Đề cương Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học (Mới nhất) Đại học thương mại (TMU)Đề cương Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học (Mới nhất) Đại học thương mại (TMU)Đề cương Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học (Mới nhất) Đại học thương mại (TMU)Đề cương Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học (Mới nhất) Đại học thương mại (TMU)Đề cương Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học (Mới nhất) Đại học thương mại (TMU)Đề cương Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học (Mới nhất) Đại học thương mại (TMU)
Trang 1ĐỀ CƯƠNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
MỤC LỤC
Câu 1: Phân tích điều kiện cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học Ý nghĩa vềnhận thưc lý luận và hoạt động thực tiễn của đồng chí về vấn đề này 4Câu 2 Trình bày các giai đoạn phát triển của Chủ nghĩa xã hội khoa học Ý nghĩa củaviệc học tập chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay 7Câu 3 Phân tích những điểm tương đồng và khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội khoa học
và chủ nghĩa xã hội không tưởng Ý nghĩa về nhận thức và hoạt động thực tiễn củađồng chí về vấn đề này 9Câu 4: Chứng minh rằng chủ nghĩa xã hội biểu hiện dưới dạng tư tưởng, lý luận mangtính khách quan và là sản phẩm chung của nhân loại: 12Câu 6: Phân tích những nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnhlịch sử Liên hệ thực tiễn giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay 16Câu 7: Phân tích những biểu hiện mới của giai cấp công nhân hiện nay Liên hệ thựctiễn với giai cấp công nhân Việt Nam 18Câu 8: Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử củagiai cấp công nhân trong bối cảnh hiện nay Liên hệ thực tiễn với giai cấp công nhânViệt Nam 21Câu 9: Phân tích nội dung và hình thức thực hiện chủ nghĩa quốc tế của giai cấp côngnhân Ý nghĩa thực tiễn của vấn đề hiện nay 24Câu 10: Phân tích chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong bối cảnh mới Liên
hệ với công cuộc XD và bảo vệ tổ quốc VN XHCN hiện nay 27Câu 11: Phân tích những hình thức thực hiện chủ nghĩa chủ nghĩa quốc tế của giai cấpcông nhân, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu 31Câu 12: Trình bày khái quát tình hình phong trào cộng sản và công nhân quốc tế từcuối thế kỷ XX đến nay, đồng chí hãy làm rõ những điểm tích cực, khó khăn và triểnvọng của phong trào 34Câu 13: Trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội và conđường đi lên chủ nghĩa xã hội Ý nghĩa của vấn đề này đối với cách mạng Việt Nam.37
Trang 2Câu 14: Khái quát quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới từ năm
1917 đến năm 1991 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam hiện nay 40Câu 15: Phân tích những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng, sụp đổ của chủ nghĩa xãhội hiện thực Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam hiện nay 44Câu 16: Trên cơ sở khái quát sự hình thành, phát triển và khủng hoảng, sụp đổ của chủnghĩa xã hội hiện thực (1917-1991), đồng chí hãy: Làm rõ những thành tựu của chủnghĩa xã hội hiện thực và ý nghĩa của nó đối với cách mạng thế giới và Việt Nam 47Câu 17: Phân tích các đặc trưng cơ bản của XH XHCN Liên hệ với các đặc trưng XHXHCN mà Việt Nam đang xây dựng 48Câu 18: Từ những thành tựu và khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thếgiới, cần rút ra những bài học gì đối với chủ nghĩa xã hội hiện thực hiện nay 51Câu 19: Trình bày khái quát những nội dung cơ bản của các mô hình XHCN trên thếgiới hiện nay Giá trị tham khảo đối với Việt Nam hiện nay 53Câu 20: Phân tích những nội dung cơ bản của trào lưu xã hội dân chủ Giá trị thamkhảo đối với Việt Nam hiện nay 57Câu 21: Trình bày khái quát những nội dung cơ bản của các trào lưu XHCN trên thếgiới hiện nay Giá trị tham khảo đối với Việt Nam hiện nay 60Câu 22: Phân tích nội dung cơ bản của mô hình “Chủ nghĩa xã hội đặc sắc TrungQuốc” Giá trị tham khảo đối với Việt Nam hiện nay 62Câu 23: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủnghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng chí hãy: Làm sáng tỏ tính tất yếu của con đường đi lênxây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Ý nghĩa của vấn đề này hiện nay 65Câu 24 : Phân tích nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và conđường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ 1986 cho đến nay Ý nghĩa của vấn đềnày hiện nay 67Câu 25 Nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lênchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng chí hãy: Làm rõ những căn cứ lý luận và thực tiễncủa việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Ý nghĩa của vẫn đềnày hiện nay 72Câu 26 Phân tích những thời cơ và thách thức đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam hiện nay Ý nghĩa của vấn đề này hiện nay 74Câu 27: Nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lênchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng chí hãy: Phân tích quá trình nhận thức của Đảng ta
về các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Ý nghĩa của vấn đề này 76Câu 28: Phân tích các mối quan hệ lớn cần phải giải quyết trong quá trình xây dựngchủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay Ý nghĩa của vấn đề này 79
Trang 3Câu 29: Trên cơ sở lý luận cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lê nin về liên minh giaicấp, tầng lớp, đồng chí hãy: Làm rõ vị trí, vai trò của các giai cấp tầng lớp cơ bản ởViệt Nam hiện nay Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề này 81Câu 30: Trình bày những phương hướng cơ bản để tăng cường liên minh giai cấp, tầnglớp trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Liên hệ thực tiễn địa phương nơi đồngchí công tác vấn đề này 83Câu 31: Làm rõ vị trí, vai trò của giai cấp nông dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam hiện nay Ý nghĩa của vấn đề này hiện nay 86Câu 33: Làm rõ vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội ở Việt Nam hiện nay Ý nghĩa của vấn đề này hiện nay 90Câu 34: Trình bày những phương hướng cơ bản để tăng cường liên minh giai cấp, tầnglớp trong công cuộc đối mới đất nước hiện nay Liên hệ thực tiễn ở địa phương đồngchí về vấn đề này 92Câu 35: Trình bày những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về dân chủ vàdân chủ xã hội chủ nghĩa Ý nghĩa đối với Việt Nam 95Câu 37: Bằng lý luận và thực tiễn hãy phân tích và làm rõ “Dân chủ XHCN là bản chấtcủa chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực…” 104Câu 38: Phân tích những yếu tố tác động và các phương hướng, giải pháp chủ yếu đểxây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Liên hệ địa phương nơiđồng chí đang công tác về vấn đề này 108Câu 39: Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về dân chủ và dân chủ xã hội chủnghĩa và thực tiễn xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đồng chí hãy:.112Câu 40: Làm rõ những thành tựu, hạn chế trong xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Ý nghĩa của vấn đề này 115Câu 41: Phân tích vị trí, chức năng cơ bản của gia đình Từ đó làm rõ mối quan hệ biệnchứng giữa gia đình và xã hội Ý nghĩa luận và thực tiễn của vấn đề này 119Câu 42: Phân tích những yếu tố tác động và những vấn đề đặt ra trong xây dựng giađình Việt Nam hiện nay Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề này 122Câu 43: Làm rõ mục tiêu: “xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh”của Đảng ta (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXII, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội 2016, tr.128) Ý nghĩa lý luận và thựctiễn của vấn đề này 126
1 Câu 44: Phân tích những quan điểm và giải pháp cơ bản của để xây dựng giađình Việt Nam hiện nay Liên hệ thực tiễn vấn đề này 128
Trang 4Câu 1: Phân tích điều kiện cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học Ý nghĩa về nhận
thưc lý luận và hoạt động thực tiễn của đồng chí về vấn đề này.
khoa học theo nghĩa rộng mà Lênin đánh giá khái quát về bộ Tư bản của C.Mác rằng: … “bộ
“Tư bản” – tác phẩm chủ yếu và cơ bản ấy trình bày chủ nghĩa xã hội khoa học”1, rằng chủnghĩa xã hội khoa học tức là chủ nghĩa Mác, hoặc chủ nghĩa Mác chính là chủ nghĩa cộng sảnkhoa học
Theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa xã hội khoa học là một môn khoa học lý luận chính trị, một trong 3
bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác Lênin (triết học Mác Lênin, kinh tế học chính trị Mác Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học)
-Những điều kiện cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học
1.Điều kiện khách quan
a) Điều kiện kinh tế - xã hội
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát triểnmạnh mẽ gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền công nghiệp lớn Cách mạng công
nghiệp đã làm xuất hiện một lực lượng sản xuất mới, đó là nền đại công nghiệp Đại công
nghiệp phát triển ngày càng tác động mạnh mẽ vào phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩatheo cả chiều rộng và chiều sâu: quy mô sản xuất; trình độ chuyên môn hóa của sản xuất;năng suất lao động; kinh nghiệm tổ chức, quản lý quá trình sản xuất… Kết quả là làm cho lựclượng sản xuất phát triển đạt trình độ xã hội hóa ngày càng cao, dẫn tới mâu thuẫn với quan hệsản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng gia tăng Những cuộc khủng hoảng hàng hóa thừa theo chu
kỳ và hiện tượng người lao động thất nghiệp ngày càng nhiều
Nhiều cuộc khởi nghĩa, nhiều phong trào đấu tranh đã bắt đầu có tổ chức và trên quy mô rộngkhắp Phong trào Hiến chương ở nước Anh diễn ra trong khoảng 10 năm (1838 – 1848);Phong trào công nhân dệt ở thành phố Xilêdi, nước Đức diễn ra năm 1844; phong trào côngnhân dệt thành phố Liông, nước Pháp kéo dài 3 năm (1831 – 1834) với sự phát triển về chấtqua mỗi thời kỳ Nếu năm 1831, phong trào giương cao khẩu hiệu “sống có việc làm hay làchết trong đấu tranh” chỉ thuần túy vì mục tiêu kinh tế, thì đến năm 1834, khẩu hiệu củaphong trào đã chuyển sang mục đích chính trị: “Cộng hòa hay là chết”
b) Tiền đề khoa học, văn hóa - tư tưởng
Đến đầu thế kỷ XIX, trong khoa học tự nhiên, những phát minh vạch thời đại trong vật lý học
và sinh học đã tạo ra bước phát triển đột phá có tính cách mạng: Định luật bảo toàn và chuyểnhóa năng lượng của M.V.Lômôlôxốp người Nga và Maye người Đức; Học thuyết tế bào củanhà thực vật học người Đức Matthias Jakob Schleiden và nhà vật lý học người Đức TheodorSchwam; Học thuyết tiến hóa của Charles Darwin, người Anh Những phát minh này là cơ sởkhoa học cho sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đồng thời là cơ sở phương phápluận để nghiên cứu những vấn đề lý luận chính trị của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoahọc sau này
Cùng với khoa học tự nhiên, trong khoa học xã hội cũng đạt được những thành tựu đáng ghinhận Đó là Triết học cổ điển Đức với tên tuổi của các nhà triết học vĩ đại: George WilhelmFriedrich Heghen và Lutvich Phoiơbắc; Kinh tế chính trị học cổ điển Anh với Adam Smith vàDavid Ricardo; đặc biệt là 3 nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng - phê phán đầu thế kỷ XIX:Cơlôđơ Hăngri Đơ Xanh Ximông, Sáclơ Phuriê và Rôbớt Ôoen đã tạo ra những tiền đề lýluận trực tiếp để C.Mác và Ph.Ănghen kế thừa, cải biến và phát triển thành chủ nghĩa xã hộikhoa học
1
Trang 5Tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng có những giá trị nhất định mang tính phê phán và sự
dấn thân trong thực tiễn của các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng, trong chừng mực, đã thứctỉnh phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và người lao động Tuy nhiên, nó còn nhữngmặt hạn chế, bất cập do những điều kiện khách quan và chủ quan nào đấy quy định là điềukhông tránh khỏi Những hạn chế đó hoặc do điều kiện lịch sử, hoặc do chính sự hạn chế vềtầm nhìn và thế giới quan của họ Chính vì những hạn chế ấy, mà các tư tưởng xã hội chủnghĩa không tưởng chỉ dừng lại ở mức độ một học thuyết xã hội chủ nghĩa không tưởng Songvượt lên tất cả, những giá trị khoa học, cống hiến của các nhà tư tưởng đã tạo ra tiền đề tưtưởng - lý luận, để C.Mác và Ph.Ănghen kế thừa và phát triển thành học thuyết khoa học - chủnghĩa xã hội khoa học
2 Điều kiện chủ quan:
Trên cơ sở kế thừa các giá trị khoa học trong kho tàng tư tưởng nhân loại, bằng sự quan sát,phân tích với một tinh thần khoa học những sự kiện đang diễn ra…, C.Mác và Ph.Ăngghen đãtừng bước phát triển học thuyết của mình, đưa các giá trị tư tưởng lý luận nói chung, tư tưởng
xã hội chủ nghĩa nói riêng phát triển lên một trình độ mới nhất
Về ba phát kiến vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen
Qua tất cả các tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen, hai ông đã có thành tựu khoa học vĩ đại,tập trung nhất ở “ba phát kiến lớn” sau đây đã làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa của nhânloại, từ không tưởng trở thành khoa học
- Học thuyết duy vật lịch sử
Trên cơ sở kế thừa “hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng Hêghen và những giá trị của triếthọc duy vật đồng thời nghiên cứu nhiều thành quả khoa học tự nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen
đã xây dựng nên “Học thuyết duy vật biện chứng” Với học thuyết này các ông đã tìm ra qui
luật vận động và phát triển của xã hội loài người – đó là một quá trình phát triển lịch sử - tự
nhiên của những “hình thái kinh tế - xã hội” từ thấp đến cao Từ đó, các ông dự báo: thay thế
cho hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa sẽ là hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủnghĩa với bản chất nhân văn cao cả là giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng
xã hội khỏi mọi sự áp bức, bóc lột
- Học thuyết về giá trị thặng dư
Tiến thêm một bước nữa C Mác đã vận dụng những quan điểm duy vật về lịch sử và nhữngyếu tố hợp lý của nền kinh tế học cổ điển Anh vào việc nghiên cứu phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa một cách toàn diện và mang tính phê phán triệt để Hai ông đã sáng lập ra họcthuyết về giá trị thặng dư Sau này, Ăngghen đã xác định: “Hai phát hiện vĩ đại ấy- quan niệmduy vật lịch sử và việc dùng giá trị thặng dư để bóc trần bí mật của sản xuất tư bản chủ nghĩa
là công lao của Mác Nhờ hai phát hiện ấy, chủ nghĩa xã hội đã trở thành khoa học mà ngàynay, vấn đề trước hết là phải nghiên cứu them, trong mọi chi tiết và mọi mối liên hệ của nó”
- Học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân
Nhờ hai phát kiến vĩ đại: chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết về giá trị thặng dư, các ông đã luận giải một cách khoa học sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Mâu thuẫn về mặt kinh tế đã biểu hiện ra thành mâu thuẫn chính trị giữa giai cấp công nhân
và giai cấp tư sản – hai giai cấp có vai trò nổi bật nhất, có lợi ích đối lập trực tiếp nhau và mâuthuẫn ngày càng gay gắt trong suốt thời gian tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” - Dấu mốc ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học
Được sự uỷ nhiệm của những người cộng sản, ngày 24 tháng 2 năm 1848, “Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản” do C.Mác và Ph.Ăngghen soạn thảo được công bố trước toàn thế giới.
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là tác phẩm kinh điển chủ yếu của chủ nghĩa xã hội khoahọc Sự ra đời của tác phẩm vĩ đại này đánh dấu sự hình thành về cơ bản lý luận của chủnghĩa Mác bao gồm ba bộ phận hợp thành: Triết học, Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xãhội khoa học
Trang 6“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” trở thành cương lĩnh chính trị đầu tiên, là kim chỉ nam
hành động của toàn bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; là ngọn cờ dẫn dắt giai cấpcông nhân và nhân dân lao động toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản,giải phóng loài người thoát khỏi mọi áp bức, bóc lột giai cấp, bảo đảm cho loài người đượcthực sự sống trong hòa bình, tự do và hạnh phúc
Ý nghĩa về nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn của đồng chí về vấn đề này.
Với điều kiện ra đời ở trên, cho thấy chủ nghĩa xã hội khoa học nằm trong quá trình phát triểnchung của các sản phẩm tư tưởng, lý luận mà nhân loại đã sản sinh ra và cũng nằm trong quátrình phát triển lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa của nhân loại Chủ nghĩa xã hội khoa học đã
kế thừa có chọn lọc, phát triển những giá trị của chủ nghĩa xã hội không tưởng, tìm ra những
cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn của tư tưởng xã hội chủ nghĩa
Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học dựa trên nền tảng lý luận chung và phương pháp luậncủa triết học và kinh tế chính trị học mácxít để đưa ra những luận cứ xã hội - chính trị rõ ràng,trực tiếp nhất để chứng minh, khẳng định sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và thắnglợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội, khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, chỉ ranhững con đường, các hình thức và biện pháp để tiến hành cải tạo xã hội theo hướng chủnghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản Như vậy chủ nghĩa xã hội khoa học là sự tiếp tục một cáchlôgích triết học và kinh tế chính trị học mácxít, là sự biểu hiện trực tiếp mục đích và hiệu lựcchính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thực tiễn
Chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời vào giữa thế kỉ XIX đánh dấu bằng sự ra đời của tác phẩmTuyên ngôn của Đảng Cộng sản do Mác và Ăng-ghen soạn thảo Trong tác phẩm này hai ông
đã nêu lên những lí luận cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học như: Chủ nghĩa tư bản ra đời làmột bước tiến của xã hội, song nó chứa đựng nhiều mâu thuẫn và cuộc đấu tranh giữa vô sản
và tư bản tất yếu nổ ra; khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản là lãnh đạo cuộc đấutranh chống sự thống trị và ách áp bức bốc lột của giai cấp tư sản, xây dựng chế độ cộng sảnchủ nghĩa; phải thành lập chính Đảng của mình, thiết lập nền chuyên chính vô sản và đoàn kếtcác lực lượng công nhân trên thế giới; dùng bạo lực để lật đổ trật tự xã hội hiện có và kêu gọiquần chúng đứng lên làm cách mạng
Từ nhận thức lý luận trên, Chủ nghĩa xã hội khoa học trở thành hiện thực bởi cuộc Cách
mạng XHCN tháng Mười Nga vĩ đại dưới sự lãnh đạo thiên tài của Lênin và Đảng Bôn sêvích Nga Vì đây là cuộc cách mạng không những làm thay đổi hoàn toàn vận mệnh đất nước
và số phận hàng triệu con người ở Nga, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử nước Nga: Giaicấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc Nga được giải phóng khỏi mọi ách áp bức,bốc lột, đứng lên làm chủ đất nước và vận mệnh của mình
Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười đã làm thay đổi cục diện thế giới cổ vũ mạnh mẽ
và để lại nhiều bài học quí giá cho phong trào cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dânlao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam
Vào thời điểm lịch sử ấy, Nguyễn Ái Quốc đã nắm vững nhu cầu lịch sử của dân tộc, bằngkinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình, kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủnghĩa Mác – Lênin soi rọi, Người đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộckhông có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” Như vậy, nghiên cứu về quátrình ra đời của chủ nghĩa xã hội với nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin chính là cơ sở lý luận đểNguyễn Ái Quốc quyết định lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở thực tiễn ViệtNam
Với mục tiêu đã xác định, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ ChíMinh, kết hợp với sự ủng hộ giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần của các nước xã hội chủ nghĩahiện thực, nhân dân Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành độc lập, tự docho dân tộc, đưa đất nước thống nhất bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Hiện nay, Việt Nam tiếp tục kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là một yếu tố kháchquan có cơ sở lý luận khoa học và cách mạnh là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 7soi đường cùng với các nhận thức lý luận mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xãhội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được làm sáng tỏ, nhất là từ sự nghiệp đổimới đất nước đến nay.
Tóm lại, sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh được vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển liên tục trong 30 năm đổimới cùng những căn cứ thực tiễn của thế giới và Việt Nam là cơ sở lý luận và thực tiễn khoahọc để Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta
là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”
Câu 2 Trình bày các giai đoạn phát triển của Chủ nghĩa xã hội khoa học Ý nghĩa của việc học tập chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay.
Trả lời:
1 C.Mác và Ph.Ăngghen phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học
a) Thời kỳ từ 1848 đến Công xã Pari (1871)
Đây là thời kỳ cách mạng dân chủ tư sản ở các nước Tây Âu (1848-1852) phát triển mạnh;Quốc tế I thành lập (1864); tập I bộ Tư bản của C.Mác được xuất bản (1867) mà nền tảng lànội dung lý luận về giá trị thặng dư trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, khẳng địnhthêm một cách vững chắc địa vị kinh tế - xã hội và vai trò lịch sử của giai cấp công nhân Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm cuộc cách mạng (1848-1852) của giai cấp vô sản, C.Mác tiếptục phát triển thêm nhiều nội dung của chủ nghĩa xã hội khoa học, được thể hiện trong các tác
phẩm: Ngày mười tám tháng Sương mù của Lui Bônapactơ (1852), Chiến tranh nông dân ở
Đức (1851), Cách mạng và phản cách mạng ở Đức(1851)…
Hai ông chỉ ra rằng, để giành được quyền thống trị về chính trị, giai cấp công nhân cần đậptan bộ máy nhà nước tư sản, thiết lập chuyên chính vô sản Các ông bổ sung lý luận cáchmạng không ngừng bằng tư tưởng về sự kết hợp cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân vớiphong trào đấu tranh của giai cấp nông dân; xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhânvới giai cấp nông dân, xem đó là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho cuộc cách mạng để đi tớimục tiêu cuối cùng
b) Thời kỳ sau Công xã Pari đến 1895
C.Mác và Ph.Ănghen phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm
Công xã Pari, được thể hiện trong các tác phẩm chủ yếu Nội chiến ở Pháp (1871), Phê phán
Cương lĩnh Gôta (1875), Chống Đuyrinh (1876), Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học (1875), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước (1884)…
Trong tác phẩm Nội chiến ở Pháp, C.Mác đã phát triển luận điểm quan trọng về phá hủy bộ
máy nhà nước tư sản - giai cấp công nhân chỉ đập tan bộ máy quan liêu, không đập tan toàn
bộ bộ máy nhà nước tư sản Đồng thời cũng thừa nhận Công xã Pari là một hình thái nhà nướccủa giai cấp công nhân
Ở thời kỳ này, chiếm vị trí nổi bật trong việc phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học của
C.Mác, Ph.Ăngghen là tác phẩm Chống Đuy rinh Trong tác phẩm này, tất cả ba bộ phận của
chủ nghĩa Mác được nêu lên trong mối quan hệ chặt chẽ, phụ thuộc vào nhau và thống nhấtvới nhau một cách hữu cơ Lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học đã được trình bày một cáchkhái quát
Một nội dung quan trọng khác của tác phẩm có liên quan đến các nguyên lý của chủ nghĩa xãhội khoa học là những dự báo về tương lai của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Đó làbước nhảy vọt của con người từ vương quốc tất yếu sang vương quốc của tự do
2 V.I.Lênin vận dụng và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trong điều kiện mới
a) Thời kỳ trước Cách mạng Tháng Mười Nga
Trên cơ sở kế thừa và vận dụng sáng tạo các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học,phân tích và tổng kết một cách nghiêm túc các sự kiện lịch sử diễn ra trong đời sống kinh tế -
Trang 8xã hội ở thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, V.I.Lênin đã viết hàng loạt tác phẩm: Nội dung kinh tế
của chủ nghĩa dân túy và sự phê phán trong cuốn sách của ông Xtơruvê; Làm gì?; Một bước tiến, hai bước lùi; Nhà nước và cách mạng …
Trong các tác phẩm này, V.I.Lênin đã phát hiện và trình bày một cách có hệ thống những kháiniệm, phạm trù khoa học phản ánh những quy luật, những thuộc tính bản chất chi phối sự vậnđộng biến đổi của đời sống xã hội trong quá trình chuyển biến tất yếu từ chủ nghĩa tư bản lênchủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản
V.I.Lênin đã dành nhiều tâm huyết luận giải về chuyên chính vô sản, xác định bản chất dânchủ, của chế độ chuyên chính vô sản; phân tích mối quan hệ giữa chức năng thống trị và chứcnăng xã hội của chuyên chính vô sản Chính V.I.Lênin là người đầu tiên nói đến phạm trù hệthống chuyên chính vô sản, bao gồm hệ thống của Đảng Bônsêvic lãnh đạo, Nhà nước Xô viếtquản lý và tổ chức công đoàn
b) Thời kỳ sau Cách mạng Tháng Mười Nga
Ngay sau khi cách mạng tháng Mười Nga (1917) thắng lợi, V.I.Lênin đã viết nhiều tác phẩmquan trọng bàn về những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học trong thời kỳ mới như:Nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết; Bàn về nhà nước; Bàn về chuyên chính vô sản;Kinh tế chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản; Về bệnh ấu trĩ “tả khuynh” và tính tiểu
tư sản; Bàn về thuế lương thực V.I.Lênin đã luận giải rõ ràng luận điểm của Mac nói về thời
kỳ quá độ chính trị từ xã hội tư bản chủ nghĩa lên xã hội cộng sản chủ nghĩa
Sau khi V.I.Lênin mất, Xtalin kế tục là người lãnh đạo cao nhất của đảng Cộng sản Nga vàsau đó là đảng Cộng sản Liên Xô, đồng thời là người có ảnh hưởng lớn nhất đối với Quốc tếIII cho đến năm 1943, khi Đi-mi-trốp là chủ tịch Quốc tế III Từ năm 1924 đến năm 1953,Chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa Mác –Lênin trở thành nền tảng tư tưởng soi rọi conđường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nhiều quốc gia trên thế giới đạt được những thành tựu tolớn Nhưng, chính những thành tựu bước đầu đó đã tạo ra “bệnh kiêu ngạo cộng sản”, dẫn đếnviệc vận dụng sai lầm chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học ở nhiều nước.Mặt khác, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ liên tục có chiến lược, chiến thuật ngày càngthâm hiểm, toàn diện, nhất là “Diễn biến hòa bình” đã làm cho chủ nghĩa cơ hội xét lại ngàycàng biểu hiện công khai và nặng nề ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đã làm cho hệthống xã hội chủ nghĩa thế giới đổ vỡ vào năm 1991
Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa hiện thực đổ vỡ, trên thế giới chỉ còn một số nước
xã hội chủ nghĩa hoặc nước có xu hướng tiếp tục theo chủ nghĩa xã hội, do vẫn có một đảngMác - Lênin lãnh đạo Những đảng Mác - Lênin đang lãnh đạo các nước này chưa bao giờ đểchủ nghĩa cơ hội xét lại, bè phái, tiêu cực nẩy sinh lấn át trong đảng; đồng thời nhận thứcngày càng rõ ràng những nguyên nhân cơ bản làm cho chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên
Xô đổ vỡ cho nên vẫn kiên trì hệ tư tưởng Mác - Lênin, tiếp tục nghiên cứu vận dụng sáng tạo
và bổ sung, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học phù hợp với điều kiện của mỗi nước để từngbước giữ vững ổn định để cải cách, đổi mới thành công
3.Ý nghĩa của việc học tập chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay.
Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học có ý nghĩa lý luận là: trang bị những nhận
thức chính trị - xã hội (như đối tượng, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp của chủ nghĩa xãhội khoa học) cho đảng cộng sản, nhà nước và nhân dân lao động trong quá trình bảo vệ vàxây dựng chủ nghĩa xã hội Vì thế, Mác-Lênin có lý khi xác định rằng, chủ nghĩa xã hộikhoa học là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân hiện đại và đảng của nó để thực hiện quátrình giải phóng nhân loại và giải phóng bản thân mình Cũng như triết học và kinh tế chínhtrị học MácLênin, chủ nghĩa xã hội khoa học không chỉ giải thích thế giới mà căn bản là ở chỗcải tạo thế giới (cả tự nhiên, xã hội và bản thân con người) theo hướng tiến bộ, văn minh.Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học chính là việc được trang bị trực tiếp nhất về ýthức chính trị - xã hội, lập trường tư tưởng chính trị và bản lĩnh cho mỗi cán bộ, đảng viên vàmọi công dân Việt Nam góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, định hướng xã hội
Trang 9chủ nghĩa do Đảng đề ra Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học cũng làm cho ta cócăn cứ nhận thức khoa học để luôn cảnh giác, phân tích đúng và đấu tranh chống lại nhữngnhận thức sai lệch, những tuyên truyền chống phá của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản độngđối với Đảng ta, Nhà nước, chếđộ ta; chống chủ nghĩa xã hội, đi ngược lại xu thế và lợi íchcủa nhân dân, dân tộc và nhân loại tiến bộ
Về mặt thực tiễn, bất kỳ một lý thuyết khoa học nào, đặc biệt là các khoa học xã hội, bao giờ
cũng có khoảng cách nhất định so với thực tiễn, nhất là những dự báo khoa học có tính quyluật Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học lại càng thấy rõ những khoảng cách đó,bởi vì chủ nghĩa xã hội trên thực tế, chưa có nước nào xây dựng hoàn chỉnh Sau khi chế độ
xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, cùng với thoái trào của hệ thống xã hội chủnghĩa thế giới, lòng tin vào chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa Mác-Lênin của nhiều người có giảm sút Đó là một thực tế dễ hiểu Vì thế, nghiên cứu, giảng dạychủ nghĩa xã hội khoa học càng khó khăn trong tình hình hiện nay và cũng có ý nghĩa chínhtrị cấp bách Chỉ có bình tĩnh và sáng suốt, kiên định và chủ động sáng tạo tìm ra nhữngnguyên nhân cơ bản và bản chất của những sai lầm, khuyết điểm, khủng hoảng, đổ vỡ và củanhững thành tựu to lớn trước đây cũng như của những thành quả đổi mới, cải cách ở các nước
xã hội chủ nghĩa, chúng ta mới có thể đi tới kết luận chuẩn xác rằng: không phải do chủ nghĩa
xã hội – một xu thế xã hội hoá mọi mặt của nhân loại; cũng không phải do chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học làm các nước xã hội chủ nghĩa khủng hoảng Trái lại,chính là do các nước xã hội chủ nghĩa đã nhận thức và hành động trên nhiều vấn đề trái vớichủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác-Lênin đã giáo điều, chủ quan duy ý chí, bảo thủ, kể cả việc
Mác-đố kỵ, xem nhẹ những thành quả chung của nhân loại, trong đó có chủ nghĩa tư bản; đồng thời
do xuất hiện chủ nghĩa cơ hội – phản bội trong một số đảng cộng sản và sự phá hoại của chủnghĩa đế quốc thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình đã làm cho chủ nghĩa xã hội thế giới lâmvào thoái trào
Thấy rõ thực chất những vấn đề đó một cách khách quan, khoa học; đồng thời được minhchứng bởi thành tựu rực rỡ của sự nghiệp đổi mới, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa,trong đó có Việt Nam, chúng ta càng củng cố bản lĩnh kiên định, tự tin tiếp tục sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã lựa chọn
Câu 3 Phân tích những điểm tương đồng và khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội khoa học
và chủ nghĩa xã hội không tưởng Ý nghĩa về nhận thức và hoạt động thực tiễn của đồng chí về vấn đề này.
Trả lời:
1 Khái niệm
- Chủ nghĩa xã hội khoa học: Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa xã hội khoa học là chủ nghĩa Mác
– Lênin, luận giải trên góc độ triết học, kinh tế và chính trị - xã hội về sự chuyển biến tất yếucủa xã hội loài người từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Điều đónói lên sự thống nhất, tính hoàn chỉnh về mặt cấu trúc của chủ nghĩa Mác – Lênin Chính hiểu
chủ nghĩa xã hội khoa học theo nghĩa rộng mà Lênin đánh giá khái quát về bộ Tư bản của
C.Mác rằng: … “bộ “Tư bản” – tác phẩm chủ yếu và cơ bản ấy trình bày chủ nghĩa xã hộikhoa học”1, rằng chủ nghĩa xã hội khoa học tức là chủ nghĩa Mác, hoặc chủ nghĩa Mác chính
là chủ nghĩa cộng sản khoa học Theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa xã hội khoa học là một môn khoahọc lý luận chính trị, một trong 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin (triết học Mác -Lênin, kinh tế học chính trị Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học)
- Chủ nghĩa xã hội không tưởng: là một hệ thống các tư tưởng, các học thuyết phản ánh ước
mơ, khát vọng của con người về một xã hội tương lai tốt đẹp, nhưng có tính chất không tưởng
- thể hiện ở chỗ nó không chỉ ra được con đường và lực lượng xã hội cũng như điều kiện và
1
Trang 10phương thức để thực hiện ước mơ khát vọng đó Tuy nhiên chủ nghĩa xã hội không tưởng lại
có một giá trị vô cùng to lớn, làm nền tảng để các nhà triết học như Cac Mac, Ang ghen, LêNin phát triển thành khoa học, thành chủ nghĩa xã hội khoa học
2 So sánh:
a Những điểm tương đồng: so sánh chủ nghĩa xã hội không tưởng và chủ nghĩa xã hội khoa
học do Các Mác và Ăngghen sáng lập, ta thấy có nhiều điểm tương đồng, đó là:
- Cả hai đều phản ánh những nội dung cơ bản của tư tưởng xã hội chủ nghĩa, ước mơ về một
xã hội tốt đẹp : trong đó quan niệm về một chế độ xã hội mà mọi tư liệu sản xuất thuộc về mọithành viên, thuộc về toàn xã hội; tư tưởng xây dựng một chế độ xã hội mà ở đó ai cũng cóviệc làm và ai cũng lao động, mọi người đều bình đẳng, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnhphúc Mọi người đều có điều kiện để lao động, cống hiến, hưởng thụ và phát triển toàn diện
- Nhận thức được áp bức bóc lột là nguồn gốc của nghèo khổ Thể hiện tinh thần nhân đạochủ nghĩa cao cả, hướng tới con người, vì nhân dân lao động, mong ước về một xã hội tốt đẹphơn
- Phê phán chế độ tư hữu và giai cấp bóc lột Góp phần thức tỉnh tinh thần đấu tranh của quầnchúng lao động, đóng góp và thúc đẩy lịch sử tiến bộ, đặt một dấu mốc ghi nhận về sự pháttriển tư duy của loài người
Có thể nói, tư tưởng nhân đạo và những quan điểm đúng đắn của các nhà xã hội chủ nghĩa
đề lý luận quan trọng cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học Đó là: 1) Thể hiện tinhthần phê phán, lên án chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ tư bản chủ nghĩa đầy áp bức bấtcông, xung đột, đạo đức đảo lộn, tội ác gia tăng… Giúp mọi người nhận thức được chế độ tưhữu là nguồn gốc của mọi tội lỗi và bất công trong xã hội 2) Đưa ra nhiều luận điểm có giá trị
về xã hội tương lai về tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm xã hội, trong đó mọi ngườisống, lao động và hưởng thụ như nhau; trong xã hội có sự thống nhất giữa những cá nhân vàtập thể, tổ chức chính trị-xã hội do dân cử; đã nêu ra vai trò của công nghiệp và khoa học - kỹthuật; yêu cầu về xóa bỏ sự đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc; về sự nghiệpgiải phóng phụ nữ; về vai trò lịch sử của nhà nước…; 3) Chính những tư tưởng có tính phêphán và sự dấn thân trong thực tiễn của các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng, trong chừngmực, đã thức tỉnh phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và người lao động
b Những điểm khác biệt:
Cũng cần nhận thấy rằng tư tưởng, học thuyết của chủ nghĩa xã hội không tưởng còn nhiềuhạn chế so với chủ nghĩa xã hội khoa học Đây cũng chính là những điểm khác biệt lớn nhấtgiữa chủ nghĩa xã hội không tưởng và chủ nghĩa xã hội khoa học Đó là:
- Về cơ bản, những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng chưa thoát khỏi quan niệm duy tâm vềlịch sử, do đó, đã không giải thích được nguyên nhân của tình trạng bất công, bất bình đẳngtrong chủ nghĩa tư bản Trong khi đó thế giới quan của chủ nghĩa xã hội khoa học là chủ
ước mơ từ lòng nhân đạo của các nhà tư tưởng tiến bộ đương thời chứ không phải từ nhữngcăn cứ thực tiễn và khoa học Còn chủ nghĩa xã hội khoa học được xây dựng trên những căn
cứ khoa học Đó là điều kiện kinh tế chín muồi của chủ nghĩa tư bản và những tinh hoa trí tuệcủa nhân loại đa đạt được đầu thế kỷ XIX Chủ nghĩa xã hội không tưởng không giải thíchđược bản chất của chế độ nô lệ làm thuê, không phát hiện được quy luật vận động của chủnghĩa tư bản còn chủ nghĩa xã hội khoa học đã giải thích được đúng đắn bản chất của chế độ
tư bản chủ nghĩa qua việc phát hiện ra quy luật giá trị thặng dư Từ đó chủ nghĩa xã hội khoahọc đã có được những luận cứ khoa học để khảng định sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tưbản và sự thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội
- Hầu hết các nhà không tưởng đều có khuynh hướng đi theo con đường ôn hòa để cải tạo xãhội bằng pháp luật và thực nghiệm xã hội chủ nghĩa xã hội không tưởng chưa vạch ra đượcphương pháp, con đường lối thoát đúng đắn cho xã hội đương thời Còn chủ nghĩa xã hội
Trang 11khoa học đã chỉ rõ con đường tất yếu và đúng đắn là con đường đấu tranh giai cấp, đấu tranhcách mạng để xoá bỏchủ nghĩa tư bản thối nát và xây dựng thành công xã hội mới - xã hội chủnghĩa và chủ nghĩa cộng sản
- Chủ nghĩa xã hội không tưởng chưa nhận thức được vai trò của quần chúng nhân dân vàcũng chưa nhìn ra vị trí to lớn của giai cấp vô sản trong việc xoá bỏ chủ nghĩa tư bản và kiếntạo một trật tự xã hội mới còn chủ nghĩa xã hội khoa học đã nhận thức rõ vai trò to lớn củaquần chúng quan trọng hơn CNXHKH là thấy rõ sức mạnh và vị trí trung tâm của giai cấp vôsản trong cuộc đấu tranh xoá bỏ xã hội tư bản lỗi thời và xây dựng thành công chủ nghĩa xãhội văn minh nhân đạo
Có thể nói sự khác biệt về cơ bản giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với chủ nghĩa xã hội khôngtưởng là ở chỗ nếu chủ nghĩa xã hội không tưởng dựa trên những ý tưởng tốt đẹp, nhữngmong muốn sẽ có một xã hội tương lai tươi sáng nhưng không dựa trên cơ sở những quy luậtvận động khách quan của lịch sử, và sự luận chứng thiếu cơ sở khoa học, thì chủ nghĩa xã hộikhoa học dựa trên cơ sở của hiện thực thực tế, trên sự hiểu biết khoa học về quy luật phát triểncủa xã hội cũng như về bản chất của con người
Tuy nhiên tại thời điểm hình thành và phát triển tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng- phêphán, sự phát triển của phương thức SX tư bản chủ nghĩa và cùng với nó là sự đối lập giữagiai cấp vô sản và giai cấp tư sản chưa thực sự rõ rệt Tương ứng với một trình độ chưatrưởng thành của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, với những quan hệ giai cấp chưa chín muồi làmột lý luận chưa chín muồi Do đó, những hạn chế của chủ nghĩa xã hội không tưởng làkhông thể tránh khỏi
Như mọi hệ thống khoa học khác, chủ nghĩa Mác nói chung, chủ nghĩa xã hội khoa học nóiriêng là một hệ thống chỉnh thể tri thức Trong hệ thống ấy, có các tri thức về các nguyên lý
cơ bản phản ánh các quy luật vận động biến đổi của xã hội là những tri thức phản ánh bảnchất của khách thể, chúng tồn tại mãi mãi với thời gian và không ngừng được bổ sung, hoànthiện Các tri thức về cách thức, biện pháp và phương pháp vận dụng các quy luật ấy có thểthay đổi và cần phải thay đổi theo những hoàn cảnh lịch sử cụ thể Điều này, với tư cách lànhững nhà khoa học chân chính, sinh thời chính Các Mác và Ph Ăngghen cũng đã căn dặnchúng ta Điều quan trọng là không thể và không bao giờ được cho rằng những hạn chế,nhược điểm thậm chí cả sai lầm trong các cách thức, biện pháp tác động mà các ông nêu ra lànhững sai lầm của cả các tri thức phản ánh quy luật đã được nhận thức
Ý nghĩa về nhận thức và hoạt động thực tiễn của đồng chí về vấn đề này.
+ Nghiên cứu, vận dụng, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học bao giờ cũng phải dựa trên cơ
sở hiện thực khách quan, phải căn cứ vào những điều kiện kinh tế, xã hội, tiền đề văn hóa và
tư tưởng nhất định trong những thời kỳ lịch sử cụ thể; mọi hoạt động nhận thức và thực tiễncủa con người chỉ có thể đúng đắn, thành công và có hiệu quả khi và chỉ khi thực hiện đồngthời giữa việc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng thực tế khách quan với phát huy tínhnăng động chủ quan; phát huy tính năng động chủ quan phải là trên cơ sở và trong phạm viđiều kiện khách quan, chống chủ quan duy ý chí trong nhận thức và thực tiễn Chúng ta thấy,thực tiễn cuộc sống luôn vận động, biến đổi, phát triển, vì thế, nhận thức của con người nóichung, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin nói riêng cũng luôn phải được vận dụng, bổ sung,phát triển cho phù hợp thực tiễn
+ Trong thực hiện phải luôn tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan trongnhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải phòng chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí; đó lànhững hành động lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực, lấy ý muốnchủ quan làm chính sách, lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược, sách lược,… đâycũng phải là quá trình chống chủ nghĩa kinh nghiệm, xem thường tri thức khoa học, xemthường lý luận, bảo thủ, trì trệ,… trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
Trang 12Câu 4: Chứng minh rằng chủ nghĩa xã hội biểu hiện dưới dạng tư tưởng, lý luận mang tính khách quan và là sản phẩm chung của nhân loại:
Trả lời:
Với tư cách là một trào lưu tư tưởng, lý luận, tư tưởng xã hội chủ nghĩa là một hệ thốngnhững quan điểm, học thuyết phản ánh những nhu cầu, nguyện vọng của các giai cấp, tầnglớp lao động bị áp bức; là hệ thống lý luận về con đường, cách thức và phương pháp đấu tranhnhằm thực hiện một chế độ xã hội, mà ở đó không có áp bức và bất công, mọi người đều được
tự do, bình đẳng về mọi mặt và có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được phát triển toàn diện.Trào lưu tư tưởng, lý luận này có quá trình phát triển để từng bước hoàn thiện Đó là quá trìnhchuyển biến của tư tưởng xã hội chủ nghĩa từ không tưởng đến khoa học
Trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa trước khi có chủ nghĩa Mác ra đời được gọi là tư tưởng xãhội chủ nghĩa không tưởng Tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng ra đời gắn với cuộc đấutranh chống ách áp bức, bất công của các xã hội có mâu thuẫn giai cấp đối kháng (bắt đầu từchế độ chiếm hữu nô lệ) Tuy nhiên, bước đầu tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủnghĩa còn ở mức sơ khai, thể hiện trong nguyện vọng, mong muốn của quần chúng nô lệ đòixoá bỏ chế độ nô lệ, thực hiện công bằng xã hội và mơ ước trở về với thời "hoàng kim" củalịch sử - thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ xa xưa - một xã hội không có Nhà nước, không có giaicấp Thời kỳ này, tư tưởng về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản chỉ được thể hiện qua cáchuyền thoại, truyền thuyết…, truyền khẩu trong dân gian
Khi xã hội loài người bước sang chế độ phong kiến, trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa vàcộng sản chủ nghĩa tiếp tục được thể hiện trong mô hình xã hội tương lai mà loài người sẽ tiếnđến Đó là chủ nghĩa xã hội phong kiến hoặc chủ nghĩa xã hội Thiên chúa giáo - những tưtưởng đồng nhất xã hội cộng sản với "thiên đường ngàn năm của Chúa" Tư tưởng xã hội chủnghĩa và cộng sản chủ nghĩa thời kỳ này biểu hiện rõ rệt nhất nguyện vọng của quần chúngnông dân đấu tranh chống chế độ phong kiến, đòi công bằng, bình đẳng xã hội, nhất là quyềnbình đẳng về ruộng đất
Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, một số tác phẩm văn học của các nhà tư tưởng đã phản ánh
tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, song nó còn chứa đựng nhiều yếu tố “khôngtưởng” Đến giữa thế kỷ XIX, tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng đã có bước chuyển biếnmới - ngoài những giá trị vốn có của trào lưu tư tưởng này, các đại biểu tư tưởng đã phê phántrực tiếp vào chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và cả nền văn minh tư bản Họ pháchoạ ra một xã hội mới dựa trên những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội Với tính chất phêphán đậm nét và toàn diện, tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng thời kỳ này được gọi làchủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán Ba đại biểu tiêu biểu là H.Xanhximông, S.Phuriê vàR.Ôoen C.Mác, Ph.Ăngghen đã đánh giá rất cao dòng tư tưởng này, coi đó là "tiền đề tưtưởng lý luận trực tiếp cho chủ nghĩa xã hội khoa học"
Vào năm 1848, tác phẩm "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" do C.Mác và Ph.Ăngghen soạn
thảo đã trở thành tác phẩm kinh điển chủ yếu của chủ nghĩa xã hội khoa học Chủ nghĩa xãhội khoa học đã ra đời dựa trên những điều kiện khách quan về kinh tế - xã hội, tiền đề khoahọc, văn hóa, tư tưởng, trong đó có vai trò rất lớn của C.Mác và Ph.Ăngghen, với học thuyếtduy vật lịch sử, học thuyết giá trị thặng dư và học thuyết về xứ mệnh lịch sử toàn thế giới củagiai cấp công nhân, đã khắc phục một cách triệt để những hạn chế của chủ nghĩa xã hội khôngtưởng, đồng thời làm cho CNXH không tưởng thành khoa học Chủ nghĩa xã hội khoa học rađời trở thành một trong ba bộ phận lý luận cơ bản của học thuyết Mác
Từ năm 1848 đến nay, qua nhiều bước thăng trầm, lý luận về chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại,được các Đảng Cộng sản tiếp thu, vận dụng sáng tạo với tư cách là nền tảng tư tưởng củaĐảng và của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong từng quốc gia, khu vực
Hiện nay, ở một số nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, ở một số nước tư bản, các ĐảngCộng sản, Đảng Công nhân và Đảng Cánh tả đã và đang bổ sung, phát triển nền tảng tư
Trang 13tưởng, lý luận ấy ở mức độ khác nhau để xây dựng chủ nghĩa xã hội thích ứng với điều kiện
- Chủ nghĩa xã hội là kết quả phát triển về tư tưởng, lý luận của con người Qua các giai đoạnlịch sử, tư tưởng, lý luận không ngừng được bổ sung, hoàn thiện để xây dựng một xã hội tốtđẹp, một xã hội mà ở đó không còn áp bức bất công, mọi người được tự do, bình đẳng, cócuộc sống ấm no hạnh phúc, được phát triển toàn diện
- Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội phải quan tâm đến hệ tư tưởng của conngười đang tồn tại trong xã hội ấy, từ đó dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê nin, cụ thể làchủ nghĩa xã hội khoa học để xây dựng cơ sở lý luận phù hợp với thực tiễn, nhằm tạo được sựđoàn kết thống nhất để phát triển xã hội, phát triển con người
- Vai trò của Đảng cộng sản: Xuất phát từ biểu hiện tư tưởng, lý luận mang tính kháchquan và là sản phẩm chung của nhân loại, thì Đảng Cộng sản tiếp thu, vận dụng sáng tạo với
tư cách là nền tảng tư tưởng của Đảng và của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điềukiện, hoàn cảnh cụ thể của quốc gia, khu vực
* Ý nghiã về hoạt động thực tiễn:
Lịch sử cho thấy, trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ, phong trào đấu tranh của giai cấp nô lệchống giai cấp chủ nô; chế độ phong kiến, hàng loạt cuộc nổi dậy của nông dân chống chế độ
áp bức phong kiến; xã hội tư bản chủ nghĩa, phong trào đấu tranh của gai cấp công nhân với
tư sản diễn ra rất phong phú Từ khi có bản "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" ngọn cờ tư
tưởng, lý luận dẫn đường, phong trào thực tiễn này đã có nhiều bước tiến lớn Cuộc Cáchmạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga (1917) thắng lợi đã chứng minh tính thực tiễn củaphong trào xã hội chủ nghĩa Từ những khái quát nêu trên, rút ra ý nghĩa như sau:
- Là tiền đề, là cơ sở để hệ thống học thuyết, quan điểm chủ nghĩa xã hội khao học ra đời
- Chứng minh quá trình phát triển của xã hội loại người đi từ thấp đến cao, đấu tranh đi từ tựphát lên tự giác và có hệ thống, có tổ chức
- Khẳng định con người sinh ra phải được tự do, ấm no, hạnh phúc không có thế lực nào cóquyền xâm hại đến quyền con người
- Hướng đến một xã hội tốt đẹp, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ( Bổ sung thêm)
Trang 14Câu 5 Đồng chí hãy phân tích điều kiện quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.Liên hệ thực tiễn với giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay.
Trả lời:
1 Đồng chí hãy phân tích điều kiện quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
a Khái niệm GCCN: Là giai cấp của những người lao động, ra đời và phát triển cùng với nền
sản xuất đại công nghiệp Giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại, phương thức sảnxuất tiên tiến, có hệ tư tưởng độc lập, có sứ mệnh tổ chức, lãnh đạo tiến trình cách mạngXHCN và xây dựng CNXH, CNCS ở mỗi nước và trên phạm vi toàn thế giới
b Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thực chất là sự nghiệp của một giai cấp đại biểu chomột phương thức sản xuất tiên tiến, đại diện cho tiến bộ xã hội để xác lập một hình thái kinh
tế xã hội mới phủ định cho hình thái kinh tế xã hội cũ đã lỗi thời
Về kinh tế: GCCN là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất trong lĩnh vực công nghiệp hoặcdịch vụ công nghiệp bằng phương thức sản xuất xã hội hóa cao để sản xuất ngày càng nhiềucủa cải, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người Đây là yếu tố sâu xa khẳng định sựcần thiết sứ mệnh lịch sử của GCCN đối với quá trình phát triển của nhân loại
Về chính trị -xã hội: GCCN cùng với nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản,tiến hành cách mạng chính trị lật đổ chế độ TBCN, xác lập, bảo vệ và phát triển chế độXHCN Nội dung này bao gồm việc GCCN giải quyết đúng đắn các vấn đề chính trị-xã hộiđặt ra trong tiến trình cách mạng như liên minh các giai cấp, tầng lớp, đoàn kết các dân tộc,xây dựng xã hội mới, con người mới
Về văn hóa, tư tưởng: Nhiệm vụ lịch sử trao cho GCCN trong tiến trình cách mạng là xác lập
hệ giá trị mới (lao động, công bằng, dân chủ, bình đẳng, tự do, tiến bộ và phát triển bền vững,
…) để thay thế cho hệ giá trị tư sản và những hệ tư tưởng cũ, lạc hậu
c Những điều kiện quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân :
Đánh giá về vị trí vai trò của giai cấp công nhân, chủ nghĩa Mác Lênin xác định giai cấp côngnhân chính là giai cấp có sứ mệnh lịch sử hết sức to lớn là xoá bỏ chế độ bóc lột TBCN, thựchiện sự chuyển biến cách mạng từ XH TBCN lên xã hội XHCN và Cộng sản chủ nghĩa TheoMác và Ăngghen, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không phải do ý muốn chủ quancủa giai cấp công nhân hoặc do sự áp đặt của các nhà tư tưởng mà do những điều kiệnkhách quan quy định
- Thứ nhất là do địa vị kinh tế của GCCN quy định:
GCCN đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến và lực lượng sản xuất hiện đại mang trình
độ xã hội hóa cao Nền sản xuất hiện đại với xu thế xã hội hóa mạnh mẽ hiện nay đang tạo ra
“tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết” cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới Trong CNTB, xét
từ địa vị chính trị GCCN là đối tượng bị bóc lột trực tiếp và nặng nề nhất nên họ có tinh thầncách mạng triệt để và là giai cấp cách mạng nhất
- Thứ hai là do đặc điểm chính trị xã hội của GCCN quy định:
Quá trình dân chủ hóa trong đời sống TBCN là hệ quả của xu thế xã hội hóa sản xuất và là kết quảcủa đấu tranh vì dân chủ và tiến bộ xã hội của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng tạo
ra điều kiện thuận lợi để GCCN tập dượt và từng bước thực hiện sứ mệnh của mình Sự thốngnhất cơ bản về lợi ích của GCCN với lợi ích của nhân dân lao động cũng tạo ra điều kiện để hiệnthực hóa đặc điểm này Trong cuộc đấu tranh ấy vị trí của GCCN là giai cấp thống trị về chính trị,lãnh đạo toàn xã hội thông qua đội tiên phong của mình là Đảng cộng sản
- Thứ ba là do mâu thuẫn cơ bản của CNTB quy định:
Quá trình sản xuất mang tính xã hội hóa cao làm cho mâu thuẫn cơ bản trong lòng phươngthức sản xuất TBCN đó là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượngsản xuất với tính chất tư hữu của quan hệ sản sản xuất Mâu thuẫn cơ bản của PTSX TBCNthể hiện ra về mặt xã hội là mâu thuẫn cơ bản giữa GCCN và GCTS Giải quyết mâu thuẫn là
Trang 15động lực chính của cuộc đấu tranh giai cấp hiện đại và GCCN chính là lực lượng xã hội có sứmệnh lịch sử ấy
2 Liên hệ giai cấp công nhân Việt Nam
Giai cấp công nhân Việt Nam là một bộ phận giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhânViệt Nam cũng có địa vị kinh tế xã hội, có sứ mệnh lịch sử và những đặc điểm như giai cấpcông nhân quốc tế Nhưng do sinh ra và lớn lên trong những điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụthể của Việt Nam nên ngoài những đặc điểm chung đó, giai cấp công nhân Việt Nam còn cónhững đặc điểm riêng của mình
- Giai cấp công nhân Việt Nam kế thừa đặc tính cần cù sáng tạo trong lao động của dân tộc vàtruyền thống yêu nước do họ sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bấtkhuất chống ngoại xâm Ở giai cấp công nhân, nỗi nhục mất nước cộng với nỗi khổ vì bị ápbức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc làm cho lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc kết hợp làmột, khiến động cơ cách mạng, nghị lực cách mạng và tính triệt để cách mạng của giai cấpcông nhân nhân lên gấp bội
- Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản, sớm tiếp thu được lý luận chủnghĩa Mác Lênin và Đảng Cộng sản lãnh đạo nên sớm giác ngộ về sứ mệnh lịch sử của mình,
họ đã nhanh chóng trở thành giai cấp duy nhất lãnh đạo cách mạng nước ta và đồng thời cũng
là chất xúc tác để nhân dân ta dễ tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin và đi theo con đường cáchmạng của giai cấp công nhân
- Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời sau thời điểm chủ nghĩa cơ hội của Quốc tế II bị phásản, sau sự thành công cách mạng tháng Mười Nga và được Quốc tế cộng sản chỉ đạo, do vậygiai cấp công nhân nước ta không bị ảnh hưởng các khuynh hướng xã hội cải lương và thốngnhất được lực lượng cả nước
- Giai cấp công nhân phần lớn xuất thân từ nông dân lao động và những tầng lớp laođộng khác nên gắn bó mật thiết với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, hình thành khốiliên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Giaicấp công nhân Việt Nam gắn bó mật thiết với cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân quốc tế
và đã nhận được sự giúp đỡ mọi mặt của giai cấp công nhân quốc tế
Bên cạnh những đặc điểm cơ bản trên giai cấp công nhân Việt Nam còn có nhược điểmnhư : về số lượng giai cấp công nhân còn ít , tỷ lệ cơ cấu công nhân trong dân cư quá thấp Vềchất lượng, giai cấp công nhân còn nhiều mặt hạn chế, biểu hiện ở sự giác ngộ về sứ mệnhlịch sử, vai trò, trách nhiệm của giai cấp còn yếu do trình độ nhận thức lý luận kém, Một bộphận công nhân chạy theo lối sống thực dụng, ít tha thiết chính trị Tỷ lệ Đảng viên, Đoànviên công đoàn, đoàn viên ĐTNCS Hồ Chí Minh trong công nhân còn thấp Trình độ văn hóa,khoa học kỹ thuật còn thấp và bất cập so với yêu cầu thực tiễn, công nhân lành nghề ít, trình
độ quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đặc biệt quản lý kinh tế còn non kém Ngoài ra côngnhân Việt Nam còn có tính tổ chức kỷ luật chưa cao, mang nặng tâm lý tác phong, tập quán,lối sống của người nông dân sản xuất nhỏ, tiểu tư sản và còn bị ảnh hưởng của tàn dư thựcdân phong kiến Những nhược điểm trên của giai cấp công nhân có nguyên nhân như :
- Về khách quan : giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra và lớn lên trong một nước thuộc địa
nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp hiện đại chưa phát triển, công nhân chuyênnghiệp ít, chưa được tôi luyện trong nền đại sản xuất, đại công nghiệp, phần đông công nhânxuất thân từ nông dân, tiểu tư sản một phần do hậu quả của chiến tranh để lại
- Về chủ quan : Mặt bằng dân trí nước ta còn thấp đã ảnh hưởng trực tiếp đến học vấn và tri
thức của người công nhân Trình độ chuyên môn kỹ thuật của công nhân Việt Nam chưa caocòn do kết quả đào tạo của các trường dạy nghề còn thấp và cơ cấu đào tạo bất hợp lý Chínhsách đối xử, sử dụng nhân tài của chúng ta còn nhiều bất cập
Hiện nay, thực trạng đời sống của giai cấp công nhân nước ta còn ở mức trung bình thấp sovới toàn xã hội và không ổn định, môi trường lao động xấu, điều kiện lao động kém; sự phânhoá trong thu nhập của công nhân rất rõ rệt… Ở một số doanh nghiệp liên doanh hoặc đầu tư
Trang 16nước ngoài, vẫn còn tồn tại một số trường hợp xúc phạm nhân phẩm, đối xử thô bạo với côngnhân Vì vậy, việc xây dựng giai cấp công nhân ngày càng vững mạnh cả về số lượng lẫn chấtlượng để có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình là vấn đề rất quan trọng liên quan trựctiếp đến bản chất cách mạng của Đảng, đến chế độ XHCN của Nhà nước ta Đó cũng là làyêu cầu tất yếu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng, cụ thểnhư :
Trước mắt, khẩn trương giải quyết việc làm và đời sống cho giai cấp công nhân Việc đảmbảo việc làm, thu nhập và đời sống cho giai cấp công nhân là nhằm từng bước khắc phục sựthoái hoá, biến chất đang diễn ra hiện nay Đồng thời, đi đôi với việc giải quyết việc làm vàđời sống là phải tăng cường bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, đẩy mạnh công tác giáo dục ý thức
tổ chức kỷ luật cho công nhân, để từng bước xây dựng giai cấp công nhân nước ta thể hiệnđược vai trò là lực lượng chủ đạo trong sự nghiệp xây dựng kinh tế, xây dựng đất nước tronggiai đoạn hiện nay
Câu 6: Phân tích những nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử Liên hệ thực tiễn giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
Trả lời:
Những nhân tố chủ chủ quan:
* Thứ nhất là sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân
Với tư cách là chủ thể thực hiện sứ mệnh lịch sử, sự phát triển giai cấp công nhân là yếu tốchủ quan quy định chất lượng và quy mô, tốc độ của quá trình này Như mọi thực thể kháctrong quá trình vận động, sự phát triển này cũng là kết quả của quá trình phát triển tự thân, tựgiác, chủ động Sứ mệnh lịch sử chỉ được thực hiện chừng nào mà giai cấp vô sản chưađược phát triển đầy đủ để tự cấu thành giai cấp và do đó, chừng nào ngay cả cuộc đấutranh của giai cấp vô sản với giai cấp tư sản còn chưa mang một tính chất chính trị, vàchừng nào những lực lượng sản xuất còn chưa phát triển đầy đủ trong lòng bản thân giaicấp tư sản để hé ra cho người ta thấy được những điều kiện vật chất cần thiết cho sựgiải phóng của giai cấp vô sản và sự thành lập một xã hội mới…
Sự phát triển giai cấp công nhân được thể hiện trên các phương diện: phát triển về lượng vàphát triển về chất
Sự phát triển về lượng của giai cấp công nhân bao gồm sự phát triển số lượng, tỷ lệ và cơ
cấu… phù hợp với yêu cầu của sản xuất công nghiệp hiện đại và cơ cấu kinh tế Thông qua sựphát triển về lượng của giai cấp công nhân có thể thấy được trình độ, quy mô của công nghiệphóa và sự chuẩn bị về lượng của giai cấp công nhân để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình
Sự phát triển về chất của giai cấp công nhân được thể hiện trên hai mặt: năng lực làm chủ
công nghệ hiện đại và ý thức giác ngộ giai cấp, ý thức dân tộc
Với tư cách là bộ phận quan trọng nhất của lực lượng sản xuất hiện đại, năng lực làm chủcông nghệ hiện đại của công nhân xác nhận vị thế đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến,
vì họ là giai cấp thường trực của xã hội hiện đại gắn liền với những tiến bộ của sản xuất côngnghiệp ngày càng hiện đại Trình độ văn hóa và tay nghề tương xứng với công nghệ hiện đại
là thước đo trình độ phát triển của công nhân
Với tư cách là chủ thể của sứ mệnh lịch sử, giai cấp công nhân cần phải đạt tới trình độ giácngộ cao về chính trị Phẩm chất này được thể hiện trước hết ở trình độ giác ngộ về giai cấp.Giai cấp công nhân phải hiểu biết ở tầm lý luận về “mình là gì và cần phải làm gì với lịch sử”
được tập trung trong nhận thức về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Trong xã hội hiện đại, giai cấp công nhân cũng là đại biểu cho lợi ích chân chính của dân tộc.Phấn đấu “trở thành giai cấp dân tộc” vươn lên lãnh đạo và cùng với dân tộc để giải quyếtnhững nhiệm vụ lịch sử trong quá trình phát triển của quốc gia dân tộc Đó là phẩm chất chínhtrị cần được tu dưỡng với giai cấp công nhân và chính đảng của nó
Trang 17*Thứ hai, Đảng cộng sản là điều kiện chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, việc giai cấp công
nhân tổ chức được một chính đảng của mình là dấu hiệu đã trở thành giai cấp tự giác vàtrưởng thành về chính trị, tư tưởng và tổ chức để thực hiện sứ mệnh lịch sử:
Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân
ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên Về mặt lý luận, họ hơn
bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quảchung của phong trào vô sản
Quy luật chung của sự hình thành Đảng Cộng sản là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin
với phong trào công nhân - kết quả xã hội của quá trình công nghiệp hóa và đấu tranh giai cấp
hiện đại Ở Việt Nam, quy luật này có biểu hiện đặc thù: “Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp vớiphong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản ĐôngDương vào đầu năm 1930.”
Mục tiêu của Đảng là thực hiện nội dung chính trị trong sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã chỉ rõ: “Mục đích trước mắt của những người cộng
sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người vô sảnthành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền.” Nắm được quyền lực chính trị để lãnh đạo thực hiện sứ mệnh lịch sử xây dựng chủ nghĩa xãhội; không ngừng nâng cao bản chất giai cấp công nhân và trở thành đại biểu chân chính cholợi ích của quốc gia - dân tộc… là những quy luật phát triển của Đảng Cộng sản
Tính chất tiền phong trong thực tiễn và lý luận, tính tổ chức khoa học và chặt chẽ của Đảng xácđịnh đây là người lãnh đạo, là hạt nhân của giai cấp công nhân Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng
về chiến lược, sách lược, tổ chức và tư tưởng là điều kiện đảm bảo cho giai cấp công nhân hoàn
thành sứ mệnh lịch sử toàn thế giới
*Thứ ba, thực hiện khối liên minh giai cấp giữa công nhân với nông dân, trí thức; vươn lên nắm ngọn cờ dân tộc và thực hiện chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân là những điều kiện chủ quan để tăng cường sức mạnh của giai cấp công nhân
Thực chất là sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và đoàn kết, hợp tác hành động của giai cấpcông nhân trên toàn thế giới đã được liên hiệp lại để chống chủ nghĩa tư bản toàn cầu và xâydựng hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa trên thế giới C.Mác và Ph.Ăngghen đãtừng chỉ rõ: “Tình cảnh của công nhân tất cả các nước đều giống nhau, bởi lẽ lợi ích của họthống nhất, những kẻ thù của họ cùng là một, cho nên họ cần hiệp lực đấu tranh chung và họcần đem liên minh anh em của công nhân tất cả các dân tộc đối lập với cái liên minh anh emcủa giai cấp tư sản tất cả các dân tộc.”
Cơ sở kinh tế của chủ nghĩa quốc tế đó trước tiên xuất phát từ tính chất xã hội hóa của sản
xuất hiện đại Chính sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp hiện đại với qui mô mở rộng
và trình độ công nghệ ngày càng cao đã “nối liền tất cả các dân tộc trên trái đất lại với nhau”
và phụ thuộc vào nhau
Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân về cơ bản thống nhất với lợi ích chính đáng của cácdân tộc Nó cũng đối lập với các biểu hiện tiêu cực của chủ nghĩa dân tộc C.Mác vàPh.Ăngghen chỉ rõ:
Muốn cho các dân tộc có thể thực sự đoàn kết lại thì họ phải có những lợi ích chung Muốncho những lợi ích của họ trở thành lợi ích chung thì những quan hệ sở hữu hiện có phải bị thủtiêu, bởi lẽ những quan hệ sở hữu hiện tạo điều kiện cho một số dân tộc này bóc lột một sốdân tộc khác; chỉ có giai cấp công nhân là thiết tha với việc thủ tiêu những quan hệ sở hữuhiện tồn Duy chỉ có mình nó mới có thể làm được việc này Giai cấp vô sản chiến thắnggiai cấp tư sản đồng thời còn có nghĩa là khắc phục tất cả những cuộc xung đột dân tộc vàxung đột công nghiệp hiện nay đang sinh ra sự thù hằn giữa các dân tộc Vì vậy mà thắnglợi của giai cấp vô sản đối với giai cấp tư sản đồng thời còn là dấu hiệu giải phóng tất cảcác dân tộc bị áp bức
Trang 18Tóm lại, chủ nghĩa Mác - Lênin đã phản ánh một cách khoa học toàn bộ những cơ sở kháchquan và điều kiện chủ quan để giai cấp công nhân thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử củamình Đó là hệ tư tưởng dẫn đường và vũ khí lý luận của giai cấp công nhân toàn thế giớitrong cuộc đấu tranh giai cấp hiện đại
2.Liên hệ thực tiễn giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
- Giai cấp công nhân Việt Nam từ khi ra đời, nhất là từ khi có chính Đảng của mình đãtrở thành lực lượng chính trị tiên phong đi đầu trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dântộc và hoàn thành thắng lợi trọn vẹn cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và đang tiến hànhxây dựng CNXH Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân
VN, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc - lànhân tố quan trọng quyết định rất lớn đến sự thành công và thắng lợi của cách mạng ViệtNam Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kimchỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng Sự rađời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng tỏ rằng: giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởngthành, đủ sức lãnh đạo cách mạng Với cương lĩnh và đường lối đúng đắn, sáng tạo của mình,trong hơn 2/3 thế kỷ, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thể hiện rõ qua việc tổchức, lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Về lâu dài, để hoàn thành sự nghiệp cách mạng của Đảng, của giai cấp mình, giai cấp côngnhân phải phát triển mạnh mẽ số lượng và trí thức hoá đội ngũ công nhân đễ nâng cao trình độchuyên môn và quản lý của công nhân, đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước trong mọi ngành kinh
tế quốc dân, trên cơ sở đó xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH và thông qua đóxây dựng đội ngũ công nhân hiện đại Cùng với sự nghiệp đào tạo xây dựng đội ngũ côngnhân mới, trẻ tuổi với tri thức hiện đại, chúng ta đẩy mạnh sự nghiệp đào tạo lại và đào tạonâng cao cho đội ngũ công nhân hiện có Gắn liền với sự nghiệp đào tạo đó, chúng ta hìnhthành từng bước đội ngũ công nhân tri thức cùng với hình thành từng bước nền kinh tế trithức Bên cạnh đó, chúng ta phải xây dựng, củng cố Đảng cộng sản vững mạnh, xây dựng cơchế gắn bó, máu thịt giữa Đảng và giai cấp làm cho giai cấp công nhân luôn là người giám sáthoạt động của Đảng và Nhà nước, đồng thời thường xuyên bổ sung lực lượng công nhân ưu túvào đội ngũ lãnh đạo của Đảng, cơ quan quản lý Nhà nước Song song đó, cần xây dựng tổchức công đoàn vững mạnh, thực sự là chổ dựa cho giai cấp công nhân, động viên, cổ vũ và tổchức chỉ đạo phong trào công nhân thực hiện đường lối đổi mới, tiến lên theo định hướng xãhội chủ nghĩa của Đảng đề xướng và lãnh đạo
Câu 7: Phân tích những biểu hiện mới của giai cấp công nhân hiện nay Liên hệ thực tiễn với giai cấp công nhân Việt Nam.
Trả lời:
1.Những biểu hiện mới của giai cấp công nhân hiện nay
* Khái niệm GCCN: Là giai cấp của những người lao động, ra đời và phát triển cùng với nền
sản xuất đại công nghiệp Giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại, phương thức sảnxuất tiên tiến, có hệ tư tưởng độc lập, có sứ mệnh tổ chức, lãnh đạo tiến trình cách mạngXHCN và xây dựng CNXH, CNCS ở mỗi nước và trên phạm vi toàn thế giới
* Những biểu hiện mới:
Xét từ góc độ kinh tế - kỹ thuật
Từ luận điểm của C.Mác: công nhân là sản phẩm và là chủ thể của quá trình công nghiệp hóa,trong giai đoạn hiện nay, khi thế giới đang dần tiến tới cuộc “cách mạng công nghiệp lần thứtư” (cách mạng công nghiệp 4.0) thì giai cấp công nhân cũng có nhiều đổi mới Công nghiệp hóa vẫn là cơ sở khách quan để giai cấp công nhân hiện đại phát triển mạnh mẽ
cả về chất lượng và số lượng Số lượng công nhân tăng nhanh, theo Tổ chức lao động quốc tế
- ILO, hiện nay có khoảng 1 tỷ công nhân (năm 1900 mới có 80 triệu) Nhiều quốc gia có nền
Trang 19kinh tế phát triển cao (nhóm G7) công nhân chiếm khoảng từ 70 – 90% trong tổng số lao độngcủa quốc gia
Công nhân hiện nay đang có xu hướng trí tuệ hóa trong bối cảnh cách mạng khoa học - côngnghệ và kinh tế tri thức có những bước phát triển mạnh mẽ Trên thực tế đã có thêm nhiềukhái niệm để chỉ công nhân: công nhân tri thức, công nhân “áo trắng”, lao động trình độcao…
- Công nhân tri thức là đại biểu tiêu biểu cho giai cấp công nhân hiện nay Kinh tế tri thức là
một trình độ mới của lực lượng sản xuất hiện đại trong đó vai trò của tri thức, công nghệ ởmột số lĩnh vực sản xuất đang tỏ rõ vị thế quan trọng “Tri thức là một động lực cơ bản choviệc gia tăng năng suất lao động và cạnh tranh toàn cầu Nó là yếu tố quyết định trong quátrình phát minh, sáng kiến, và tạo ra của cải xã hội” Xu thế hướng tới kinh tế tri thức là xuthế chung của thế giới để đổi mới cơ cấu kinh tế từ phát triển theo bề rộng sang phát triển theochiều sâu Năng xuất lao động phụ thuộc chủ yếu vào công nghệ, tri thức, tay nghề của ngườilao động Sản xuất và dịch vụ hiện đại đòi hỏi người lao động phải có hiểu biết sâu rộng cả vềtri thức và kỹ năng nghề nghiệp Theo đó, tốc độ “trí thức hóa” công nhân đang diễn ra khánhanh và công nhân tri thức đã dần chiếm tỷ lệ cao trong tổng số lao động xã hội ở các nướcphát triển
- Công nhân được đào tạo chuẩn mực và thường xuyên được đào tạo lại theo các chu kỳ thay
đổi công nghệ Nguồn nhân lực chất lượng cao được đào tạo trong các trường dạy nghề vàluôn được bồi dưỡng về công nghệ là đặc trưng về tạo nguồn và sử dụng nhân lực Hao phílao động hiện đại chủ yếu là hao phí về trí lực chứ không phải thuần túy là sự mệt mỏi cơ bắp.Bên cạnh những nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, văn hóa của công nhân ngày càng caohơn và đa dạng hơn
- Tính chất xã hội hoá của lao động công nghiệp cũng có nhiều biểu hiện mới: sản xuất công
nghiệp trong toàn cầu hóa kinh tế đang mở rộng thành “chuỗi toàn cầu”, quá trình sản xuấtmột sản phẩm liên kết nhiều công đoạn của nhiều vùng miền, quốc gia khác nhau Liên kếttrong sản xuất hiện đại bên cạnh những hình thức cũ như phối hợp theo dây truyền, tổ chứctheo nhóm đã xuất hiện những hình thức mới như “xuất khẩu lao động tại chỗ”, “làm việc tạinhà”, “làm việc theo nhóm chuyên gia”, quốc tế hóa các tiêu chuẩn sản xuất công nghiệp (ISO
9001, 9002)… Theo đó, tính chất xã hội của lao động hiện đại đang được mở rộng và nângcao
- Sự biến đổi cấu tạo hữu cơ tư bản thay đổi đang làm rõ xu thế xã hội hóa lực lượng sản
xuất Tri thức khoa học và công nghệ có vai trò lớn trong sản xuất đang tạo ra một thay đổiquan trọng: tư bản khả biến (v) tăng nhanh, tư bản bất biến (c) giảm tương đối trong tỷ lệ cấuthành giá trị của hàng hoá Vai trò to lớn của tri thức, tay nghề, văn hóa trong sản xuất đangtừng bước phá vỡ cơ chế chiếm hữu của giai cấp tư sản do sở hữu tư liệu sản xuất mà có độcquyền chiếm đoạt giá trị thặng dư Tư liệu sản xuất đang có dấu hiệu nhất thể hoá với sức laođộng
Có một dạng thức đặc biệt của tư liệu sản xuất xã hội, tức là tri thức và công nghệ, đang đượckinh tế tri thức “chuyển dịch” từ nhà tư bản sang giai cấp công nhân Với tri thức và khả năng làmchủ công nghệ cao, với năng lực sáng tạo giá trị mới, người công nhân hiện đại đang có thêm điềukiện vật chất để tự giải phóng Con người có tri thức, lao động sáng tạo với trình độ cao là nguồnlực cơ bản của phát triển xã hội hiện đại và điều đó đang góp phần định hình xã hội tương lai
Xét từ góc độ chính trị - xã hội
- Chủ nghĩa xã hội - lý tưởng của giai cấp công nhân đang gặp nhiều khó khăn trong quá
trình hiện thực hóa
- Thể chế kinh tế và chính trị của chủ nghĩa tư bản trong bối cảnh toàn cầu hóa đã có nhiều
điều chỉnh; các phương thức quản lý mới, các biện pháp điều hòa mâu thuẫn, xung đột xã hội
của giai cấp tư sản đang tác động hai mặt vào giai cấp công nhân Một bộ phận công nhân đãtham gia vào sở hữu một lượng tư liệu sản xuất của xã hội thông qua chế độ cổ phần hóa Về
Trang 20mặt hình thức, họ không còn là “vô sản” nữa và có thể được “trung lưu hóa” về mức sống,nhưng về thực chất, ở các nước tư bản, do không chiếm được tỷ lệ sở hữu cao nên quá trìnhsản xuất và phân chia lợi nhuận vẫn bị phụ thuộc vào những cổ đông lớn Việc làm và laođộng vẫn là nhân tố quyết định mức thu nhập, đời sống của công nhân hiện đại Quyền địnhđoạt quá trình sản xuất, quyền quyết định cơ chế phân phối lợi nhuận vẫn thuộc về giai cấp tưsản
Khi sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất vẫn tồn tại thì những thành quả của khoahọc và công nghệ, trình độ kinh tế tri thức và những điều chỉnh về thể chế quản lý kinh tế và xãhội…trước tiên vẫn là công cụ để bóc lột giá trị thặng dư Giai cấp công nhân vẫn bị bóc lột nặng
nề bởi các chủ thể mới trong toàn cầu hóa như các tập đoàn xuyên quốc gia, nhà nước của cácnước tư bản phát triển …
- Vấn đề đoàn kết và thống nhất giai cấp công nhân cần có cách tiếp cận mới Công nhân là
sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa, hiện nay do tác động mạnh mẽ của công nghiệp hiệnđại, cách mạng khoa học và công nghệ, toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp 4.0… cơ cấugiai cấp và phương thức sinh hoạt của công nhân có nhiều biến đổi Công nhân hiện đại có cơcấu nghề nghiệp đa dạng, trình độ công nghệ và giác ngộ chính trị khác nhau Phong tràocông nhân thế giới cũng đang bị chi phối bởi nhiều tổ chức chính trị - xã hội khá phức tạp.Nền kinh tế nhiều thành phần trong các nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩacũng đặt ra yêu cầu đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị - xãhội trong công nhân Theo đó, tổ chức và phối hợp hành động trong phong trào công nhâncũng cần tìm tới các hình thức phù hợp, linh hoạt và sáng tạo hơn
- Mối quan hệ giữa lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích quốc gia dân tộc cũng đang xuất
hiện những tình huống mới Toàn cầu hóa vừa liên kết về mặt lực lượng sản xuất lại vừa chia
rẽ người lao động trong quan hệ sản xuất do họ gắn bó về lợi ích với các doanh nghiệp tư bản,các tập đoàn xuyên quốc gia Lợi ích của công nhân vừa gắn bó với lợi ích quốc gia - dân tộcvừa phụ thuộc vào thành phần kinh tế, tác động của thị trường sức lao động và biến động củakinh tế toàn cầu Thực tế đó tạo ra những quan hệ phức tạp, đan xen các dạng lợi ích và kháchquan đặt ra nhu cầu về những hình thức tập hợp lực lượng mới
2.Liên hệ thực tiễn với giai cấp công nhân Việt Nam
Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH; phát triển nền kinh tế thị trường định hướngXHCN, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế Sự nghiệp CNH, HĐH gắn liềnvới sự phát triển của kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh nhằm tạo ra nền tảng để đến
2020, Việt Nam về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Theo đó, cơ cấukinh tế và cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngànhcông nghiệp và dịch vụ; giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp; đồng thời, trình độ học vấn vàchuyên môn của các giai tầng xã hội nói chung và GCCN nói riêng ngày càng được nâng cao
- Họ là sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa thời kỳ đổi mới với các tiêu chí: đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chú trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn gắn với xây dựng nông thôn mới; công nghiệp hóa trong cơ chế thị trường, phát triểnkinh tế tri thức, gắn hội nhập và bảo vệ tài nguyên môi trường Với những yêu cầu kinh tế - xãhội ấy, công nhân - sản phẩm xã hội của quá trình công nghiệp hóa nước ta hiện nay, thể hiện
ra như một lực lượng lao động tiên tiến nhất và phát triển khá nhanh
- Đa dạng về trình độ công nghệ, về thành phần kinh tế và lợi ích
Nếu như trước thời kỳ đổi mới, đa số công nhân lao động trong thành phần kinh tế nhà nướcvới hai loại hình là sở hữu toàn dân (các nhà máy nông trường quốc doanh) và sở hữu tập thể(các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp); thì hiện nay họ có mặt trong mọi thành phần kinh tế.Công nhân cũng khác nhau về trình độ tiếp cận công nghệ, lợi ích hay phần được hưởng từquá trình sản xuất kinh doanh và qua tái phân phối thành quả của đổi mới… Những sự khácbiệt này khiến cho cơ cấu công nhân khá đa dạng và cần những chính sách ngày càng cụ thể,phù hợp hơn với từng đối tượng
Trang 21Theo số liệu thống kê năm 2016, GCCN Việt Nam có khoảng hơn 14 triệu người, năm 2018gần 15 triệu người Trong đó có khoảng 3,5 triệu người có bằng cấp, qua đào tạo.
- Công nhân nước ta hiện nay đang lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa Bên cạnh những quan tâm về việc làm, thu nhập, mức sống thì giai cấp công nhân
Việt Nam còn là giai cấp đi đầu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng xã hộidân chủ, công bằng, văn minh Đây là vinh dự và cũng là trọng trách của công nhân nước ta.Theo đó, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam cần phải chú ý về chính sách trên haiphương diện: lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, vị thế người lao động và vị thế người làmchủ đất nước…
- Đa dạng về trình độ công nghệ, về thành phần kinh tế, lợi ích và phân tầng xã hội Nếu như
trước thời kỳ đổi mới, đa số công nhân lao động trong thành phần kinh tế nhà nước với hailoại hình là sở hữu toàn dân (các nhà máy nông trường quốc doanh) và sở hữu tập thể (cáchợp tác xã tiểu thủ công nghiệp); thì hiện nay họ có mặt trong mọi thành phần kinh tế
Kinh tế thu nhập có sự phân tầng (thu nhập ngành Dầu khí 45 triệu/tháng; Hàng không 24triệu/tháng; Tài chính ngân hàng 17 triệu tháng; Khu công nghiệp 5 triệu đồng/tháng)
Bên cạnh đó, đội ngũ lãnh đạo xuất thân từ giai cấp công nhân ngày càng ít
- Với vai trò là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hướng tới
kinh tế tri thức và gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, giai cấp công nhân nước ta phải phấnđấu vươn lên mạnh mẽ, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, traudồi bản lĩnh chính trị vững vàng và nghị lực lớn, mới có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sửtrong thời kỳ mới, đóng góp xứng đáng vào thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam
Câu 8: Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong bối cảnh hiện nay Liên hệ thực tiễn với giai cấp công nhân Việt Nam.
Trả lời:
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độngười bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loạikhỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa vănminh
Là sự nghiệp của một giai cấp đại biểu cho một phương thức sản xuất tiên tiến, đại diện chotiến bộ xã hội để xác lập một hình thái kinh tế - xã hội mới phủ định cho hình thái kinh tế - xãhội đã lỗi thời
1.Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong bối cảnh hiện nay
*Những thuận lợi:
- Xu hướng tri thức hóa: Biểu hiện rõ nhất là quá trình trí thức hoá công nhân đang diễn ra,
nhất là trong lớp công nhân ngày càng tăng trên toàn thế giới iều này được quyết định bởi banhân tố cơ bản: trước hết, đó là yêu cầu ngày càng gia tăng của việc thực hiện chiến lược côngnghiệp hoá rút ngắn theo hướng hiện đại và đi nhanh hơn vào kinh tế tri thức mà Đảng đã đề
ra Thứ hai, sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục-đào tạo, làm cho chất lượng nguồn nhân lựckhông ngừng được nâng lên Thứ ba, thực tiễn yêu cầu mỗi người công nhân phải khôngngừng phấn đấu nâng cao trình độ học vấn và tay nghề, mới có việc làm ổn định và có thunhập xứng đáng
- Xu hướng có cổ phần: Do tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại,
nên cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội đã có những biến đổi mới làm cho GCCN có những thuậnlợi: Tỉ lệ số người làm dịch vụ so với số người sản xuất trực tiếp tăng lên; trình độ văn hóachung và tay nghề chuyên môn cao hơn; mức thu nhập khá hơn trước, làm cho một bộ phận
Trang 22người lao động trở thành “trung lưu hóa” Một bộ phận trong giai cấp công nhân đã mua cổphần và được chia lợi nhuận với giai cấp tư sản Tầng lớp quản lý ngày càng có vai trò quantrọng và kiêm nhiều chức năng phụ của giới chủ
GCCN có cổ phần không phải vấn đề mới mà C.Mác đã đề cập tới trong bộ “Tư bản” về cổphần là quá độ biến của cải nhà TB thành tài sản chung của người lao động sản xuất côngnghiệp
- Ở những nước phát triển theo định hướng XHCN, Giai cấp CN là giai cấp lãnh đạo làm chủ
xã hội
Giai cấp công nhân coi Đảng cộng sản là hạt nhân chính trị của mình và sự ra đời của Đảng làmốc đánh dấu sự trưởng thành của giai cấp Chủ nghĩa Mac - Lenin khẳng định việc giai cấpcông nhân có tổ chức được chính đảng trưởng thành về chính trị, tư tưởng và tổ chức là dấuhiệu đã trở thành giai cấp tự giác và đủ năng lực để thực hiện sứ mệnh lịch sử Đảng coi giaicấp công nhân là cơ sở xã hội hàng đầu của mình Quan hệ giữa Đảng cộng sản và giai cấpcông nhân là quan hệ "máu thịt" Tính chất tiền phong thực tiến và lý luận, tính tổ chức khoahọc và chặc chẽ xác định Đảng là người lãnh đạo, là hạt nhân của giai cấp công nhân GCCNlãnh đạo không có nghĩa là từng người công nhân lãnh đạo mà cả GCCN lãnh đạo thông quachính đảng, đội tiền phong của GCCN, lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu của giai cấp, Ðảngchính trị đó là tổ chức cao nhất, không những đại biểu cho nguyện vọng, phẩm chất, trí tuệ vàlợi ích của toàn thể GCCN mà còn là của toàn thể nhân dân lao động và dân tộc
* Những khó khăn:
- Sự điều chỉnh quan hệ sản xuất của CNTB: Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản,
C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: "Giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vôsản, giai cấp công nhân hiện đại - tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm đượcviệc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng thêm tư bản - cũng pháttriển theo Những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiểm ăn từng bữa một, là một hànghóa, tức là một món hàng đem bán như bất cứ món hàng nào khác; vì thế, học phải chịu hếtmọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường với mức độ như nhau"
Ngày nay, với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ 4.0, giai cấpcông nhân hiện đại đã có một số sự thay đổi nhất định so với trước đây
Tuy nhiên, giai cấp công nhân về cơ bản vẫn không có tư liệu sản xuất, vẫn phải bán sức laođộng cho các nhà tư bản,
- CNH, HĐH ở các nước phát triển theo định hướng XHCN chưa hoàn thành Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn về CNXH chưa được làm rõ.
- Thiếu một tổ chức quốc tế tập hợp lực lượng cách mạng.
- Sự chống phá của chính quyền tư sản và các thế lực thù địch: chúng luôn muốn xóa nhòa
ranh giới mọi giai cấp, tầng lớp, phủ nhận cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc đangdiễn ra đầy khó khăn, phức tạp hiện nay; xuyên tạc bản chất, nguồn gốc giai cấp của Đảng,phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và vai trò lãnh đạo Đảng Cộng sản đối với
sự nghiệp cách mạng
2 Liên hệ thực tiễn với giai cấp công nhân Việt Nam
a Thực tiễn giai cấp công nhân VN hiện nay
Cùng với sự nghiệp đổi mới và quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước giai cấp công nhânnước ta đã có bước chuyển biến quan trọng tăng nhanh về số lượng , đa dạng về cơ cấu, chấtlượng được nâng lên đã hình thành ngày càng đông đảo công nhân trí thức, đang tiếp tục pháthuy vai trò là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng cộng sản ViệtNam Tuy vậy, sự phát triển của giai cấp công nhân chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về
số lượng, cơ cấu, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật nghề nghiệp của sự nghiệp HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế Địa vị chính trị của giai cấp công nhân còn chưa thể hiệnđầy đủ Đối với vai trò lãnh đạo đất nước đi lên CNXH đang có mâu thuẫn trong yêu cầu tiền
Trang 23CNH-phong đi đầu với những bất cấp về trình độ văn hóa, tay nghề và giác ngộ chính trị của một bộphận lớn của công nhân nước ta.
Đối với vai trò đi đầu trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức
và hội nhập kinh tế quốc tế của giai cấp công nhân nước ta cũng còn nhiều bất cập, hạn chế.Năng lực làm chủ khoa học công nghệ của công nhân , năng lục lãnh đạo tổ chức, quản lý vàkinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chưahoàn thiện Đối vơi vai trò hạt nhân của khối kiên minh công - nông - trí thức và đại đoàn kếttoàn dân tộc, giai cấp công nhân nước ta cũng còn nhiều bất cập trước hai lực cản lớn là mặttrái cơ chế thị trường và năng lực tố chức quản lý cúa bản thân
* Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa X đã khái quát:
Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông
qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuấttiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầutrong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân vớigiai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng
Trong điều kiện hiện nay, các nội dung thực hiện sứ mệnh lịch sử trên được cụ thể hóa như
sau: Về nội dung kinh tế, Đại hội XII khẳng định:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, trithức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu; huy động và phân bổ có hiệuquả mọi nguồn lực phát triển
Về nội dung chính trị - xã hội, để tiếp tục hoàn thành sứ mệnh là giai cấp lãnh đạo cách mạng
thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản, là giai cấp tiên phong trong xây dựng chủ nghĩa
xã hội và là lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp, đại đoàn kết toàn dân tộc
- Một là, chiến lược xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết chặt chẽ với chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng vừa tạo ra điều kiện phát triển mới, vừa tạonhiều áp lực cạnh tranh và tác động trực tiếp đến việc làm và đời sống của công nhân Theo
đó, cần phải xử lý đúng đắn các mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ vàcông bằng xã hội; chăm lo xây dựng giai cấp công nhân;
- Hai là, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam nâng cao cả về số lượng, chất lượng, bản lĩnh
chính trị vững vàng, được trí tuệ hóa và thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, hội nhập quốc
tế Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, không ngừng “trí thức hoá”giai cấp công nhân là nhiệm vụ chiến lược
- Ba là, xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của
toàn xã hội và sự nỗ lực vươn lên của mỗi người công nhân Sự lãnh đạo của Đảng và quản lýcủa Nhà nước có vai trò quyết định, công đoàn có vai trò quan trọng trực tiếp trong chăm loxây dựng giai cấp công nhân Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân;
- Bốn là, phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc, kế thừa những giá trị nhân loại làm cho
hệ giá trị, lối sống và tác phong của giai cấp công nhân trở thành hệ giá trị chủ đạo của xã hộiViệt Nam… là những nhiệm vụ cơ bản trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa tinh thầncủa xã hội mới
- Năm là, xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn liền với xây dựng Đảng cộng sản
Việt Nam trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức Giữ vững, tăng cường tínhchất giai cấp công nhân của Đảng, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, nâng cao tínhchiến đấu của Đảng; không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng, phẩm chất cộng sản… để
Trang 24Đảng đảm bảo quyền lãnh đạo và uy tín chính trị trong quá trình lãnh đạo thực hiện sứ mệnhlịch sử của giai cấp công nhân
- Bổ sung, sửa đổi xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật đẻ đảm bảoquyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần chocông nhân
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của tổ chức công đoàn và các tỏ chức chính trị – xã hội khác trong xây dựng giai cấp công nhân
Câu 9: Phân tích nội dung và hình thức thực hiện chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân Ý nghĩa thực tiễn của vấn đề hiện nay.
Trả lời:
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin:
Giai cấp công nhân hiện đại là sản phẩm và là chủ thể của quá trình công nghiệp hóa Họ gắnliền với quá trình sản xuất vật chất hiện đại, là đại biểu cho phương thức sản xuất mang tính
xã hội hóa ngày càng cao Trong chủ nghĩa tư bản, họ là người làm thuê do không có tư liệusản xuất, buộc phải bán sức lao động để sống và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; vìvậy lợi ích cơ bản của họ đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản Giai cấp công nhânmang tính tổ chức, ý thức kỷ luật, tính kiên định và triệt để cách mạng, vừa mang bản chấtquốc tế vừa mang đặc điểm dân tộc Đó là giai cấp có sứ mệnh phủ định chế độ tư bản chủnghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới
Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, hay còn gọi là chủ nghĩa quốc tế vô sản, là tìnhđoàn kết quốc tế; sự thống nhất về nhận thức, lập trường và hành động của giai cấp công nhântoàn thế giới trong cuộc đấu tranh cách mạng vì những mục tiêu cao cả của thời đại là hòabình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; sự tôn trọng cương lĩnh, đường lối, chiếnlược của mỗi đảng cộng sản và công nhân; trách nhiệm của mỗi đảng đó đối với công nhân,nhân dân lao động nước mình và công nhân, lao động các nước khác trên thế giới
Nội dung chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân
Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân đã được thực tiễn kiểm nghiệm là nguyên tắc hoạtđộng quan trọng, đặc trưng nhất của những lực lượng cộng sản chân chính; là nguyên lýxuyên suốt lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội khoa học Trong di sản kinh điển của chủnghĩa Mác - Lênin và trên thực tế, chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân có những nộidung chủ yếu sau đây:
Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân là ý thức về sự thống nhất lợi ích giai cấp của những người cộng sản trên toàn thế giới
C.Mác chỉ ra rằng chính nền đại công nghiệp và phương thức bóc lột giá trị thặng dư tư bảnchủ nghĩa là nguyên nhân khách quan của thuộc tính này: “Điều kiện tồn tại của sự tư bản làlao động làm thuê Lao động làm thuê hoàn toàn dựa vào sự cạnh tranh giữa công nhân vớinhau Sự tiến bộ của công nghiệp - mà giai cấp tư sản là người đại diện mặc nhiên của nó vàkhông đủ sức chống lại nó - đem sự đoàn kết cách mạng của công nhân…” Sự thống nhất đótạo ra tiền đề cho mối quan hệ bình đẳng về lợi ích, tinh thần trách nhiệm với sự nghiệp chung củagiai cấp công nhân ở các quốc gia dân tộc
Trang 25Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân là sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong giai cấp công nhân.
Sự thống nhất về tư tưởng và hành động được xây dựng từ sự đồng cảm của những ngườicùng bị tư bản bóc lột, từ sự phát triển trí tuệ, từ cuộc đấu tranh tư tưởng, từ sự giáo dục củacác tổ chức chính trị của giai cấp công nhân V.I.Lênin đã chỉ rõ: Muốn cách mạng xã hội chủnghĩa thành công thì phải giáo dục công nhân tinh thần bình đẳng và hữu nghị dân tộc đầy đủnhất Đối lập với xã hội cũ cùng với sự bần cùng về kinh tế và sự điên rồ về chính trị của nó,đang xuất hiện một xã hội mới mà nguyên tắc quốc tế phải là hòa bình, bởi vì cùng mộtnguyên tắc giống nhau ngự trị ở tất cả các dân tộc lao động
Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân là sự thống nhất về mục tiêu đấu tranh để giai cấp công nhân trở thành đại biểu cho lợi ích toàn dân tộc và nhân loại.
Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, V.I.Lênin đã phát hiện ra sự gắn bó về lợi ích sống còngiữa giai cấp công nhân và các dân tộc, từ đó Người đã phát triển khẩu hiệu hành động thành:
Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại! Đối lập với thế giới cũ, cái thế giớicủa áp bức dân tộc, của sự phân tranh dân tộc hoặc của sự tách biệt giữa các dân tộc, côngnhân đưa ra một thế giới mới, một thế giới trong đó những người lao động thuộc mọi dân tộcđoàn kết với nhau, trong đó không có chỗ cho bất cứ một đặc quyền đặc lợi nào, cũng nhưkhông có chỗ cho bất cứ một sự áp bức nhỏ nào giữa người với người
Những hình thức thực hiện chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh cách mạng trên thế giới
Các tổ chức quốc tế của giai cấp công nhân
Hội Liên hiệp công nhân quốc tế (Quốc tế I) được thành lập ngày 28 tháng 9 năm 1864 tại
Luân đôn (Anh) Là một tổ chức bao gồm những đại biểu công nhân thuộc nhiều trào lưu tưtưởng khác nhau, có mục đích rõ rệt là “đoàn kết tất cả các lực lượng chiến đấu của giai cấp
vô sản châu Âu và châu Mỹ… Với hơn 10 năm hoạt động, Hội Liên hiệp công nhân quốc tế
đã tiến hành thắng lợi việc truyền bá chủ nghĩa cộng sản khoa học vào phong trào công nhân,đấu tranh cho sự thống nhất giai cấp công nhân về tư tưởng và tổ chức trên phạm vi quốc tế.Sau này, lãnh tụ V.I.Lênin đánh giá: “Quốc tế I không thể bị lãng quên được, nó sống mãitrong lịch sử đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm tự giải phóng Nó đã xây nền đắp móngcho lâu đài cộng hòa xã hội chủ nghĩa thế giới mà ngày nay chúng ta đang được vinh hạnhxây dựng”
Quốc tế Xã hội chủ nghĩa (Quốc tế II) được thành lập trong Đại hội quốc tế của công nhân, tổ
chức tại Pari (Pháp) ngày 14 tháng 7 năm 1889 với sự tham dự của gần 400 đại biểu đến từhơn 20 quốc gia châu Âu, châu Mỹ Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ph.Ăngghen, Đại hội khẳngđịnh: chủ nghĩa cộng sản khoa học là nền tảng tư tưởng của phong trào công nhân xã hội chủnghĩa; sự nghiệp giải phóng lao động chỉ có thể do giai cấp vô sản toàn thế giới lãnh đạo; giaicấp vô sản phải giành lấy chính quyền để thực hiện tước đoạt tư bản và biến tư liệu sản xuấtthành tài sản xã hội; Dưới sự chống phá của các lực lượng cơ hội, đặc biệt là từ khiPh.Ăngghen mất (1895), Quốc tế II bị phân hóa, phân rã, phân liệt nặng nề và cuối cùng bịphá sản trước ngưỡng cửa của Chiến tranh thế giới lần thứ I Tuy nhiên, Quốc tế II có đónggóp rất quan trọng vào cuộc đấu tranh tư tưởng, bảo vệ, bổ sung, phát triển và truyền bá chủnghĩa Mác, đánh dấu thời kỳ chuẩn bị cơ sở để phong trào công nhân xã hội chủ nghĩa lanrộng trong quần chúng ở nhiều nước, như V.I.Lênin nhận định
Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) ra đời tại Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản, tổ chức từ ngày
2 đến ngày 6 tháng 3 năm 1919 tại Thủ đô Mátxcơva (Nga) dưới sự chủ trì của lãnh tụV.I.Lênin với sự tham dự của 51 đại biểu đến từ 30 nước châu Âu, châu Mỹ, châu Á Đại hội
đã thông qua Cương lĩnh trình bày những nguyên lý quan trọng nhất của chủ nghĩa Lênin vềchủ nghĩa đế quốc và lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa; Trong những năm đầu của chiếntranh thế giới II, Quốc tế Cộng sản đã đề ra những nguyên tắc chiến lược, sách lược đấu tranhchống phát xít và chiến tranh cho các lực lượng cộng sản, cách mạng trên thế giới và phong
Trang 26trào giải phóng dân tộc Trước bối cảnh ngặt nghèo của chiến tranh, ngày 15 tháng 5 năm
1943, Ban Chấp hành đã ra nghị quyết giải tán Quốc tế Cộng sản, chấm dứt 24 năm hoạtđộng
Tất cả công lao to lớn của Quốc tế Cộng sản là nhằm thực hiện chuyên chính vô sản Nếu nhưQuốc tế I đã đặt nền tảng cho cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản có tính chất quốc tế để thựchiện chủ nghĩa xã hội; Quốc tế II đã đánh dấu thời kỳ chuẩn bị cơ sở làm cho phong trào vôsản phát triển rộng rãi ở nhiều nước, thì Quốc tế Cộng sản đã kế thừa tất cả những thành quả
đó, gạt bỏ mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, bắt đầu thực hiện chuyên chính vô sản với tínhcách nhà nước của công - nông và nhân dân lao động
Các Hội nghị quốc tế của các đảng cộng sản và công nhân
Sau chiến tranh thế giới II, các thế lực đế quốc ra sức phản kích phong trào cộng sản, côngnhân và phong trào cách mạng thế giới Trước tình hình đó, cuối tháng 9 năm 1947, đại diệncác đảng cộng sản Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungari, Hungari, Rumani, Nam Tư, Pháp,
Italia đã họp tại thủ đô Vácxava (Ba Lan), quyết định thành lập Cục Thông tin quốc tế nhằm
tăng cường sự tiếp xúc, củng cố sự thống nhất giữa các đảng cộng sản, công nhân về chiếnlược, sách lược hoạt động trong tình hình mới Với sự tham gia của 9 đảng cộng sản, côngnhân, Cục Thông tin quốc tế chỉ là một hình thức tổ chức phối hợp tự nguyện, không đặt ranhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo phong trào chung Tháng 4 năm 1956, Cục Thông tin quốc tếchấm dứt hoạt động, nhường chỗ cho những hình thức tổ chức rộng lớn hơn
Tháng 11 năm 1957, đại diện của 12 đảng cộng sản, công nhân tổ chức Hội nghị đại biểu các
đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế tại Mátxcơva Hội nghị ra Tuyên bố chung phân tích
nội dung cơ bản của thời đại hiện nay là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội;nêu lên những nguyên tắc quan hệ giữa các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa - đó là chủnghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa; vạch ra một số quy luật chung bắt buộc đối với các nước tiếnlên chủ nghĩa xã hội; nhấn mạnh nhiệm vụ giáo dục chủ nghĩa quốc tế vô sản, ngăn chặn chủnghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa sô vanh nước lớn… Bản Tuyên bố này được đông đảo cácđội ngũ cộng sản, công nhân xem là văn bản chỉ đạo có tính chất cương lĩnh chung
Những bước phát triển mạnh mẽ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới từ cuối thập kỷ 50chứng minh tính đúng đắn của những luận điểm được nêu trong Tuyên bố của Hội nghị năm1957; đồng thời, đặt ra nhu cầu phát triển kịp thời nội dung của những luận điểm đó nhằmthống nhất lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh cách mạng trên phạm vi thế giới
Sau khi dự Lễ kỷ niệm 43 năm Cách mạng tháng Mười Nga (1917-1960), tại thủ đô
Mátxcơva, các đại biểu đã tổ chức Hội nghị 81 đảng Cộng sản, Công nhân Đây là hội nghị
quốc tế lớn nhất giữa các lực lượng cộng sản, công nhân; đã thông qua Tuyên bố chung vàLời kêu gọi nhân dân toàn thế giới Các văn kiện này nêu lên một cách toàn diện nội dung vàtính chất của thời đại ngày nay; trình bày quan điểm về các vấn đề nóng hổi nhất như: chiếntranh, hòa bình, cùng tồn tại hòa bình; đã tổng kết những kinh nghiệm cơ bản của cách mạng
xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó nhấn mạnh phải kết hợpđúng đắn những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng xã hội chủnghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội với những đặc điểm dân tộc, phải kết hợp chặt chẽ lợi íchcủa dân tộc mình với lợi ích của toàn hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới…
Sau Hội nghị năm 1960, hoạt động lý luận và thực tiễn của các đảng cộng sản, công nhânđược tăng cường triển khai: vừa tổng kết phong trào cách mạng, vạch ra những vấn đề lý luận
cơ bản, cấp bách và xây dựng đường lối, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội Mặt khác, cáctrào lưu tư tưởng cơ hội hữu khuynh, xét lại hiện đại cũng lan rộng trong nội bộ đội ngũ cộngsản thế giới, đe dọa khối đoàn kết thống nhất của toàn bộ phong trào Nghiêm trọng hơn, đó làmối bất đồng giữa một số nước xã hội chủ nghĩa, nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc trêncác phương diện tư tưởng, lý luận, đường lối, chiến lược cách mạng
Tháng 3 năm 1965, tại Mátxcơva diễn ra cuộc họp hiệp thương giữa 19 Đảng Cộng sản, Côngnhân thống nhất nhu cầu triệu tập một hội nghị quốc tế rộng lớn để khắc phục bất đồng, củng
Trang 27cố sự thống nhất của phong trào cộng sản, phong trào cách mạng thế giới Tháng 3 năm 1968,tại Buđapét (Hungary) đã diễn ra cuộc gặp hiệp thương giữa 67 Đảng cộng sản, công nhânthông qua nghị quyết triệu tập Hội nghị quốc tế các Đảng cộng sản và công nhân.
Từ ngày 5 đến ngày 17 tháng 6 năm 1969, Hội nghị quốc tế 75 đảng Cộng sản và Công nhân
đã được tổ chức tại Mátxcơva Hội nghị đã thông qua văn kiện “Nhiệm vụ đấu tranh chốngchủ nghĩa đế quốc trong giai đoạn hiện nay và sự thống nhất hành động của các đảng cộng sản
và công nhân, của tất cả các lực lượng chống đế quốc” Hội nghị cho rằng khối đoàn kết củacác đảng cộng sản, công nhân là nhân tố quan trọng nhất để thống nhất tất cả các lực lượngchống đế quốc
Sau Hội nghị năm 1969, các lực lượng cộng sản trên thế giới đã tăng cường gặp gỡ, trao đổikinh nghiệm, phối hợp hành động Các hội nghị đại biểu các đảng cộng sản, công nhân cácnước Ả rập, các nước châu Phi, các nước Mỹ La tinh, các nước Bắc Âu, các nước châu Âu…liên tiếp được tổ chức, góp phần củng cố phong trào cộng sản quốc tế như một thực thể hoạtđộng thống nhất
Nhiệm vụ cách mạng hiện nay:
Trong bối cảnh của thế giới ngày nay và đứng trước nhiệm vụ mới của sự nghiệp cách mạng,những mối quan hệ vì lợi ích giai cấp giữa các lực lượng cộng sản cần phải được cấu trúc lạimột cách phù hợp, khả thi cả về nội dung và hình thức thực hiện:
Trước hết, phải tăng cường giáo dục chủ nghĩa quốc tế vô sản, chủ nghĩa quốc tế của giai cấp
công nhân cho đảng viên và quần chúng cách mạng ở mỗi nước, nhất là cán bộ đảng viênđang giữ trọng trách lãnh đạo, quản lý
Hai là, phải tăng cường thông tin, tuyên truyền tình hình đội ngũ cộng sản ở các nước và trên
toàn thế giới để các lực lượng cộng sản hiểu biết lẫn nhau kịp thời, đầy đủ, đúng đắn trước cácchiến dịch thông tin xuyên tạc của các thế lực thù địch
Ba là, trong quá trình xây dựng cương lĩnh, đường lối, chính sách và trong hoạt động thực
tiễn của mình, mỗi lực lượng cộng sản phải đảm bảo tôn trọng lợi ích của toàn bộ giai cấpcông nhân và nhân dân lao động thế giới, phòng tránh các xu hướng cục bộ hẹp hòi, tuyệt đốihóa lợi ích riêng của giai cấp công nhân nước mình
Bốn là, ủng hộ và bảo vệ chủ nghĩa xã hội cần trở thành nhiệm vụ chung quy tụ, tập hợp, gắn
kết và đoàn kết, thống nhất của các lực lượng cộng sản toàn thế giới
Năm là, cần xây dựng cơ chế, thiết chế và diễn đàn, tổ chức quốc tế phù hợp của các lực
lượng cộng sản trên thế giới hiện nay
Câu 10: Phân tích chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong bối cảnh mới Liên
hệ với công cuộc XD và bảo vệ tổ quốc VN XHCN hiện nay.
Trả lời:
1 Phân tích chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong bối cảnh mới.
Giai cấp công nhân hiện đã có nhiều biến đổi so với thế kỷ XIX, như nguồn gốc xuất thân từ
đô thị, cơ cấu giai cấp đa dạng Thực tế cũng làm nảy sinh yêu cầu nhận thức mới về vấn đề
sở hữu tư nhân và chế độ người bóc lột người; về chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân
và chủ nghĩa dân tộc…
Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, hay còn gọi là chủ nghĩa quốc tế vô sản, làtình đoàn kết quốc tế; sự thống nhất về nhận thức, lập trường và hành động của giai cấp côngnhân toàn thế giới trong cuộc đấu tranh cách mạng vì những mục tiêu cao cả của thời đại làhòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; sự tôn trọng cương lĩnh, đường lối,chiến lược của mỗi đảng cộng sản và công nhân; trách nhiệm của mỗi đảng đó đối với côngnhân, nhân dân lao động nước mình và công nhân, lao động các nước khác trên thế giới
Trang 28CN quốc tế của giai cấp công nhân đã được thực tiễn kiểm nghiệm là nguyên tắc hoạt đọngquan trọng, đặc trưng nhất của những lực lượng cộng sản chân chính; là nguyên lý xuyên suốt
lý luận và thực tiễn của CN xã hộ khoa học
Nhiều quan niệm cho rằng, chủ nghĩa Mác chỉ có thể được bảo tồn và làm giàu mộtcách sáng tạo trong thời đại ngày nay trên cơ sở những thành tựu mới của cách mạng khoahọc kỹ thuật hiện đại và đánh giá đúng những thay đổi lớn của thế giới Những nhận định vềgiai cấp công nhân (GCCN), đảng cộng sản, những đặc trưng, điều kiện hình thành xã hộiXHCN và xã hội CSCN của Mác đặt trong bối cảnh hiện nay đã có nhiều điểm không cònphù hợp, cần bổ sung, phát triển Quan niệm này đã hàm ý biện luận cho những tư tưởng củaC.Mác về tương lai nhưng lại được tư duy bằng vật liệu đương thời và nó thuộc về tính tươngđối của chân lý Vì vậy, việc nhận thức từ thực tiễn để nghiên cứu và thấy được những biểuhiện mới về chủ nghĩa quốc tế của GCCN trong gian đoạn hiện nay nó có ý nghĩa vô cùngquan trọng
Nguồn gốc xuất thân của GCCN hiện nay
Giai cấp công nhân thời Mác là giai cấp lao động, làm thuê, bị bóc lột và xuất thân chủ yếu từnông dân, nông thôn Nhưng khoảng giữa thế kỷ XX trở lại đây, xu thế đô thị hóa và đôngđảo cư dân đô thị đã bổ sung một lượng lớn vào nguồn nhân lực của GCCN khiến cho quátrình đô thị hóa trên thế giới có sự khác biệt so với những thế kỷ trước Cơ cấu xuất thân củacông nhân đa dạng hơn: công nhân truyền thống, trí thức - công chức, tiểu thương, dịch vụ Xét về cơ cấu xã hội, các nhà nghiên cứu đều thấy sự tăng lên của những nhóm lao động dịch
vụ mới Họ là những người kết hợp cả lao động chân tay và lao động trí óc Ở các quốc giaphát triển đã xuất hiện cơ cấu xã hội mới với vai trò mới của trí thức, công nhân tri thức Bởivậy, ở nhiều nước phát triển hiện nay, liên minh giữa GCCN với giai cấp nông dân đã khôngcòn cơ sở xã hội như thế kỷ XIX và thay vào đó là liên minh giữa những người lao động màchủ yếu là hai nhóm ngành lao động đông đảo ở đô thị là sản xuất công nghiệp và dịch vụbằng phương thức công nghiệp
Phân hóa sâu sắc của xã hội đô thị khiến các điểm nóng xã hội, xung đột chính trị xuất hiệnthường xuyên hơn Theo đó, trong cuộc đấu tranh vì tiến bộ xã hội hiện nay, sát cánh cùnggiai cấp công nhân là các tầng lớp cư dân đô thị và các nhóm lao động dịch vụ Trong quátrình thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, GCCN không thể không quan tâm tới lực lượng xãhội to lớn này
Cơ cấu giai cấp hiện nay
Trình độ mới của sản xuất và dịch vụ cùng cách tổ chức xã hội hiện đại đã làm cơ cấu củaGCCN hiện đại đa dạng tới mức nội hàm của nó liên tục phải điều chỉnh, mở rộng theo nhiềuhướng như: theo lĩnh vực (công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ); theo trình độ công nghệ(công nhân áo xanh tức công nhân công nghiệp truyền thống; công nhân áo trắng tức côngnhân có trình độ đại học, cao đẳng chủ yếu làm công việc điều hành, quản lý sản xuất; côngnhân áo vàng tức công nhân của các ngành công nghệ mới, công nhân áo tím tức công nhândịch vụ - lao động đơn giản như gác cầu thang, vệ sinh đô thị ); theo sở hữu tư liệu sản xuất(công nhân có cổ phầnvà công nhân không có cổ phần); theo chế độ chính trị (công nhân ởcác nước phát triển theo định hướng XHCN, ở các nước G7, ở các nước đang phát triển) v.v
Vì vậy, đã có rất nhiều khái niệm về giai cấp lao động và có nhiều điểm khác nhau về nộihàm Sự mở rộng nội hàm đã khiến khái niệm GCCN với các đặc điểm lao động và bị bóc lộtsức lao động (được dùng từ thời Mác) là còn phù hợp trong thực tiễn hiện nay Các tiêu chí,phẩm chất khác như: gắn liền với máy móc công nghiệp, lao động mang tính xã hội hóa, cótính tổ chức, kỷ luật và triệt để cách mạng, có tinh thần quốc tế và bản sắc dân tộc trongthực tiễn là tương đối khó nhận diện
Việc mở rộng nội hàm khái niệm dẫn đến nhiều vấn đề trong việc phân định các thành phầntrong cơ cấu GCCN còn nhiều điểm chưa thống nhất: (1)Trí thức là người lao động, song cóthực sự nên coi họ là bộ phận của GCCN hiện nay hay không? Thí dụ Trung Quốc đã ghép bộ
Trang 29phận trí thức vào GCCN Song khái niệm GCCN hiện đại cũng thật khó bao chứa nhữngnhóm lao động này, nếu không muốn nói tới nguy cơ là làm tan loãng, xóa nhòa GCCN; (2)Một giai cấp có nhiều nhóm, đội ngũ, tầng lớp với các bộ phận có trình độ giác ngộ khác nhauthì sự thống nhất, đoàn kết về ý chí và tổ chức sẽ diễn ra như thế nào? Đã có tình trạng ngườilao động công nghiệp cũng không tự coi mình là GCCN! Họ coi mình là “giai cấp trung lưu”,vừa làm thuê lại vừa “hữu sản” thông qua chế độ cổ phần
Những vấn đề khách quan trên đặt ra nhu cầu bổ sung nhận thức mới về GCCN - giai cấpluôn phát triển cùng với sự phát triển của công nghiệp và cách mạng khoa học và công nghệ
Những quan niệm mới về sở hữu tư nhân và chế độ người bóc lột người
Mác nghiên cứu sở hữu tư nhân TBCN rất sâu sắc và đưa ra những dự báo về sự chấm dứt vaitrò lịch sử của nó, do không còn phù hợp với tính chất xã hội của lực lượng sản xuất và tínhchất bất công, phi nhân tính của bóc lột
Tổng kết nghiên cứu lý luận và thực tiễn của Việt Nam và nhiều nước khác (trên cơ sở lý luậncủa Mác và thực tiễn đổi mới cải cách) thừa nhận tính tất yếu, sự tồn tại lâu dài của sở hữu tưnhân cùng khả năng liên kết với các hình thức sở hữu khác và đóng góp của nó trong quá trìnhxây dựng CNXH Ở nhiều nơi đã có tính đột phá, thể hiện trong việc khuyến khích sự pháttriển kinh tế tư nhân trong các lĩnh vực ngành nghề mà nhà nước không cấm Vấn đề bóc lộtsức lao động đã được nhìn nhận biện chứng hơn Hiện nay người lao động khi tham gia vàoquá trình sản xuất đã có thêm nhiều lợi ích chứ không đơn thuần chỉ bị bóc lột sức lao độngnhư thời Mác sống Với những công nhân (như ởViệt Nam) xuất thân từ nông dân, họ có nghềnghiệp, kỹ năng lao động mới, thu nhập tăng hơn, được tiếp cận môi trường lao động hiện đạivới phương thức lao động và quản lý mới Người sử dụng lao động cũng phải chia sẻ bíquyết công nghệ, thị trường, kinh nghiệm quản lý, chấp nhận sự nguy hiểm của đồng vốn khiđầu tư v.v chứ không chỉ quan tâm đến lợi nhuận Nguyên tắc hai bên, các bên cùng có lợi làmột yêu cầu khách quan và đã diễn ra trên thực tế Nhà nước thu được thuế, tiếp cận với côngnghệ mới, kinh tế thị trường và sản xuất hàng hóa hiện đại, qua đó mà phát triển sản xuất và
“làm bạn, là đối tác” và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế thế giới
Tuy nhiên, vai trò của giai cấp tư sản trong quản lý sản xuất và quản lý xã hội thì rõ ràng ởthời Mác và Ăngghen không thể có được luận cứ thực tiễn đầy đủ như hiện nay Tuy đó lànhững yếu tố thuộc về quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng, song thực tiễn hiện đại xácđịnh rằng, nó cũng góp phần hỗ trợ cho quá trình phát triển sản xuất và văn minh nhân loại và
là nhân tố hợp lý cần được GCCN kế thừa (ở những mặt như kinh nghiệm tổ chức, quản lýsản xuất, kinh nghiệm sử dụng động lực lợi ích vật chất ) trong thời kỳ quá độ lên CNXH.Như vậy, trong quá trình phát triển của nhân loại, để xóa bỏ sở hữu tư nhân thì bên cạnh pháttriển lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, làm cho “nhà nước trở thànhnửa nhà nước” thì vai trò quản lý sản xuất và quản lý nhà nước cần được coi là nhân tố trựctiếp để hạn chế và xóa bỏ tận gốc tình trạng này
Chính vì những thay đổi về thực tiễn nói trên đối với giai cấp công nhân hiện nay mà những biểu hiện về CNQT của GCCN cũng đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là sự thay đổi về mối quan hệ giữa CNQT của GCCN và chủ nghĩa dân tộc
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác và Ăngghen quan niệm rằng, “Nhữngngười cộng sản chỉ khác với các đảng vô sản khác là trong các cuộc đấu tranh của nhữngngười vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích khôngphụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản ”.Quan điểm này vẫn chưa đượcchứng minh thông qua thực tiễn cách mạng XHCN ở thế kỷ XX và đặc biệt là trong điều kiệnphức tạp của chính trị thế giới hiện nay
Chủ nghĩa quốc tế của GCCN đóng vai trò tích cực trong cách mạng giải phóng dân tộc, cáchmạng XHCN và vai trò này đang tiếp tục phát huy trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.Nhưng thực tế cách mạng giải phóng dân tộc trước đây và toàn cầu hóa hiện nay còn chỉ rarằng “chủ nghĩa dân tộc còn là một động lực lớn” cho sự nghiệp giải phóng Như vậy, một
Trang 30vấn đề có tính quy luật là: Tất cả các đảng cộng sản cầm quyền và các đảng đang đấu tranh đểcầm quyền đều cần có tính dân tộc (không phải ở mức độ là “hình thức của cuộc đấu tranhgiai cấp” mà cần được coi là bản chất của đảng) Nhiệm vụ chính trị hàng đầu của đảng làphải giải quyết hài hòa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc.
Mác nêu nguyên tắc: “Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp vô sản không chỉ thể hiện bằng tinhthần, lời nói, “tình hữu nghị” suông mà phải có “chức năng quốc tế”, phải có sự phối hợphành động thực tế” Nhưng Mác lại không có điều kiện thực tế để chiêm nghiệm chủ nghĩaquốc tế trong bối cảnh chính trị phức tạp hiện nay, khi mà chủ nghĩa quốc tế không hài hòavới lợi ích quốc gia Và hiển nhiên cùng với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân nhưvậy sẽ xuất hiện “những hình thức tập hợp lực lượng mới” Hiện thực này không có trongkinh điển Mác - Lênin nhưng lại tồn tại trong thực tiễn đương thời Do đó cần có những bổsung nhận thức về chủ nghĩa quốc tế hiện nay nhằm xử lý hài hòa mối quan hệ giữa chủ nghĩaquốc tế và lợi ích quốc gia, dân tộc
Với những đặc điểm tình hình hiện nay đã có nhiều thay đổi do đó nhiệm vụ cách mạng của GCVS hiện nay cần phải:
Trước hết, phải tăng cường giáo dục chủ nghĩa quốc tế vô sản, chủ nghĩa quốc tế của giai cấp
công nhân cho đảng viên và quần chúng cách mạng ở mỗi nước, nhất là cán bộ đảng viênđang giữ trọng trách lãnh đạo, quản lý
Hai là, phải tăng cường thông tin, tuyên truyền tình hình đội ngũ cộng sản ở các nước và trên
toàn thế giới để các lực lượng cộng sản hiểu biết lẫn nhau kịp thời, đầy đủ, đúng đắn trước cácchiến dịch thông tin xuyên tạc của các thế lực thù địch
Ba là, trong quá trình xây dựng cương lĩnh, đường lối, chính sách và trong hoạt động thực
tiễn của mình, mỗi lực lượng cộng sản phải đảm bảo tôn trọng lợi ích của toàn bộ giai cấpcông nhân và nhân dân lao động thế giới, phòng tránh các xu hướng cục bộ hẹp hòi, tuyệt đốihóa lợi ích riêng của giai cấp công nhân nước mình
Bốn là, ủng hộ và bảo vệ chủ nghĩa xã hội cần trở thành nhiệm vụ chung quy tụ, tập hợp, gắn
kết và đoàn kết, thống nhất của các lực lượng cộng sản toàn thế giới
Năm là, cần xây dựng cơ chế, thiết chế và diễn đàn, tổ chức quốc tế phù hợp của các lực
lượng cộng sản trên thế giới hiện nay
2 Liên hệ với công cuộc XD và bảo vệ tổ quốc VN XHCN hiện nay.
Từ năm 1930 đến nay, Đảng và nhân dân Việt Nam kiên định giương cao ngọn cờ độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội Thực tiễn cách mạng gần 90 năm qua đã làm sáng tỏ nhiều bài họckinh nghiệm quý báu, trong đó có bài học kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế;kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Thắng lợi mang tầm vóc thời đại của quân
và dân Việt Nam trước các thế lực thực dân, đế quốc, phản động đầu sỏ; quá trình xây dựngchế độ xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới… đều gắn liền với sức mạnh của những dòngthác cách mạng, với những thành tựu sáng tạo về lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hộitrên thế giới, cũng như với sự ủng hộ của phong trào cộng sản quốc tế và sự đoàn kết của bạn
bè năm châu Gắn cách mạng nước nhà thành một bộ phận của cách mạng thế giới, đây chính
là cống hiến mở đường của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công
sự bế tắc về đường lối chiến lược và đây đã, đang, tiếp tục là quy luật vận động của sự nghiệpcách mạng Việt Nam Nó đặt ra đòi hỏi phải thực hiện chủ nghĩa quốc tế của giai cấp côngnhân trong mọi hoàn cảnh với nội dung và hình thức đúng đắn, hiệu quả
Trung thành với những vấn đề có tính nguyên tắc, Đảng ta đã khẳng định trong Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011):
“Trước sau như một, ủng hộ các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hộitrong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại; mở rộng quan hệ với các đảngcánh tả, đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vữngđộc lập, tự chủ, vì hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.”
Trang 31Trên thực tế, quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay khắc phục khủng hoảng, vượt qua thửthách lịch sử, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, bổ sung, phát triển lý luận và thực tiễnxây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam xứng đáng được ghi nhận là một đóng góp quý báucho quá trình phục hồi, phát triển chủ nghĩa xã hội trên thế giới Những kinh nghiệm và bàihọc đắt giá của Việt Nam đã được chia sẻ với nhiều đảng cộng sản, công nhân, cánh tả, tiến
bộ trên thế giới Thông qua đó, Đảng và nhân dân Việt Nam đã thực hiện chủ nghĩa quốc tếcủa giai cấp công nhân một cách thiết thực, được bạn bè cộng sản năm châu đánh giá tích cực.Đồng thời, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam thường xuyên dành cho cuộc đấu tranhcủa lực lượng cộng sản, giai cấp công nhân, các lực lượng cánh tả…trên thế giới sự ủng hộchính trị mạnh mẽ, sự phối hợp và giúp đỡ nhiệt tình ngay trong hoàn cảnh đất nước ta vẫncòn nhiều khó khăn, trở ngại
Trong những năm tới, các lực lượng cộng sản, giai cấp công nhân, các lực lượng cánh tả… trên thế giới sẽ phải đối mặt với nhiều thử thách, khó khăn do tình hình nội bộ chưa hứa hẹn nhiều cải thiện và do cục diện thế giới tiếp tục có những biến động bất lợi Mọi sự ủng hộ, phối hợp, giúp đỡ… từ Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam sẽ trở nên cần thiết và quý báugấp bội Đây cũng là đòi hỏi của bản thân sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xãhội chủ nghĩa
Câu 11: Phân tích những hình thức thực hiện chủ nghĩa chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu.
Trả lời:
Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân là sự đoàn kết, thống nhất của giai cấp công nhâncác nước trên thế giới về nhận thức và hành động trong công cuộc đấu tranh chung dưới sựlãnh đạo của Đảng cộng sản để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, xã hội và con người,tiến lên CNXH, chủ nghĩa Cộng sản
Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân đã được thực tiễn kiểm nghiệm là nguyên tắc hoạtđộng quan trọng, đặc trưng nhất của những lực lượng cộng sản chân chính; là nguyên lýxuyên suốt lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội khoa học
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lê Nin, có 4 hình thức thực hiện chủ nghĩa quốc tế củagiai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh cách mạng trên thế giới:
Một là: Các tổ chức quốc tế của giai cấp công nhân
Từ giữa thế kỷ XIX, dưới sự lãnh đạo của các lãnh tụ vô sản, giai cấp công nhân và các lựclượng cách mạng đã áp dụng nhiều hình thức phong phú để thực hiện chủ nghĩa quốc tế phùhợp với điều kiện lịch sử cụ thể Nổi bật nhất, đó là sự ra đời và hoạt động của các tổ chứcquốc tế của giai cấp công nhân: Hội Liên hiệp công nhân quốc tế (Quốc tế I, 1864-1876);Quốc tế Xã hội chủ nghĩa (Quốc tế II, 1989 - 1914) và Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III, 1919-1943)
Hội Liên hiệp công nhân quốc tế (Quốc tế I) được thành lập ngày 28 tháng 9 năm 1864 tại
Luân đôn (Anh) Là một tổ chức bao gồm những đại biểu công nhân thuộc nhiều trào lưu tưtưởng khác nhau, có mục đích rõ rệt là “đoàn kết tất cả các lực lượng chiến đấu của giai cấp
vô sản châu Âu và châu Mỹ Bản tuyên ngôn của Hội, Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, kết thúcbằng khẩu hiệu chiến đấu: “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”
Với hơn 10 năm hoạt động, Hội Liên hiệp công nhân quốc tế đã tiến hành thắng lợi việctruyền bá chủ nghĩa cộng sản khoa học vào phong trào công nhân, đấu tranh cho sự thốngnhất giai cấp công nhân về tư tưởng và tổ chức trên phạm vi quốc tế
Quốc tế Xã hội chủ nghĩa(Quốc tế II) được thành lập trong Đại hội quốc tế của công nhân, tổ
chức tại Pari (Pháp) ngày 14 tháng 7 năm 1889 với sự tham dự của gần 400 đại biểu đến từhơn 20 quốc gia châu Âu, châu Mỹ Quốc tế II có đóng góp rất quan trọng vào cuộc đấu tranh
tư tưởng, bảo vệ, bổ sung, phát triển và truyền bá chủ nghĩa Mác, đánh dấu thời kỳ chuẩn bị
Trang 32cơ sở để phong trào công nhân xã hội chủ nghĩa lan rộng trong quần chúng ở nhiều nước, nhưV.I.Lênin nhận định.
Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) ra đời tại Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản, tổ chức từ ngày
2 đến ngày 6 tháng 3 năm 1919 tại Thủ đô Mátxcơva (Nga) Đại hội đã thông qua Cương lĩnhtrình bày những nguyên lý quan trọng nhất của chủ nghĩa Lênin về chủ nghĩa đế quốc và lýluận cách mạng xã hội chủ nghĩa; đã bầu ra Ban Chấp hành gồm đại biểu của nhiều đảng cộngsản; thật sự trở thành trung tâm lãnh đạo phong trào cộng sản và phong trào cách mạng trênthế giới Quốc tế Cộng sản đã kế thừa tất cả những thành quả của Quốc tế I và Quốc tế II, gạt
bỏ mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, bắt đầu thực hiện chuyên chính vô sản với tính cáchnhà nước của công - nông và nhân dân lao động
Hai là: Các hình thức thông tin quốc tế
Sau chiến tranh thế giới II, các thế lực đế quốc ra sức phản kích phong trào cộng sản, công nhân
và phong trào cách mạng thế giới Trước tình hình đó, cuối tháng 9 năm 1947, đại diện cácĐảng cộng sản Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungari, Hungari, Rumani, Nam Tư, Pháp, Italia
đã họp tại thủ đô Vácxava (Ba Lan), quyết định thành lập Cục Thông tin quốc tế nhằm tăng
cường sự tiếp xúc, củng cố sự thống nhất giữa các đảng cộng sản, công nhân về chiến lược,sách lược hoạt động trong tình hình mới Với sự tham gia của 9 đảng cộng sản, công nhân, CụcThông tin quốc tế chỉ là một hình thức tổ chức phối hợp tự nguyện, không đặt ra nhiệm vụ lãnhđạo, chỉ đạo phong trào chung Tháng 4 năm 1956, Cục Thông tin quốc tế chấm dứt hoạt động,nhường chỗ cho những hình thức tổ chức rộng lớn hơn
Theo Nghị quyết của Hội nghị đại biểu các đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế được tổ
chức tháng 11/1957 tại Matxcơva, tháng 9/1958 Tạp chí Những vấn đề của hòa bình và chủ
nghĩa xã hội đã ra số đầu tiên, xuất bản bằng 34 ngôn ngữ, phát hành ở 145 nước trên thế
giới Tạp chí là diễn đàn thông tin, trao đổi kinh nghiệm; công cụ giáo dục lý luận cách mạng;
vũ khí đấu tranh tư tưởng; không gian tập hợp lực lượng, phối hợp hành động, củng cố sựđoàn kết, thống nhất của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế
Ba là: Các Hội nghị quốc tế của các đảng cộng sản và công nhân
Từ giữa thế kỷ XX, xuất hiện hàng loạt vấn đề mới, phức tạp đặt ra cho cuộc đấu tranh vìnhững mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới.Cũng vào thời kỳ đó, nảy sinh nhiều rạn nứt, khủng hoảng về tư tưởng, lý luận, chính trị trongnội bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa.Lợi dụng bối cảnh ấy, chủ nghĩa đế quốc tăng cường côngkích, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội Các lực lượng cơ hội, xét lại cổsúy cho cùng tồn tại hòa bình, tuyệt đối hóa con đường cách mạng phi bạo lực, thủ tiêu đấutranh giai cấp, đấu tranh giữa hai hệ thống
Tháng 11 năm 1957, đại diện của 12 đảng cộng sản, công nhân tổ chức Hội nghị đại biểu các
đảng Cộng sản và Công nhân quốc tếtại Mátxcơva Hội nghị ra Tuyên bố chung phân tích nội
dung cơ bản của thời đại hiện nay là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; nêulên những nguyên tắc quan hệ giữa các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa - đó là chủnghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa; vạch ra một số quy luật chung bắt buộc đối với các nước tiếnlên chủ nghĩa xã hội; nhấn mạnh nhiệm vụ giáo dục chủ nghĩa quốc tế vô sản, ngăn chặn chủnghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa sô vanh nước lớn… Bản Tuyên bố này được đông đảo cácđội ngũ cộng sản, công nhân xem là văn bản chỉ đạo có tính chất cương lĩnh chung
Sau khi dự Lễ kỷ niệm 43 năm Cách mạng tháng Mười Nga (1917-1960), tại thủ đô
Mátxcơva, các đại biểu đã tổ chức Hội nghị 81 đảng Cộng sản, Công nhân Đây là hội nghị
quốc tế lớn nhất giữa các lực lượng cộng sản, công nhân; đã thông qua Tuyên bố chung vàLời kêu gọi nhân dân toàn thế giới Các văn kiện này nêu lên một cách toàn diện nội dung vàtính chất của thời đại ngày nay; trình bày quan điểm về các vấn đề nóng hổi nhất như: chiếntranh, hòa bình, cùng tồn tại hòa bình; đã tổng kết những kinh nghiệm cơ bản của cách mạng
xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó nhấn mạnh phải kết hợpđúng đắn những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng xã hội chủ
Trang 33nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội với những đặc điểm dân tộc, phải kết hợp chặt chẽ lợi íchcủa dân tộc mình với lợi ích của toàn hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới…
Tháng 3 năm 1965, tại Mátxcơva diễn ra cuộc họp hiệp thương giữa 19 Đảng Cộng sản,
Công nhân thống nhất nhu cầu triệu tập một hội nghị quốc tế rộng lớn để khắc phục bất đồng,
củng cố sự thống nhất của phong trào cộng sản, phong trào cách mạng thế giới Tháng 3 năm
1968, tại Buđapét (Hungary) đã diễn ra cuộc gặp hiệp thương giữa 67 Đảng cộng sản, côngnhân thông qua nghị quyết triệu tập Hội nghị quốc tế các Đảng cộng sản và công nhân
Từ ngày 5 đến ngày 17 tháng 6 năm 1969, Hội nghị quốc tế 75 đảng Cộng sản và Công nhân
đã được tổ chức tại Mátxcơva Hội nghị đã thông qua văn kiện “Nhiệm vụ đấu tranh chốngchủ nghĩa đế quốc trong giai đoạn hiện nay và sự thống nhất hành động của các đảng cộng sản
và công nhân, của tất cả các lực lượng chống đế quốc” Văn kiện xác định cuộc đấu tranh giữahai hệ thống xã hội đối lập tùy thuộc vào những thành tựu và sự đoàn kết của hệ thống xã hộichủ nghĩa thế giới Phương hướng chính trong đoàn kết hệ thống xã hội chủ nghĩa là thực hiệntrong cuộc sống những nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa Do vậy, việc bảo
vệ chủ nghĩa xã hội là nghĩa vụ của tất cả các đội ngũ cộng sản trên thế giới
Bốn là, các hình thức trợ giúp, hợp tác quốc tế: Để tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong
phong trào cộng sản quốc tế, bản Tuyên bố chung được thông qua tại Hội nghị 81 Đảng cộngsản, công nhân năm 1960 đã nhấn mạnh phải tiếp tục đấu tranh trên cả hai mặt trận: chốngchủ nghĩa xét lại hiện đại là nguy cơ chủ yếu; đồng thời chống chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩabiệt phái Ngoài ra, cần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các đảng anh em Tất cả cácđảng đều độc lập, bình đẳng, đồng thời có nghĩa vụ ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau, tự nguyệntuân theo những kết luận đã nhất trí thông qua sau khi thảo luận dân chủ trong các hội nghịquốc tế, các đảng anh em phải bảo vệ hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới
Hội nghị quốc tế 75 đảng Cộng sản và Công nhân, năm 1969 cho rằng khối đoàn kết của các
đảng cộng sản, công nhân là nhân tố quan trọng nhất để thống nhất tất cả các lực lượng chống
đế quốc Xuất phát từ điều kiện lịch sử và nhiệm vụ cụ thể khác nhau, mỗi đảng phải tự định
ra chính sách, phương hướng, hình thức và phương pháp đấu tranh cụ thể Cơ sở của mốiquan hệ giữa các đảng anh em là những nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản, đoàn kết vàủng hộ lẫn nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền và bình đẳng, không can thiệp vào công việcnội bộ của nhau Việc kết hợp đúng đắn lợi ích dân tộc và lợi ích quốc tế có ý nghĩa hàng đầu
để mỗi đảng có thể làm tròn trách nhiệm của mình trước giai cấp công nhân nước mình vàgiai cấp công nhân quốc tế Văn kiện Hội nghị nhấn mạnh: Trách nhiệm dân tộc và tráchnhiệm quốc tế của mỗi đảng cộng sản, công nhân là không thể chia rẽ Những người mácxítlêninnít vừa là những người yêu nước, vừa là những người quốc tế chủ nghĩa, họ bác bỏ tínhhẹp hòi dân tộc và cũng phản đối việc phủ nhận hay đánh giá thấp lợi ích dân tộc và bác bỏ cảkhuynh hướng bá quyền
Sau Hội nghị năm 1969, các lực lượng cộng sản trên thế giới đã tăng cường gặp gỡ, trao đổikinh nghiệm, phối hợp hành động Các hội nghị đại biểu các đảng cộng sản, công nhân cácnước Ả rập, các nước châu Phi, các nước Mỹ La tinh, các nước Bắc Âu, các nước châu Âu…liên tiếp được tổ chức, góp phần củng cố phong trào cộng sản quốc tế như một thực thể hoạtđộng thống nhất
Bài học kinh nghiệm
Trong bối cảnh của thế giới ngày nay và đứng trước nhiệm vụ mới của sự nghiệp cách mạng,những mối quan hệ vì lợi ích giai cấp giữa các lực lượng cộng sản cần phải được cấu trúc lạimột cách phù hợp, khả thi cả về nội dung và hình thức thực hiện:
Trước hết, phải tăng cường giáo dục chủ nghĩa quốc tế vô sản, chủ nghĩa quốc tế của giai cấp
công nhân cho đảng viên và quần chúng cách mạng ở mỗi nước, nhất là cán bộ đảng viênđang giữ trọng trách lãnh đạo, quản lý Mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức rằng, tuy sứcmạnh tự thân là yếu tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng ở từng quốc gia,nhưng không đội ngũ cộng sản nào, không quốc gia xã hội chủ nghĩa nào có thể một mình đi
Trang 34lên chủ nghĩa xã hội được Sự nghiệp ấy nhất định phải là một sự nghiệp mang bản chất quốc
tế sâu rộng
Hai là, phải tăng cường thông tin, tuyên truyền tình hình đội ngũ cộng sản ở các nước và trên
toàn thế giới để các lực lượng cộng sản hiểu biết lẫn nhau kịp thời, đầy đủ, đúng đắn trước cácchiến dịch thông tin xuyên tạc của các thế lực thù địch Lịch sử phong trào cộng sản quốc tếchứng minh rất rõ, mỗi khi thiếu thông tin về nhau, các lực lượng cộng sản trên thế giới đã bịrơi vào nhiều căn bệnh, từ ấu trĩ “tả” khuynh đến cơ hội “hữu” khuynh, xét lại, bá quyền đảnglớn, bè phái cục bộ… Mặt khác, chưa bao giờ các phương tiện truyền thông có sức mạnh vàtác động vô cùng lợi hại như trong thế giới ngày nay Bởi vậy, mỗi tổ chức cộng sản cần chủđộng, sáng tạo chia sẻ thông tin về mình cho cộng sản toàn thế giới thông qua các phương tiệntruyền thống (báo, tạp chí, đài phát thanh, truyền hình, xuất bản…) và các phương tiện hiệnđại (hộp thư điện tử, trang thông tin điện tử, mạng xã hội, báo chí điện tử, sách điện tử, truyềnthông đa phương tiện - đa nền tảng công nghệ…)
Ba là, trong quá trình xây dựng cương lĩnh, đường lối, chính sách và trong hoạt động thực tiễn
của mình, mỗi lực lượng cộng sản phải đảm bảo tôn trọng lợi ích của toàn bộ giai cấp công nhân
và nhân dân lao động thế giới, phòng tránh các xu hướng cục bộ hẹp hòi, tuyệt đối hóa lợi íchriêng của giai cấp công nhân nước mình
Bốn là, ủng hộ và bảo vệ chủ nghĩa xã hội cần trở thành nhiệm vụ chung quy tụ, tập hợp, gắn
kết và đoàn kết, thống nhất của các lực lượng cộng sản toàn thế giới Các quốc gia xã hội chủnghĩa đã vượt qua chồng chất khó khăn, thách thức từ Các lực lượng cộng sản, giai cấp côngnhân và quần chúng cách mạng thế giới, trước hết là các đảng cộng sản cầm quyền, cần gáclại mọi mâu thuẫn, bất đồng, khác biệt để ưu tiên nhiệm vụ và lợi ích chung là ủng hộ, bảo vệchủ nghĩa xã hội như một thực thể quyền lực ngày càng hùng mạnh trong thế giới đầy nghịch
lý hiện nay Cũng cần trân trọng, tôn trọng và thực sự cầu thị nghiên cứu từng sáng tạo cộngsản trong nỗ lực chung xây dựng những mô hình xã hội chủ nghĩa phù hợp và làm sáng tỏ conđường của từng quốc gia đi lên chủ nghĩa xã hội
Năm là, cần xây dựng cơ chế, thiết chế và diễn đàn, tổ chức quốc tế phù hợp của các lực
lượng cộng sản trên thế giới hiện nay Để tập hợp các lực lượng cộng sản toàn thế giới, cần cóchủ thể tiên phong là một đảng lớn có uy tín, có sức mạnh vật chất và tinh thần; cần có sựtham gia tự nguyện của đông đảo các tổ chức cộng sản, các đảng cộng sản và công nhân trênthế giới; cần thảo luận đi đến thống nhất các hình thức, cơ chế phối hợp, thống nhất chung…
Câu 12: Trình bày khái quát tình hình phong trào cộng sản và công nhân quốc tế từ cuối thế kỷ XX đến nay, đồng chí hãy làm rõ những điểm tích cực, khó khăn và triển vọng của phong trào.
Như hậu quả không tránh khỏi, toàn bộ phong trào cộng sản quốc tế sau năm 1991 bị lún sâuvào khủng hoảng, tan vỡ và phải đối mặt với nhiều thách thức nghiệt ngã nhất của lịch sử.Xuất hiện nhiều biểu hiện dao động, lúng túng, thậm chí đoạn tuyệt với lý tưởng cộng sản, lýluận Chủ nghĩa xã hội khoa học và hệ tư tưởng Mác - Lênin Các tổ chức cộng sản hùng mạnhmột thời bị tê liệt, giải tán, hoặc thay đổi bản chất Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại phải bảo
vệ, cải cách, đổi mới chủ nghĩa xã hội trong tình thế hết sức bất lợi, khó khăn
Trang 35Từ giữa thập niên 90 của thế kỷ XX, diễn ra quá trình phục hồi của các Đảng Cộng sản, Côngnhân ở không gian của Liên Xô cũ, khu vực Đông Âu và trên thế giới Năm 1993, Liên đoàncác Đảng Cộng sản - Đảng Cộng sản Liên Xô, tổ chức tuyên bố kế thừa Đảng Cộng sản Liên
Xô trước đây, được thành lập Cùng thời gian đó, Đảng Cộng sản Liên bang Nga (KPRF)đăng ký hoạt động công khai, tuy đã được thành lập từ năm 1991; Đảng Cộng sản Ucraina(KPU) được phục hồi; Đảng của những người cộng sản Cộng hòa Mônđôva (KPRM) đượcthành lập; Đảng Cộng sản Séc và Môrava (KSMC) ra đời, kế thừa Đảng Cộng sản Tiệp Khắc;Đảng Cộng sản Xlôvakia (KSS) đi vào hoạt động… Ở các nước Tây Âu và các nước tư bảnphát triển, Đảng Cộng sản Hy Lạp, Đảng Cộng sản Bồ Đào Nha, Đảng Cộng sản Pháp, ĐảngCộng sản Tây Ban Nha, Đảng Cộng sản tái lập Italia, Đảng Cộng sản Nhật Bản… đã tổ chứccác kỳ đại hội, tiếp tục kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, điều chỉnh chiến lược, sách lược đấutranh cách mạng, gắn bó chặt chẽ với các phong trào đấu tranh của nhân dân lao động chốngchủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa tư bản trong kỷ nguyên toàn cầu hóa Mặc dù phải hoạt độngtrong hoàn cảnh rất khó khăn, bất lợi, nhưng nhiều đảng đã nhanh chóng khẳng định được vịtrí cao trong đời sống chính trị của đất nước; một số đảng giành thắng lợi lớn trong bầu cử; cóđảng chiếm đa số trong Quốc hội; có đảng tham gia chính phủ…
Ở các nước đang phát triển, các lực lượng cộng sản cũng có quá trình phục hồi mạnhmẽ.Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ giành lại vị thế đảng cầm quyền thông qua bầu cử.Đảng Cộng sản Mácxít - Lêninnít thống nhất Nêpan(UML) giành thắng lợi áp đảo trong bầu
cử Quốc hội năm 1994, thành lập Chính phủ do lãnh tụ cộng sản làm Thủ tướng Đảng Cộngsản Ấn Độ (CPI) và Đảng Cộng sản Mác xít Ấn Độ (CPI-M) duy trì ổn định vị trí là các đảnglớn trên phạm vi toàn quốc Đảng Mặt trận Giải phóng Dân tộc Môdămbích (FRELIMO) vàĐảng Phong trào Giải phóng Dân tộc Ăngôla (MPLA) vững vàng trên vị thế cầm quyền.ĐảngCộng sản Nam Phi, Đảng Cộng sản Ixraen… kiên định bản sắc cộng sản, vẫn có số lượngđảng viên tương đối đông.Đảng Mặt trận Giải phóng Dân tộc Xanđinô (FSLN) giành lại chínhquyền thông qua bầu cử sau 17 năm thất cử Đảng của những người cộng sản Braxin(PCdoB), Đảng Cộng sản Chilê và các đảng cộng sản khác ở Nam Mỹ củng cố tổ chức, đổimới cương lĩnh, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh chính tri - xã hội rộng lớn cùng với cáclực lượng cánh tả, tiến bộ
Điểm sáng nhất trong toàn cảnh phong trào cộng sản quốc tế sau năm 1991 đó là quátrình cải cách, mở cửa, đổi mới, cập nhật mô hình xã hội chủ nghĩa về phát triển kinh tế - xãhội ở Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Lào Chế độ xã hội chủ nghĩa đã trụ vững trước các đảolộn địa chính trị toàn cầu, phá tan huyền thoại về sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản; đồngthời, đã năng động vượt qua các hạn chế, sai lầm của bản thân, thích ứng với các xu thế pháttriển của thế giới hiện đại, đem lại sinh lực mới cho tư duy lý luận và hiện thực xã hội chủnghĩa Sau gần 40 năm cải cách, mở cửa từ năm 1978 dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sảnTrung Quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trở thành cường quốc kinh tế và quân sự thứ haithế giới; có vai trò, tiếng nói không thể thiếu trong nhiều vấn đề lớn của thế giới đương đại.Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đạt những thành tựu to lớn, có nghĩa lịch sử qua hơn 30năm đổi mới từ năm 1986, không chỉ khắc phục được khủng hoảng kinh tế - xã hội mà còn rakhỏi tình trạng kém phát triển; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tích cực, chủ độnghội nhập quốc tế Cộng hòa Cuba đầy bản lĩnh giương cao ngọn cờ chống đế quốc, bảo vệ chủnghĩa xã hội và chủ nghĩa quốc tế vô sản; đồng thời, vừa thận trọng vừa sáng tạo trong cácbước cập nhật mô hình xã hội chủ nghĩa về phát triển kinh tế - xã hội Cộng hòa Dân chủNhân dân Lào triển khai quá trình đổi mới đất nước, củng cố chế độ dân chủ nhân dân chobước quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Chỉ tính riêng ở các quốc gia này, đội ngũ đảng viêncộng sản đã lên tới gần 90 triệu người, tạo thành đội ngũ nòng cốt thật sự hùng hậu của phongtrào cộng sản quốc tế hiện nay
Tiếp tục truyền thống quốc tế, các lực lượng cộng sản trên thế giới đã sớm thể hiện nỗ lực xâydựng một thiết chế tập hợp đội ngũ cộng sản toàn cầu Ngay từ năm 1998, Đảng Cộng sản Hy
Trang 36Lạp đã chủ động mời nhiều Đảng Cộng sản và công nhân tham dự một hội nghị quốc tế tạithủ đô Aten nhằm trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, ra tuyên bố chung về các vấn đề lớncủa thế giới đương đại Từ đó trở đi, hoạt động này được tổ chức thường niên với tên gọiCuộc gặp quốc tế các Đảng Cộng sản và Công nhân (The International Meeting ofCommunist and Workers' Parties - IMCWP) Năm 2009, IMCWP thành lập Trang thông tinđiện tử (http://www solidnet org ) bằng hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha; đồngthời, thống nhất mở Tạp chí Cộng sản Quốc tế IMCWP cũng thành lập Nhóm công tác baogồm đại diện cộng sản Braxin, Hy Lạp, Ấn Độ, Libăng, Bồ Đào Nha, Nga, Nam Phi có chứcnăng, nhiệm vụ điều phối hoạt động chung Qua 20 năm hoạt động, IMCWP đã thu hút được
sự tham gia của hơn 120 đảng cộng sản và công nhân từ 85 nước trên thế giới, trở thành diễnđàn quan trọng để trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và tăng cường hợp tác, phối hợphành động vì sự nghiệp đấu tranh chung Cuộc gặp quốc tế các Đảng cộng sản và công nhânlần thứ 18 được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 28 đến ngày 30 tháng 12 năm 2016 với sự tham
dự của hơn 100 đại biểu, đại diện cho các Đảng cộng sản và công nhân các nước từ tất cả cácchâu lục trên thế giới
-Những hạn chế, khó khăn
Tuy nhiên, với tính cách là thực thể trong thế giới đương đại, phong trào cộng sản quốc tế còn
phải khắc phục những hạn chế và vượt qua các thách thức lớn Một là, mặc dù số lượng khá
đông đảo, nhưng các lực lượng cộng sản, các quốc gia xã hội chủ nghĩa chưa tạo thành mộtđội ngũ thống nhất, đoàn kết, chưa thể hiện được ý chí và năng lực phối hợp hành độngchung; bởi vậy, chưa trở thành một lực lượng vật chất toàn thế giới đủ sức đối trọng với chủ
nghĩa tư bản đế quốc Hai là, những thắng lợi của một số Đảng Cộng sản trong bầu cử, tuy là
to lớn, nhưng chưa thể làm thay đổi chế độ kinh tế - xã hội và chính trị ở những nước đó, càngchưa thể nghĩ tới việc giành chính quyền về tay quần chúng cách mạng, về tay nhân dân lao
động Ba là, sự nghiệp cải cách, đổi mới chủ nghĩa xã hội vẫn còn rất nhiều vấn đề lý luận và
thực tiễn liên quan đến mô hình, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cần được làm sáng tỏ;
nguy cơ chệch hướng, tự diễn biến, tự chuyển hóa vẫn nghiêm trọng Bốn là, cuộc khủng
hoảng về lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới, sự thoái trào củaphong trào cộng sản quốc tế vẫn chưa được khắc phục, thậm chí có mặt đáng lo ngại hơn
Năm là, các thế lực đế quốc, phản động chống phá ngày càng tinh vi, ngày càng lợi hại, gây ra
cho phong trào cộng sản quốc tế nguy cơ, thách thức chưa hề có tiền lệ
-Những triển vọng
Có thể nói rằng, phong trào cộng sản quốc tế từ sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nướcXHCN Đông Âu sụp đổ đã có nhiều dấu hiệu phục hồi và đang lấy lại phong độ trước đâytrên cơ sở rút kinh nghiệm từ những thất bại của các Đảng Cộng sản ở nhiều nước Các đảngcộng sản ở các nước, các khu vực tùy vào hoàn cảnh khác nhau đã từng bước đổi mới; tăngcường hợp tác, phối hợp hành động để trao đổi kinh nghiệm, nhằm nâng cao sức mạnh củaphong trào Quan hệ giữa các Đảng Cộng sản và công nhân trên thế giới từng bước được khôi
phục và củng cố Hội thảo quốc tế "Triển vọng của chủ nghĩa xã hội" của 39 Đảng Cộng
sản và công nhân được tổ chức tại Pra-ha (Cộng hòa Séc) năm 2005 cũng đánh giá cao sựphát triển nền kinh tế thị trường dưới CNXH và việc gắn những ưu việt của chính quyền nhândân với những thành tựu mới nhất của khoa học - kỹ thuật, với sự tham gia tích cực vào thịtrường quốc tế của Trung Quốc và Việt Nam, coi đây là sự bổ sung lý luận độc đáo vềCNXH
Những Đảng Cộng sản đang cầm quyền ở các nước Trung Quốc, Việt Nam, CHDCND TriềuTiên, Cuba – đang đổi mới trong lãnh đạo, trưởng thành về nhiều mặt để lãnh đạo đất nước đilên lên chủ nghĩa xã hội Các Đảng Cộng sản ở khu vực Liên Xô và Đông Âu đang dần dầnphục hồi nhưng lực lượng còn nhỏ bé, để có được vai trò như xưa là còn cả một chặng đườngdài Ở khu vực này, phần nhiều Đảng Cộng sản cũ đã thay tên, đổi cờ, chuyển sang lập trường
xã hội – dân chủ, nhưng trên mức độ nào đó còn có quan điểm gần với những người cộng sản
Trang 37và đứng trong liên minh cánh tả, nắm chính quyền thu được nhiều thắng lợi trong đấu tranhnghị viện, có nhiều cử tri (như trường hợp của Ba Lan trong cuộc bầu cử Tổng thống tháng 11– 1995) Các Đảng Cộng sản Tây Âu hầu như vẫn giữ nguyên tên, cờ của mình song đã cónhiều thay đổi chiến lược, sách lược trên cơ sở những điều kiện “mở cửa” quốc tế và trongnước.
-Tóm lại: Sau một thời gian khủng hoảng, thoái trào sâu sắc, hiện nay phong trào
cộng sản quốc tế đã có bước phục hồi nhất định, tuy phía trước vẫn còn nhiều khó khăn, thửthách lớn Mặc dù vậy, với những chuyển động tích cực như đã nêu trên, hoàn toàn có cơ sở
để tin rằng phong trào cộng sản quốc tế sẽ dần lấy lại vị thế của một lực lượng cách mạng thờiđại Khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội nhất định sẽ thôi thúc giaicấp công nhân và nhân dân lao động hướng theo con đường đi lên CNXH Đó vừa là mục tiêuphấn đấu chung của phong trào cộng sản quốc tế, vừa là xu thế phát triển hợp quy luật lịch sử
Câu 13: Trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Ý nghĩa của vấn đề này đối với cách mạng Việt Nam.
Trả lời:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa xã hội là giai đoạn thấp của hình tháikinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa Tổng hợp những luận điểm này mang tính dự báo củaC.Mác, Ph.Ăngghen về xã hội xã hội chủ nghĩa và quan điểm của V.I.Lênin từ thực tiễn xâydựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô viết có thể thấy được những đặc trưng bản chất của chủnghĩa xã hội bao gồm:
- Thứ nhất, mục tiêu cao cả của xã hội xã hội chủ nghĩa là giải phóng giai cấp, giải phóng
xã hội, giải phóng con người, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện
Tính nhân đạo, nhân văn của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản thể hiện bản chất ưu việt,
quan tâm hàng đầu đến con người Ngay trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã khẳng định: "Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giaicấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiệncho sự phát triển tự do của tất cả mọi người"
Luận điểm vừa nêu cho thấy mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản đã phản ánhtính nhân văn cao cả của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản Đây cũngchính là giá trị khoa học - thực tiễn bền vững của học thuyết Mác
V.I.Lênin, từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô viết đã nêu rõ mục tiêu lâudài mà những người cộng sản phải hướng tới: thiết lập một xã hội cộng sản, đáp ứng thỏa mãnnhu cầu của người lao động:
Khi bắt đầu những cải tạo xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải đặt rõ cái mục đích mà những cảitạo xã hội chủ nghĩa đó rút cục nhằm tới, cụ thể là thiết lập một xã hội cộng sản chủ nghĩa,một xã hội không chỉ hạn chế ở việc tước đoạt các công xưởng, nhà máy, ruộng đất và tư liệusản xuất, không chỉ hạn chế ở việc kiểm kê, kiểm soát một cách chặt chẽ việc sản xuất vàphân phối sản phẩm, mà còn đi xa hơn nữa, đi tới việc thực hiện nguyên tắc: làm theo nănglực hưởng theo nhu cầu Vì thế cái tên gọi "“Đảng Cộng sản” là duy nhất chính xác về mặtkhoa học
- Thứ hai, xã hội xã hội chủ nghĩa phải dựa trên lực lượng sản xuất phát triển cao; chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu từng bước được xác lập; tổ chức quản lý có hiệu quả, năng suất lao động cao; phân phối theo lao động là chủ yếu
Phân tích mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra: sự tồn tại của chế độ chiếm hữu tưnhân tư bản chủ nghĩa là lực cản lớn nhất, kìm hãm sự phát triển của tiến bộ xã hội Chính vìvậy, cuộc cách mạng cộng sản phải xoá bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Haiông đã khẳng định:
Trang 38"Đặc trưng của chủ nghĩa xã hội không phải là xoá bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xoá bỏchế độ sở hữu tư sản.
Nhưng chế độ tư hữu tư sản hiện thời, lại là biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất của phươngthức sản xuất và chiếm hữu sản phẩm dựa trên những đối kháng giai cấp, trên cơ sở nhữngngười này bóc lột của những người kia
Theo ý nghĩa đó, những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểmduy nhất là: xoá bỏ chế độ tư hữu"
Xóa bỏ chế độ tư hữu, xác lập từng bước chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu là bảnchất ưu việt của xã hội xã hội chủ nghĩa Đó là cơ sở kinh tế để xây dựng một xã hội côngbằng, bình đẳng, tiến bộ, quan hệ tốt đẹp giữa người và người Tuy nhiên, đây là quá trình khókhăn, phức tạp, lâu dài, không thể thực hiện chóng vánh, ngay lập tức được Ph.Ăngghentrong tác phẩm:
- Thứ ba, xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội dân chủ, Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa
mang bản chất của giai cấp công nhân vừa mang tính nhân dân rộng rãi
Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước thể hiện trước hết nó là một công cụ để bảo vệ lợiích của giai cấp công nhân Song lợi ích của giai cấp công nhân về cơ bản là thống nhất vớilợi ích của nhân dân lao động, do vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa còn mang tính nhân dânrộng rãi
- Thứ tư, trong xã hội xã hội chủ nghĩa phải có nền văn hoá phát triển cao; kế thừa và phát
huy những giá trị của văn hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá của nhân loại
C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích, chỉ rõ trong các chế độ dựa trên chế độ chiếm hữu tưnhân sẽ dẫn đến tình trạng tha hóa con người Trong các chế độ xã hội dựa vào chế độ chiếmhữu tư nhân, nhất là trong xã hội tư bản, đã gây ra tình trạng tha hoá của người lao động.Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, con người có đầy đủ điều kiện tiến từ "vương quốc tất yếu"sang "vương quốc tự do"
Phát triển văn hoá, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo chuyên môn kỹ thuật chongười lao động trở thành một nhiệm vụ cấp bách và có ý nghĩa đột phá để xây dựng chủ nghĩa
xã hội
- Thứ năm, xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội bảo đảm công bằng, bình đẳng, đoàn kết
giữa các dân tộc
Trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản", C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu luận điểm giá trị: xoá
bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bịxoá bỏ
V.I.Lênin đã bổ sung, phát triển những quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về quan hệ giữacác dân tộc trong điều kiện mới, đồng thời đi sâu giải quyết những vấn đề về “dân tộc thuộcđịa”, các “dân tộc bị áp bức” trên thế giới, khuyến khích các phong trào giành độc lập, chủquyền gắn với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
- Thứ sáu, quan hệ giữa dân tộc và quốc tế được giải quyết trên cơ sở kết hợp chủ nghĩa yêu
nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân
C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đều thống nhất trong luận điểm: chủ nghĩa cộng sản, chủnghĩa xã hội là có tính chất quốc tế Chủ nghĩa yêu nước phải kết hợp với chủ nghĩa quốc tếcủa giai cấp công nhân trong các phong trào cách mạng, hướng đến chủ nghĩa xã hội
V.I.Lênin từng khẳng định: "Không có sự cố gắng tự nguyện tiến tới sự liên minh và sự thốngnhất của giai cấp vô sản, rồi sau nữa, của toàn thể quần chúng cần lao thuộc tất cả các nước vàcác dân tộc trên toàn thế giới, thì không thể chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản được"
*Để đi tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đã phác thảo những nét căn bản về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật và đời
sống tinh thần của chủ nghĩa xã hội
Trang 39C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định tính tất yếu sụp đổ của giai cấp tư sản và sự thắng lợi củagiai cấp công nhân thông qua các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Hai ông viết trong Tuyênngôn của Đảng Cộng sản: Bước thứ nhất “giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị, làgiành lấy dân chủ.
Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trongtay giai cấp tư sản để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước, tức làtrong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị và để tăng thật nhanh sốlượng những lực lượng sản xuất"
- Hai là, xác định rõ thực chất, nội dung, nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Khi luận giải về qui luật phát triển lịch sử - tự nhiên của xã hội loài người trải qua các hình
thái kinh tế - xã hội, C.Mác dự báo về sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ
nghĩa và xác định tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, thực chất là "thời kỳ
quá độ chính trị", nhà nước là nhà nước chuyên chính vô sản
- Ba là, không ngừng mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với việc xây dựng và hoàn thiện
nhà nước xã hội chủ nghĩa, dựa trên nền tảng là liên minh công - nông và các tầng lớp lao động khác dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc cao nhấtcủa chuyên chính vô sản là liên minh công – nông Mặt khác từ thực tiễn, xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở nước Nga, V.I.Lênin còn đề cao vai trò của tầng lớp trí thức, mở rộng liên minh công– nông thành liên minh công – nông với các tầng lớp lao động khác, nhất là với trí thức dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
- Bốn là, đi lên chủ nghĩa xã hội cần kế thừa những giá trị quý báu trong thời kỳ tư bản chủ
nghĩa và của nhân loại
V.I.Lênin khẳng định: “phải tiếp thu toàn bộ khoa học, kỹ thuật, tất cả những kiến thức, tất cảnghệ thuật” và kế thừa “mọi thành tựu của khoa học kỹ thuật của loài người”, coi đó là những
“viên gạch”, những “vật liệu” quí báu mà những người cộng sản phải biết sử dụng nó vào quátrình xây dựng chủ nghĩa xã hội
- Năm là, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội vừa có tính phổ biến vừa mang nét đặc thù, các
dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội không hoàn toàn giống nhau mà mang theo đặc điểm của mình
Mặc dù khẳng định tính phổ biến trong tiến trình phát triển chung của xã hội loài người vàtính thống nhất trong mục tiêu chung là chủ nghĩa xã hội, nhưng chủ nghĩa Mác – Lênin cũngkhẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là rất đa dạng và mang tính đặc thù của mỗinước Không nhận thức rõ vấn đề này thì việc rập khuôn máy móc trong quá trình xây dựngchủ nghĩa xã hội ở mỗi nước là khó tránh khỏi
- Sáu là, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản - nhân tố quyết định thành công của con đường
xây dựng chủ nghĩa xã hội
Ngay trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản", C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ vai trò lãnhđạo của những người cộng sản đối với cuộc cách mạng công nhân - cuộc cách mạng xã hộichủ nghĩa
V.I.Lênin khẳng định Đảng cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi trong cuộc đấu tranhchống giai cấp tư sản, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Chỉ có Đảng Cộng sản, nếu
nó thực sự là đội tiên phong của giai cấp cách mạng, nếu nó bao gồm những đại biểu ưu túnhất của giai cấp đó, nếu nó gồm tất cả những chiến sĩ cộng sản hoàn toàn có ý thức và trungthành, có học vấn và được tôi luyện bằng kinh nghiệm đấu tranh cách mạng bền bỉ, nếu nóbiết gắn liền với toàn bộ cuộc sống của giai cấp mình và thông qua giai cấp đó, gắn với tất cảquần chúng bị bóc lột, và biết làm cho giai cấp và quần chúng đó tin tưởng hoàn toàn vàomình - chỉ có một đảng như vậy mới có thể lãnh đạo được giai cấp vô sản, trong cuộc đấutranh cuối cùng, kiên quyết nhất, thẳng tay chống lại tất cả mọi thế lực của chủ nghĩa tư bản
2.Ý nghĩa của vấn đề này đối với cách mạng Việt Nam
Trang 40- Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủnghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.- Cáchmạng Việt Nam lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản,xuyên suốt và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Muốn đi lên CNXH phải phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tuân theonhững quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi cácnguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội
- Coi văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội và xác định phát triển văn hoá đồng bộ, tươngxứng với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội cũng là một định hướng căn bản của quá trìnhxây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
- Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảnglợi ích chung của toàn xã hội
- Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộcđổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt chútrọng công tác xây dựng Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng
và chế độ xã hội chủ nghĩa
Câu 14: Khái quát quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới từ năm
1917 đến năm 1991 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam hiện nay.
Trả lời:
CNXH hiện thực ra đời từ sau thắng lợi của cuộc Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga(1917), sau năm 1945, đã trở thành hệ thống XHCN thế giới Trong hơn 70 năm tồn tại,CNXH đã đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa to lớn đối với hòa bình, tiến bộ của nhân loại
Vì nhiều lý do, CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã rơi vào khủng hoảng và sụp đổvào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước Sự sụp đổ này không có nghĩa là sự cáo chung củaCNXH như một số kẻ chống CNXH hý hửng mà chỉ là sự sụp đổ của mô hình CNXH cụ thể.Cùng với những thành công của công cuộc cải cách, đổi mới của Trung Quốc và Việt Nam, sựhồi phục của các Đảng Cộng sản ở các nước XHCN trước đây, mô hình “CNXH Mỹ Latinhthế kỷ XXI” đang cho thấy một xu hướng phát triển mới của nhân loại hướng tới CNXH
1 Sự ra đời, thành tựu của chủ nghĩa xã hội
CNXH hiện thực là khái niệm dùng để chỉ một chế độ xã hội đã và đang tồn tại trên thực tế từkhi giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong của mình là Đảng Cộng sản đã lãnh đạo nhândân đấu tranh giành được chính quyền
CNXH hiện thực ra đời ở nước Nga sau thắng lợi của cuộc Cách mạng XHCN Tháng MườiNga (1917) vĩ đại Trong điều kiện cực kỳ khó khăn và phức tạp: nền kinh tế lạc hậu lại bị tànphá nặng nề trong Chiến tranh thế giới thứ I; nội chiến và cũng như chiến tranh can thiệp của
14 nước đế quốc; sự bao vây, cấm vận về kinh tế
Đại hội X Đảng Cộng sản Nga đã thông qua Chính sách kinh tế mới (NEP) V.I.Lênin đã chỉ
rõ trong những điều kiện mới, việc sử dụng những hình thức kinh tế quá độ là một bộ phận rấtquan trọng của chính sách này Đó là việc thực hiện CNTB nhà nước, một trong những hìnhthức thích hợp để giúp nước Nga Xôviết nhanh chóng khắc phục tình trạng suy sụp kinh tếsau chiến tranh, hạn chế sự phát triển tự phát của nền sản xuất nhỏ Nhà nước vô sản có thể
sử dụng CNTB nhà nước như là một hệ thống các chính sách, công cụ, biện pháp nhằm điềutiết hoạt động của các xí nghiệp tư bản còn tồn tại trong thời kỳ quá độ, nhằm hướng tới mụcđích vừa sử dụng, vừa cải tạo bằng phương pháp hòa bình đối với các thành phần kinh tếTBCN và sản xuất nhỏ
Sau năm 1917, thế giới diễn ra sự song song tồn tại của đời sống chính trị - xã hội: CNXH vàCNTB Cũng từ đó mở ra một thời kỳ mới cho lịch sử nhân loại; Thời kỳ quá độ từ CNTB lênCNXH