Nếu đề xuất được các biện pháp giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên trên địa bàn huyện dựa vào việc thu hút và phát huy vai trò của các lực lượng cộng đồng thì sẽ giúp cho mỗi thanh n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TẨN THỊ QUẾ
GIÁO DỤC VĂN HÓA DU LỊCH CHO THANH NIÊN TRÊN ĐẠI BÀN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU DỰA VÀO CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG
Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng
Mã ngành: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ THANH HỒNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Thị Minh Thành Những vấn đề được trình bày trong luận văn, các số liệu, kết quả, dẫn chứng là do tôi tự tìm hiểu, có sự tham khảo, sưu tầm
và kế thừa những nghiên cứu của tác giả đi trước và trong các tài liệu của các
cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã có liên quan
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những nghiên cứu, những số liệu
và những nội dung đã được trình bày trong bản luận văn của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
TÁC GIẢ
TẨN THỊ QUẾ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn khoa học của
PGS.TS NGUYỄN THỊ THANH HỒNG đã luôn tận tình chỉ bảo, hướng dẫn,
giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, Khoa Tâm lý giáo dục đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập và đóng góp những ý kiến quý báu để em hoàn thành luận văn
Trong thời gian nghiên cứu tình trạng tảo hôn của học sinh dân tộc thiểu số trường THPT Dào San, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu được sự quan tâm của Đảng ủy, HĐND, UBND và các hội, đoàn thể trong đó cán bộ phụ trách tư pháp của bộ phận một cửa và Mặt trận tổ quốc, hội phụ nữ xã, các ban ngành đoàn thể, tổ chức hội xã Dào San và 7 xã thuộc khu vực tuyển sinh của nhà trường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong công tác hồi cứu
số liệu qua các năm từ 2017 đến 3 tháng đầu năm 2019, những cặp vợ chồng
đã đăng ký kết hôn để làm cơ sở nghiên cứu Cán bộ chuyên trách và cộng tác viên Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, lãnh đạo và cán bộ Trung tâm Dân số -
Kế hoạch hóa gia đình huyện Phong Thổ đã phối hợp và tạo điều kiện để điều tra, khảo sát và phỏng vấn trường hợp tảo hôn Trung tâm y tế huyện Phong Thổ cung cấp số liệu trẻ suy dinh dưỡng và những cặp vợ chồng tảo hôn qua các năm
Do trình độ, năng lực của bản thân và thời gian còn hạn chế, luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
TÁC GIẢ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1: LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC VĂN HÓA DU LỊCH CHO THANH NIÊN DỰA VÀO CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Các nghiên cứu về văn hóa 6
1.1.2 Các nghiên cứu về du lịch văn hóa 10
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 13
1.2.1 Văn hóa, du lịch và văn hóa du lịch 13
1.2.2 Thanh niên 16
1.2.3 Giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng 18 1.3 Hoạt động giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng 21
1.3.1 Tầm quan trọng của giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng 21
1.3.2 Mục tiêu giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng 21
1.3.3 Nội dung giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng 22 1.3.5 Các lực lượng cộng đồng tham gia giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên 24
Trang 51.3.6 Con đường giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng
cộng đồng 25
1.3.7 Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng 26
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng 26
Kết luận chương 1 28
Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC VĂN HÓA DU LỊCH CHO THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU DỰA VÀO CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG 29
2.1 Khái quát về quá trình khảo sát thực trạng 29
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 29
2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu 29
2.1.2 Tình hình xã hội tại huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu 32
2.1 Tổ chức và phương pháp khảo sát thực trạng 34
2.2.1 Mục đích khảo sát 34
2.2.2 Nội dung khảo sát 34
2.2.3 Đối tượng khảo sát 34
2.2.4 Phương pháp khảo sát 34
2.2.5 Địa bàn, thời gian khảo sát 34
2.3 Kết quả khảo sát thực trạng 35
2.3.1 Thực trạng văn hóa du lịch của thanh niên huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu 35
2.3.2 Thực trạng hoạt động giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào các lực lượng cộng đồng 40
2.4.3 Đánh giá về thực hiện nội dung giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào các lực lượng cộng đồng 44
2.4.4 Đánh giá về thực hiện phương thức giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào các lực lượng cộng đồng 46
Trang 62.4.5 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới việc giáo dục văn hoá du lịch cho thanh
niên huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào các lực lượng cộng đồng 49
2.4.6 Đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân về hoạt động giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào các lực lượng cộng đồng 51
Kết luận chương 2 57
Chương 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC VĂN HÓA DU LỊCH CHO THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU DỰA VÀO CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG 59
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 59
3.1.1 Đảm bảo tính mục đích 59
3.1.2 Đảm bảo phù hợp với thực tiễn địa phương 59
3.1.3 Đảm bảo tính kế thừa 60
3.1.4 Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống 60
3.1.5 Đảm bảo tính khả thi 60
3.2 Các biện pháp giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào các lực lượng cộng đồng 61
3.2.1 Nâng cao nhận thức của các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào các lực lượng cộng đồng 61
3.2.2 Phát triển năng lực giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa cho các lực lượng cộng đồng 64
3.2.3 Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa nhà trường và cộng động giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu 66
3.2.4 Đa dạng hóa các hình thức giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu 68
3.2.5 Biện pháp 5 Tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong quá trình giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu 70
3.2 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 72
Trang 73.2.1 Mục đích khảo nghiệm 72
3.2.2 Nội dung khảo nghiệm 72
3.2.3 Phương pháp khảo nghiệm 73
3.2.4 Kết quả khảo nghiệm 73
3.2.5 Đánh giá kết quả khảo nghiệm 73
Kết luận chương 3 82
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Qua hơn nửa thế kỉ hình thành và phát triển, đến nay du lịch (DL) Việt Nam
đã có những thành công nhất định và trở thành ngành kinh tế có vị trí khá quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của nước ta Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định:
“Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao như du lịch, hàng hải, hàng không, viễn thông, công nghệ thông tin,
y tế Hình thành một số trung tâm dịch vụ, du lịch có tầm cỡ khu vực và quốc tế, đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch, nâng cao chất lượng để đạt tiêu chuẩn quốc tế”[5]
Sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành du lịch trong thời gian qua đã góp phần làm tăng tỷ trọng GDP trong ngành dịch vụ, tăng thu ngoại tệ, tạo thêm nhiều việc làm, xóa đói giảm nghèo, khôi phục nhiều ngành nghề, làng nghề truyền thống, truyền thống văn hóa, bộ mặt đô thị nhiều địa phương được tô điểm ngày càng đẹp hơn đã tác động tổng hợp đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy nhiều ngành kinh tế khác phát triển, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của nhiều vùng, địa phương trong cả nước
Hiện nay, kinh doanh du lịch đang có sự cạnh tranh mạnh mẽ Sự cạnh tranh này không chỉ diễn ra trong phạm vi quốc gia (giữa các doanh nghiệp, các địa phương) mà cả trong phạm vi khu vực (giữa các nước) và cả các châu lục Để giành chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này, nhà nước và các doanh nghiệp du lịch đã đưa ra nhiều biện pháp để thu hút khách du lịch, trong đó, việc đưa văn hóa vào trong kinh doanh du lịch là một trong những giải pháp phù hợp trong bối cảnh hiện nay
Văn hóa “là những chuẩn mực xã hội như phẩm chất đạo đức, tính lương thiện, tính cộng đồng, trách nhiệm xã hội, mối quan tâm tới người khác Văn hóa
có vai trò to lớn trong việc đánh thức lương tâm, trách nhiệm của người kinh doanh, nó giúp cho việc điều tiết hài hòa quyền lợi giữa các bên: nhà đầu tư - nhà sản xuất - nhà kinh doanh - khách hàng - cộng đồng xã hội Bên cạnh đó, văn hóa
Trang 9còn được xem là những chuẩn mực về cái đẹp, cái tốt, cái cao cả Nó tác động rất lớn tới quá trình khai thác tài nguyên, sản xuất sản phẩm, du lịch, giúp cho nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ du lịch để đáp ứng tối ưu những nhu cầu của khách du lịch” [9;361
Tam Đường là một huyện có nhiều tiềm năng phát triển du lịch của tỉnh Lai Châu bởi những điểm độc đáo về cảnh quan thiên nhiên, các giá trị văn hóa cộng đồng các dân tộc thiểu số Trong những năm qua, được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các Bộ, Ban, Ngành cũng như các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, hoạt động du lịch của huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu ngày càng được phát triển với những biểu hiện cụ thể như: các loại hình du lịch ngày càng đa dạng, dịch vụ du lịch ngày càng phong phú, số lượng du khách không ngừng tăng lên, nguồn nhân lực trong đó bộ phận chủ yếu là thanh niên tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch ngày càng tăng, hoạt động du lịch của huyện ngày càng đóng góp nhiều vào ngân sách của huyện Tuy nhiên, những kết quả đã đạt được của hoạt động du lịch huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu chưa thực sự tương xứng với tiền năng du lịch của huyện Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trong đó, những tồn tại về nhận thức, thái độ, thói quen văn hóa du lịch của thanh niên là một trong những nguyên nhân cơ bản Giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên là hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh hiện nay Để thực hiện có hiệu quả quá trình giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó, giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên dựa vào việc thu hút các lực lượng cộng đồng cùng tham gia, đồng thời phát huy vai trò của họ trong quá trình giáo dục là một trong những giải pháp mang tính phù hợp trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu hiện nay
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài “Giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào các lực lượng cộng đồng” để tiến hành nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn giáo dục giáo dục văn hóa du lịch
Trang 10niên trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào các lực lượng cộng đồng nhằm giúp cho thanh niên có được những kiến thức đầy đủ, toàn diện về văn hóa du lịch, từ đó, giúp họ hình thành thái độ đúng đắn và hành vi, thói quen tích cực có liên quan đến văn hóa du lịch, góp phần phát triển bền vững hoạt động du lịch tại địa bàn nghiên cứu và những địa phương khác có hoàn cảnh tương tự
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào cộng đồng
4 Giả thuyết khoa học
Cho đến nay, ý thức, thái độ, hành vi, thói văn hóa du lịch của thanh niên huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu còn có những tồn tại nhất định do hiệu quả của hoạt động giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên trên địa bàn huyện chưa cao Nếu
đề xuất được các biện pháp giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên trên địa bàn huyện dựa vào việc thu hút và phát huy vai trò của các lực lượng cộng đồng thì sẽ giúp cho mỗi thanh niên tại địa bàn nghiên cứu có sự phát triển đúng đắn về ý thức, thái độ, hành vi và thói quen văn hóa du lịch, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên dựa vào cộng đồng
5.2 Nghiên cứu, đánh giá thực trạng giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào cộng đồng, từ đó phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng;
5.3 Đề xuất các biện pháp giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào cộng đồng và tiến hành khảo nghiệm các biện pháp đề xuất
Trang 116 Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng khảo sát: 40 cán bộ thuộc Phòng Văn hóa - Thể thao và Du lịch; cán
bộ Phòng Lao động thương binh và xã hội; 40 CB Đảng, chính quyền; cán bộ Đoàn thanh niên; lãnh đạo các công ty kinh doanh du lịch; 40 thanh niên đang hoạt động trong lĩnh vực du lịch tại huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
- Về thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8 năm 2018 đến tháng 3 năm 2019
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Sử dụng nhóm phương pháp này nhằm thu thập và xử lí các tài liệu văn bản có liên quan đến văn hóa du lịch;giáo dục văn hóa du lịch; thanh niên; cộng đồng; giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên dựa vào cộng đồng
- Các phương pháp được sử dụng bao gồm: Phương pháp phân tích và tổng
hợp lí thuyết, phương pháp phân loại và hệ thống hóa lí thuyết
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra
Đề tài xây dựng phiếu hỏi nhằm thu thập các thông tin, số liệu về thực trạng giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào các lực lượng cộng đồng
7.2.4 Phương pháp chuyên gia
Trực tiếp (làm việc với một số chuyên gia) hoặc gián tiếp (bằng phiếu hỏi) trao đổi những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, đặc biệt là về các biện pháp đã
đề xuất
Trang 127.2.5 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Đề tài xem xét lại những kết quả thực tiễn trong việc giáo dục dục văn hoá du lịch cho thanh niên trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào các lực lượng cộng đồng , từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, những kết luận khoa học bổ ích, những ưu điểm cần học hỏi và phát triển; làm cơ sở để đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục này
7.2.6 Phương pháp khảo nghiệm
Xin ý kiến đánh giá của các chuyên gia, đại diện các lực lượng cộng đồng…
về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp giáo dục dục văn hoá du lịch cho thanh niên trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào các lực lượng cộng đồng
7.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng nhóm phương pháp này nhằm xử lí kết quả điều tra, định lượng kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn để rút ra các nhận xét khoa học khái quát về thực trạng giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào cộng đồng
- Các phương pháp được sử dụng bao gồm: Phương pháp sử dụng công thức toán học như công thức tính giá trị phần trăm, công thức tính giá trị trung bình
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương:
Chương 1: Lí luận về giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên trên địa bàn
huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào cộng đồng
Chương 2 Thực trạng giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên trên địa bàn
huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào cộng đồng
Chương 3 Biện pháp giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên trên địa bàn
huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào cộng đồng
Trang 13Chương 1
LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC VĂN HÓA DU LỊCH CHO THANH NIÊN
DỰA VÀO CÁC LỰC LƢỢNG CỘNG ĐỒNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu về văn hóa
Những năm gần đây, trong nhiều bài viết, giới nghiên cứu văn hoá có nói tới
cụm từ đời sống, nếp sống văn hoá Đây là cụm từ mới được sử dụng rộng rãi ở
nước ta vào những năm 80, 90 của thế kỷ XX Tiền thân của cụm từ này là cụm từ
đời sống mới, trong tác phẩm “Đời sống mới” của Hồ Chí Minh, dưới bút danh Tân
Sinh được viết vào tháng 3/1947, Người viết: “Người là gốc của làng, nước Nếu mọi người đều cố gắng làm đời sống mới, thì nhất định dân tộc sẽ phú cường” Bối cảnh ra đời cụm từ này là dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã vùng lên làm cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, đánh đổ thực dân Pháp và tầng lớp thống trị phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (Mồng 2 tháng 9 năm 1945) Sau đó, chính quyền nhân dân non trẻ bắt tay vào sự nghiệp kiến quốc và kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam Nhiệm vụ cấp bách đối với văn hoá lúc đó là diệt giặc dốt, cổ động toàn dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống giặc đói, cổ vũ tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm, xây dựng đạo đức cách mạng và sửa đổi nề nếp sinh hoạt trong đời sống của mỗi người, mỗi nhà và mỗi cộng đồng làng bản, đơn vị công tác Đây là công việc mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, chưa từng có trong các giai đoạn lịch sử trước đó nên được gọi là xây dựng đời sống mới Đoạn văn mở đầu bài viết xác định mục đích, nội dung của đời sống mới gồm:
Một là, thái độ ứng xử với cái cũ, cái mới trong đời sống của nhân dân một cách hợp tình, hợp lý: "Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết Không phải cái gì cũng làm mới Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ Cái gì cũ mà không xấu, nhưng nhiều phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý… Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm Cái gì mới mà hay, thì phải làm " [ 22;6 - 7]
Trang 14Hai là, gắn văn hóa với lao động sản xuất: “Làm thế nào cho đời sống của dân
ta, vật chất được đầy đủ hơn”[ 22;7 ]
Ba là, gắn văn hóa với xây dựng đời sống tinh thần, làm cho dân ta “tinh thần được vui mạnh hơn” [ 22;7 ]
Bốn là, xây dựng đạo đức mới: “Thực hành đạo đức cách mạng: Cần - Kiệm - Liêm - Chính” [ 22;7 ]
Năm là, xây dựng nếp sống mới: “Việc trước tiên là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc” [22;8 ]
Trong bối cảnh trình độ học vấn của dân ta còn thấp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử
dụng từ "Mới" thay cho từ "Văn hoá" để cho dân dễ hiểu về xây dựng đời sống văn hoá Có thể coi Đời sống mới là bài viết đầu tiên đặt cơ sở lý luận cho việc xây dựng
đời sống văn hóa ra đời sau Cách mạng Tháng Tám 1945
Đảng và Nhà nước ta đặt vấn đề xây dựng nếp sống văn hóa, xây dựng con người mới Việt Nam trong cả quá trình tiến hành cách mạng: Từ cách mạng dân tộc,dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa Quan điểm của Đảng ta chỉ rõ; Phải gắn chặt xây dựng nếp sống mới với xây dựng con người mới
Cho mãi tới những năm 80 của thế kỷ XX, trong chỉ đạo xây dựng đời sống văn hoá, Đảng, Nhà nước vẫn sử dụng từ "Mới" được hiểu là kết tinh hàm lượng văn hoá, tri thức, cách tổ chức, giá trị mới trong xây dựng nếp sống, nền văn hoá và con người Ngày 15/1/1975, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 214/CT-TW về việc thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang, ngày giỗ,
ngày hội Văn kiện Đại hội IV (1976) của Đảng: "Ra sức xây dựng nền văn hoá mới, từng bước xây dựng nước ta thành một xã hội văn hóa cao’’.[2, 12 - 13]
Năm 1980, Ban Chỉ đạo Nếp sống mới Trung ương được thành lập ở các cấp
để chỉ đạo vận động xây dựng nếp sống mới, gia đình văn hoá mới
Cụm từ đời sống văn hoá xuất hiện trong văn kiện của Đảng từ Đại hội IV, có
đoạn viết: "Hết sức quan tâm tổ chức tốt đời sống văn hoá ở các vùng kinh tế mới, các nông trường, lâm trường, công trường ở các vùng dân tộc, ở miền núi và hải đảo" [23;10]
Trang 15Đến Đại hội V (1982), Đảng ta xác định rõ hơn nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hoá, nhất là đời sống văn hoá ở cơ sở, coi đó là một chủ trương quan trọng, có ý
nghĩa chiến lược trong xây dựng văn hoá và con người: "Một nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng và văn hóa là đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hằng ngày của nhân dân Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đảm bảo mỗi nhà máy, công trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, mỗi
cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, phường ấp, đều có đời sống văn hóa" [23, 19 - 21]
Sau Đại hội V, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở trở thành một phong trào phát triển sâu rộng trên địa bàn dân cư, đơn vị sản xuất, công tác, học tập tác động trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức và nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hoá trong đời sống của mọi tầng lớp nhân dân Từ đó, khái niệm về đời sống văn hoá ngày một sáng tỏ
Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, Đảng ta đã chỉ ra: “Hoàn cảnh nước ta đòi hỏi và cho phép xây dựng sớm, xây dựng từng bước con người mới, không phải chờ đến sau khi phát triển cao của nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”.[22;10]
“Xây dựng nền văn hóa mới và con người mới là điều cần và có thể thực hiện được từng bước, từng phần ngay từ hôm nay Trong chặng đường trước mắt này, có những điều kiện khách quan và chủ quan cho phép chúng ta bước đầu tạo ra một xã hội đẹp về lối sống, về quan hệ giữa người và người, một xã hội trong đó nhân dân lao động cảm thấy sống hạnh phúc, tuy mức sống vật chất còn chưa cao” “… Đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết trong các tổ chức Đảng và Nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, đẩy lùi hủ tục, các tệ nạn cờ bạc, ma tuý, mại dâm, bạo
lực, gây rối trật tự công cộng”.[22;16 -19 ]
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng định hướng chăm lo phát triển văn hóa: “Củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh phong phú, đa dạng Đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đi
Trang 16vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả, xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống, được thể hiện cụ thể trong sinh hoạt, công tác, quan hệ hàng ngày của cộng đồng và từng con người, tạo sức đề kháng đối với sản phẩm độc hại Tiếp tục đẩy mạnh việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, lối sống có văn hóa; xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội; ngăn chặn và đẩy lùi các hủ tục, bạo lực, gây rối trật tự công cộng, mại dâm ma túy cờ bạc… góp phần giữ gìn và phát
triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam…”.[31; 43-50]
Trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 với định hướng “Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế,… phát huy những giá trị tốt đẹp của các dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại; Tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, coi trọng văn hóa trong lãnh đạo quản lý, văn hóa trong kinh doanh và văn hóa trong ứng xử Chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống… Nâng cao chất lượng Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng xã, phường, khu phố, thôn, bản đoàn kết dân chủ kỷ cương, văn minh, lành mạnh.” [31, 52 - 56 ]
Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1998) đã đề ra 10 nhiệm vụ cơ bản xây dựng nền văn hóa Việt Nam, xếp nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa ở vị trí thứ hai sau nhiệm vụ xây dựng con người Nghị quyết đặt ra mục tiêu của việc xây
dựng môi trường văn hóa là: "Tạo ra ở các đơn vị cơ sở (gia đình, làng, bản, xã, phường, khu tập thể, cơ quan, xí nghiệp, nông trường, lâm trường, trường học, đơn
vị bộ đội ), các vùng dân cư (đô thị, nông thôn, miền núi ) đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân" Đồng thời Nghị quyết trên cũng chỉ ra những vấn đề quan tâm
cụ thể của xây dựng môi trường văn hóa là: "Giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ Coi trọng xây dựng gia đình văn hóa Xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội [22; 19]
Trang 17Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong công cuộc xây dựng nếp sống văn minh
Thu hẹp dần khoảng cách đời sống văn hóa giữa các trung tâm đô thị và nông thôn, giữa những vùng kinh tế phát triển với các vùng sâu, vùng xa, vùng núi, biên giới, hải đảo, giữa các tầng lớp nhân dân
Phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa ở cơ sở; đầu tư xây dựng một số công trình văn hóa trọng điểm tầm quốc gia Tăng cường hoạt động của các tổ chức văn hóa, nghệ thuật chuyên nghiệp, phát triển phong trào quần chúng hoạt động văn hóa, nghệ thuật".[ 22, 30 - 35]
Quan điểm của Đảng cũng chỉ rõ những nội dung cốt lõi trong xây dựng nếp sống mới đó là:
- Xây dựng đời sống văn hoá ở các đơn vị cơ sở;
- Xây dựng gia đình, cộng đồng dân cư văn hoá;
- Xây dựng nếp sống văn minh;
- Xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hoá;
- Đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức, phong trào văn hoá, văn nghệ
Và quy định rõ nội dung về việc xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội nhằm phát huy giá trị văn hóa cổ truyền, đồng thời bài trừ những
hủ tục trong các lĩnh vực này
Lịch sử nghiên cứu về văn hóa, xây dựng nếp sống văn hóa Việt Nam, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng con người mới, văn hóa mới, đắp ứng ngày càng cao nhu cầu hội nhập và phát triển của đất nước, qua đó thể hiện rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng nếp sống văn hóa cho người dân, trong công cộng xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hộ chủ nghĩa
1.1.2 Các nghiên cứu về du lịch văn hóa
Ở Việt Nam, từ những năm 90 của thế kỷ trước, một số nhà địa lý, nhà sinh học
đã quan tâm nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng Một số tác
Trang 18Bá [17;24] đã nghiên cứu lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch sinh thái và du lịch dựa vào cộng đồng Các nghiên cứu này đều có một điểm chung là xác định được hệ thống lý luận liên quan đến du lịch cộng đồng (Mục tiêu, nguyên tắc, sự hình thành và phát triển du lịch cộng đồng), và đưa ra một số mô hình điển hình
về du lịch cộng đồng của thế giới và Việt Nam
Nhiều địa phương trên cả nước đã áp dụng triển khai loại hình du lịch cộng đồng và mang lại nguồn thu cho người dân địa phương, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng Có thể kể đến một số địa phương đi đầu trong việc phát triển loại hình du lịch này như: Lai Châu, Sa Pa, Quảng Bình, Huế, vùng đồng bằng sông Cửu Long
Các hình thức du lịch sinh thái cộng đồng thường thấy ở nước ta như: du lịch homestay, tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ cùng người dân bản địa, tham quan các bản làng dân tộc, tìm hiểu lối sống, văn hoá của người dân bản địa, tham quan nghiên cứu đa dạng sinh học,… diễn ra một số nơi như bản Lác - Lai Châu, Chiềng Yên - Sơn La, vườn quốc gia Cát Bà, khu bảo tồn Cù Lao Chàm - Hội An, v.v Trong những năm gần đây, số du khách đến thăm các điểm du lịch tự nhiên, tìm hiểu cuộc sống của cộng đồng dân cư ở Việt Nam ngày càng tăng, nhưng vẫn thường mang tính tự phát, chưa được tổ chức bài bản Các hình thức hoạt động của loại hình du lịch này mới chỉ mang ý nghĩa tham quan, hưởng thụ môi trường, ít đạt được mục đích nâng cao nhận thức, giáo dục bảo vệ môi trường và cảm nhận nét đặc sắc, cái hay, cái đẹp trong văn hoá của cộng đồng bản địa
Bên cạnh đó, một vài địa phương lại quan niệm phát triển du lịch cộng đồng gắn với phát triển kinh tế địa phương dựa trên lợi thế vùng miền, địa phương của mình Chẳng hạn như Đồng Tháp tận dụng cảnh quan nguyên sơ với những cánh đồng sen bạt ngàn tại Huyện Tháp Mười để phát triển mô hình du lịch sinh thái gắn với Sen: như chụp ảnh với đồng sen, tham gia thu hoạch chế biến sản phẩm từ sen, dệt lụa tơ sen, Hay như tại làng rau Trà Quế, Hội An, Quảng Nam tổ chức cho du khách trải nghiệm nông nghiệp bằng cách tham gia trồng rau, làm đồng, thu hoạch sản phẩm nông nghiệp Qua đó, du khách có điều kiện tìm hiểu nếp sống, tập quán
và các hoạt động phát triển kinh tế đặc thù của địa phương
Trang 19Võ Quế (2008) [28;57] cho rằng các nguyên tắc để phát triển du lịch dựa vào cộng đồng bao gồm:
Cộng đồng được quyền tham gia thảo luận các kế hoạch, quy hoạch, thực hiện và quản lý, đầu tư và có thể trao quyền làm chủ cho cộng đồng
Phù hợp với khả năng của cộng đồng
Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng
Xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng đối với tài nguyên và văn hoá
Ở Việt Nam cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa tâm linh, du lịch văn hóa tâm linh, như tác giả Nguyễn Đăng Duy với “Văn hóa tâm linh” [2], [“Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa” [3]; tác giả Nguyễn Duy Hinh với công trình “Tâm linh Việt Nam” [8]; tác giả Phan Ngọc với công trình “Bản sắc văn hóa Việt Nam” [19] Tuy các công trình chưa nghiên cứu chuyên sâu về
DLVHTL, nhưng cũng là nguồn tài liệu rất bổ ích và là cơ sở, để người viết có thể khai thác phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn này
Về đề tài DLVHTL cũng đã thu hút khá nhiều các nhà nghiên cứu như:
Đề tài“Nghiên cứu loại hình du lịch tâm linh ở Việt Nam” [10] của Nguyễn
Trùng Khánh, tác giả đã tiến hành khảo sát, phân loại du lịch tâm linh dựa vào nguồn tài nguyên du lịch, từ đó xây dựng được cơ sở lý thuyết trên phương diện du lịch, đề xuất giải pháp phát triển du lịch gắn với Phật giáo, tín ngưỡng dân gian… Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Hà Thế Linh [11] đã xác định đối tượng nghiên cứu Phật giáo của dân tộc thiểu số Khơmer, trên cơ sở đó phân tích được những tồn tại và triển vọng phát triển du lịch tâm linh ở Trà Vinh và đưa
ra những giải pháp nhằm khai thác loại hình du lịch này một cách bền vững trong tương lai
Tuy vậy, các công trình nghiên cứu về văn hóa của thanh niên và giáo dục văn hóa cho thanh niên khồng nhiều mà chủ yếu tập trung vào các bài báo, hoặc nghiên
cứu về văn hóa ứng xử của thanh niên Do đó nghiên cứu vấn đề “Giáo dục văn hoá
du lịch cho thanh niên trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu dựa vào
Trang 201.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Văn hóa, du lịch và văn hóa du lịch
1.2.1.1 Văn hóa
Bất k một quốc gia, dân tộc nào cũng đều có một nền văn hóa riêng, nó ra đời
và phát triển gắn liền quá trình hình thành và phát triển của dân tộc
Trong nghiên cứu về văn hóa nhiều học giả cho rằng văn hóa (Hiểu theo nghĩa rộng) nói chung bao gồm tất cả những giá trị vật chất và tinh thần Theo nghĩa rộng nhất của nó, văn hóa bao gồm những sáng tạo về vật chất và tinh thần của con người trong quá trình cải tạo hiện thực khách quan Những tri thức, các kết quả của hoạt động cải tạo xã hội và tự nhiên là thành phần của văn hóa Văn hóa không tự hạn chế vào một số biểu hiện của đời sống tinh thần Nó là toàn bộ cuộc sống cả vật chất, tinh thần của từng cộng đồng người Như vậy, có thể khẳng định rằng: Tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa
Văn hóa tinh thần cũng được hiểu theo hai nghĩa cơ bản rộng và hẹp Theo nghĩa rộng, văn hóa được hiểu là toàn bộ những giá trị, những hoạt động tinh
thần của con người Taylor cho rằng “Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất của
nó là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” Tiêu biểu cho cách hiểu này là A.K Vlêđốp: “Việc coi văn hóa tinh thần chỉ là tổng hợp những giá trị tinh thần là phiến diện Văn hóa tinh thần như là sự hoạt động sáng tạo tích cực của con người, như là sự sản xuất cất giữ và sử dụng những giá trị tinh thần”
Theo nghĩa hẹp, các tác giả cho rằng văn hóa tinh thần là những dấu ấn tinh thần, những giá trị tinh thần đặc thù của một quốc gia, dân tộc nhằm phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Tiêu biểu cho cách hiểu này là khái niệm văn hóa của
UNESCO được thừa nhận rộng rãi: Văn hóa là “Tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Qua hàng thế kỷ các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thị hiếu thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [19]
Trang 21Từ việc phân tích trên, theo chúng tôi, văn hóa là một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người, loài người sáng tạo, tích lũy thông qua hoạt động thực tiễn trong suốt quá trình lịch sử của mình Con người là sản phẩm
cao nhất của tự nhiên và văn hóa là sản phẩm đặc sắc nhất của con người Có thể nói văn hóa là sự hóa thân của đời sống, nó thấm vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người, biểu hiện trình độ người, trình độ xã hội, văn minh quốc gia, văn minh nhân loại
1.2.1.2 Du lịch
Từ giữa thế kỷ XIX, du lịch bắt đầu phát triển mạnh và ngày nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến Nhiều nước đã lấy chỉ tiêu đi du lịch của dân cư là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, khái niệm “Du lịch” được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc
độ khác nhau
“Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ phát sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón khách du lịch”.[1;6]
Khái niệm về du lịch theo cách tiếp cận của các đối tượng liên quan đến hoạt
động du lịch:
- Đối với người đi du lịch: Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú của họ ở ngoài nơi cư trú để thoả mãn các nhu cầu khác nhau: hoà bình, hữu nghị, tìm kiếm kinh nghiệm sống hoặc thoả mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần khác
- Đối với người kinh doanh du lịch: Du lịch là quá trình tổ chức các điều kiện
về sản xuất và phục vụ nhằm thoả mãn, đáp ứng các nhu cầu của người du lịch và đạt được mục đích số một của mình là thu lợi nhuận
- Đối với chính quyền địa phương: Du lịch là việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ khách du lịch, là tổng hợp các hoạt động kinh doanh nhằm tạo điều kiện cho khách du lịch trong việc hành trình và lưu trú, là cơ hội để bán các sản phẩm của địa phương, tăng thu ngoại
Trang 22- Đối với cộng đồng dân cư sở tại: Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội
mà hoạt động du lịch tại địa phương mình, vừa đem lại những cơ hội để tìm hiểu nền văn hoá, phong cách của những người ngoài địa phương mình, vừa là cơ hội để tìm việc làm, phát huy các nghề cổ truyền, tăng thu nhập nhưng đồng thời cũng gây ảnh hưởng đến đời sống người dân sở tại như về môi trường, trật tự an ninh xa hội, nơi ăn, chốn ở
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng khái niệm du lịch theo Luật du lịch
Việt Nam: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [1;1]
Như vậy có thể hiểu du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định
1.2.1.3 Văn hóa du lịch
Văn hoá du lịch là sự thể hiện nội dung văn hoá trong lĩnh vực du lịch, được tích lũy và sáng tạo trong hoạt động du lịch bởi bốn chủ thể tham gia vào hoạt động
du lịch: khách du lịch, doanh nghiệp du lịch, chính quyền các cấp, và cộng đồng dân
cư nơi diễn ra hoạt động du lịch
Trên cơ sở phân tích các khái niệm có liên quan, theo chúng tôi, văn hóa du
lịch là một bộ phận của văn hóa, bao gồm toàn bộ các thực thể văn hóa do con người tạo ra, được bảo vệ, gìn giữ, khai thác và sử dụng trong du lịch; cũng như toàn bộ các thực thể văn hóa đặc thù được tạo ra trong các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch
Văn hóa du lịch được hình thành và phát triển cùng với hoạt động du lịch Đây là một phạm trù lớn, thể hiện những giá trị văn hóa của hoạt động quản lý, nghiên cứu, kinh doanh, trải nghiệm du lịch
Trang 23ở đầu này và ra ở đầu kia do quy luật vận động tự nhiên của sự “lớn lên” hay “già đi” của các thành viên Và điều này cho thấy “thanh niên” là một nhóm xã hội - dân
cư “động” chứ không phải là một nhóm “tĩnh”, ổn định Đặc trưng này hàm chứa cả những ưu điểm và cả những nhược điểm của nhóm xã hội - dân cư “thanh niên” Một mặt, nhờ quy luật là nhóm “động” thường xuyên cho nên nó luôn là chủ thể chuyển tải liên tục các giá trị liên thế hệ, nhưng mặt khác nó rất khó xác lập cho mình những giá trị xác định có thể tạo nên một bản sắc nhóm bền vững (sustainable group identity) Vì vậy, việc nghiên cứu, khám phá những định hướng giá trị, xác định những chiều cạnh khách quan và chủ quan của văn hóa và lối sống của nhóm này hết sức khó khăn và luôn hàm chứa độ dung sai và rủi ro cao
Với tính cách là một nhóm xã hội - dân cư, “thanh niên” không chỉ “động”
và phức hợp xét theo chiều dọc mà còn hết sức phức hợp theo chiều phẳng ngang, bởi lẽ nó hàm chứa trong đó những cá thể ở độ tuổi thanh niên có nguồn gốc xuất thân khác nhau, thuộc mọi giai tầng trong xã hội, với các trình độ học vấn, tôn giáo, sắc tộc, giới tính, thành thị và nông thôn và với nhiều ngành nghề khác nhau, dưới
sự tác động của nhiều định hướng ý thức hệ, tư tưởng, truyền thống, mô hình ứng
xử và với nhiều loại thói quen, tập tục vv khác nhau Hơn nữa, xét riêng về độ tuổi thì nhóm xã hội - dân cư “thanh niên” cũng chỉ là một nhóm lớn, bao gồm trong đó nhiều nhóm nhỏ thuộc các độ tuổi khác nhau Một số người chia “thanh niên” thành 3 tiểu nhóm (subgroup) ở các độ tuổi 14-17, 18-21, 22-25 (ở đây giới
Trang 24hạn cho tuổi “vị thành niên và thanh niên” được tính từ 14 đến 25) Trong khi đó một số nhà nghiên cứu khác lại chia “thanh niên” thành các tiểu nhóm theo các độ tuổi 15- 19, 20-24 và 25-29 Trong một chuyên khảo xuất bản gần đây, Đặng Cảnh Khanh lại chia “dân số thanh niên” thành hai nhóm lớn theo các độ tuổi, 15 - 24 và
25 - 34 (ở đây giới hạn độ tuổi của thanh niên được tính từ 15 đến 34
Ngoài tiêu chí độ tuổi, nhóm xã hội - dân cư “thanh niên” còn có thể được chia thành các tiểu nhóm khác nhau, như thanh niên thành thị, thanh niên nông thôn (nếu lấy địa bàn cư trú làm tiêu chí phân biệt), hay thanh niên công nhân, thanh niên nông dân hoặc thanh niên trí thức (nếu lấy nghề nghiệp làm tiêu chí phân biệt) Ngoài ra, các yếu tố khác như tộc người, tôn giáo, giới tính, giàu - nghèo cũng có thể được coi là tiêu chí để phân biệt các tiểu nhóm trong nhóm lớn “thanh niên”
Qua đó có thể thấy “thanh niên” là một nhóm xã hội dân cư có tính phức hợp rất cao, hàm chứa trong đó nhiều sự đa dạng về độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa bàn cư trú, định hướng giá trị, lợi ích, tâm linh và các mô hình ứng xử
và lựa chọn xã hội Vì vậy, trong nghiên cứu về văn hóa thanh niên và lối sống
thanh niên cần phải đặc biệt lưu ý đến tính phức hợp và tính đa dạng cao của nhóm
xã hội - dân cư này, đồng thời phải luôn luôn đặt nhóm đó trong mối liên hệ với các nhóm xã hội - dân cư, xã hội - nghề nghiệp, xã hội - giai cấp hoặc những cộng đồng dân cư khác nhau để xem xét, tham chiếu Để khám phá và nhận diện đầy đủ hơn tính phức hợp và đa dạng trong cấu trúc xã hội, trong định hướng giá trị, trong mô thức ứng xử và trong lối sống của thanh niên thì nhất định các nghiên cứu, khảo sát
về thanh niên cần phải dựa trên hai cách tiếp cận căn bản là tiếp cận đa chiều (multi-dimensional approach) và liên ngành (multi-disciplinary approach) Đây là một đòi hỏi có tính phương pháp luận trong nghiên cứu về thanh niên, và thực tế đây là một đòi hỏi rất khó khăn mà nhà nghiên cứu không dễ gì đáp ứng được, cho
dù họ có ý thức đầy đủ và rõ ràng về tính chính đáng của đòi hỏi này
Trang 251.2.3 Giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
1.2.3.1 Giáo dục
Trong lao động và trong cuộc sống hàng ngày, con người tích lũy được kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lao động, từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết cho nhau Nhu cầu đó là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục Giáo dục là cơ hội giúp cho mỗi cá nhân phát triển toàn diện, cơ hội để hoàn thiện bản thân Ban đầu, giáo dục diễn ra một cách tự phát theo lối quan sát bắt chước, về sau giáo dục diễn ra một cách tự giác, có kế hoạch, có tổ chức theo mục đích định trước
và trở thành hoạt động đặc biệt, đạt tới trình độ cao về tổ chức, nội dung, phương pháp và trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của xã hội loài người
Theo cuốn “Giáo dục học – tâp 1” do tác giả Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên)
“Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ Giáo dục (theo nghĩa hẹp) được hiểu là quá trình hình thành cho người được giáo dục lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành
vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu”
Trong cuốn “Giáo dục học”, tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng “Giáo dục là khái niệm cơ bản nhất của Giáo dục học Về bản chất, giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người Về hoạt động, giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho con người những phẩm chất nhân cách Về mặt phạm vi, khái niệm giáo dục bao hàm nhiều cấp độ khác nhau:
- Ở cấp độ rộng nhất, giáo dục được hiểu đó là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của tác động chủ quan và khách quan, có ý thức và không có ý thức của cuộc sống, của hoàn cảnh xã hội đối với các cá nhân Đó là quá trình xã hội hóa con người
Trang 26- Ở cấp độ thứ hai, giáo dục có thể hiểu là hoạt động có mục đích của xã hội, với nhiều lực lượng giáo dục, tác động có hệ thống, có kế hoạch đến con người để hình thành những phẩm chất nhân cách (Giáo dục xã hội)
- Ở cấp độ thứ ba, giáo dục được hiểu là quá trình tác động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh nhằm giúp cho họ nhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành những phẩm chất nhân cách Đó là quá trình sư phạm Ở cấp độ này, giáo dục bao gồm: quá trình dạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp
- Ở cấp độ thứ tư, giáo dục được hiểu là quá trình bồi dưỡng để hình thành những phẩm chất đạo đức cụ thể, thông qua việc tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu Ở cấp độ này khái niệm giáo dục ngang hàng với khái niệm dạy học (Giáo dục nghĩa hẹp)”
Từ những quan điểm trên, theo chúng tôi: Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ
Theo tự điển Đại học Oxford, “Cộng đồng là tập thể người sống trong cùng một khu vực, một tỉnh hoặc một quốc gia và được xem là một khối thống nhất”;
“Cộng đồng là một nhóm người có cùng tín ngưỡng, chủng tộc, loại hình nghề nghiệp, hoặc cùng mối quan tâm”; “Cộng đồng là một tập thể cùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tình trạng tương tự nhau về một số khía cạnh nào đó”
Trang 27Có thể phân ra 2 loại cộng đồng: Cộng đồng địa lý và cộng đồng chức năng Cộng đồng địa lý bao gồm những người dân cư trú trong cùng một địa bàn có thể có chung các đặc điểm văn hóa xã hội và có thể có mối quan hệ ràng buộc với nhau Họ cùng được áp dụng chính sách chung
Cộng đồng chức năng gồm những người có thể cư trú gần nhau hoặc không gần nhau nhưng có lợi ích chung Họ liên kết với nhau trên cơ sở nghê nghiệp, sở thích, hợp tác hay hiệp hội có tổ chức (NGO Training Project)
Khi đi vào phân tích khái niệm cộng đồng, cần lưu ý đến các yếu tố cấu thành một cộng đồng, đó là con người, môi trường và mối tương tác Trong một môi trường, con người có những hoạt động tương tác, chia sẻ với nhau
Con người gồm những đặc điểm về nhân chủng học như họ tộc, dân tộc, ngôn ngữ
Môi trường gồm cả môi trường địa lý, môi trường trao đổi thông tin, liên lạc
là nơi để con người có thể tương tác qua lại với nhau
Các tương tác của con người trong cộng đồng với nhau và với môi trường của mình để chia sẻ những quan tâm, lợi ích chung, bao gồm nguồn sống, thu nhập, nghề nghiệp, sở thích
Như vậy, theo chúng tôi, “Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các
cá nhân sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hoặc tinh thần”
1.2.3.3 Giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
Trên cơ sở phân tích khái niệm “Giáo dục”, “Văn hóa du lịch”, theo
chúng tôi, giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên dựa vào cộng đồng là một hoạt động có mục đích, có kế hoạch với những nội dung và phương pháp phù hợp của các lực lượng cộng đồng nhằm bồi dưỡng nhận thức, hình thành thái
độ và kỹ năng bảo vệ, gìn giữ, phát triển những giá trị vật chất và tinh thần trong hoạt động du lịch, thể hiện hành vi ứng xử có văn hóa trong hoạt động
du lịch
Trang 281.3 Hoạt động giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lƣợng cộng đồng
1.3.1 Tầm quan trọng của giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
Giáo dục giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng thực hiện được những hành vi ứng xử với tự nhiên, với xã hội, với người khác và với chính bản thân thanh niên phù hợp với những yêu cầu, chuẩn mực đạo đức, văn hóa mà xã hội
đã quy định trong phát triển văn hóa du lịch; nó là cơ sở để mỗi thanh niên tôn trọng lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau, đồng cảm, chia sẻ những công việc chung của cộng đồng, góp phần làm cho cộng đồng của mình ngày một phát triển
1.3.2 Mục tiêu giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích của con người nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự chuyển biến tích cực từ nhận thức đến thái độ, tình cảm và những hành động tương ứng đối với những vấn đề của xã hội trong hiện tại và tương lại Mục đích giáo dục được cụ thể thành các mục tiêu giáo dục, tương ứng với các mặt kiến thức, thái độ, tình cảm và kĩ năng, hành vi, thói quen
Giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng cũng mang những đặc tính chung của quá trình giáo dục Mục đích của quá trình giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng là nhằm giúp cho thanh niên trong cộng đồng có được nhận thức đầy đủ về văn hóa, ứng xử, hành vi ứng xử văn hóa; có thái độ, tình cảm đúng đắn và rèn luyện cho họ những kĩ năng, hành vi, thói quen tích cực trong giao tiếp, ứng xử, không ngừng hoàn thiện nhân cách của mình nói riêng, góp phần phát triển đời sống văn hóa của cộng đồng dân cư nói chung
Trang 29Mục đích giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng được cụ thể hóa thành các mục tiêu sau:
- Về kiến thức: Thanh niên trong khu vực du lịch hiểu được:
+ Những kiến thức cơ bản có liên quan đến văn hóa, ứng xử, hành vi ứng xử
có văn hóa
+ Ý nghĩa và sự cần thiết của việc thực hiện hành vi ứng xử có văn hóa
+ Các cách thức thực hiện hành vi ứng xử có văn hóa
- Về kĩ năng: Thanh niên có khả năng:
+ Tự nhận xét, đánh giá hành vi ứng xử của bản thân
+ Nhận xét, đánh giá hành vi ứng xử của người khác
+ Xử lí các tình huống liên quan đến giao tiếp, ứng xử
+ Đánh giá được thực trạng hành vi ứng xử của cộng đồng dân cư
+ Thực hiện được các hành động cụ thể để xây dựng và phát triển đời sống văn hóa trong các vùng du lịch
- Về thái độ: Thanh niên bày tỏ được những thái độ, tình cảm:
+ Thái độ tự giác, tích cực thực hiện hành vi ứng xử có văn hóa
+ Đồng tình đối với những hành vi ứng xử có văn hóa; phê phán những hành
vi ứng xử thiếu văn hóa
+ Yêu quý, tôn trọng những người xung quanh, yêu quý thiên nhiên, đất nước phát triển các khu du lịch
1.3.3 Nội dung giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
Cũng giống như các quá trình giáo dục khác, giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng là quá trình có nội dung cụ thể Nội dung giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng là
hệ thống tri thức có liên quan đến giáo dục văn hóa cho thanh niên cần phải nắm vững để biến nó thành ý thức, thái độ và hành vi cá nhân
Trang 30Nội dung giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng được cụ thể hóa thành từng mặt phù hợp với trình độ thanh niên, phù hợp với từng tình huống giáo dục cụ thể
Gáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Bồi dưỡng cho cộng đồng dân cư hệ thống kiến thức về văn hóa, ứng xử, hành vi ứng xử có văn hóa
- Hình thành cho thanh niên thói quen thực hiện hành vi ứng xử có văn hóa
- Giáo dục cho thanh niên ý thức tham gia tích cực vào các hoạt động giữ gìn
và phát triển cộng đồng văn hóa tại địa phương
- Giáo dục cho thanh niên ý thức tuyên truyền, vận động mọi người trong gia đình, đoàn thể, làng xóm, địa phương thực hiện hành vi ứng xử có văn hóa ở mọi nơi, mọi lúc, xây dựng cộng đồng văn minh, văn hóa
1.3.4 Phương pháp giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư
Phương pháp giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng đề cập đến hệ thống những tác động của các lực lượng giáo dục đến thanh niên qua tổ chức các hoạt động đa dạng nhằm giúp họ hình thành ý thức tự giác, thái độ đúng đắn và hành vi ứng xử có văn hóa đối với tự nhiên, xã hội, đối với người khác và đối với chính bản thân mình Phương pháp giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng ở đây về thực chất là phương pháp tổ chức các hoạt động trong cuộc sống hằng ngày cho than niên
Chúng ta có thể thấy rằng, phương pháp giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng luôn chịu sự chi phối của mục đích, nội dung giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng, Do đó, người làm công tác giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng ngoài việc căn cứ vào mục đích, nội dung giáo dục, còn phải căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, giới tính, trình độ nhận thức của thanh niên trong các tình huống cụ thể để lựa chọn các phương pháp giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho thanh niên mang tính phù hợp, hiệu quả
Trang 31Trong giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng có thể sử dụng các phương pháp giáo dục như: Phương pháp đàm thoại, phương pháp giảng giải, phương pháp tranh luận, phương pháp nêu gương, phương pháp tổ chức cho người dân tham gia vào các hoạt động thực tiễn; phương pháp khen thưởng, phương pháp trách phạt, phương pháp thi đua
Mỗi phương pháp giáo dục bao giờ cũng có những ưu điểm và tồn tại những nhược điểm Do đó, để giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cưđạt được hiệu quả cao nhất cần đảm bảo những yêu cầu cần thiết trong việc lựa chọn và
sử dụng phối hợp các phương pháp giáo dục
1.3.5 Các lực lượng cộng đồng tham gia giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên
Người làm công tác giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng là chủ thể của quá trình giáo dục và giữ vai trò chủ đạo trong quá trình giáo dục Vai trò chủ đạo trong quá trình giáo dục Họ vừa là người lựa chọn nội dung, phương pháp, các hình thức tổ chức giáo dục và tổ chức, hướng dẫn quá trình giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên, đồng thời là người tổ chức, thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả của quá trình giáo dục
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng, cùng với ý thức trách nhiệm trong quá trình công tác của người làm công tác giáo dục ảnh hưởng rất lớn đến thanh niên và quyết định sự thành bại của quá trình giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng Do đó, những người làm công tác giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho cộng đồng dân cư cần thường xuyên tu dưỡng đạo đức, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm trong công tác giáo dục của mình
Giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng có nhiều lực lượng tham gia, chúng ta có thể kể đến những lực lượng sau:
- Đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên của các nhà trường
Trang 32- Cán bộ Phòng Du lịch, Văn hóa và Thông tin
- Cán bộ Phòng Tư pháp
- Cán bộ công an là đại diện của cơ quan thực thi pháp luật
- Cán bộ cơ quan quân đội
- Cán bộ Hội nông dân
- Cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ
1.3.6 Con đường giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
Về mặt lí luận, hoạt động là phương tiện hữu hiệu để giáo dục cho con người
Để quá trình giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng đạt được chất lượng và hiệu quả, người làm công tác giáo dục cần tổ chức các loại hình hoạt động khác nhau cho thanh niên trong cộng đồng
Các hoạt động giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng theo nhiều hình thức khác nhau Hình thức tổ chức hoạt động thường được hiểu là sự biểu hiện bề ngoài của hoạt động Mỗi hình thức hoạt động giáo dục được tiến hành theo một trình tự xác định
Giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng có thể được thực hiện bằng các hình thức tổ chức như:
- Giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng thông qua hoạt động tuyên truyền giáo dục về văn hóa, ứng xử, hành vi ứng xử có văn hóa thông qua các phương tiện thông tin đại chúng;
- Giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên thông qua các buổi tọa đảm, hội thảo, sinh hoạt chuyên đề về về văn hóa, ứng xử, hành vi ứng xử có văn hóa tại địa phương
- Giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên thông qua các hội thi tìm hiểu về văn hóa, ứng xử, hành vi ứng xử có văn hóa
- Giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng thông qua hoạt động khen thưởng và kỷ luật có liên quan đến việc thực hiện hành vi ứng
xử
Mỗi hình thức tổ chức giáo dục bao giờ cũng có những ưu điểm và tồn tại
Trang 33những nhược điểm Do đó, để giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho thanh niên đạt được hiệu quả cao nhất cần lựa chọn và sử dụng phối hợp các hình thức tổ chức giáo dục khác nhau
1.3.7 Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
Kết quả giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng đề cập đến những thành quả trong thực tế của công tác này, trong đó, có thể kể đến những kết quả chủ yếu sau:
Sự phát triển về nhận thức của các lực lượng cộng đồng đối với công tác giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
Mức độ thực hiện mục tiêu giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
Mức độ và kết quả thực hiện các nội dung giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
Các LLCĐ tham gia giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên
Mức độ và kết quả thực hiện các biện pháp giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
Để thu được những kết quả trên, chủ thể huy động cần thực hiện có hiệu quả hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng với chủ thể thực hiện có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; có phương pháp, công cụ và các nguyên tắc kiểm tra, đánh giá phù hợp Hoạt động này có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi lẽ, thông qua kiểm tra, đánh giá, chủ thể giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồngsẽ nắm được những thông tin về kết quả của hoạt động này, xác định được những ưu điểm và hạn chế, trên cơ sở đó, tiếp tục nghiên cứu, hoàn hoạt động giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng ở giai đoạn tiếp theo
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
Trang 34chịu ảnh hưởng của các yếu tố cơ bản sau:
- Cơ chế chính sách có liên quan đến giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ và ý thức trách nhiệm của các lực lượng giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
- Nội dung giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
- Phương pháp giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
- Hình thức tổ chức giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
- Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
- Kinh phí tổ chức các hoạt động giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
- Tính tích cực của thanh niên trong các hoạt động giáo dục văn hoá du lịch cho
thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng
Trang 35- Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
- Trong nghiên cứu này khái niệm văn hóa du lịch là một bộ phận của văn hóa, bao gôm toàn bộ các thực thể văn hóa do con người tạora, được bảo vệ, gìn giữ, khai thác và sử dụng trong du lịch; cũng như toàn bộ các thực thế vãn hóa đặc thù được tạo ra trong các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cấu phát triển du lịch
- Nội dung giáo dục văn hóa du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng đề cập đến nhiều khái niệm có liên quan; mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng; Chỉ rõ các hình thức và phương pháp và phương tiện để trang bị kiến thức về
văn hóa du lịch cho thanh niên
- Xác định được các yếu tố đến giáo dục văn hoá du lịch cho thanh niên dựa vào các lực lượng cộng đồng: Cơ chế chính sách, môi trường xã hội; Nội dung giáo
dục văn hoá du lịch; chính sách phát triển du lịch cộng đồng ở địa phương
Đây là cơ sở lý luận để chúng tôi xác định nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức nghiên cứu Cơ sở lý luận trên cũng định hướng cho viê c xử lý và khái quát hóa các kết quả nghiên cứu thực tiê n
Trang 36Chương 2
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC VĂN HÓA DU LỊCH CHO THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
DỰA VÀO CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG 2.1 Khái quát về quá trình khảo sát thực trạng
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
- Vị trí địa lí:
Tam Đường là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Lai Châu,
có tọa độ địa lý từ 220
10’ đến 220 30’ độ vĩ Bắc, 1030 18’ đến 1030 46’ độ kinh Đông, có vị trí giáp ranh như sau: Phía Bắc giáp huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu và huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai; Phía Tây giáp huyện Sìn Hồ và thành phố Lai Châu tỉnh Lai Châu; Phía Đông giáp huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai; Phía Nam giáp huyện Sìn Hồ
và huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu
Huyện Tam Đường có diện tích tự nhiên là 68.452,38 ha, chiếm 7,55% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh, bao gồm 14 đơn vị hành chính cấp xã (01 thị trấn và
13 xã) Là cửa ngõ của tỉnh Lai Châu nên huyện có nhiều lợi thế để phát triển kinh
tế, xã hội, văn hóa quy mô liên kết vùng nối khu vực Tây Bắc với các trung tâm kinh tế lớn của cả nước
- Lịch sử hình thành:
Huyện Tam Đường được thành lập vào ngày 14 tháng 1 năm 2002, trên cơ sở tách thị trấn Phong Thổ và 14 xã: Bản Bo, Bản Giang, Bản Hon, Bình Lư, Hồ Thầu, Khun Há, Lản Nhì Thàng, Nà Tăm, Nậm Loỏng, Nùng Nàng, Sùng Phài, Tam Đường, Tả Lèng, Thèn Sin thuộc huyện Phong Thổ Khi mới thành lập, huyện Tam Đường có 82.843,7 ha diện tích tự nhiên và 52.567 nhân khẩu
Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra Nghị quyết trong đó chia tỉnh Lai Châu thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên; huyện Tam Đường thuộc tỉnh Lai Châu mới Tỉnh lị tỉnh Lai Châu mới đặt tại thị trấn Phong Thổ, huyện Tam Đường
Ngày 10 tháng 10 năm 2004, tách thị trấn Phong Thổ và 2 xã Nậm Loỏng, Tam Đường để thành lập thị xã Lai Châu mới (nay là thành phố Lai Châu)
Trang 37Đồng thời, thành lập thị trấn Tam Đường trên cơ sở một phần diện tích và dân số của xã Bình Lư Huyện Tam Đường còn lại 75.760,70 ha diện tích tự nhiên và 42.131 người Ngày 27 tháng 12 năm 2006, chia xã Bình Lư thành hai xã Bình Lư
và Sơn Bình Đồng thời, chuyển xã Lản Nhì Thàng về huyện Phong Thổ quản lý.Ngày 8 tháng 4 năm 2008, chia xã Hồ Thầu thành hai xã Hồ Thầu và Giang Ma
- Diện tích tự nhiên và dân số huyện Tam Đường:
Huyện Tam Đường có 68.472,56 ha diện tích tự nhiên và 46.271 nhân khẩu, gồm 1 thị trấn và 13 xã (Thị trấn Tam Đường, xã Bình Lư, xã Sơn Bình, xã Bản Bo,
xã Nà Tăm, xã Khun Há, xã Hồ Thầu, xã Giang Ma, xã Tả Lèng, xã Thèn Sin, xã Sung Phài, xã Bản Giang, xã Bản Hon, xã Nùng Nàng)
- Thành phần dân tộc:
Tam Đường là nơi sinh sống của 9 thành phần dân tộc gồm: Kinh, H’mông, Dao, Thái, Giấy, Lào, Lự, Xạ Phang, Lô Lô trong đó dân tộc H’mông, Thái, Kinh, Dao chiếm đa số
Theo Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh năm 2018, kế hoạch năm 2019 của UBND huyện Tam đường, trong năm qua, thực trạng thực hiện các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện thể hiện cụ thể qua các nội dung dưới đây:
Đảng và Nhà nước tiếp tục có nhiều chủ trương, chính sách quan tâm đầu tư cho khu vực miền núi; huyện Tam Đường luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, HĐND - UBND tỉnh; sự phối kết hợp, tạo điều kiện của các
Sở, Ban, Ngành tỉnh Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Huyện ủy, HĐND huyện, sự phấn đấu tích cực của các cấp, các ngành và đồng thuận cao của nhân dân các dân tộc trong huyện Kinh tế - Xã hội của huyện tiếp tục phát triển, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; các chương trình, dự án được đầu tư đang phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống nhân dân các dân tộc trong huyện
Tổng diện tích gieo trồng cây lương thực 9.736/9.700 ha đạt 100,4% kế hoạch, tăng 61 ha so với năm 2017 Tổng sản lượng lương thực ước đạt 43.200/43.200 tấn đạt 100% kế hoạch, tăng 150 tấn so với năm 2017 Thu nhập bình quân đầu người
Trang 38ước đạt 24 triệu đồng/người/năm đạt 104,3% KH; bình quân lương thực đầu người ước đạt 764 kg/người/năm, đạt 100% kế hoạch
Tổ chức thực hiện tốt kế hoạch chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2018 Trong năm đã cứng hóa được 28,062 km đường giao thông nông thôn, kinh phí 10.189 triệu đồng; thực hiện xóa 55 nhà tạm, cứng hóa nền nhà được 75 hộ tại xã Nùng Nàng
Tăng cường công tác quản lý các hoạt động về sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, điều tra nắm tình hình sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước đạt 174.596 triệu đồng đạt 109% kế hoạch, trong đó: Công nghiệp khai khoáng 24.100 triệu đồng, công nghiệp chế biến 135.954 triệu đồng, công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước 14.542 triệu đồng
Hoạt động thương mại, dịch vụ, giá cả hàng hóa trên địa bàn huyện khá ổn định,
cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của Nhân dân Công tác kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hoạt động thương mại trên địa bàn được tăng cường Các dịch
vụ bưu chính, viễn thông, công tác phát hành báo chí, thông tin liên lạc đảm bảo thông suốt kịp thời, đã vận chuyển và phát tới tay độc giả 252.000 tờ/cuốn báo và tạp chí; doanh thu phát sinh 3.135 triệu đồng, đạt 101,1% KH
Tăng cường chỉ đạo các chủ đầu tư, Ban QLDA triển khai thực hiện nghiêm túc các quy định pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản; đôn đốc nhà thầu thi công đảm bảo tiến độ, đẩy mạnh giải ngân các nguồn vốn theo kế hoạch
Tăng cường công tác quản lý xây dựng theo quy hoạch trên địa bàn, đôn đốc, kiểm tra tình hình xây dựng và thực hiện xây dựng theo quy hoạch; đã thẩm định và cấp 75 giấy phép xây dựng trên địa bàn Thị trấn Tam Đường
Công tác quản lý tài nguyên và môi trường trên địa bàn huyện được tăng cường Công tác giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức và cá nhân trên địa bàn được thực hiện kịp thời, đúng trình tự thủ tục theo quy định hiện hành Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát các hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn Chỉ đạo cơ quan chuyên môn thành lập tổ kiểm tra liên ngành kiểm tra các hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện,
Trang 39thu giữ khoảng 61,5 tấn khoáng sản đất hiếm vận chuyển trái phép tại các xã: Bản Giang 28 tấn, Bản Hon 3,5 tấn, Sơn Bình 30 tấn, bàn giao cho Công ty cổ phần đất
hiếm Lai Châu quản lý theo quy định Xác nhận 38 hồ sơ kế hoạch bảo vệ môi
trường và 02 Đề án bảo vệ môi trường đơn giản của các dự án, cơ sở sản xuất kinh doanh
2.1.2 Tình hình xã hội tại huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
Tỉnh Lai Châu có 8 huyện thành phố với số dân 425.685 người, trong đó dân tộc H’mông 101.629 chiếm tỷ lệ 23,9% là dân tộc có số lượng người đông thứ 2 toàn tỉnh sau dân tộc Thái theo số liệu thống kê của Ban Dân tộc tỉnh Lai Châu năm
2018 (huyện Tam Đường 19.629, Phong Thổ 19.455, Sìn Hồ 26.894, Tân Uyên 9.696, Nận Nhùn 9.544, Than Uyên 7.121, Mường Tè 7.044, thành phố Lai Châu 2.264 Riêng huyện Tam Đường, tỷ lệ người H’mông chiếm tới 36,98 % dân số toàn huyện) Tỉnh Sơn La có 9 huyện trong 10 huyện thị có cư dân Mông, huyện Bắc Yên trên 90% là cư dân Mông Tỉnh Yên Bái thì 7 trong số 8 huyện thị có cư dân Mông mà đông nhất là hai huyện Mù Căng Chải 71%, huyện Trạm Tấu 73% Tỉnh Thanh Hoá 3 huyện có cư dân Mông là Mường Lát, Quan Hoá và Quan Sơn Tỉnh Nghệ An có 3 huyện có người Mông là: K Sơn, Quế Phong và Qu Hợp Tỉnh Bắc Kạn có 8 huyện thị trong đó 7 huyện có người Mông sinh sống Người Mông Bắc Kạn di cư từ Cao Bằng, Yên Bái, Hà Giang xuống và có nhiều nhánh như: Mông Đơ (Mông Trắng), Mông Sí (Mông Đỏ), Mông Đú (Mông Đen), Mông Súa (Mông Mán)
Trong cộng đồng 20 dân tộc tỉnh Lai Châu, dân tộc Hmông có dân số đông thứ hai, chỉ đứng sau dân tộc Thái và chiếm tỷ lệ 23,88% dân số của tỉnh, cư trú ở tất cả
Trang 40[Tổng hợp số liệu do Ban Dân tộc tỉnh Lai Châu cung cấp, tháng 1/2016]
Ở các huyện Tam Đường và Sìn Hồ – những nơi người Mông có tỷ lệ dân số lớn thứ ba so với các huyện/thành phố trong tỉnh là nơi người Mông cư trú tập trung nhiều nhất trên các địa bàn vùng cao Do đó, số lượng các xã người Mông chiếm phần đông dân số lớn nhất Ở Tam Đường có 3 xã người Mông chiếm từ hơn 90% đến 100% dân số là Tả Lèng (90,59%), Nùng Nàng (100%) và Khun Há (96,93%)
Ở Sìn Hồ cũng có tới 7 xã dân cư chủ yếu là người Mông Đó là các xã Tủa Sín Chải (98,94%), Phìn Hồ (96,53%), Hồng Thu (100,00%), Pu Sam Cáp (98,38%), Tả Ngảo (88,64%), Làng Mô (80,21%) và Xà Dề Phìn (74,48%) Ở huyện Tam Đường
có các xã Giang Ma (78,06%), Sơn Bình (69,35%), Sùng Phài (66,24%) và Thèn Sin (20,03%) Ở Sìn Hồ có các xã Pa Tần (40,64%), Tả Phìn (35,19%), Ma Quai (26,67%) và TT Sìn Hồ (22,06%) Ở một số xã khác, người Mông đến cư trú xen kẽ với dân tộc Dao, người Lự, người Thái nên tỷ lệ dân số người Mông thấp như các
xã Bản Hon (8,48%), Bản Bo (6,02%) thuộc huyện Tam Đường và các xã Lùng Thàng (14,18%), Phăng Xô Lin (12,90%), Pa Khóa (10,24%), Nậm Cuổi (3,93%) thuộc huyện Sìn Hồ
Về đặc điểm kinh tế của người dân tộc Mông: Do cư trú chủ yếu trên những
vùng núi của các cao nguyên: Đồng Văn, Bắc Hà, Than Uyên, Phong Thổ, Tam Đường, Sìn Hồ và Mộc Châu dọc theo biên giới Việt - Trung, Vịêt - Lào hoặc một
số vùng sâu, vùng xa hẻo lánh của các miền núi, trung du nội địa, kinh tế của dân tộc Mông chậm phát triển Với nền kinh tế độc canh một vụ, phụ thuộc thiên nhiên, năng suất cây trồng vật nuôi thấp, đa phần đồng bào Mông lâm vào cảnh đói nghèo triền miên Thực trạng kinh tế này của dân tộc Mông nói riêng và của đồng bào các dân tộc thiểu số sống ở vùng cao nói chung đã được cảnh báo từ thập kỷ 70 của thế