra hơn Hàm lượng muối trong không khí cao dễ gây ăn mòn kim loại, các công trình xây dựng, vật liệu

· Đa dạng sinh học

Được chia làm hai phần: phần dưới nước và trên cạn Phần trên cạn lại được chia ra sinh vật ở vùng cao và sinh vật ở vùng ngập và bán ngập Phần dưới nước chia ra sinh vật tầng mặt, sinh vật tầng nước nông và sinh vật tầng nước sâu Nhìn chung đa dạng sinh học ở vùng ven biển rất phong phú và đa dạng Tính đa dạng này phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường tự nhiên như nhiệt độ, chế độ nước, môi trường đất Đối với vùng đất cao, ít ngập triều và không có nước ngọt, đất dễ nhiễm mặn và khô hạn thường đa dạng sinh học nghèo nàn Đối với vùng ngập nước và bán ngập triều hay còn gọi là đất ngập nước, thường đa dạng sinh học phong phú hơn nhiều

· Ô nhiễm môi trường khu ven biển

Ngày nay với tốc độ phát triển kinh tế mạnh mẽ, hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người đã tác động mạnh mẽ đến môi trường sinh thái ven biển theo hướng ngày một

Trang 13

xấu đi Nguyên nhân của ô nhiễm xuất phát từ: Nguồn nước thải sinh hoạt được thải trực tiếp từ các khu dân cư ven biển; nước thải công nghiệp; nguồn nước thải từ các cống rãnh

đô thị; chất thải rắn từ công nghiệp, nông nghiệp; các sự cố tràn dầu trên biển…

· Các dạng năng lượng trong môi trường khu ven biển

Năng lượng sóng biển: vô cùng lớn nhưng đến nay con người chỉ mới khai thác, sử dụng được khoảng 1-2% Một số nước trên thế giới đã sử dụng một phần năng lượng sóng biển để phát điện, tuy nhiên vấn đề này còn có nhiều khó khăn trong thiết kế, xử lý công trình Năng lượng gió: là loại năng lượng có tiềm năng rất lớn dùng để phát điện, bơm nước, quay các động cơ, Tuy nhiên nguồn năng lượng này cũng chưa được khai thác nhiều Năng lượng ánh sáng mặt trời: sinh vật sử dụng năng lượng này cho quang hợp, sinh trưởng và phát triển, con người sử dụng để sấy khô nguyên liệu, làm muối

1.3 Những tác động của con người đến môi trường biển và khu ven biển.

1.3.1.Quá trình đô thị hóa

Đô thị hóa là quá trình mở rộng các điểm dân cư đô thị và phổ cập lối sống thành thị trên lãnh thổ nhằm phát triển mạng lưới đô thị hoàn chỉnh phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời mở ra những cơ hội đầu tư lớn mạnh về mọi phương diện cho các thành phần kinh tế

Các vùng ven biển là nơi sinh sống thuận lợi của con người từ thời tiền sử Vùng ven biển thuận lợi với một loạt lý do, trong đó có sự điều hòa ảnh hưởng đại dương đến các điều kiện khí hậu khắc nghiệt; gần với vùng đất nông nghiệp màu mỡ, dễ dàng tiếp cận với tài nguyên sinh vật biển và dễ dàng vận chuyển bằng đường thuỷ Kết quả là khoảng 70% các thành phố lớn trên thế giới có dân số trên 2,5 triệu dân nằm dọc theo bờ biển Sự gia tăng dân số vùng ven biển đang vượt qúa tốc độ gia tăng dân số toàn cầu do hậu quả của sự di cư ra vùng ven biển Sự di cư này đặc biệt lớn ở các nước đang phát triển nơi

mà sự chuyển dịch ra các trung tâm đô thị ven biển có liên quan tới sự tìm kiếm việc làm, giáo dục, y tế và các dịch vụ khác5

Đô thị hoá có những tác động sâu sắc đến các nguồn tài nguyên ven biển Có thể là từ việc ô nhiễm vùng nước ven biển do ảnh hưởng của nước chảy tràn bề mặt và nước thải, suy thoái các bờ biển và các môi trường tự nhiên khác do sử dụng không đúng hay quá mức; giảm thiểu diện tích các vùng đất cỏ hoang bụi rậm ven biển, các vùng đất ngập nước, suy thoái nơi ở Khi các vùng định cư đô thị được thành lập, thường ít có các nghiên cứu về các tác động của đô thị đến môi trường xung quanh Kết quả là nước chảy tràn bề mặt và các hệ thống chất thải thải trực tiếp vào sông và các nguồn nước mà không

Trang 14

chú ý đến ảnh hưởng của các chất thải này đến chất lượng nguồn nước nhận Thêm vào đấy, nhiều khu vực tập trung dân số xung quanh khai thác quá mức các hoạt động giải trí Trong hầu hết các trường hợp, sự phát triển các khu đô thị mới đều gây nên những sự chuyển đổi các nguồn tài nguyên từ dạng này sang dạng khác Ví dụ như sự chuyển đổi các vùng cây bụi còn sót lại thành các vùng ruộng đất Trong một số trường hợp, các mục tiêu bảo tồn cũng bị bỏ qua trong quá trình phát triển, tạo ra sự mất nơi cư trú và chất lượng môi trường nói chung Phát triển các đô thị mới mà qúa trình quản lý không hiệu quả cũng làm nới rộng các tác động không mong muốn về các nguồn tài nguyên

Đất đai bị thu hẹp, hệ thống giao thông thủy lợi, các hệ thống phục vụ sinh hoạt tăng lên gây ra những khó khăn về môi trường sinh thái Tốc độ đô thị hóa càng nhanh thì những vấn đề về đất đai là hết sức cần thiết, là nguyên nhân gây nên các vấn đề môi trường ở vùng ven biển như là các bãi rác Ngoài ra các bờ đất trống bị xâm chiếm một cách nghiêm trọng Khi tốc độ đô thị hóa tăng thì dân số tập trung cao và để phục vụ nhu cầu của con người, công nghiệp phát triển để đáp ứng việc làm và các nhu cầu khác Với

sự đô thị hóa này nó gây ra áp lực trong quản lý, từ đó nảy sinh những vấn đề ảnh hưởng đến môi trường như sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với số lượng nhỏ nên không có các biện pháp xử lý nước thải, chất thải rắn, Hệ sinh thái thủy vực bị ô nhiễm mạnh, ô nhiễm đại dương, bờ biển và sông hiện nay là mối quan tâm của con người

Quá trình đô thị hóa dẫn đến nhu cầu mở rộng đất ở vùng triều và vùng ven biển tăng nhanh, chủ yếu sử dụng cho nông nghiệp, thủy sản và dùng cho xây dựng nhà ở, xí nghiệp, mở rộng mạng lưới giao thông, bến cảng, Nguồn nước thải sinh hoạt được thải trực tiếp từ các khu dân cư ven biển Chất lượng nước thải chủ yếu là giàu chất hữu cơ, phân rác, cùng với chất thải từ các nền công nghiệp ven biển Lượng chất thải này được thải trực tiếp vào biển không qua xử lý hoặc thải vào sông rồi qua biển gây ô nhiễm hữu

cơ, làm giảm lượng oxy trong nước, mất nơi cư trú của các loài sinh vật biển Thêm vào

đó sự ô nhiễm biển còn do chế phẩm phục vụ nuôi tôm, dư lượng các loại thuốc kích

thích, trừ sâu, bảo vệ thực vật, góp phần làm gia tăng tần suất xuất hiện “thủy triều đỏ”

gây ô nhiễm nghiêm trọng đến nền kinh tế biển, mất cân bằng sinh thái biển

Xây dựng các cơ sở hạ tầng ở đô thị tiềm ẩn các nguy cơ ô nhiễm môi trường do nước thải, khí thải, chất thải rắn Các công viên cây xanh, các khu vui chơi giải trí bị thu hẹp lấn chiếm, ảnh hưởng đến môi trường sống của dân cư vùng ven bờ Do dân cư tập trung đông đúc ở các đô thị ven biển nên nhu cầu về nước ngọt sử dụng cho công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt tăng lên, dẫn đến việc khai thác nước ngầm ven biển quá mức gây ô nhiễm nước ngầm, gia tăng lún sụt ở vùng ven bờ Quá trình đô thị hóa làm nhiều ao hồ bị

Trang 15

san lấp, nhiều sông mương bị thu hẹp, đây là nguyên nhân làm giảm khả năng chứa, giảm dòng chảy từ sông đổ ra biển làm mất cân bằng hệ sinh thái sông và cửa sông Quá trình xây dựng nhà ở, công trình ven biển đã gây ra lắng đọng trầm tích, bùn cát làm kìm hãm

sự phát triển của san hô, cỏ biển

Do tăng nhanh dân số, cùng với sự phát triển của các khu công nghiệp, đô thị, đòi hỏi phải gia tăng nhu cầu lương thực, thực phẩm, chất đốt, nguyên vật liệu xây dựng, nơi ở,

vì vậy nhiều nơi đã phá hủy rừng ngập mặn để lấy đất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, xây dựng thành phố mới, bến cảng, Hậu quả là thu hẹp diện tích rừng ngập mặn nhanh chóng, tài nguyên lâm, thủy sản cạn kiệt dần, nạn xói lở bờ sông, bờ biển tăng làm cho môi trường ngày càng xấu đi

Một tác động kết hợp phát sinh khi việc sử dụng đất ở các vùng kế cận xảy ra để mở

rộng diện tích đô thị Các dạng sử dụng đất cho các vùng "gọi là đô thị” này có thể tạo ra

những áp lực cho việc cung cấp các dịch vụ và cơ sở hạ tầng Mật độ thấp có nghĩa là giá trên mỗi đơn vị cao đối với việc cung cấp và duy trì các dịch vụ và cơ sở hạ tầng như đường sá, cấp nước và giáo dục Ngoài ra, cư dân ở các vùng này thường trông đợi cao hơn về các dịch vụ sẽ được cung cấp Sự trông đợi như vậy thường biến thành các yêu cầu đối với chính quyền địa phương và các người cung cấp các dịch vụ khác đáp ứng tăng thêm các điều kiện vật chất

1.3.2 Hoạt động giải trí và du lịch

Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp không những chứa đựng trong đó những giá trị kinh tế đơn thuần mà cả những giá trị về lịch sử, văn hóa của một vùng miền Du lịch ở những vùng ven biển đang là nguồn thu nhập cao cho các nước có vùng ven biển Tại đây, người ta sẽ được thưởng thức những phong cảnh đẹp ở những vùng cửa sông ven biển, những bờ biển tuyệt vời, các đảo đá với đầy hang động, bờ cát mịn, vùng đầm phá, rừng ngập mặn, các rạn san hô, Vùng ven biển là điều kiện lý tưởng để phát triển tiềm năng

du lịch, nghĩ mát và điều dưỡng Đi cùng theo các hoạt động dịch vụ phục vụ cho du lịch giải trí như là bơi thuyền thưởng ngoạn, lặn, lướt sóng, câu cá tắm biển, ngắm san hô, Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đem lại, thì du lịch giải trí đang gây ra những tác động ảnh hưởng đến môi trường ven biển Các hoạt động của con người trong lĩnh vực này góp phần làm cho môi trường ven biển bị suy thoái Các tác động tiêu cực của du lịch đến môi trường vùng ven biển có thể kể là :

· Khai thác quá mức và không hợp lý hải sản phục vụ nhu cầu thưởng thức đặc sản biển cho du khách Trong những năm gần đây, năng suất đánh bắt một số nghề bị giảm sút nghiêm trọng (nhất là các nghề hoạt động ven bờ có độ sâu dưới 30m), sản lượng khai

Trang 16

thác các loại hải sản chưa đến tuổi trưởng thành chiếm khá cao, đặc biệt một số tôm cá, nhuyễn thể, các sinh vật quý hiếm Việc phá hủy san hô thông qua sử dụng thuốc nổ và lấy san hô làm cạn kiệt nguồn tôm giống và các đàn cá gần bờ

· Buôn bán các hàng mỹ nghệ từ hải sản phục vụ khác du lịch: đây là nguyên nhân dẫn đến cạn kiệt một số loài san hô, trai ốc, tôm hùm và đồi mồi Việc buôn bán cá cảnh biển phát triển ở một số trung tâm du lịch kéo theo việc đánh bắt cá quá mức trên các rạn san

hô Sự khai thác quá mức và không hợp lý ở vùng biển ven bờ đang là mối đe dọa lớn cho nhiều loài sinh vật biển, đó cũng là nguyên nhân làm mất cân bằng tự nhiên của các quần

xã ven bờ

· Xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ cho các hoạt động du lịch giải trí: lợi thế kinh tế trực tiếp cũng được tạo ra bởi các hoạt động du lịch và theo đó đã có sự bùng nổ về du lịch với việc xây dựng hàng loạt khách sạn, nhà nghỉ, cửa hàng ăn uống và các bờ biển nhân tạo dọc bờ biển đã được cảnh báo là mối đe dọa lớn nhất đối với môi trường ven biển thế giới Các diện tích đất hay mặt nước vùng ven biển sẽ được dùng để xây dựng cơ

sở hạ tầng, làm giảm dần diện tích đất và mặt nước Hiện tại các rừng đước che phủ trên

16 triệu ha ven bờ biển, song diện tích đang thu hẹp hàng năm với tốc độ 2% Chỉ trong mấy thập kỷ cuối cùng lại đây, hoạt động đánh bắt và nuôi hải sản của con người (phục vụ cho nhu cầu hàng ngày và du lịch, giải trí, ) đã phá hủy và làm thay đổi tới 50% diện tích các rừng đước trên thế giới Điều tồi tệ hơn là trong tổng diện tích các rừng đước còn tồn tại hiện nay trên phạm vi toàn cầu chỉ có 1% được bảo vệ6

· Hoạt động tham quan, du lịch cũng làm ảnh hưởng đến số lượng, nơi cư trú và sinh sản của một số loài chim sinh sống ở các khu rừng ngập mặn, vùng đất ngập nước ven biển: các hoạt động du lịch ở rừng ngập mặn như tham quan đi bộ trong rừng, ngắm cảnh, chụp ảnh, săn bắn, khám phá, gây ra tiếng động mạnh hay phá hủy một số nơi cư trú của một số loài động, thực vật ở nơi đây, làm thay đổi tập tính và đời sống của chúng Việc khai phá và chuyển đổi mục đích sử dụng của các vùng đất ven biển làm mất đi khu hệ cư trú của các loài hoang dã, phá vỡ các nhân tố sinh sản, nuôi dưỡng, làm tuyệt chủng cục

bộ, làm chết các cá thể sinh vật

· Môi trường ven biển cũng đang chịu sự tác động của những nguồn ô nhiễm từ đất liền

do chất thải sinh hoạt của du khách và ngược lại các chất thải này có nguy cơ làm thay đổi chất lượng nước, các hệ sinh thái vùng ven biển Từ đó dẫn đến mất đa dạng sinh học do

ô nhiễm và phá hủy môi trường sống Sự thay đổi của một số hợp phần tự nhiên hoặc sự mất đi của một số loài sinh vật cấu thành nên hệ sinh thái nào đó dưới tác động của con

6 Giáo trình Quản lý môi trường ven biển – Trường Đại học Huế, năm 2008

Trang 17

người sẽ là nguyên nhân làm thay đổi, thậm chí mất đi hệ sinh thái đó và kết quả là tài nguyên sẽ bị ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau Các chất thải rắn từ hoạt động du lịch nếu không được quản lý tốt sẽ làm ô nhiễm môi trường vùng ven biển

· Ô nhiễm không khí ở các khu công nghiệp gần vùng biển hay do hoạt động vận chuyển khách du lịch cũng sẽ tác động đến sự sinh trưởng của nhiều loài sinh vật, làm di chuyển nơi cư trú của một số loài nhạy cảm với môi trường không khí

· Khách du lịch và phương tiện vận chuyển khách du lịch có thể có thể đem đến một số loài sinh vật ngoại lai, ảnh hưởng đến sự phát triển của một số hệ sinh thái ven biển

· Việc xây dựng các công trình du lịch trên cát cồn cát nhạy cảm thường gây ra xói mòn, thay đổi tính chất đới bờ và dần dần mất đi một số loài sinh vật phát triển trên một

số hệ sinh thái cát ven biển

· Chất thải từ các tàu thuyền du lịch, gồm cả máy dầu, tiếng ồn của động cơ sẽ trực tiếp làm ô nhiễm các thủy vực, môi trường biển Neo đậu tàu thuyền không đúng nơi quy định cũng phá hủy nhiều rạn san hô có giá trị

· Những hành vi thiếu ý thức của khách du lịch khi khám phá các rạn san hô và việc khai thác san hô làm quà lưu niệm của người dân địa phương, ngoài việc phá hủy trực tiếp rạn san hô còn góp phần làm xói mòn nghiêm trọng vùng biển, làm mất đi lớp bảo vệ bờ biển

· Việc sử dụng nước thiếu tính toán cho nhu cầu du lịch dẫn đến tình trạng thiếu nước cục bộ và làm tăng khả năng bị nhiễm mặn ở khu vực ven biển, làm chết cây cối

· Việc xây dựng các khách sạn, đường sá dẫn đến việc san ủi đất gây ra sự xói mòn và trôi chảy trầm tích gây tác hại đến vùng cửa sông và rạn san hô

· Nước thải từ các nhà hàng và khách sạn chưa được xử lý đầy đủ gây thêm tình trạng ô nhiễm vùng ven bờ cũng như làm ô nhiễm nguồn nước dùng cho sinh hoạt là nguyên nhân gây bệnh và làm chết các nhiều loài động vật nước

Tóm lại, tác động của du lịch ở vùng ven biển có thể gây ra những thảm hoạ đối với

môi trường và cộng đồng địa phương Giải pháp cho các vấn đề này là phát triển du lịch dựa vào các nguyên lý của sự bền vững Trước khi thực hiện phát triển du lịch ven biển, cần phải đánh giá và phân loại cẩn thận các khu vực ven biển cũng như tính nhạy cảm về sinh thái, xã hội và văn hoá của nó Cần phải có các kế hoạch và mục tiêu quản lý đối với từng vùng Những vùng có nhạy cảm cao, có đặc thù về mặt môi trường cũng như có nghĩa về văn hoá cần phải thường xuyên bảo vệ, đó là các vùng bảo vệ không phát triển

Ở những vùng phát triển, cần phải có sự cân đối giữa phát triển du lịch và thiên nhiên Công nghệ, vật liệu và thiết kế phải ở mức tác động thấp nhất tới sự suy thoái môi trường

Trang 18

di sản văn hoá để du lịch học được kinh nghiệm và duy trì với cộng đồng địa phương

1.3.3 Hoạt động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và nghề cá

* Hoạt động nông nghiệp

Cũng như các nơi khác, nông nghiệp ở vùng ven biển có vai trò quan trọng trong việc chiếm dụng đất Vùng ven biển có các điều kiện khí hậu và đất đai thuận lợi cho nông nghiệp Ngoài chức năng hết sức rõ ràng là cung cấp lương thực cho cộng đồng ven biển, nông nghiệp cũng tạo ra nguyên vật liệu cho công nghiệp ở các thành phố cảng Sản phẩm nông nghiệp có thể tìm thấy trong các thị trường du lịch, mặc dù các sản phẩm này không phải luôn luôn chiếm vị trí ưu thế Nông nghiệp cũng tạo ra kế sinh nhai cho cộng đồng địa phương và bao gồm cả cư dân ở các thành phố ven biển Nông nghiệp vùng ven biển thường có những lợi ích từ các điều kiện môi trường thuận lợi, từ các vùng đất tốt và sự giao thông liên lạc của biển cũng như từ sự phát triển của công nghiệp và du lịch ven biển Tuy nhiên, nông nghiệp ven biển cũng phải chịu áp lực liên quan đến trạng thái ở gần với biển bao gồm nguy cơ của việc mặn hoá không khí và nước; chất lượng nước kém

và không an toàn xuất phát từ các hoạt động ở vùng thượng lưu; sự cạnh tranh gay gắt về đất ở vùng ven biển

Lĩnh vực nông nghiệp cũng ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng của các lĩnh vực khác Các mối tương tác này có thể tích cực nhưng thường là tiêu cực và xoay quanh các cạnh tranh

về đất, nước, nguồn vốn và lao động

Tác động tiêu cực của nông nghiệp đối với các lĩnh vực khác bao gồm: việc làm ô nhiễm nghề cá thông qua các hoá chất dùng trong nông nghiệp và làm nghẽn bùn đối với các rạn san hô và các cảng do việc xói mòn đất Mất nơi ở và suy giảm đa dạng sinh học vùng ven biển cũng có thể xảy ra Ngược lại, nông nghiệp ven biển cũng có thể bị ảnh hưởng từ các ô nhiễm xuất phát từ các hoạt động ở vùng ven biển hay thậm chí có thể gây

ra các tác động tiêu cực do chính các hoạt động của nó, ví dụ như hoạt động tưới tiêu không thích hợp có thể dẫn đến việc nhiễm mặn nước biển

Để có thể có kế hoạch thống nhất của nông nghiệp trong kế hoạch tổng thể của vùng ven biển, giai đoạn đầu tiên là thu thập các thông tin thích đáng và hữu ích Các thông tin này bao gồm các đặc điểm môi trường kinh tế xã hội, sinh học, vật lý; mối tương tác giữa các lĩnh vực, sự quản lý và sự cưỡng ép, các cơ hội và khả năng lựa chọn trong các lĩnh vực Giai đoạn tiếp theo là vạch ra kế hoạch liên quan đến các đặc điểm đặc biệt của nền nông nghiệp ven biển, trong khi vẫn bảo đảm kế hoạch này phù hợp với mục tiêu tổng thể của quốc gia về nông nghiệp Trong giai đoạn này, các biện pháp giảm thiểu hay tránh các tác động tiêu cực đến các lĩnh vực khác phải được trình bày Điều đó có thể phải rà xét lại

Trang 19

kinh phí, việc đánh thuế và các qui định trong khi trình bày các dịch vụ hổ trợ và xem lại

cơ cấu hành chính Kết quả có thể thay đổi về mô hình sản xuất và phương pháp canh tác Trong quá trình thực hiện, các người cùng tham gia và các bên liên quan sẽ được thăm dò

và cần duy trì mối liên lạc thích đáng với các Bộ, Ngành của các lĩnh vực khác Các kế hoạch phát triển nông nghiệp vùng ven biển sẽ trình bày các đặc điểm đặc biệt về nông nghiệp của vùng, mối tương tác với các lĩnh vực khác và tầm quan trọng của các hoạt động bền vững

* Hoat động nuôi trồng thủy sản

Vùng ven biển là nơi thích hợp cho việc nuôi trồng các loài thuỷ sản biển cũng như các loài nước ngọt Việc nuôi trồng thuỷ sản có ý nghĩa lớn trong việc cung cấp protein và giảm thiểu đói nghèo cho người dân sống vùng ven biển Tuy nhiên hoạt động nuôi trồng thuỷ sản cũng đem lại nhiều tác hại về mặt môi trường ở đây

Trước hết hoạt động nuôi trồng thuỷ sản cạnh tranh về không gian với các lĩnh vực khác như du lịch, giải trí và nông nghiệp, Để có thể phát triển, nuôi trồng thuỷ sản cần phải có nước sạch, không có các sinh vật lạ du nhập; xây dựng cơ sở hạ tầng, như xây dựng nhà cửa, kho hàng, đường sá, Các vùng đất thấp ven bờ như rừng ngập mặn, đất nông nghiệp, các bờ triều đã bị chuyển đổi thành các ao nuôi tôm Tác động rõ ràng nhất

và được quan tâm nhiều nhất là rừng ngập mặn đã bị biến đổi thành các ao nuôi Sự suy thoái rừng ngập mặn cùng với sự phát triển của nuôi tôm xảy ra ở Châu Á, Trung Mỹ Có khoảng 1-1,5 triệu ha rừng ngập mặn đã bị chuyển đổi thành ao nuôi tôm trên phạm vi toàn thế giới, trong đó, riêng ở Châu Á, đã có hơn 500.000 ha rừng ngập mặn đã bị chuyển đổi thành ao nuôi tôm nước lợ Việc nuôi tôm gia tăng ngoại tệ cho các nước đang phát triển, nhưng việc mất mát nơi ở nhạy cảm là khó bù đắp Rừng ngập mặn có vai trò trong việc chống xói mòn, duy trì chất lượng nước ven bờ và là nơi sinh sản của nhiều loài sinh vật Rừng ngập mặn cung cấp các nguồn tài nguyên tái tạo như gỗ, sợi, than đá, cho cộng đồng người dân địa phương Chuyển đổi thành ao nuôi tôm, sinh cảnh này bị phá trụi và rất khó để phục hồi Tiếc rằng các ao nuôi tôm thường chỉ sinh lợi trong thời gian ngắn do đấy chính là đối tượng của mầm bệnh và giá tôm hạ xuống trên thị trường Việc quay trở lại sự đánh bắt truyền thống không phải luôn luôn dễ dàng do mất đi các khu rừng ngập mặn, có nghĩa là mất đi môi trường nuôi dưỡng, là nguồn bổ sung quan trọng cho các loài thuỷ sản tự nhiên

Một tác động thường gặp của việc nuôi tôm thâm canh đó là sự thấm rỉ của nước mặn

từ các ao nuôi đến nguồn nước ngầm và các vùng đất nông nghiệp trồng lúa kế cận Trong một số vùng ở Thái lan, việc sử dụng nước ngầm để bơm cho các ao nuôi tôm đã làm cho

Trang 20

nguồn nước ngầm bị nhiễm mặn Điều đó có thể dẫn tới những tổn thất về mặt xã hội như giảm việc cung cấp nước cho nông nghiệp và sinh hoạt, chuyển đổi lao động, Một tác động khác đã được báo cáo ở một số vùng ở Châu Á liên quan đến việc sử dụng nước ngầm cho nuôi tôm là làm cho đất bị lún sụt Trong quá trình hoạt động, nuôi trồng thuỷ sản tạo ra các tác động tiêu cực đối với môi trường như việc dư thừa thức ăn nhân tạo trong quá trình nuôi, làm thay đổi cấu trúc chuỗi thức ăn tự nhiên của môi trường; làm thay đổi cấu trúc quần xã động vật đáy do một số nhóm ưa các thức ăn dư thừa này hơn một số nhóm khác; thêm vào đấy, một số nhóm sinh vật đáy sống cố định có thể bị chết

do hàm lượng oxygen trong tầng đáy bị suy giảm do quá trình phân huỷ của vi sinh vật Các chất bài tiết, chất thải của vật nuôi cùng với các chất dinh dưỡng trong quá trình phân huỷ thức ăn dư thừa đã làm cho hàm lượng các chất dinh dưỡng trong nước cao hơn mức bình thường gây ra hiện tượng nở hoa của các loài tảo Sự phát triển quá mức của một số loài tảo giáp có gai có thể cản trở quá trình ăn lọc của một số loài cá Mặc dù một số loài tảo phát triển tốt khi hàm lượng chất dinh dưỡng trong nước cao, tuy nhiên một số loài tảo độc hại khi nở hoa, gây ra hiện tượng thuỷ triều đỏ (red tides) có thể gây độc cho các sinh vật khác Các chất độc của các loài tảo này có thể được tích tụ trong quá trình ăn lọc của các loài hai mảnh vỏ, có thể gây nguy hiểm đối với sức khoẻ của con người Để giảm thiểu các tác động của các chất ô nhiễm từ các ao nuôi đến chất lượng nước ven biển có thể nuôi ghép các loài 2 mảnh vỏ, cá và tôm; sử dụng nước ao tôm để nuôi các loài hàu, vẹm và cỏ biển là những giải pháp tích cực Tương tự, việc sử dụng nước trong ao tôm để tưới cho các loài cây trồng chịu mặn cũng đã được quan tâm Glenn 1991 và Brown 1999

đã thấy rằng các loài cây chịu mặn thấp và chịu mặn cao có khả năng loại nitơ trong nước

ao nuôi tôm rất hiệu quả Cải tiến phương pháp cung cấp thức ăn và thành phần chất dinh dưỡng trong thức ăn là chiến lược hiệu quả để làm giảm tải lượng nitơ và photpho vào môi trường Thức ăn sống như các loài tảo và Chironomid mặc dù có hàm lượng protein cao nhưng làm giảm việc bài tiết nitơ do đó ít có tác động xấu tới chất lượng nước so với thức ăn nhân tạo

Một biện pháp khác là sử dụng rừng ngập mặn như là bộ máy lọc các chất ô nhiễm từ ao nuôi Alongsi, 1991 và Boto 1992 đã thấy rằng, rừng ngập mặn rất có hiệu qủa trong việc loại chất thải rắn và các chất dinh dưỡng thải từ ao nuôi Monoroy 1999 đánh giá rằng 0,04 - 0,12 ha rừng ngập mặn có khả năng loại bỏ hoàn toàn nitơ vô cơ trong nước thải từ

1 ha ao tôm nuôi bán thâm canh

Chất thải trầm tích đáy: một tác động khác rất quan trọng trong quá trình nuôi ở các ao cao triều là các chất thải từ nền đáy ao nuôi Vào thời điểm kết thúc vụ nuôi, một khối

Trang 21

lượng lớn bùn trong ao không qua xử lý đã được thải ra ngoài Lượng bùn đáy này chứa một lượng lớn các chất ô nhiễm, thức ăn dư thừa, các sản phẩm bài tiết của vật nuôi thường thải ra ngoài môi trường không theo quy hoạch hay thường dùng để bồi đắp các

đê bao ao nuôi Các chất thải trong lượng bùn này sau đó sẽ theo nước mưa đi vào môi trường nước, làm ô nhiễm môi trường nước tự nhiên hay cả nước trong các ao nuôi

Nuôi trồng thủy sản vùng ven biển đòi hỏi một lượng lớn nước ngọt cần thiết cho các hoạt động sinh hoạt, và vận hành nuôi Thêm vào đó, ở vùng ven biển miền Trung, nơi có đất cát và nhiệt độ cao, lượng nước bốc hơi bề mặt và thẩm thấu qua đất có thể lên tới 1-3% thể tích ao nuôi Phần lớn các ao nuôi cao triều ở vùng ven biển cần phải bổ sung một lượng lớn nước ngọt để điều hoà độ muối thích hợp cho vật nuôi trong khoảng 150/00 Theo tính toán của các chuyên gia, cứ 1 ha nuôi tôm trên cát cần từ 16.000 đến 27.000 m3

nước, nếu chỉ tính mỗi năm nuôi 2 vụ, thì lượng nước ngọt phải sử dụng cho cả hàng ngàn

ha nuôi tôm trên cát ở khu vực Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung đã lên tới hàng tỷ

m3/năm Vì vậy, một lượng lớn thể tích nước ngầm cần phải được bơm lên để có được môi trường nuôi thích hợp, điều đó đã làm cho mức nước ngầm bị hạ thấp dẫn đến việc nhiễm mặn các vùng đất và các dòng nước kế cận Ngay cả khi không bơm nước ngọt lên thì việc thải nước thải có nồng độ muối cao có thể làm nhiễm mặn đất nông nghiệp Việc thiếu nước ngọt, nhiễm mặn không chỉ làm giảm nước cung cấp cho nông nghiệp mà còn ảnh hưởng đến nước uống và các nhu cầu khác của người dân và của các hệ sinh thái ven biển Tại Ninh Thuận, các nhà khoa học đã ghi nhận được hiện tượng rừng cây phi lao ven biển chết do thiếu nước ngọt Có nơi rừng phòng hộ bị suy kiệt, gió cát vùi lấp cả ao nuôi tôm Ao nuôi bị bỏ hoang: tuổi thọ trung bình của một ao nuôi trồng thuỷ sản phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như chế độ quản lý, chất lượng nước, trầm tích đáy,

và thường dao động trong vòng 7-15 năm Tại một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung,

do thiếu hệ thống thuỷ lợi hợp lý hoặc hệ thống xử lý chất thải không đảm bảo làm cho

chất lượng nước trong ao nuôi biến đổi theo chiều hướng xấu, dẫn đến hiện tượng “thối

ao” và sau một số năm sử dụng, năng suất nuôi giảm đáng kể, sau đó ao sẽ bị bỏ hoang

Việc hoàn thổ các vùng đất được sử dụng làm ao nuôi này rất tốn kém và phức tạp phần lớn do điều kiện môi trường gốc ban đầu đã bị thay đổi nghiêm trọng Hệ thống dòng chảy bị gián đoạn, thay đổi; khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây cối của lớp đất

bề mặt đã bị mất đi, chuyển đổi hình thức sử dụng các vùng đất này về mặt môi trường hoàn toàn là một vấn đề nan giải Ngoài ra, việc du nhập các đối tượng nuôi mới (thường

là các loài biến đổi gen) và một số bệnh phát sinh trong quá trình nuôi của các loài này có thể gây bệnh cho các loài địa phương Mặc dù hầu hết các bệnh từ cá không gây hại cho

Trang 22

con người, tuy nhiên một số bệnh cũng như có thể lan truyền cho con người (ví dụ như vi khuẩn Streptococcus) Để hạn chế các tác động bất lợi của nuôi trồng và chế biến thuỷ sản đối với môi trường, cần thực hiện một số biện pháp sau đây:

- Bảo đảm nguyên tắc đánh giá tác động môi trường cần thiết cho các chương trình và dự

án mới trong ngành nuôi tôm

- Cấm xây dựng các ao nuôi tôm ở những vùng đước lâu năm Phát triển cơ chế đồng quản lý rừng đước trên cơ sở cộng đồng

- Xúc tiến chương trình giáo dục cho tất cả các bên liên quan từ cán bộ quản lý đến cá nhân những người nuôi tôm về khái niệm phát triển bền vững và làm thế nào để đạt được điều đó trong nuôi trồng thuỷ sản

- Quản lý chặt chẽ việc sử dụng thức ăn và thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thuỷ sản

- Đánh giá tác động môi trường của các cơ sở chế biến tôm đồng thời xử lý nghiêm ngặt đối với các cơ sở vi phạm vệ sinh môi trường

- Khẩn trương xây dựng quy hoạch vùng nuôi tôm, nhất là nuôi tôm trên cát, rà soát lại diện tích nuôi trồng để có biện pháp quản lý thích hợp

* Nghề cá

Việc khai thác, sử dụng nguồn lợi sinh vật biển ngày càng tăng góp phần tăng trưởng kinh tế quốc gia, nâng cao đời sống, tăng thu nhập và giải quyết công ăn việc làm cho đa phần dân cư ven biển

Song song với sự gia tăng các mối đe doạ do suy thoái chất lượng môi trường ven biển, thì việc đánh bắt hải sản trên thế giới cũng tăng lên trong thời gian qua Gia tăng dân số sẽ dẫn tới sự gia tăng nhu cầu về các sản phẩm biển đặc biệt là cá, do đó có thể thấy rằng tốc

độ khai thác đánh bắt cá sẽ tăng tới mức mà trữ lượng các đàn cá có thể bị suy giảm hoàn toàn Hiện nay, do hậu quả của gia tăng dân số, nhu cầu trên thế giới đã vượt quá sản lượng, gây nên sự tăng giá và giảm nguồn cá, đặc biệt đối với các nước nghèo Áp lực đánh bắt tăng do sự gia tăng phương tiện và các cải tiến về kỹ thuật đánh bắt Sự khai thác quá mức đã làm sản lượng của nhiều ngư trường xuống dưới mức thu hoạch, dưới ngưỡng nền của lý thuyết Việc áp lực đánh bắt tăng lên dẫn tới sự suy giảm kích thước quần thể, tính đa dạng gen và tính thích nghi của đàn cá cũng giảm theo Hầu hết các đàn cá ăn đáy

đã bị đánh bắt và nhiều đàn đang bị suy giảm Do bị khai thác, đánh bắt quá mức, nên một

số đàn cá di cư không còn khả năng phục hồi số lượng quần thể và lâm vào tình trạng bị

đe dọa diệt vong Việc buôn bán cá cảnh biển phát triển mạnh kéo theo việc đánh bắt cá quá mức trên các rạn san hô, các bờ đá ngầm

Như vậy, phương thức thương mại quốc tế đã dẫn đến sự gia tăng sản lượng cá xuất

Trang 23

khẩu từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển, dẫn đến mức độ không bền vững của việc khai thác tài nguyên, làm mất cân bằng tự nhiên các quần xã sinh vật biển ven bờ Rõ ràng là ngành đánh bắt cá quy mô nhỏ phục vụ nhu cầu và nguyện vọng của địa phương là bền vững và có tính bảo tồn hơn là các ngành đánh bắt quy mô lớn có định hướng xuất khẩu Việc quản lý nghề cá hiện nay trên thế giới cũng là vấn đề phức tạp liên quan đến phương tiện và kỹ thuật đánh bắt Một số nơi trên thế giới sử dụng một số ngư

cụ có thể có những ảnh hưởng có hại đối với các loài không phải là đối tượng khai thác như các loài rùa biển, các loài chim, các loài thú biển và các loài động vật không xương sống khác Việc sử dụng các loại nghề, ngư cụ đánh bắt cá có tính hủy diệt hoặc ảnhhưởng lớn đến khả năng phục hồi quần thể còn đang phổ biến nhiều nơi như dùng chất

nổ, xung điện, hóa chất độc, đăng đáy, lưới với mắt lưới bé, Bên cạnh mối đe doạ trực tiếp của việc khai thác quá mức các đàn cá, nhiều ngư trường đang gặp rủi ro do sự suy thoái nơi cư trú gây ra bởi ô nhiễm và các can thiệp khác của con người Mối đe dọa lớn nhất đối với sản lượng nghề cá sẽ nảy sinh khi đánh bắt quá mức và sự suy thoái môi trường cư trú kết hợp nhau Việc phát triển vùng ven biển và sự hủy hoại nơi cư trú tự nhiên có vai trò là những bờ đẻ, nơi kiếm ăn của nhiều loài sinh vật ngoài khơi cũng là những yếu tố cần phải quan tâm Các loài cá có các giai đoạn ban đầu trước trưởng thành, sống ở vùng nước ngọt hoặc nước lợ ven biển, ví dụ rừng ngập mặn hay đầm lầy nước mặn, đặc biệt bị đe doạ bởi việc phát triển không hạn chế vùng ven biển

1.3.4 Hoạt động khai thác khoáng sản và dầu mỏ

Khoáng sản là vật liệu của vỏ trái đất, được hình thành từ quá trình tự nhiên mà con người có thể khai thác, sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp cho các nhu cầu của cuộc sống

Quá trình phát triển văn minh của nhân loại gắn liền với quá trình phát triển khả năng

sử dụng nguyên liệu khoáng Sự phân chia các thời đại văn minh đã thể hiện rất rõ vấn đề này ở các thời kỳ đồ đá cũ, đồ đá mới, đồ đồng, đồ sắt, và đặc biệt trong điều kiện phát triển cao độ của khoa học kỹ thuật trong thời đại ngày nay thì khả năng khai thác khoáng sản ngày một nâng cao Việc khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản đã thúc đẩy sự phát triển của các nền văn minh nhân loại, đem lại sự thịnh vượng cho nhiều lãnh thổ Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên cũng gây ra nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của các ngành kinh tế khác Môi trường vùng ven biển là thành phần chịu nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của việc khai thác khoáng sản đặc biệt là các sự cố do khai thác dầu đem lại

* Những tác động của việc khai thác khoáng sản đến môi trường khu ven biển có thể kể

Trang 24

như sau:

Tùy theo từng loại khoáng sản mà con người có phương thức khai thác, chế biến và tàng trữ cho thích hợp để đưa lại hiệu suất cao nhất Cho dù khai thác khoáng sản bằng công nghệ nào đi nữa thì hậu quả mà môi trường vùng ven biển phải gánh chịu cũng rất nghiêm trọng Các tác động đến vùng ven biển có thể kể là:

· Các hợp chất khí CO2, SO2, CO, bụi, được sinh ra do các công đoạn nổ mòn, các phương tiện vận chuyển là rất lớn Các khí này sẽ tạo nên mưa axít làm ảnh hưởng đến môi trường nước, sinh vật

· Hoạt động chảy tràn đem các chất ô nhiễm trên mặt đất và một số lượng lớn các vật liệu trầm tích vào vùng nước mặt làm suy thoái chất lượng nguồn nước, các chất ô nhiễm theo nước chảy tràn mang theo xăng dầu, nước làm lạnh máy, của các phương tiện thi công, các hóa chất liên quan đến chất nổ và các chất thải sinh hoạt khác làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt

· Các hoạt động khai khoáng và nấu chảy kim loại đã tạo ra một lượng bùn lớn, sự quản

lý các phế phẩm và các tồn dư khác từ khai khoáng có thể dẫn tới một loạt các vấn đề ở vùng hạ lưu ven biển do những thay đổi về nơi cư trú, chất lắng đọng và hoá chất

· Việc khai thác nước ngầm ở vùng ven biển đã gây ra một số vấn đề nghiêm trọng và dài hạn, đặc biệt trong điều kiện nước biển dâng lên thể hiện qua việc xâm nhập mặn ở vùng cửa sông và nhiễm mặn nước ngầm

· Khai thác cát sạn ở vùng ven biển một cách bất hợp lý đã ảnh hưởng đến các hệ sinh thái vùng biển

· Trong khai thác vàng, người ta đã sử dụng một lượng lớn thủy ngân để trích ly vàng trên cát dòng sông làm cho nước bị ô nhiễm Hb Thủy ngân rất bền vững trong môi trường do vậy tồn lưu trong đất, nước và sinh vật rất lâu gây hậu quả thứ cấp một cách lâu dài

· Nhiều vùng trên thế giới có các di trầm tích lớn về thiếc, crôm và các khoáng chất khác ở ven biển hay kế cận rừng ngập mặn Việc khai thác các khoáng sản này đã làm mất

đi các vùng rừng ngập mặn

· Ở một số nước, việc khai thác san hô để xây dựng và làm đồ trang trí trong các tiểu cảnh đã gây ra các tác hại đáng kể không chỉ nằm trong sự phá huỷ san hô mà còn ở việc mất đi khả năng bảo vệ của các rạn san hô đối với vùng biển

*Những tác động của việc khai thác dầu mỏ đến môi trường khu ven biển:

Hoạt động khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo như dầu khí các các loại khoáng sản khác ở vùng biển thường tạo ra những thay đổi về đặc tính trầm tích, phá huỷ

Trang 25

các quần xã sinh vật đáy; việc xây dựng các giàn khoan ngoài khơi thường xung đột với các mục đích khác trong khu vực đặc biệt là đánh cá và hàng hải Tác động tiêu cực của việc khai thác dầu mỏ và khí đốt đã được minh chứng ở các vùng nước nội địa và ven biển Các tác động này có thể là những thảm hoạ từ việc tràn dầu, việc thải các chất dầu

mỏ từ việc sản xuất và các hoạt động vận chuyển

- Các tác động trực tiếp:

· Khi nước bị nhiễm bẩn bởi dầu, giữa mặt thoáng của nước và không khí hình thành một lớp dầu làm thay đổi quá trình trao đổi khí của nước, thay đổi sức căng bề mặt, pH, nhiệt độ, từ đó ảnh hưởng đến sinh hoạt và sự sống của các quần thể chim biển, các loài

cá, giáp xác, thân mềm, hải cẩu, san hô, các loài thực vật của rừng ngập mặn, Lớp dầu ngăn cản không cho tia sáng mặt trời qua nước, làm chậm quá trình làm giàu oxy của nước biển, trước hết làm ngừng sự sinh sản hay giết chết các loài sinh vật nổi là nguồn thức ăn quan trọng cho các loài động vật biển

· Đối với các loài chim biển, mặc dù lông của chúng chống được sự thấm nước nhưng không chống được sự thấm dầu làm cho trọng lượng cơ thể của chim tăng lên, làm cho chúng không thể bay lên được nữa để đến nơi khác kiếm ăn Dầu làm cho da, niêm mạc mắt bị tổn thương cùng cái đói làm cho chim kiệt sức và chết

· Dầu có thể giết chết các rạn san hô ở độ sâu 6m Ở những vùng bị ô nhiễm dầu, người

ta thấy đến 76% san hô bị hủy diệt.7

· Dầu bám vào các loài thực vật của rừng ngập mặn làm cho cây ngạt thở và chết thành từng đám làm mất môi trường sống của các loài tảo, hàu, vẹm và các động vật không có xương sống khác sống tập trung ở vùng rễ của sú, vẹt, cuối cùng hủy diệt cả hệ sinh thái rừng ngập mặn

· Dầu ngoài việc làm chết nhiều loài hải sản, nó còn làm mất môi trường sống và xua đuổi các loài hải sản di cư đến những vùng khác, sẽ ảnh hưởng đến nghề cá

· Dầu và các sản phẩm của chúng thải ra trong quá trình khai thác dầu mỏ sẽ tích tụ lại trong cơ thể sinh vật biển, làm cho thịt của chúng có mùi dầu Khi con người ăn phải các loài hải sản này có thể bị ngộ độc hay bị ung thư do rối loạn các thông tin di truyền

· Ngoài các tác động kể trên, việc ô nhiễm do dầu có thể ảnh hưởng tới khí hậu khu vực

do giảm sự bốc hơi nước của đại dương dẫn đến giảm lượng mưa; thu hẹp khả năng dịch

vụ trong lĩnh vực du lịch giải trí ven biển; việc đánh đắm các giàn khoan quá hạn, sẽ hủy hoại hệ sinh thái đáy ở khu vực đó và làm thay đổi cấu trúc nền đáy

- Tác động gián tiếp: từ các tác động trực tiếp như đã nêu ở trên sẽ dẫn đến hàng loạt

Trang 26

các tác động gián tiếp như:

· Gây xói mòn do giảm diện tích rừng ngập mặn, rạn san hô

· Làm mất nơi cư trú của sinh vật biển

· Giảm khả năng bồi tụ bờ biển, các chất dinh dưỡng trong đất

1.3.5 Vận tải biển

Cùng với sự phát triển của xã hội, giao thông đường thủy không còn bó hẹp trong phạm

vi một vùng mà đã phát triển thành hệ thống vận tải biển rộng lớn trên toàn thế giới, đem lại sự thịnh vượng cho mọi vùng đất Tuy nhiên, cũng như mọi hoạt động khác, vận tải biển cũng có mặt trái của nó, ảnh hưởng trực tiếp lên các hệ sinh thái vùng ven biển, hệ sinh thái biển và đại dương

Ngày nay vận tải biển được sử dụng nhiều nhất là ở các ngành thương mại, quân sự, và

du lịch với chức năng chuyên chở hàng hóa và người từ nơi này sang nơi khác Để phục

vụ cho các chức năng trên, ngành vận tải biển đòi hỏi phải có các cơ sở hạ tầng như các bến cảng, vũng vịnh kín, các xí nghiệp đóng tàu, sửa tàu và các vùng biển Các tác động của vận tải biển đến môi trường khu ven biển có thể kể như sau:

- Xây dựng các công trình phục vụ vận tải biển:

· Mất các hệ sinh thái vùng biển, dẫn đến mất đất, mất đa dạng sinh học và mất các nguồn lợi do các hệ sinh thái này đem lại làm thay đổi chế độ phù sa;

· Việc nạo vét và uốn nắn dòng sông để phục vụ giao thông đã làm phá vỡ dòng chảy, giảm chiều dài sông, tăng tốc độ dòng chảy và hạ thấp mức nước ngầm;

· Việc mở rộng mạng lưới kênh rạch dẫn đến sự xâm nhập của nước biển vào sâu trong đất liền gây mặn hóa, kết quả là làm suy thoái hệ thực vật thuỷ sinh nước ngọt

- Những tác động do vận tải biển gây ra:

· Ô nhiễm nhiệt: do việc dùng nước biển để làm mát các thiết bị máy móc Tác hại của

ô nhiễm nhiệt có thể ảnh hưởng đến các loại trứng và ấu trùng của các sinh vật biển; sự tăng cao của nhiệt độ nước biển có thể làm thay đổi sự di cư của một số loài động vật biển nhạy cảm với yếu tố nhiệt, làm giảm sản lượng hải sản đánh bắt hay nuôi trồng trong khu vực bị ảnh hưởng Nước biển nóng lên là điều kiện cho sự phát triển của một số loài sinh vật biển có hại

· Ô nhiễm hóa học: xảy ra do các hoạt động thau rửa tàu thuyền sẽ thải ra rác rưởi, dầu

mỡ và nước thải; quá trình bốc dở hàng hóa và tiếp nhiên liệu cũng gây thất thoát ra môi trường Việc sử dụng sơn có chứa kim loại nặng và các loại dung môi trong việc đóng mới và tu sửa tàu thuyền gây nhiễm độc tại chổ đất, nước và các hệ sinh thái Các sự cố xảy ra trên biển như đắm tàu, tai nạn, sẽ ảnh hưởng đến cả một khu vực rộng lớn Tác

Trang 27

hại của ô nhiễm hóa học bao gồm ô nhiễm do kim loại nặng, các chất hữu cơ dinh dưỡng

và ô nhiễm dầu

Ô nhiễm sinh học: bao gồm hai dạng là sự phú dưỡng và sự du nhập các sinh vật

ngoại lai Trong quá trình vận chuyển, một lượng lớn các chất hữu cơ dinh dưỡng có chứa nitơ và phospho (như phân bón, nguyên liệu sản xuất, ) bị thất thoát ra biển Các chất này gây ô nhiễm biển, gây ra hiện tượng thủy triều đỏ, làm chết các loài sinh vật biển Một trong những vấn đề quan trọng liên quan đến vận tải biển là việc kiểm tra nước dùng

để dằn tàu Nước dùng để dằn tàu là đặc điểm cần thiết đối với sự vận hành của các tàu lớn

Việc thải khối nước này sau khi bốc dở hàng ở các bến cảng là một trong những nguyên nhân gây ra sự du nhập của các sinh vật lạ gây hại trên toàn thế giới Các sinh vật bám gây rỉ thân tàu cũng có khả năng trở thành các sinh vật lạ Để chống lại sự du nhập của các sinh vật bám này, hoạt động chống rỉ thân tàu có thể gây ra những vấn đề ô nhiễm, qua việc sử dụng các loại sơn chống rỉ

1.4 Khái quát về biển, khu ven biển và môi trường biển, khu ven biển

1.4.1 Khái quát về biển và khu ven biển Việt Nam

Nước ta giáp với biển Đông ở hai phía Đông, phía Nam và phía Tây Nam Vùng biển

Việt Nam là một phần của biển Đông

Bờ biển dài 3.260km kéo dài từ Quảng Ninh đến Kiên Giang Như vậy cứ l00 km2 thì

có l km bờ biển (trung bình của thế giới là 600km2 đất liền/1km bờ biển) Chỉ số tính biển của Việt Nam (chiều dài bờ biển/diện tích đất liền) là 0,01, đứng đầu Đông Dương, trên Thái Lan (0,007) và xấp xỉ Malayxia Biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với diện tích trên 1 triệu km2 (gấp 3 diện tích đất liền: l triệu

km2/330.000km2).8

Khu ven biển Việt Nam với đặc điểm có nhiều vùng đất ngập nước và nhiều kiểu hệ sinh thái biển, kể cả khoảng 100 hệ thống cửa sông lớn nhỏ, cùng với rừng ngập mặn và bãi bùn (khoảng 290.000 ha), những đầm lầy ngập nước theo mùa, những đụn cát ven biển, những đầm phá nước mặn và nước lợ (khoảng 100.000 ha) và nhiều rạn san hô gần

bờ, thảm cỏ biển với khoảng 10.000 đảo lớn nhỏ Đây cũng là nơi dân cư tập trung đông, nguồn nhân lực dồi dào, với số dân khoảng 29,2 triệu người, chiếm 34,6% dân số cả nước, mật độ dân cư vùng ven biển là 281 người/km2 cao hơn mật độ dân cư trung bình của cả nước, mức tăng trưởng dân số trong khu vực ven biển cũng cao hơn nhiều so với

8 http://www.tinhdoanbinhthuan.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=441

Trang 28

vùng khác, khoảng 4% một năm Người trong độ tuổi lao động chiếm 35,5% lao động cả nước

Các vùng biển thuộc chủ quyền và tài phán nước ta chứa nhiều tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là nguồn lợi thủy sản và dầu khí Việt Nam có khoảng 125 bãi biển lớn nhỏ thuận lợi cho việc phát triển du lịch, trong đó có 20 bãi biển đạt quy mô và tiêu chuẩn quốc tế 8 trong số 9 khu trọng điểm du lịch của cả nước nằm ở vùng ven biển (Vịnh Hạ Long, Đồ Sơn, Cát Bà, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Côn Đảo) Việt Nam có 73 cảng lớn nhỏ do Trung ương và địa phương quản lý (không kể các cảng cá) Trung bình cứ 30 km bờ biển, nước ta lại có một cảng biển, bờ biển dài, vùng biển có nhiều vịnh kín, vũng đậu tàu, cửa sông phân bố khá dày từ Bắc xuống Nam cho phép Việt Nam có thể xây dựng một hệ thống cảng biển nối tiếp nhau với tổng công suất trên 500 triệu tấn/năm Các cảng biển quan trọng nhất là Cái Lân, Hải Phòng, Cửa Lò, Chân Mây,

Đà Nẵng, Dung Quất, Quy Nhơn, Nha Trang, Vân Phong, Cam Ranh, Vũng Tàu, Thị Vải, Sài Gòn, Cần Thơ Số lượng vận chuyển hàng hóa qua các cảng biển đã không ngừng tăng trưởng trong những năm gần đây Với vị trí và cấu tạo thuận lợi, biển Việt Nam là điều kiện thích hợp để nối liền các vùng kinh tế của đất nước và là cửa ngõ thương mại với nhiều vùng trên thế giới Quyền lợi của chúng ta mở rộng ra tới biển Đông đòi hỏi chúng ta phải có nghĩa vụ đầu tư vào phát triển, quản lý và bảo vệ các vùng biển, các khu ven biển cho phù hợp với vị trí nước nhà9

1.4.2 Khái quát về môi trường biển và khu ven biển Việt Nam

Việt Nam được thiên nhiên ưu ái có một đường bờ biển dài 3.260 km2, với diện tích hơn 1 triệu km2 gấp 3 lần diện tích đất liền, có rất nhiều đảo và giàu tài nguyên, rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế-xã hội

Các hệ sinh thái có năng suất sinh học cao được phân bố dọc theo vùng lãnh hải gần bờ mặc dù chúng nhỏ hơn rất nhiều lần so với các hệ sinh thái ở xa bờ Trong số những hệ sinh thái đó có các vùng đầm lầy thủy triều, các khu rừng ngập mặn, vùng cửa sông, các khu đầm phá, vịnh nhỏ, những rặng san sô, các vùng châu thổ, các bãi cát ven biển, đảo, bãi đất lầy theo thủy triều, thềm lục địa mềm và cung, các đìa nuôi trồng thủy sản nước

lợ Những khu hệ sinh thái này có các cấu trúc và chức năng khác nhau, như điều hòa khí hậu, nhưng là nơi cư trú vô cùng quan trọng và là nơi sinh sản của hàng ngàn loài sinh vật biển và các loài chim nước

Tuy nhiên, trước sức ép dân số, sức ép kinh tế, đa dạng hóa các đối tượng nuôi (ngao,

9 TS Nguyễn Hồng Thao – Một số vấn đề pháp lý về quản lý dải ven bờ, năm 2003

Trang 29

sò, tôm, cá nước lợ ), cùng với việc khai thác gỗ củi bừa bãi khiến cho diện tích rừng ngập mặn ngày càng bị thu hẹp, môi trường rừng bị suy thoái và nguồn lợi thủy sản ven biển bị cạn kiệt

Song song với những cánh rừng ngập mặn bị xâm hại và thu hẹp dần, việc khai thác san hô làm vôi và đồ vật lưu niệm kết hợp với các phương tiện đánh bắt hải sản mang tính hủy diệt như sử dụng hóa chất độc, xung điện, chất nổ, đèn cao áp quá công suất đã làm cho rạn san hô và nguồn hải sản ven bờ ngày càng suy thoái nghiêm trọng Viện Tài nguyên thế giới đã cảnh báo 80% rạn san hô biển Việt Nam nằm trong tình trạng rủi ro

Có khoảng 85 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau và trên 70 loài đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam

Bên cạnh vấn đề khai thác, đánh bắt hải sản quá mức, ngành công nghiệp khai thác dầu khí, vận tải biển kết hợp với các vụ tai nạn hàng hải cũng góp phần đáng kể vào sự hủy diệt môi trường biển Hiện nay, vùng biển nước ta có khoảng 340 giếng khoan thăm dò và khai thác dầu khí, ngoài việc thải nước lẫn dầu với khối lượng lớn, trung bình mỗi năm hoạt động này còn phát sinh khoảng 5.600 tấn rác thải dầu khí, trong đó có 20 - 30% là chất thải rắn nguy hại còn chưa có bãi chứa và nơi xử lý Hàm lượng dầu trong nước biển của Việt Nam nhìn chung đều vượt giới hạn tiêu chuẩn quốc gia và vượt rất xa tiêu chuẩn Hiệp hội các Nước Đông Nam Á (ASEAN)10

Chất lượng môi trường biển thay đổi, nơi cư trú tự nhiên của các loài bị phá hủy góp phần làm giảm năng suất khai thác tự nhiên ở vùng biển Nguồn lợi hải sản có xu hướng giảm dần về trữ lượng, sản lượng và kích thước đánh bắt Tổng sản lượng đánh bắt hải sản không ngừng tăng, nhưng sản lượng của một đơn vị đánh bắt giữ nguyên hoặc giảm Thêm vào đó, tỷ lệ cá tạp trong một mẻ lưới ngày càng tăng Trong vòng 10 năm (1984-1994) trữ lượng cá đáy đã giảm tới trên 30%

Nhiều báo cáo về hiện trạng môi trường đã chỉ ra rằng chất lượng môi trường biển và vùng ven biển tiếp tục bị suy giảm Vùng ven bờ bị đục hoá ở một số nơi, lượng phù sa lơ lửng tăng đã ảnh hưởng đến hoạt động du lịch, giảm khả năng quang hợp của một số sinh vật biển và làm suy giảm nguồn giống hải sản tự nhiên Hiện tượng thuỷ triều đỏ xuất hiện ở khu vực vùng biển Nam Trung Bộ từ tháng 6 đến trung tuần tháng 7 âm lịch, điển hình là khu vực Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận đã làm chết các loại tôm, cá, san

hô, rong cỏ biển

Bên cạnh đó kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, công tác quản lý ở một số địa phương còn

yếu kém đã và đang làm suy thoái môi trường khu ven biển, nguy cơ dẫn đến nguồn lợi

Trang 30

thủy sản gần bờ cạn kiệt.

Theo Hội khoa học kỹ thuật biển Việt Nam, trên 70% các chất gây ô nhiễm từ nguồn lục địa đổ ra vùng cửa sông và ven biển, sau đó do sự tương tác ở vùng biển, các chất nguy hại này tích lũy lại với hàm lượng ngày càng cao tại ven bờ Kết qủa quan trắc ở những khu vực lân cận thuộc các cảng biển cho thấy, tỷ lệ nước biển ở đây ô nhiễm dầu,

mỡ đều vượt chuẩn cho phép tới vài chục lần Ví dụ như Đà Nẵng 24,6 mg/lít, Ninh Thuận 18,1, Phú Yên 14,7 và Khánh Hòa 14,6 mg/lít Đó là chưa kể trên vùng biển nước

ta bình quân mỗi năm xảy ra từ 5-7 vụ tai nạn các tàu, thuyền tràn dầu đổ vào biển hàng chục nghìn tấn11

Một nguyên nhân khác là do áp lực tăng năng suất và sản lượng cây trồng Mỗi năm ngành nông nghiệp tiêu thụ trung bình khoảng 30.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật các loại Qua một số nghiên cứu, chỉ tính riêng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ở các vùng cửa sông châu thổ sông Hồng có trong nước biển lẫn trong trầm tích bãi triều và chứa trong sinh vật hai vỏ đều cao hơn hẳn những vùng biển khác hàng chục lần Bên cạnh đó là nạn dùng chất nổ, hoá chất độc hại để đánh bắt tôm, cá rồi việc khai thác tôm, cá trái vụ tác động làm giảm chất lượng hệ sinh thái Hậu quả, đã có 17 loài cá biển, 57 loài cá nước ngọt đang nằm trong diện nguy cơ tuyệt chủng Các rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn cũng bị phá hủy nghiêm trọng do phát triển kinh tế ở vùng ven biển và trên lưu vực các con sông gây ra

Trước nguy cơ nguồn lợi thuỷ sản ven bờ tuyệt chủng, một số nhà nghiên cứu đã cảnh báo: Rừng ngập mặn là hệ sinh thái đặc biệt, có giá trị và ý nghĩa to lớn về đa dạng sinh vật đối với việc bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế Nhưng nếu vì lợi ích trước mắt

mà người dân ở nhiều địa phương lấn chiếm rừng bừa bãi để nuôi trồng thủy sản thì trong tương lai Việt nam sẽ không còn rừng ngập mặn Việc nuôi trồng thủy sản ở nước ta phát

triển theo lối tự phát, thiếu hẳn quy hoạch bền vững, đó vừa là “nạn nhân” đồng thời cũng là “thủ phạm” của tình trạng ô nhiễm Bởi hầu hết những vùng nuôi trồng thủy sản

đều không có hệ thống thủy lợi hoặc hệ thống xử lý chất thải dư thừa, diện tích nước nuôi trồng bị tù đọng làm biến đổi chất lượng do hàm lượng ôxy hòa tan thấp, lượng chất hữu

cơ tăng, chất sunphuahydro vượt ngưỡng cho phép hàng chục lần Chỉ sau một năm sử dụng, các đầm, ao nuôi thả thủy sản đều giảm năng suất rõ rệt, đồng thời bùng phát dịch bệnh làm vật nuôi chết hàng loạt trên phạm vi rộng lớn Hàng vạn hộ gia đình ven biển lâm vào cảnh nợ nần Không ít hộ buộc phải để các hồ, đầm, ao “rơi tự do” do nguồn nước nuôi trồng bị ô nhiễm không thể xử lý được

11 http://www.thesaigontimes.vn/Home/thoisu/doisong/4519

Trang 31

CHƯƠNG 2: BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ KHU VEN BIỂN - PHÁP LUẬT

VÀ THỰC TIỄN

2.1 Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường biển và khu ven biển

2.1.1 Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường biển

Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển kinh tế xã hội biển và bảo vệ môi trường biển Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã nêu rõ “phải phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng,

an ninh và bảo vệ môi trường; có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển; xây dựng các trung tâm kinh tế lớn vùng duyên hải gắn với các hoạt động kinh tế biển làm động lực quan trọng đối với sự phát triển của cả nước Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53 – 55% GDP, 55 – 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển.”12

Nhằm triển khai chủ trương trên của Đảng, Chính phủ thông qua Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020

Tiếp đó, hầu hết các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương ven biển đều ban hành Nghị quyết để triển khai Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 về Chiến lược Biển

2020 Trong đó hầu hết, các chương trình, kế hoạch đều đề cập đến việc thực hiện bảo vệ môi trường biển Ví dụ, Quyết định 1624 /2007/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa ngày 01/06/2007 về Chương trình hành động thực hiện Chiến lược Biển cũng xác định một trong sáu nhiệm vụ cơ bản của Chương trình là ”Nhiệm vụ điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường; phát triển khoa học - công nghệ, bảo vệ môi trường biển, ven biển, phòng chống thiên tai”, Quyết định 28/2008/QĐ-UBND ngày 03/04/2008 ban hành kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược Biển Việt Nam 2020 cũng xác định mục tiêu

“Xây dựng khu đô thị gắn với cảng biển, các khu công nghiệp và dịch vụ; phát triển không gian đô thị phù hợp với điều kiện tự nhiên về thoát nước, bảo vệ môi trường”

Để xây dựng và thực hiện các chiến lược nêu trên, hàng loạt các chính sách hỗ trợ đã được ban hành trước đó như đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi

Trang 32

trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 phê duyệt bởi Quyết định số

47/2006/QĐ-TTg ngày 1/3/2006; Nghị định 101/2007/NĐ-CP ngày 13/ 6/2007 về việc

thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu tài nguyên, môi trường biển, Chương trình quản lý tổng hợp dải ven biển vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ đến năm 2010

và định hướng đến năm 2020 phê duyệt bởi Quyết định 158/2007/QĐ-TTg ngày 9/10/2007, Kế hoạch quốc gia kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2010 ban hành kèm theo quyết định 328/2005/QĐ-TTg ngày 12/12/2005, …

Đặc biệt, Chiến lược bảo vệ môi trường 2010 định hướng đến 2020, môi trường biển đều rất được quan tâm vấn đề bảo vệ môi trường biển, ven biển và hải đảo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Chiến lược này đã được kết hợp, lồng ghép chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế biển theo quan điểm sử dụng tổng hợp, hợp lý đi đôi với bảo vệ tài nguyên và môi trường biển ven bờ

2.1.1.1 Bảo vệ môi trường biển trong Luật bảo vệ môi trường 2005

Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 Bộ Luật gồm 15 chương và 136 điều khoản Chương VII, mục 1 qui định về bảo vệ môi trường biển (từ điều 55 đến điều 58) với các nội dung:

Nguyên tắc bảo vệ môi trường biển

Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển

Kiểm soát xử lý ô nhiễm môi trường biển

Tổ chức phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường biển

Để điều chỉnh và đảm bảo hoạt động bảo vệ môi trường biển, ngoài các quy định chung mang tính định hướng tại Mục 1, Chương VII, Luật Bảo vệ môi trường 2005 còn có các văn bản pháp luật liên quan điều chỉnh cụ thể như Luật Thủy sản 2003, Nghị định 109/2004/NĐ-CP về bảo vệ và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước và các văn

bản hướng dẫn thi hành

· Nguyên tắc bảo vệ môi trường biển

Nội dung này được quy định tại Điều 55 Luật bảo vệ môi trường 2005, cụ thể:

- Bảo vệ môi trường là một nội dung của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển nhằm giảm thiểu tác động xấu đối với môi trường biển và tăng hiệu quả kinh tế biển

- Phòng ngừa và hạn chế chất thải từ đất liền và từ các hoạt động trên biển; chủ động, phối hợp ứng phó sự cố môi trường biển

- Bảo vệ môi trường biển phải trên cơ sở phân vùng chức năng bảo vệ và sử dụng tài nguyên thiên nhiên

Trang 33

- Bảo vệ môi trường biển phải gắn với quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển phục vụ phát triển bền vững

Đây là các nguyên tắc mang tính định hướng cho hoạt động bảo vệ môi trường biển Có thể thấy rõ hoạt động bảo vệ môi trường biển không tách rời hoạt động phát triển kinh tế biển và hoạt động bảo vệ là nhằm tăng hiệu quả hoạt động kinh tế biển Nguyên tắc số một này yêu cầu phải được thực hiện ngay chính trong giai đoạn quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển Một nguyên tắc định hướng nữa là phân vùng chức năng bảo vệ và sử dụng tài nguyên biển là cơ sở cho hoạt động bảo vệ môi trường biển và hoạt động này hướng tới phát triển bền vững

· Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển

Nội dung này được quy định tại Điều 56, Luật bảo vệ môi trường 2005 với các hoạt

động cụ thể:

1 Các nguồn tài nguyên biển phải được điều tra, đánh giá về trữ lượng, khả năng tái sinh

và giá trị kinh tế phục vụ việc quản lý và bảo vệ môi trường biển

2 Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản, khai thác nguồn lợi, tài nguyên biển và hoạt động khác liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên biển phải được thực hiện theo quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên đã được phê duyệt

3 Hoạt động trong khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng ngập mặn, di sản tự nhiên biển phải tuân theo quy chế của ban quản lý, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan

4 Nghiêm cấm việc sử dụng các biện pháp, phương tiện, công cụ có tính huỷ diệt trong khai thác tài nguyên và nguồn lợi biển

Đối với quy định về “hoạt động nuôi trồng thuỷ sản, khai thác nguồn lợi, tài nguyên biển và hoạt động khác liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên biển” hiện nay nhà nước đã ban hành Chương trình Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2010 theo Quyết định số 131/2004/QĐ-TTg ngày 16/7/2004 Mục tiêu của chương trình là bảo

vệ, bảo tồn đa dạng thuỷ sinh vật, đặc biệt là các loài thủy sản quý, hiếm, có giá trị khoa học và kinh tế; giữ gìn tính đa dạng, độc đáo của hệ sinh thái thuỷ sinh vật Việt Nam cho hiện tại và tương lai; phục hồi nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ, nâng cao nhận thức

về tầm quan trọng, giá trị các nguồn tài nguyên (thiên nhiên và đa dạng sinh học, đồng thời xác định rõ vai trò, trách nhiệm của ngư dân trong việc tham gia bảo vệ nguồn lợi thủy sản, tăng cường năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản của các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp

Ngày đăng: 23/10/2020, 20:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Công ước Biển của Liên Hiệp Quốc năm 1982 Khác
2. Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) Khác
3. Bộ Luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Khác
6. Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 Khác
7. Luật Biên giới quốc gia năm 2003 Khác
10. Luật Đa dạng sinh học năm 2008 Khác
12. Pháp lệnh cảnh sát biển năm 2008 Khác
13. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002, sửa đổi 2010 Khác
16. Nghị định 101/2007NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2007 về việc thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu tài nguyên, môi trường biển Khác
17. Nghị định 25/2009/NĐ-CP ngày 6 tháng 3 năm 2009 về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo Khác
19. Nghị định 25/2009/NĐ-CP ngày 6 tháng 3 năm 2009 về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo Khác
20. Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 quy định về xử phạt vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Khác
20.Quyết định 03/2008/UBND tỉnh Bạc Liêu về việc ban hành Quy chế bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu Khác
21. Chỉ thị 01/2009/UBND về tăng cường công tác bảo vệ môi trường vùng cửa song và ven biển trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu.► Danh mục sách, báo, tạp chí Khác
1. Giáo trình Luật môi trường, Trường Đại Học Cần Thơ, năm 2006 Khác
2. Giáo trình Quản lý môi trường ven biển, Trường Đại Học Huế, năm 2008 Khác
3. Giáo trình Bảo vệ môi trường biển-vấn đề và giải pháp. TS. Nguyễn Hồng Thao, năm 2004 Khác
4. TS. Nguyễn Hồng Thao – Một số vấn đề pháp lý về quản lý dải ven bờ, năm 2003 Khác
5. Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường, Quy hoạch tổng hợp liên ngành vùng ven biển. năm 2001 Khác
6. Bài viết Bảo vệ môi trường nâng cao chất lượng sống cho nhân dân vùng biển đảo và ven biển của Hà Khanh, Tạp chí công sản, năm 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w