1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

So sánh xu hướng tiêu dùng một số thực phẩm và năng lượng cung cấp từ một số thực phẩm thiết yếu tại hà nội và thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2004-2016

8 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 256,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình, cơ cấu tiêu dùng đa dạng và gặp nhiều thách thức về an ninh lương thực. Nghiên cứu tập trung vào nguồn thực phẩm sẵn có và tính ổn định - là hai trong bốn thành tố chính của an ninh lương thực theo tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc (FAO).

Trang 1

Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận, 2018 Niên giám thống

kê Bình Thuận 2017 Nhà xuất bản Thanh niên Bình

Thuận

Ngô Thành Trí, Phạm Văn Kim, Trần Vũ Phến, 2013

Cơ chế sinh hóa học của tính kích Kháng lưu dẫn trong

cây lúa chống lại bệnh đạo ôn (Pyricularia grisea

(Cooke) Sacc.) do xử lý với clorua đồng, Acibenzolar-

S- metyl và nấm Sporothrix sp Kỷ yếu Hội thảo Quốc

gia bệnh cây và sinh học phân tử

Van Der Plank, 1963 Plant Diseases Epidemics and

Control Academic Press, New York

JiaoJiao Song, Somdej Kanokmedhakul, Kwanjai Kanokmedhkul, Supattar Poeaim and Kasem

Soytong, 2018 Nano-particles constructed from

Chaetomium cochliodes CTh05 against 2 Magnaporthe oryzae causing rice blast https://www.biorxiv.org/

content/biorxiv/early/2018/06/07/339283.full.pdf

Components of diseases on rice, changes of rice blast disease and effectiveness

of bio-pesticides to rice blast disease in Bac Binh district, Binh Thuan province

Mai Van Hao, Nguyen Van Chinh, Tran Thi Hong,

Le Ba Tin, Truong Cong Kien Quoc, Phan Cong Kien

Abstract

The experiment was conducted on rice variety ML48 in 3 rice crop seasons of 2017 in Bac Binh district, Binh Thuan province The results showed that there were 8 rice diseases occurred; of which blast, bacterial leaf blight, rice sheath blight and rice brown spot were common in Bac Binh district, Binh Thuan province, but blast disease was the most popular Spraying of CuCl2.2H2O with concentration of 10 ppm, Ri zasa 3SL (Oligo - Chistosan) and Chubeca 1.8SL (Polyphenol) at 25th day after sowing and the second spraying at 7th day after the first one could inhibit the development of blast disease And when the blast disease incidence from 5.8 to 7 %, spraying Oligo - Chistosan

(Rizasa 3SL), Chatomium sp (Abi Kentomium) and Kasugamycin + Streptomycin sulfate (Novinano 55WDG)

showed the most effectiveness in reducing development of the blast disease

Keywords: Blast disease, CuCl2.2H2O, Oligo- Chistosan, Chistosan, induced resistance

Ngày nhận bài: 19/11/2018

Ngày phản biện: 24/11/2018 Người phản biện: TS Hoàng Đình ĐinhNgày duyệt đăng: 10/12/2018

1 Đại học Thương Mại; 2 Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế; 3 Viện Khoa học Nông Nghiệp Việt Nam

SO SÁNH XU HƯỚNG TIÊU DÙNG MỘT SỐ THỰC PHẨM

VÀ NĂNG LƯỢNG CUNG CẤP TỪ MỘT SỐ THỰC PHẨM THIẾT YẾU

TẠI HÀ NỘI VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2004 - 2016

Trịnh Thị Hường1,2, Đào Thế Anh3, Lê Văn Tuấn1

TÓM TẮT

Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình, cơ cấu tiêu dùng đa dạng và gặp nhiều thách thức về an ninh lương thực Nghiên cứu tập trung vào nguồn thực phẩm sẵn có và tính ổn định - là hai trong bốn thành tố chính của

an ninh lương thực theo tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc (FAO) Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu điều tra mức sống dân cư trong 12 năm (VHLSS - Vietnam Household Living Standard Survey) của Tổng cục Thống kê từ

2004 đến 2016 để xác định được xu hướng tiêu dùng tại hai đô thị lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Thực phẩm tiêu thụ tại hộ gia đình được tiếp cận theo nhiều thang đo khác nhau: (1) năng lượng; (2) cơ cấu các chất hữu

cơ chính như tinh bột, chất đạm, chất béo; (3) các nhóm thực phẩm thiết yếu như thịt, cá, rau, quả và (4) giá thực phẩm Nghiên cứu cho thấy từ mức sống hộ gia đình tăng cao, chi tiêu cho thực phẩm tăng cao ở cả hai thành phố Bình quân năng lượng đầu người tăng ở cả hai thành phố và cao hơn mức toàn quốc Xu hướng tiêu dùng quả tăng mạnh, trong khi tiêu dùng rau tương đối ổn định theo thời gian Thịt lợn là thực phẩm có nguồn gốc động vật phổ biến nhất trong bữa ăn người Việt Nam có xu hướng giảm về lượng và tỷ lệ đóng góp năng lượng Trái lại, các thực phẩm giàu đạm khác như hải sản và thịt gà được gia tăng, tuy nhiên giá các sản phẩm này vẫn tương đối đắt và tăng rất cao sau các năm, nhất là thủy hải sản Một số kiến nghị chính sách về dinh dưỡng và tiêu dùng thực phẩm được

đề xuất đối với hai đô thị và cấp quốc gia

Từ khóa: Tiếp cận thực phẩm, thực phẩm thiết yếu, thực phẩm bình quân đầu người, dinh dưỡng, giá thực

phẩm, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Kinh tế Việt Nam đạt được nhiều thành tựu lớn

sau hơn 30 năm từ chính sách “Đổi mới” năm 1986,

Việt Nam đã vươn lên gia nhập nhóm các nước thu

nhập trung bình thấp Người dân giàu hơn và khẩu

phần ăn cũng thay đổi, từ “ăn no - mặc ấm” sang

“ăn ngon - mặc đẹp” (Hoang, 2009; Mishra and Ray,

2009) Đồng thời, người Việt Nam cũng đối mặt với

sự gia tăng nhiều các bệnh không lây nhiễm như

thừa cân, béo phì, suy dinh dưỡng Để khắc phục các

vấn đề dinh dưỡng, Chính phủ đã ban hành “Chiến

lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020

và tầm nhìn đến năm 2030” để phát triển toàn diện

về tầm vóc, thể chất, trí tuệ của người Việt Nam và

nâng cao chất lượng cuộc sống (Bộ Y tế, 2012; Thủ

tướng Chính Phủ, 2012)

Theo tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc

(FAO), an ninh lương thực trong bối cảnh hiện

tại là tổng hợp của 4 nhân tố chính: Tính sẵn có

(availability), tính tiếp cận (Access), tính sử dụng

(Utilization) và tính ổn định (Stability) (FAO, 2008)

Trong đó, tính ổn định của an ninh lương thực được

cấu thành từ tính ổn định của ba nhân tố trước đó

Tính sẵn có (Availability) thường được đo ở cấp độ

quốc gia và thể hiện mức độ cung cấp lương thực

thực phẩm của toàn nền kinh tế trên tổng dân số

Tính tiếp cận (Access) được xem xét ở mức độ hộ

gia đình, tức là lương thực sẵn có trong gia đình, và

tiếp cận lương thực của hộ gia đình phụ thuộc vào

đặc điểm kinh tế xã hội, thu nhập, chi tiêu của hộ

gia đình và thị trường giá cả của thực phẩm Trong

bài báo này, tiếp cận an ninh lương thực tập trung

theo khía cạnh tính sử dụng và tính ổn định, tức là

tiếp cận lương thực sẵn có ở mức độ hộ gia đình

và giá cả thực phẩm - chi tiêu thực phẩm tại hộ gia

đình theo chuối thời gian Tính tiếp cận sẽ khác với

tính sử dụng - thường được khuyến nghị từ các nhà

dinh dưỡng khi quan tâm đến nguyên tố đa lượng

và vi lượng của thực phẩm Trong bài báo này, thuật

ngữ “năng lượng sẵn có bình quân” được sử dụng để

miêu tả mức độ tiếp cận năng lượng tại hộ gia đình

và có xem xét đến các đặc điểm nhân khẩu của hộ

gia đình để tính bình quân

Tại hai thành phố lớn nhất Việt Nam là Hà Nội

và thành phố Hồ Chí Minh, người dân cũng thay

đổi khẩu phần ăn vì nhiều nguyên nhân Thứ nhất,

các vấn đề thực phẩm tại hai thành phố lớn này có

phần phức tạp hơn do phát triển kinh tế, phát triển

đô thị và thực phẩm phụ thuộc vào nguồn cung của các thành phố lân cận Thứ hai, tỷ trọng chi ăn uống trong chi tiêu đời sống còn cao (trung bình cả nước

là 52,6%) (Tổng cục Thống kê, 2016 - mục Chi tiêu)

và tiếp tục thực phẩm có thể khó khăn hơn do chi phí đời sống cao ở thành thị Thứ ba, tỉ lệ phân hóa giàu nghèo ở các thành phố lớn ngày càng ngoãng

ra và “người nghèo đô thị” phải đối mặt với các vấn

đề về an ninh lương thực và dinh dưỡng nhiều hơn Hiện nay, chưa có báo cáo nào về tình trạng tiêu thụ thực phẩm tại hai thành phố này theo chuỗi thời gian dài Nghiên cứu này có hai đóng góp chính: Thứ nhất, tính sẵn có và tính ổn định của an ninh lương thực được đề xuất và minh họa thông qua hai thành phố lớn của Việt Nam Thứ hai, nghiên cứu này so sánh thực trạng và xu hướng tiêu dùng thực phẩm tại hai thành phố, từ năm 2004 đến 2016 Nghiên cứu này phù hợp với giải pháp đẩy mạnh các nghiên cứu về tiêu thụ thực phẩm, dinh dưỡng trong Kế hoạch hành động quốc gia về Dinh dưỡng đến năm

2020 (Bộ Y tế, 2018) và áp dụng khoa học dữ liệu

để hỗ trợ các chính sách về an ninh lương thực của Chương trình hành động quốc gia “Không còn nạn đói” ở Việt nam đến năm 2025 (Chính phủ, 2018)

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Thứ nhất, nghiên cứu này tập trung vào phương pháp đo lường hai nhân tố của an ninh lương thực của Việt Nam: tính sẵn có và tính ổn định Thứ hai, nghiên cứu này tập trung vào mức sống, chi tiêu cho thực phẩm và năng lượng tiêu dùng bình quân đầu người của hộ gia đình tại hai đô thị lớn là Hà Nội và

Thành phố Hồ Chí Minh.

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được dựa trên bộ số liệu khảo sát mức sống dân cư (VHLSS), được thu thập với chu kỳ hai năm của Tổng cục Thống kê Việt Nam (Tổng cục thống kê, 2015) Bộ số liệu mang tính đại diện toàn quốc, thu thập ở đủ 63 tỉnh thành và trên khoảng 9.000 hộ gia đình Cuộc khảo sát thu thập thông tin bằng phương pháp điều tra viên phỏng vấn trực tiếp chủ hộ Tổng cục Thống kê, 2016)

Các câu hỏi điều tra về tiêu dùng thực phẩm thường xuyên của cả hộ gia đình bao gồm cả thực phẩm mua, tự cung cấp, hoặc thực phẩm được cho,

Trang 3

biếu bao gồm 56 loại thực phẩm chính theo Phiếu số

1B-PVH/KSMS16 (Tổng cục Thống kê, 2015)

Thứ nhất, thực phẩm tiêu thụ được quy đổi về

thành phần dinh dưỡng từ số liệu thu thập thực

phẩm về khối lượng dựa vào bảng thành phần chất

dinh dưỡng (Bộ Y tế - Viện Dinh dưỡng Quốc gia,

2013) Đặc biệt, nhiều thang đo thành phần được

sử dụng như: (1) năng lượng sẵn có bình quân đầu

người; (2) hàm lượng gluxit, protein, lipit tiêu thụ

trong năng lượng sẵn có bình quân; (3) hàm lượng

dinh dưỡng của các thực phẩm chính (không tính

gạo vì giả sử gạo được tiếp cận đầy đủ ở thành thị)

và (4) giá thực phẩm chính

Thứ hai, phương pháp tính bình quân lương thực

đầu người từ tổng tiêu thụ năng lượng của hộ gia

đình Từ thực tế câu hỏi điều tra là về mức tiêu dùng

thực phẩm thường xuyên cho cả hộ gia đình, nên

chúng tôi cần áp dụng cách tính xấp xỉ để tính năng

lượng tiêu dùng bình quân của 1 hộ gia đình Có

nhiều phương pháp tính xấp xỉ: (1) phương pháp chia

tổng số thành viên - tức là coi mọi thành viên, không

phân biệt giới tính và tuổi, tiêu thụ năng lượng giống

nhau giữa trẻ em-người trưởng thành-người già;

(2) phương pháp tính bình quân của Tổ chức Hợp tác

và phát triển Kinh tế (OECD, 2013) có chia theo ba

nhóm tuổi và chủ hộ gia đình; (3) phương pháp lấy

trọng số theo phụ nữ/nam giới trưởng thành (adult

female equivalent, AFE hoặc adult male equivalent,

AME) Ở đây, chúng tôi sử dụng phương pháp ước

lượng mới trong đó bình quân thực phẩm được ước

lượng cho từng hộ gia đình và có tính đến cấu trúc

hộ gia đình đó, tức là số lượng thành viên, giới tính

và nhiều nhóm tuổi của các thành viên (Aguiar and

Hurst, 2013) Phương pháp này được Trịnh và cộng

tác viên (2018a) chứng minh có ưu điểm là đo mức

bình quân lương thực đa dạng hơn và phù hợp hơn

với Việt Nam

Thứ ba, giá thực phẩm được quy đổi để so sánh

được theo thời gian Các công bố về giá trong nghiên

cứu là giá cố định năm 2016, tức là toàn bộ giá thực

đã được điều chỉnh lạm phát theo chỉ số CP (World

Bank, 2018) cụ thể là, 1 đồng năm 2016 tương ứng

0,4336549; 0,5782339; 0,6738347; 0,8724759 và

0,9679903 đồng năm 2004, 2006, 2008, 2010, 2012

và 2014) Từ đó cho phép so sánh xu hướng giá cả

thực phẩm qua các năm Đồng thời, sự thay đổi giá

theo thời gian và so sánh giữa hai thành phố cũng

được xem xét

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào các năm: 2004, 2006,

2008, 2010, 2012, 2014 và 2016 và tại hai thành phố lớn: Hà Nội và thành phố Hồ Chí minh Nghiên cứu sử dụng số liệu điều tra mức sống dân cư của các năm tương ứng Nghiên cứu tập trung từ năm

2004 trở lại đây vì từ trước năm 2002 trở về trước,

số lượng các loại thực phẩm trong câu hỏi rất ít, chỉ

12 thực phẩm so với 56 loại thực phẩm trong các năm 2004 trở lại đây Bộ số liệu điều tra mức sống dân cư được tiến hành ở cả 63 tỉnh thành và đại diện cho cả nước, các vùng, khu vực thành thị, nông thôn

và tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương (Tổng cục Thống kê, 2016) Ở Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi năm có khoảng 200 tới 330 hộ gia đình tham gia điều tra Tương tự, ở Hà Nội, mỗi năm có khoảng 230 tới

400 hộ tham gia chuỗi số liệu về điều tra mức sống dân cư Cụ thể, tại thành phố Hồ Chí Minh, có 202,

236, 249, 280, 245, 305 và 333 hộ gia đình đươc điều tra ở các năm 2004, 2006, 2008, 2010, 2012, 2014 và

2016 Tại Hà Nội, có tương ứng 224, 228, 224, 383,

381, 385 và 406 ở các năm tương ứng

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Mức chi tiêu cho thực phẩm tiêu thụ thường xuyên

Hình 1 thể hiện lượng chi tiêu thường xuyên cho thực phẩm cấp hộ gia đình qua các năm ở hai thành phố Nhìn chung, chi tiêu cho thực phẩm bình quân hàng tháng tăng dần qua các năm, từ 2004 đến 2016 Mức chi tiêu cho thực phẩm ở thành phố Hồ Chí Minh cao hơn ở Hà Nội ở các năm 2004, 2006, 2008

và 2016 Các năm còn lại, mức chi tiêu cho thực phẩm của hai thành phố tương đương nhau Sử dụng giá cố định năm 2016, trung bình tại mỗi thành phố

và từng năm, mỗi hộ dân ở hai thành phố chi tiêu trung bình khoảng 2 đến 6 triệu đồng mỗi tháng Tuy nhiên, chi tiêu thực phẩm cũng rất đa dạng giữa các hộ gia đình trong từng năm, trung bình từ 500 nghìn đồng đến 12 triệu đồng Hơn nữa, giá trị phổ biến (tức là từ mức phân vị 25% tới 75%) giao động trong khoảng 2,5 triệu đồng đến 7 triệu đồng Tác giả Trinh và cộng tác viên (2018b) thống kê chi tiêu trung bình cho thực phẩm trong toàn quốc năm

2014 là gấp đôi năm 2004 Như vậy, mức tăng ở hai thành phố lớn này là thấp hơn so với mức tăng trung bình toàn quốc

Trang 4

Hình 1 Chi tiêu hàng tháng cho thực phẩm của hộ gia đình

Ghi chú: Đơn vị: nghìn đồng/hộ Mỗi ô hình hộp thể hiện 5 giá trị thống kê của phân phối (từ thấp đến cao): giá trị nhỏ nhất, mức phân vị thứ nhất (25%), giá trị phổ biến (median), mức phân vị thứ ba (75%) và giá trị lớn nhất.

3.2 Mức bình quân năng lượng và các chất dinh

dưỡng chính sẵn có hàng ngày của hộ gia đình

Bảng 1 thống kê mức bình quân năng lượng hàng

ngày trên đầu người ở hai thành phố và so sánh với

số liệu tương đương của toàn quốc qua các năm Đầu

tiên, mức năng lượng bình quân sẵn có hàng ngày tại

hộ gia đình cao hơn các mức bình quân tiêu thụ năng

lượng của Viện Dinh dưỡng Quốc gia và Tổ chức Y

tế Thế giới và các cơ quan về lương thực thế giới như

FAO, IFAD và WFP (FAO, IFAD, WFP (2015) Có

hai nguyên nhân lý giải cho số liệu trong báo cáo này

cao hơn: một là phương pháp thu thập số liệu và hai

là phương pháp tính bình quân Tổ chức lương thực

thế giới (FAO) tính toàn bộ thực phẩm sẵn có trong

toàn quốc gia chia cho dân số của toàn quốc gia đó

Mức năng lượng tiêu thụ trong chuỗi số liệu điều tra

mức sống dân cư là mức năng lượng sẵn có tại các hộ

gia đình Trong khi đó, mức tiêu thụ năng lượng từ

Viện Dinh Dưỡng Quốc gia là từ điều tra khẩu phần

ăn 24 giờ Mặc dù bộ số liệu điều tra mức sống dân

cư có thể đưa ra các kết quả chênh lệch như trên, bộ

số liệu này vẫn được sử dụng để đánh giá mức độ an ninh lương thực tại các nước đang phát triển, trong

đó có Việt Nam (Deaton, 1997)

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp tính năng lượng bình quân tương tự Trinh và cộng tác viên (2018a) ở mức độ toàn quốc Nhìn chung, mức trung bình năng lượng tiêu thụ ở cả hai thành phố đều tăng dần trong khoảng thời gian 12 năm qua Mức năng lượng tiêu thụ của thành phố Hồ Chí Minh luôn cao hơn của Hà Nội, trừ năm 2010 Từ năm

2004 đến năm 2016, so sánh với mức Trinh và cộng tác viên (2018a), năng lượng tiêu thụ bình quân ở

cả hai thành phố đều cao hơn mức trung bình toàn quốc từ 1,2% đến 4% ( trừ năm 2010 và Hà Nội có mức trung bình thấp hơn toàn quốc)

Bảng 1 Bình quân năng lượng hàng ngày /đầu người

ĐVT: Kcalo

Năm

Thành phố Hồ Chí Minh 3.571 3.349 2.852 3.443 3.813 3.905 4.588

Toàn quốc

Nguyen and Winters., 2011 3.144 3.074

Trinh và cộng tác viên (2018a) 3.291 3.272 2.818 3.632 3.611 3.651

FAO, IFAD, WFP (2015) 2.478 2.483 2.615 2.678 2.713

Hình 2 biểu thị trung bình tiêu thụ nguyên tố

đa lượng bình quân đầu người ở hai thành phố qua

các năm Nói chung, năng lượng có nguồn gốc tinh

bột đóng vai trò quan trọng nhất trong khẩu phần

ăn ở cả hai thành phố Xu hướng này cũng giống

xu hướng chung của toàn bộ người dân Việt Nam

(Trinh et al., 2018b) Các xu hướng chung ở cả hai

thành phố là:

Trang 5

- Trung bình ba chất dinh dưỡng chính (tinh bột,

chất đạm và chất béo) trên đầu người tăng dần qua

các năm từ 2004 đến 2016

- Năm 2008, cùng xu hướng với năng lượng bình

quân đầu người giảm, năng lượng từ cả ba chất dinh

dưỡng chính cũng giảm

- Năng lượng có nguồn gốc chất đạm chiếm phần

nhỏ nhất trong cả ba chất dinh dưỡng chính Ngoài

ra, năng lượng có nguồn gốc từ chất béo đạt đỉnh

cao nhất năm 2012

Về so sánh giữa hai thành phố, nhìn chung, tiêu thụ ba nguyên tố đa lượng ở Thành phố Hồ Chí Minh đều lớn hơn thành phố Hà Nội ở tất cả các năm Tuy nhiên, sự khác biệt về năng lượng có nguồn gốc từ chất béo và chất đạm của hai thành phố thì không

có nhiều sự khác biệt Thành phố Hồ Chí Minh có

xu hướng tiêu thụ tinh bột nhiều hơn Hà Nội trong thời gian gần đây

Hình 2 Bình quân tiêu dung năng lượng đầu người và các chất dinh dưỡng chính

3.3 Tiêu dùng và mức giá của các nhóm thực phẩm

chính: Rau, quả tươi, thịt và thủy sản

Phần này xem xét hiện trạng lượng tiêu dùng thực

phẩm, về bình quân đầu người và giá thực phẩm của

hai thành phố lớn Từ các loại thực phẩm khác nhau,

tập trung vào các nhóm thực phẩm chính sau:

- Rau bao gồm đỗ hạt các loại, các loại rau lá (rau

muống, mùng tơi,…), cải bắp, su hào, cà chua và các

loại rau khác

- Quả gồm cam, chuối, xoài và các hoa quả khác

(chôm chôm, dưa, đu đủ, vải, ổi, nho,…)

- Thịt lợn (gồm tất cả các loại thịt lợn và tính quy

đổi về thịt nạc)

- Thịt gia cầm, gồm có gà, vịt và các loại gia cầm

khác

- Thủy hải sản: Tôm cá tươi, tôm cá khô chế biến

và các loại thủy hải sản khác

Gạo không được xem xét trong nghiên cứu này vì

đây là thực phẩm sẵn có ở thành thị Các thực phẩm

không có nhiều chất dinh dưỡng như chè, cà phê,

bánh kẹo cũng không được nghiên cứu

Hình 3 thể hiện phần trăm của các thực phẩm

chính trong khẩu phần ăn, về mức năng lượng và

tiêu dùng, từ 2004 đến 2016 Về mức năng lượng,

nhìn chung, năng lượng có nguồn gốc từ rau quả và

thịt gia cầm tăng trong khi năng lượng có nguồn gốc

từ thịt giảm Cụ thể, năng lượng có nguồn gốc từ quả tăng mạnh từ 1,9% lên 3,44% Năng lượng có nguồn gốc từ rau tăng nhẹ Đặc biệt, năng lượng có nguồn gốc từ thịt lợn đã giảm đáng kể từ năm 2004 đến

2016 Năng lượng có nguồn gốc từ thịt lợn giảm từ 5,65% năm 2004 xuống còn 4,65% năm 2016, trong khi đó năng lượng có nguồn gốc từ các loại gia cầm tăng từ 1,64% năm 2004 lên 3,25% năm 2016

Về lượng chi tiêu cho các nhóm thực phẩm chính, thịt lợn và hải sản chiếm phần lớn nhất trong lượng chi tiêu của các hộ gia đình ở tất cả các năm Tuy nhiên, chi tiêu cho thịt lợn giảm mạnh gần một nửa,

từ 13,8% năm 2004 xuống 8,56% năm 2016 Lượng chi tiêu lớn nhất cho thịt lợn tương ứng với năng lượng có nguồn gốc lớn nhất từ thịt lợn Mặt khác, năng lượng có nguồn gốc thủy hải sản chiếm phần nhỏ nhất trong các nguồn năng lượng chính (trừ năm 2008), điều đó cho thấy thủy hải sản là đắt đỏ nhất ở hai thành phố chính của Việt Nam - nguồn năng lượng nhiều đạm nhất trong quan niệm của người Việt Nam Chi tiêu cho nhóm quả và thịt gia cầm cũng tăng tương đối nhiều từ năm 2004 đến

2016 Điều này cho thấy chi tiêu cho các nhóm thực phẩm chính đa dạng hơn và cân đối hơn Chi tiêu cho các loại rau giữ tương đối ổn định

Trang 6

Hình 3 Phần trăm của một số thực phẩm chính, theo năng lượng và theo chi tiêu

qua các năm (gộp cả hai thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội)

Cuối cùng, giá của 100 g của các nhóm thực

phẩm chính (Hình 4) được tính Sử dụng đơn vị đo

theo gram hoặc kg là hợp lý với tâm lý mua - bán

hàng của người dân Việt Nam là theo kg hoặc grams

mà chưa chú ý nhiều đến hàm lượng dinh dưỡng

trong các loại thực phẩm Giá thể hiện là giá cố định

năm 2016 Giá của thực phẩm rất quan trọng, vì nó

ảnh hưởng đến việc tiếp cận nguồn thực phẩm của

các hộ gia đình, tức là tăng chi tiêu hoặc giữ ổn định

của các hộ gia đình Giá của thủy hải sản, đo bằng cả

hai loại đơn vị, đều đắt nhất trong các năm và cũng

tăng nhiều nhất Nhìn chung, ở cả hai thành phố, có

sự khác biệt rõ ràng hơn của các nhóm thực phẩm

Giá của nhóm thủy hải sản là đắt đỏ nhất Nhóm

các loại thịt lợn và thị gia cầm có giá trị trung bình

và cũng tăng gấp hơn 2 lần trong khoảng 12 năm Giá của 100 gam rau và hoa quả chỉ tăng rất nhẹ và tương đối ổn định

Năm 2004, giá thủy hải sản ở hai thành phố tương đương nhau, tuy nhiên, qua các năm, giá thủy hải sản ở thành phố Hồ Chí Minh đắt hơn nhiều so với giá loại thực phẩm này ở Hà Nội Đăc biệt, giá hoa quả tại thành phố Hồ Chí Minh tăng rất ít qua các năm và ít hơn so với thành phố Hà Nội Điều này

có thể xuất phát từ từ việc thành phố Hồ Chí Minh

có nguồn cung quả đa dạng và dồi dào từ các tỉnh miền Tây

Hình 4 Giá của rau, quả, thịt lợn, thịt gà và thủy hải sản tại Hà Nội

và thành phố Hồ Chí Minh (đơn vị: nghìn đồng/100 gam)

Trang 7

IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

4.1 Kết luận

Thực trạng xu hướng tiêu dùng một số thực phẩm

thiết yếu và giá trị dinh dưỡng tại hai thành phố lớn

của Việt Nam: Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh,

từ năm 2004 - 2016, dựa trên bộ số liệu Điều tra

mức sống hộ dân cư cho thấy: Thực phẩm tiêu dùng

thường xuyên của hộ gia đình thể hiện hai nhân tố

của an ninh lương thực: tính tiếp cận và tính bền

vững Nghiên cứu sử dụng phương pháp tính năng

lượng bình quân đầu người, có xem xét cấu trúc tuổi

và giới tính hộ gia đình từ mức tiêu thụ năng lượng

của cả hộ gia đình được áp dụng

Nghiên cứu cho thấy từ mức sống hộ gia đình

tăng cao, chi tiêu cho thực phẩm tăng cao ở cả hai

thành phố Bình quân năng lượng sẵn có đầu người

tăng ở cả hai thành phố và nguồn cung từ các nguyên

tố đa lượng đều tăng Nghiên cứu cũng tập trung vào

phân tích xu hướng tiêu dùng 5 nhóm thực phẩm

chính, bao gồm rau, quả, thịt lợn, thịt gà và huỷ hải

sản Thịt lợn là thực phẩm có nguồn gốc động vật

phổ biến nhất trong bữa ăn người Việt Nam giảm

về chi tiêu và tỷ lệ đóng góp năng lượng Trái lại,

các thực phẩm giàu chất đạm khác như hải sản và

thịt gà được tăng thêm Đối với nhóm rau quả thì

xu hướng tiêu dùng quả tăng lên mạnh, trong khi

tiêu dùng rau khá ổn định theo thời gian Tuy nhiên,

giá thực phẩm có nguồn gốc động vật và thủy hải

sản vẫn tương đối đắt và tăng rất cao qua các năm,

nhất là thủy hải sản Giá hải sản ở thành phố Hồ Chí

Minh tăng cao hơn Hà Nội, trong khi đó giá quả có

xu hướng trái chiều

Nghiên cứu cho thấy lượng Kcal tiêu thụ bình

quân và các nguyên tố đa lượng ở hai thành phố

đang thay đổi theo đúng Kế hoạch hành động quốc

gia về Dinh dưỡng đến năm 2020 (Bộ Y tế, 2018) Từ

đó, sự cải thiện khẩu phần ăn của người dân đóng

góp vào sự thành công của Mục tiêu Phát triển Bền

vững (cụ thể mục tiêu 1, 2 và 3) của Liên Hợp Quốc

(Sustainable Development Goals - SDGs) Hơn nữa,

kết quả nghiên cứu là tư liệu khoa học khi xây dựng

Chương trình hành động quốc gia “Không còn nạn

đói” ở Việt nam đến năm 2025 (Chính phủ, 2018)

4.2 Đề nghị

Xu hướng tiêu dùng thực phẩm của người dân ở

hai thành phố đã thay đổi theo hướng tích cực Trên

cơ sở đó, bài báo đưa ra một số kiến nghị sau:

- Người dân có xu hướng chi tiêu thực phẩm tăng, vì thế, cần tiếp tục các chương trình giáo dục người nội trợ về bữa ăn đa dạng và đầy đủ, đồng thời lựa chọn thực phẩm tốt cho sức khỏe trong điều kiện kinh tế của từng hộ gia đình Đặc biệt, phương thức truyền thông cần đổi mới trong thời đại số 4.0

- Người dân ở hai thành phố có xu hướng đa dạng các thực phẩm có nguồn gốc từ động vật như thuỷ sản và gà để thay thế thịt lợn Các nhà hoạch định chính sách có thể có các chương trình hỗ trợ người sản xuất đa dạng hóa nguồn cung thực phẩm

có nguồn gốc từ động vật và thủy sản

- Người dân có xu hướng tăng tiêu dùng quả, trong khi tiêu dùng rau khá ổn định Tuy nhiên, bảo quản các thực phẩm này khó hơn trong điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm đang là thách thức với các

hộ sản xuất nhỏ Vì thế, cần có các giám sát về bảo quản, nguồn gốc của thực vật và các chương trình

để tăng niềm tin của người tiêu dùng về nguồn gốc rau quả sạch

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ Y tế, 2012 Chiến lược dinh dưỡng quốc gia 2011 -

2020, tầm nhìn 2030 Hà Nội.

Bộ Y tế - Viện Dinh Dưỡng, 2013 Bảng thành phần

thực phẩm Việt Nam Nhà xuất bản Y học.

Bộ Y tế, 2018 Quyết định số 718/QD-BYT về việc Phê

duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về Dinh dưỡng đến năm 2020, Hà Nội Truy cập ngày 30/10/2018 Địa chỉ: http://vaac.gov.vn/vanban_detail/Detail/ Quyet-dinh-so-718-QD-BYT-ve-viec-Phe-duyet- Ke-hoach-hanh-dong-quoc-gia-ve-Dinh-duong-den-nam-2020

Thủ tướng Chính phủ, 2012 Quyết định số

226/QĐ-TTg, ngày 22/02/2012 về việc “Phê duyệt chiến lược quốc gia về dinh dưỡng gia đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” Truy cập ngày 18/08/2018 Địa chỉ: http://vanban.chinhphu.vn/portal/ page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_ id=2&mode=detail&document_id=155431

Thủ tướng Chính phủ, 2018 Quyết định số

712/QĐ-TTg về việc Ban hành Chương trình hành động Quốc gia “Không còn nạn đói” ở Việt Nam đến năm 2025

Tổng cục Thống kê, 2015 Quyết định số

1095/QĐ-TCTK, ngày ngày  18  tháng  11  năm  2015 về việc tiến hành Khảo sát mức sống dân cư 2016 Truy cập internet ngày 21/11/2018 Địa chỉ: https:// thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/ Quyet-dinh-1095-QD-TCTK-khao-sat-muc-song-dan-cu-2016-2015-304223.aspx

Trang 8

Tổng cục Thống kê, 2016 Kết quả khảo sát mức sống

dân cư 2016 Nhà xuất bản Thống kê

Aguiar, M., & Hurst, E., 2013 Deconstructing life cycle

expenditure Journal of Political Economy, 121(3),

437-492

Deaton, A., 1997. The analysis of household surveys: a

microeconometric approach to development policy

The World Bank

FAO, 2008 An Introduction to the Basic Concepts of

Food Security, Published by the EC - FAO Food

Security Programme

FAO, IFAD and WFP, 2015 The State of Food Insecurity

in the World 2015 Meeting the 2015 international

hunger targets: taking stock of uneven progress

Rome, FAO

Hoang, L V., 2009 Analysis of calorie and micronutrient

consumption in Vietnam, Technical report,

DEPOCEN working paper 2009/14.

Nguyen, M.C and Winters, P., 2011 The impact of

migration on food consumption patterns: The case

of Vietnam. Food policy, 36 (1), pp.71-87

Mishra, V and Ray, R., 2009 Dietary diversity, food

security and undernourishment: the Vietnamese

evidence. Asian Economic Journal, 23 (2), pp.225-247.

OECD, 2013 OECD framework for statistics on the

distribution of household income Consumption and wealth Paris: OECD Publishing

Trinh, H.T., Simioni, M and Thomas-Agnan, C.,

2018a Assessing the nonlinearity of the calorie-income relationship: An estimation strategy–With new insights on nutritional transition in Vietnam

World Development, 110, pp.192-204.

Trinh, H.T., Morais, J., Thomas-Agnan, C and Simioni, M., 2018b Relations between

socio-economic factors and nutritional diet in Vietnam from 2004 to 2014: New insights using compositional

data analysis. Statistical methods in medical research,

p.0962280218770223

World Bank, 2018 http://data.worldbank.org/indicator/

PA.NUS.FCRF?page=1

Comparison of food consumption behaviour and sourced macronutrients

of perishable foods between Hanoi and Ho Chi Minh city from 2004 to 2016

Trinh Thi Huong, Dao The Anh, Le Van Tuan

Abstract

Vietnam is a lower middle-income country and is undergoing a nutritional transition with a more diverse diet and challenges of food security This study focuses on two of four dimensions of food security as FAO’s guideline: food access and food utilization The analysis is based on 7 waves of Vietnamese Living Standard Survey (VHLSS) from 2004 to 2016, conducted by the General Statistics Office of Vietnam (GSO) to compare food consumption behaviour of the two biggest cities in Vietnam: Hanoi and Ho Chi Minh city Food consumption at household levels are measured by several scales: (1) per capita calorie intake; (2) sourced macronutrients (carbohydrate, protein and fat); (3) perishable foods (such as pork, meat, fish, vegetable, fruits) and (4) food prices Results showed that both household welfare and total food expenditures increased over the considered period in two cities Per capita calorie intakes had increase in over the period and these values of the two cities were higher than the national average values in the same years Fruits consumption increased while vegetable consumption stayed stable over years The proportion in both macronutrient and food expenditure of pork, the most common meat in Vietnam, has decreased

In contrast, other rich protein food items, such as poultry and seafood, have seen increasing their contribution to the diet in both big cites The price of meat and aquatic products are still quite expensive, especially seafood Several key recommendations for improving nutrition and food consumption are suggested for the two biggest cities and for the national levels

Keywords: Food access, perishable foods, per capita calorie intake, macronutrients, food prices, Hanoi, Ho Chi

Minh city

Ngày nhận bài: 12/11/2018

Ngày phản biện: 17/11/2018 Người phản biện: PGS TS Nguyễn Thị Thanh ThủyNgày duyệt đăng: 10/12/2018

Ngày đăng: 23/10/2020, 16:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Chi tiêu hàng tháng cho thực phẩm của hộ gia đình - So sánh xu hướng tiêu dùng một số thực phẩm và năng lượng cung cấp từ một số thực phẩm thiết yếu tại hà nội và thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2004-2016
Hình 1. Chi tiêu hàng tháng cho thực phẩm của hộ gia đình (Trang 4)
Ghi chú: Đơn vị: nghìn đồng/hộ. Mỗi ô hình hộp thể hiện 5 giá trị thống kê của phân phối (từ thấp đến cao): giá trị nhỏ nhất, mức phân vị thứ nhất (25%), giá trị phổ biến (median), mức phân vị thứ ba (75%) và giá trị lớn nhất. - So sánh xu hướng tiêu dùng một số thực phẩm và năng lượng cung cấp từ một số thực phẩm thiết yếu tại hà nội và thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2004-2016
hi chú: Đơn vị: nghìn đồng/hộ. Mỗi ô hình hộp thể hiện 5 giá trị thống kê của phân phối (từ thấp đến cao): giá trị nhỏ nhất, mức phân vị thứ nhất (25%), giá trị phổ biến (median), mức phân vị thứ ba (75%) và giá trị lớn nhất (Trang 4)
Hình 2. Bình quân tiêu dung năng lượng đầu người và các chất dinh dưỡng chính - So sánh xu hướng tiêu dùng một số thực phẩm và năng lượng cung cấp từ một số thực phẩm thiết yếu tại hà nội và thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2004-2016
Hình 2. Bình quân tiêu dung năng lượng đầu người và các chất dinh dưỡng chính (Trang 5)
Hình 3. Phần trăm của một số thực phẩm chính, theo năng lượng và theo chi tiêu qua các năm (gộp cả hai thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội) - So sánh xu hướng tiêu dùng một số thực phẩm và năng lượng cung cấp từ một số thực phẩm thiết yếu tại hà nội và thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2004-2016
Hình 3. Phần trăm của một số thực phẩm chính, theo năng lượng và theo chi tiêu qua các năm (gộp cả hai thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội) (Trang 6)
Hình 4. Giá của rau, quả, thịt lợn, thịt gà và thủy hải sản tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (đơn vị: nghìn đồng/100 gam) - So sánh xu hướng tiêu dùng một số thực phẩm và năng lượng cung cấp từ một số thực phẩm thiết yếu tại hà nội và thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2004-2016
Hình 4. Giá của rau, quả, thịt lợn, thịt gà và thủy hải sản tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (đơn vị: nghìn đồng/100 gam) (Trang 6)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w