Những hoàn cảnh này có thể làm biến đổi tính cân bằng về quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận, và trong một số trường hợp dẫn tới thiệt hại nặng nề cho một bên nếu hợp đồng tiếp tục được thực
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Nguyễn Tiến Vinh
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các thông tin sử dụng phân tích trong Luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã được công bố theo đúng quy định
Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Học viên
Nguyễn Tiến Đạt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô trong Bộ môn Luật quốc tế - Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện để em có thể thực hiện Luận văn này
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới thầy Nguyễn Tiến Vinh, người trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình triển khai Luận văn Thầy đã đưa ra những góp ý vô cùng chi tiết và xác đáng từ giai đoạn lên
ý tưởng đến hoàn thiện để em có thể thực hiện đề tài một cách tốt nhất
Học viên
Nguyễn Tiến Đạt
Trang 5BẢNG THUẬT NGỮ VIẾT TẮT THƯỜNG DÙNG
1 Công ước Viên về Hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế năm 1980 CISG
2
Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
năm 2016
PICC (Các phiên bản về trước của Bộ nguyên tắc sẽ được đánh kèm số năm hoặc đề cập
cụ thể trong Luận văn)
3 Bộ nguyên tắc Luật hợp đồng chung
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN NHƯ MỘT RỦI RO TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 6
1.1 Tính chất tiềm ẩn rủi ro của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 6
1.2 Khái lược chung về trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản 8
1.3 Ứng xử của các chủ thể khi xảy ra hoàn cảnh thay đổi cơ bản 13
1.3.1 Sự cần thiết một giải pháp hạn chế, khắc phục hậu quả do hoàn cảnh thay đổi cơ bản 13
1.3.2 Hai phương hướng giải quyết trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản 13
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN TRƯỜNG HỢP HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN 24
2.1 Quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hệ thống pháp luật quốc gia 24
2.1.1 Pháp luật tại Pháp 24
2.1.2 Pháp luật tại Đức 33
2.1.3 Pháp luật tại Anh 43
2.2 Quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong pháp luật quốc tế 50
2.2.1 Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 50
2.2.2 Bộ nguyên tắc Hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT và Bộ nguyên tắc Luật hợp đồng chung Châu Âu 59
Trang 7CHƯƠNG 3: CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI TRƯỜNG HỢP HOÀN
CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN TẠI VIỆT NAM 73
3.1 Sự manh nha của các quy định liên quan tới hoàn cảnh thay đổi cơ bản 73 3.2 Quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong Bộ luật Dân sự 2015 76
3.2.1 Triết lý xây dựng quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản 76
3.2.2 Nội dung quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản 80
3.3 Tình hình thực tế liên quan tới hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi thực hiện hợp đồng tại Việt Nam 91
3.4 Một số kiến nghị đối với Việt Nam 94
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những quốc gia đang đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu Với việc đất nước tham gia một loạt các hiệp định thương mại tự do và điều ước quốc tế liên quan khác, các doanh nghiệp ở Việt Nam có rất nhiều cơ hội xây dựng quan hệ kinh doanh với đối tác nước ngoài Đặc biệt, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế ngày càng phát triển và giữ một vị trí vô cùng quan trọng
Bên cạnh những lợi ích của hoạt động này, không thể không nhắc đến những rủi ro luôn hiện hữu Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, sự xuất hiện của những hoàn cảnh không thể dự liệu trước
là một vấn đề cần lưu tâm đối với các bên tham gia hợp đồng Những hoàn cảnh này có thể làm biến đổi tính cân bằng về quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận, và trong một số trường hợp dẫn tới thiệt hại nặng nề cho một bên nếu hợp đồng tiếp tục được thực hiện mà không có sự điều chỉnh
Thực hiện hợp đồng trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản (hay còn gọi là hoàn cảnh hardship) là chế định pháp luật được xây dựng nhằm hạn chế, khắc phục những rủi ro đã nêu trong hoạt động thương mại Dù vẫn đang
có những tranh luận về tính hợp lý của chế định này, nó đã xuất hiện trong hệ thống pháp luật rất nhiều quốc gia cũng như thực tiễn thương mại quốc tế Tại Việt Nam, các quy định liên quan tới thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi được manh nha tại một số đạo luật chuyên ngành như Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật Đấu thầu năm 2005 Tuy nhiên, đạo luật gốc là Bộ luật Dân sự năm 2005 lại không đề cập tới vấn đề này Điều này trên thực tế đã gây khó khăn trong hoạt động thực tiễn của các doanh nghiệp trong đàm phán và thực thi các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Sự thiếu vắng này phần nào đã được khắc phục khi Bộ luật Dân sự năm
Trang 92015 ra đời Lần đầu tiên những quy định liên quan tới hardship được thể hiện rõ ràng trong hệ thống pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, chúng vẫn để lại những dấu hỏi lớn về khía cạnh lý thuyết cũng như khả năng vận dụng trong thực tiễn
Vì vậy, việc nghiên cứu cụ thể về vấn đề thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là cần thiết Thứ nhất, hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật Thứ hai, nó giúp các doanh nghiệp Việt Nam hạn chế những rủi ro không đáng có khi tham gia hoạt động thương mại quốc tế, nhất
là khi Việt Nam vừa trở thành thành viên của Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và mở ra rất nhiều những cơ hội trước mắt
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục đích của nghiên cứu là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan tới vấn đề thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế Từ đó, tìm ra những điểm còn hạn chế trong những quy định của pháp luật Việt Nam và đề xuất phương án khắc phục
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu tổng quát, các mục tiêu cụ thể của Luận văn bao gồm:
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận liên quan tới thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản: Định nghĩa, điều kiện để một hoàn cảnh được coi
là thay đổi cơ bản, hậu quả pháp lý của hoàn cảnh thay đổi cơ bản, cách thức ghi nhận và vận dụng những quy định liên quan tới hardship trong pháp luật quốc tế và một số quốc gia tiêu biểu
- Phân tích một số án lệ có liên quan để tìm ra các vấn đề pháp lý cần lưu ý
- Phân tích các quy định liên quan tới thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam:
- Đưa ra được giải pháp khắc phục những hạn chế trong quy định của pháp luật
Trang 101.3 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Về tính mới: Đề tài tập trung vào vấn đề hoàn cảnh thay đổi cơ bản
trong phạm vi hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thay vì tất cả các loại quan
hệ hợp đồng nói chung Cách tiếp cận của đề tài là ngoài việc kế thừa những công trình của học giả đi trước còn kết hợp với phân tích một số án lệ, vụ việc nổi tiếng trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế mà nội dung của tranh chấp có liên quan tới hardship Đề tài cũng lựa chọn phân tích Điều 420 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015, đây là quy định mới và cần nghiên cứu cụ thể
Về những đóng góp của đề tài: Thứ nhất, tổng hợp hoàn thiện cơ sở lý
luận của việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Thứ hai, đưa ra một số góp ý cá nhân về pháp luật của Việt Nam liên quan tới vấn đề này
1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu vấn đề thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dưới các hình thức: học thuyết của các học giả, các quy định của pháp luật và thực tiễn thương mại Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu đối tượng trên thông qua các công trình đã được công bố trong nước và quốc tế, các công ước quốc tế, luật mẫu trong lĩnh vực thương mại (Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế các phiên bản từ 1994 đến 2016, Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980, Bộ nguyên tắc Luật hợp đồng chung Châu Âu năm 2002), pháp luật của một số quốc gia tiêu biểu thuộc các
hệ thống pháp luật khác nhau (Anh, Đức, Pháp) và đặc biệt là pháp luật Việt Nam (chủ yếu xung quanh các đạo luật về dân sự và thương mại)
1.5 Tình hình nghiên cứu
Tại Việt Nam, rất nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu chuyên sâu đề tài hợp đồng nói chung và thực hiện hợp đồng nói riêng, một số công trình tiêu biểu bao gồm:
Trang 111 Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật hợp đồng phần chung, Nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
2 Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam: bản án và bình luận
bản án, Nhà Xuất Bản Hồng Đức - Hội Luật Gia Việt Nam, Hà Nội
3 Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật Kinh tế, Nhà xuất bản
Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội
4 Ngô Thị Kiều Trang (2014), Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
theo pháp Luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ ngành Luật kinh tế, Khoa luật -
Đại học quốc gia Hà Nội
Riêng đối với vấn đề thực hiện hợp đồng trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, đã có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành đóng góp những ý tưởng mới, có thể kể kến bao gồm:
1 Lê Minh Hùng (2009), Điều khoản điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh
thay đổi trong pháp luật nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, Số 6 tháng 3, tr.41- 51
2 Nguyễn Minh Hằng - Trần Thị Giang Thu (2016), Đề xuất diễn giải
và áp dụng điều 420 Bộ luật dân sự năm 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, Số 86/2016, tr.1-12
3 Nguyễn Thị Thu Trang (2018), Bảo đảm tự do hợp đồng trong tình
huống “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Tạp chí Luật học, Số 10/2018, tr.52 -62
Những bài viết nêu đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật Mặc dù đều tiếp cận hoàn cảnh hardship dưới góc nhìn
so sánh nhưng các công trình mới dừng lại ở mức độ khái quát, chưa đi vào nghiên cứu cụ thể Đồng thời, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu vấn đề trên trong phạm vi các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, trong khi hiện nay đây là loại giao dịch phổ biến của các doanh nghiệp Việt Nam
Trang 121.6 Phương pháp nghiên cứu
1.6.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: người viết tiến hành thu thập các thông tin liên quan đến đề tài Cụ thể bao gồm các công trình nghiên cứu trước đó, các quy định của pháp luật, các án lệ Thông qua quá trình tổng hợp, người viết chủ động phân tích, đưa ra những ý kiến và quan điểm cá nhân về
đề tài Phương pháp được sử dụng chủ yếu trong toàn bộ Luận văn
- Phương pháp thực nghiệm, quan sát: người viết thông qua kinh nghiệm làm việc và quan sát thực tiễn để đưa ra những nhận định liên quan tới đề tài Phương pháp được sử dụng chủ yếu tại Chương 3 của Luận văn liên quan tới thực tiễn xét xử
1.6.2 Phương pháp suy luận
- Phương pháp so sánh: người viết chọn ra các quốc gia tiêu biểu, thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau và có cách tiếp cận khác nhau đối với trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, sau đó tiến hành phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng tại những quốc gia này Đồng thời, người viết đối chiếu để chỉ ra những điểm giống và khác biệt trong quan niệm về hardship để từ đó đúc kết những ưu, nhược điểm trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam Phương pháp được sử dụng chủ yếu ở Chương 2 và Chương 3 của Luận văn
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: đối với từng hệ thống pháp luật được lựa chọn, người viết đi vào nghiên cứu mối quan hệ giữa thực tiễn
và nhu cầu của việc xây dựng quy định pháp luật liên quan tới hoàn cảnh thay đổi cơ bản Mối quan hệ này được nhìn nhận theo chiều dài lịch sử để tìm ra bản chất, quy luật vận động và phát triển Đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu ở Chương 2 và Chương 3 của Luận văn
- Phương pháp thống kê: người viết dựa trên những số liệu thu thập được
để đưa ra những nhận định liên quan tới đề tài Đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu ở Chương 3 của Luận văn
Trang 13CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN NHƯ MỘT RỦI RO
TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
1.1 Tính chất tiềm ẩn rủi ro của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trước tiên, phải khẳng định luật pháp quốc tế không có một định nghĩa thống nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Khoản 1 Điều 1 Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế quan niệm một hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất quốc tế khi được giao kết giữa các bên có trụ sở thương mại khác nhau [51, Điều 1] Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về Hợp đồng thương mại quốc tế năm 2016 cũng khẳng định tính chất quốc tế của hợp đồng có thể được xem xét theo nhiều khía cạnh (theo trụ sở của chủ thể giao kết, theo luật lựa chọn…) Tuy nhiên, PICC tiếp cận theo hướng phổ quát nhất, tức là các hợp đồng đều được coi là có tính quốc tế, trừ trường hợp tất cả các yếu tố của nó chỉ liên quan tới một quốc gia [55, Lời mở đầu]
Tại Việt Nam, các quy định liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể tìm thấy trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật thương mại năm 2005
Liên quan đến việc định danh bản chất hợp đồng, Điều 430 Bộ luật Dân
sự 2015 đưa ra một định nghĩa chung cho hợp đồng mua bán, theo đó “Hợp
đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.” (Cần
lưu ý thêm định nghĩa “hàng hóa” không được Bộ luật Dân sự trực tiếp đề cập
mà chỉ được mô tả trong Luật Thương mại như một tập hợp tài sản cụ thể
[40]) Luật thương mại 2005 quy định “Mua bán hàng hoá là hoạt động
thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán
Trang 14cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận.” Nhìn
chung, về bản chất hợp đồng, không có sự khác biệt giữa các quy định của pháp luật dân sự và thương mại
Liên quan đến tính quốc tế của hợp đồng, tại Điều 663, theo Bộ luật Dân
sự 2015, một quan hệ dân sự được xem là có yếu tố nước ngoài nếu đáp ứng một trong các yếu tố sau:
- Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;
- Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;
- Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài [37, Điều 663]
Điều này đồng nghĩa với việc một Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Bộ luật Dân sự có thể xác định dựa trên yếu tố về chủ thể, loại hàng hóa
là đối tượng của hợp đồng, việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng
Luật thương mại không ra định nghĩa cụ thể cho hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế mà chỉ mô tả hình thức thực hiện hoạt động mua bán hàng
hóa quốc tế “Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức
xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.”
[40, Điều 27] Các quy định liên quan tới xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu cho thấy việc nhìn nhận tính quốc tế của hoạt động mua bán hàng hóa theo luật thương mại được thể hiện thông qua việc chuyển dịch hàng hóa qua phạm vi lãnh thổ của các quốc gia [40, Điều 28-30]
Như vậy, trên cả bình diện luật pháp quốc tế lẫn Việt Nam, hợp đồng thương mại quốc tế nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường
Trang 15được nhìn nhận qua những điểm đặc thù liên quan tới chủ thể giao kết, đối tượng hợp đồng, phạm vi thực hiện hợp đồng Chính những đặc điểm này dẫn tới những vấn đề liên quan tới giá trị hợp đồng, luật điều chỉnh hợp đồng hay phương thức giải quyết khi có tranh chấp xảy ra
Nhìn chung, với tính chất đặc trưng về đối tượng là hàng hóa và việc chuyển giao hàng hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có một số điểm cần đặc biệt lưu ý như sau:
(1) Việc thực hiện hợp đồng thường diễn ra trên phạm vi hai hoặc nhiều quốc gia bởi luôn có sự chuyển giao thực tế hàng hóa từ địa phận quốc gia này đến quốc gia khác
(2) Thời gian thực hiện hợp đồng tương đối dài do tác động của khoảng cách địa lý Tùy theo nhu cầu của người mua và người bán, quãng đường di chuyển của hàng hóa có thể lên tới nửa bán cầu
(3) Các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường có giá trị lớn, do phải gánh chịu nhiều loại chi phí phát sinh (chi phí vận chuyển, thuế quan, và các chi phí khác…)
Những điểm đặc thù nói trên của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khiến quá trình giao kết và thực hiện loại hợp đồng này phức tạp hơn so với hợp đồng thông thường Sự kéo dài về thời gian cũng như cách biệt địa lý tạo nên rủi ro khi các tác động của tự nhiên và đời sống kinh tế, chính trị có thể tác động vào hợp đồng, bóp méo kì vọng của các bên tại thời điểm giao kết Đây là lý do mà trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi thực hiện hợp đồng là một trong những rủi ro phổ biến thường được xem xét trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.2 Khái lược chung về trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Việc đưa ra một định nghĩa chính xác cho trường hợp hoàn cảnh thay đổi
cơ bản tương đối khó khăn Bản thân cách tiếp cận đối với vấn đề này cũng có
Trang 16sự khác biệt giữa các quốc gia [10] Ở Pháp, những loại trường hợp này được
gói gọn trong học thuyết “Imprévision” Tại Đức, người ta sử dụng thuật ngữ
“Wegfall der Geschäftsgrundlage” Một số quốc gia thuộc hệ thống thông luật
lại coi sự thay đổi hoàn cảnh cơ bản là một phần của học thuyết về sự thất bại
“frustration” [35, p.5, p.7, p.12] Thuật ngữ “hardship” được sử dụng trong bản tiếng Pháp của Bộ nguyên tắc UNIDROIT đã được chấp nhận rộng rãi trong thực tiễn thương mại quốc tế [5, tr.41]
Dưới góc độ là một rủi ro trong giao dịch mua bán hàng hóa, hardship cấu tạo bởi hai thành tố:
(1) Sự thay đổi hoàn cảnh tác động đến việc thực hiện hợp đồng đã giao kết giữa các bên
Sự thay đổi hoàn cảnh hoặc phát sinh từ tự nhiên (hỏa hoạn, dịch bệnh, bão, lũ lụt, hạn hán) hoặc là yếu tố nhân tạo (thay đổi chính sách pháp luật, chiến tranh, biến động thị trường…) Chưa tính đến tác động là tính cực hay tiêu cực, khi sự thay đổi hoàn cảnh này xảy ra, hệ quả của nó là việc thực hiện hợp đồng giữa các bên không còn đúng với những dự định ban đầu Thông thường, sự thay đổi hoàn cảnh này phải đáp ứng các điều kiện:
Tính không thể lường trước: tức là tại thời điểm giao kết hợp đồng, dù
nỗ lực dự phòng những rủi ro, các bên không thể dự liệu về việc hoàn cảnh thực hiện hợp đồng sẽ thay đổi Nếu họ lường trước được một hoặc một số trở ngại trong tương lai, tác động của trở ngại lên hợp đồng không được cân nhắc bởi lúc này các bên hoàn toàn có đầy đủ cơ sở để tìm ra biện pháp ứng phó, khắc phục
Ví dụ: A (bên bán) và B (bên mua) giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa Trong hợp đồng có điều khoản A phải vận chuyển hàng hóa từ nước mình (Nhật Bản) sang trụ sở của bên mua (Mỹ) Theo hợp đồng, A có nghĩa vụ
Trang 17chuyển giao hàng cho B trong vòng 3 ngày Tuy nhiên, trong quá trình vận chuyển có một cơn bão xảy ra khiến thời gian và chi phí vận chuyển tăng mạnh Vụ việc này chỉ được coi là có dấu hiệu của hardship nếu sự xuất hiện của cơn bão không được dự báo trước bởi các cơ quan khí tượng, hoặc A và
B không thể biết tới những dự báo đó một cách hợp lý Bởi về nguyên tắc, nếu
đã biết quá trình vận chuyển bị tác động bởi một cơn bão, A và B sẽ thiết lập các điều khoản khác đi trong hợp đồng (lựa chọn thời điểm giao hàng khác, lựa chọn tuyến giao hàng khác hoặc thay đổi các chi phí trong hợp đồng)
Tính khách quan: sự kiện dẫn tới thay đổi hoàn cảnh cơ bản phải độc lập
với hành vi của các chủ thể tham gia giao dịch Bởi nếu việc thực hiện hợp đồng bị tác động bởi hành vi của một trong các bên, yếu tố lỗi sẽ được xem xét và nhiều khi bên gây ra sự thay đổi phải bị áp dụng trách nhiệm bồi thường hợp đồng cho sự kiện mà họ gây ra
(2) Hệ quả của sự thay đổi hoàn cảnh lên giao dịch
Khi hardship xảy ra, việc thực hiện hợp đồng của các bên thay đổi so với những dự tính ban đầu Quan niệm về mức độ thay đổi không hoàn toàn tương đồng giữa các hệ thống pháp luật Theo PICC, hardship gây mất cân bằng về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Cụ thể, văn bản này giải thích sự mất cân bằng là việc hoặc chi phí thực hiện nghĩa vụ của một bên gia tăng đáng kể, hoặc những lợi ích nhận được khi thực hiện nghĩa vụ của một bên giảm xuống đáng kể [55, Điều 6.2.2] Cách tiếp cận này cũng được thừa nhận tại Bộ nguyên tắc Luật hợp đồng chung Châu Âu [56, Khoản 1 Điều 6:111] Bộ luật Dân sự Pháp chỉ chấp nhận khía cạnh gia tăng gánh nặng của nghĩa vụ của một bên [49, Điều 1195]
Điều 1195 Bộ luật Dân Sự Pháp quy định như sau:
“ Nếu một sự thay đổi hoàn cảnh xảy ra thỏa mãn các điều kiện:
Trang 18- Không thể được lường trước tại thời điểm giao kết hợp đồng,
- Khiến cho viêc thực hiện hợp đồng trở nên nặng nề hơn đối với một bên
- Bên bị thiệt hại không minh thị việc đồng ý gánh chịu rủi ro do sự thay đổi hoàn cảnh này mang lại
Thì bên bị thiệt hại đó có quyền đề nghị các bên còn lại đàm phán lại hợp đồng, đồng thời vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình trong quá trình đàm phán lại
Trong trường hợp yêu cầu đàm phán lại bị từ chối hoặc việc đàm phán thất bại, các bên có thể đồng thuận việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn với những điều kiện do họ xác định, hoặc đề nghị tòa án giải quyết Trong trường hợp không có sự đồng thuận trong một khoảng thời gian hợp lý, tòa
án, theo yêu cầu của một bên, chỉnh sửa lại hợp đồng hoặc chấm dứt nó, theo thời gian và điều kiện do tòa xác định.”
Một số quốc gia khác như Đức, trừu tượng hơn, coi hardship là trường hợp mà một sự thay đổi bất ngờ trong hoàn cảnh thực hiện hợp đồng dẫn tới nền tảng giao dịch bị tiêu biến [50, Điều 313] Điểm chung thường được thừa nhận là dù hậu quả xảy đến như thế nào, nghĩa vụ ban đầu tồn tại trong hợp đồng giữa các bên vẫn hoàn toàn khả thi Đây cũng là khác biệt cố hữu để so sánh trường hợp hardship và force majeure – trường hợp bất khả kháng
Trang 19Bảng 1 SO SÁNH CƠ BẢN GIỮA HARDSHIP VÀ FORCE MAJEURE
Nguyên nhân Sự xuất hiện của một sự kiện khách quan, không thể
lường trước Sự kiện này hoặc từ tự nhiên hoặc do yếu tố con người gây nên
Việc biến đổi này có thể thể hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau, ví dụ như chi phí thực hiện gia tăng, lợi ích vật chất khi thực hiện nghĩa vụ giảm xuống, mục đích của một bên khi thực hiện nghĩa vụ không còn tồn tại… Tuy nhiên, mẫu số chung trong trường hợp này
là nghĩa vụ không trở nên bất khả thi và vẫn có thể thực hiện bằng cách này hay cách khác
Nghĩa vụ trở nên bất khả thi trong một khoảng thời gian nhất định hoặc mãi mãi
Trong phạm vi Luận văn này, thuật ngữ “Hoàn cảnh hardship” hoặc
“hardship” được sử dụng để dẫn chiếu tới trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản dưới tư cách là một rủi ro trong giao dịch thương mại với đặc tính được
Trang 20mô tả một cách tổng quan tại mục 1.2 Thuật ngữ “Điều khoản hardship” được sử dụng để dẫn chiếu tới những điều khoản trong hợp đồng nhằm ứng biến với các trường hợp nêu trên Thuật ngữ “Quy định hardship” được sử dụng để dẫn chiếu tới các quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia hoặc quốc tế điều chỉnh hành xử của các bên liên quan tới trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản
1.3 Ứng xử của các chủ thể khi xảy ra hoàn cảnh thay đổi cơ bản
1.3.1 Sự cần thiết một giải pháp hạn chế, khắc phục hậu quả do hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Khi Hoàn cảnh hardship xảy ra, một trong các bên có thể phải gánh chịu thiệt hại nghiêm trọng trọng nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng như đã thỏa thuận, đã giao kết Thiệt hại này thể hiện dưới dạng vật chất hoặc phi vật chất
và được xác định trong hoàn cảnh cụ thể Điểm quan trọng là chúng tác động không nhỏ vào kì vọng của các bên khi tham gia hợp đồng, biến hợp đồng từ một công cụ vốn được quan niệm giúp phòng ngừa rủi ro [7, tr.50] lại mang lại bất lợi cho người tham gia Ví dụ như sự trượt giá của đồng tiền có thể khiến bên bán mất đi một khoản lợi, hay một chính sách hạn chế lưu thông hàng hóa trên thị trường của nhà nước có thể khiến việc nhập về một lượng lớn sản phẩm của bên mua trở nên vô ích
Chính vì vậy, Hoàn cảnh hardship là một trong những rủi ro hàng đầu
mà các chủ thể tiến hành giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế không muốn gặp phải Việc tìm ra biện pháp xử lý loại rủi ro này chắc chắn là một nhu cầu phát sinh tất yếu từ đời sống thương mại
1.3.2 Hai phương hướng giải quyết trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản
a Chủ động loại trừ những rủi ro ngay từ thời điểm giao kết hợp đồng
“Phòng bệnh hơn chữa bệnh” là một câu châm ngôn phổ biến của người Việt Nam nhằm truyền bá kinh nghiệm trong việc đương đầu với bệnh
Trang 21tật Tuy nhiên nó thường được áp dụng rộng rãi, kể cả cho những vấn đề không liên quan tới sức khỏe Trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, xu hướng chủ động dự liệu và chuẩn bị phương án đối đầu với rủi ro luôn mang lại hiệu quả cho các bên khi tham gia một giao dịch Nó loại bỏ cảm giác thụ động khi nghịch cảnh xảy ra, đồng thời tiết kiệm rất nhiều chi phi cho việc khắc phục hậu quả Hoàn cảnh hardship cũng không phải ngoại lệ khi việc các bên đưa ra một điều khoản ứng phó với sự thay đổi hoàn cảnh cơ bản thường mang lại hiệu quả Theo đó họ có thể thỏa thuận về tiêu chí của hoàn cảnh thay đổi cơ bản, hành xử của các bên khi nó xảy ra và áp dụng trực tiếp thỏa thuận này nếu có rủi ro trên thực tế Phòng Thương Mại Quốc Tế (ICC) thậm chí từng đưa ra điều khoản hardship mẫu làm cơ sở tham khảo cho các bên trong giao dịch thương mại quốc tế, cụ thể:
“1 Một bên tham gia hợp đồng buộc phải thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng của mình ngay cả khi xảy ra các sự kiện khiến việc thực hiện hợp đồng trở nên nặng nề hơn so với việc thực hiện hợp đồng có thể dự đoán một cách hợp lý tại thời điểm giao kết hợp đồng
2 Mặc dù đã có quy định tại khoản 1 của Điều này, khi một bên tham gia hợp đồng chứng minh được:
a, việc tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng trở nên quá nặng
nề do một sự kiện nằm ngoài sự kiểm soát hợp lý của họ, không thể được dự liệu một cách hợp lý vào thời điểm giao kết hợp đồng, và;
b, họ không thể tránh hoặc khắc phục một cách hợp lý sự kiện đó hoặc hậu quả của nó, thì các bên bị ràng buộc, trong một thời gian hợp lý, có thể đàm phán sửa đổi các điều khoản hợp đồng phù hợp với hậu quả do sự kiện
đó gây ra
3 Trong trước hợp các bên không thể thỏa thuận để sửa đổi các điều khoản hợp đồng một cách hợp lý nhằm khắc phục hậu quả của sự kiện, bên đề nghị áp dụng điều khoản này có quyền chấm dứt hợp đồng.” [19]
Trang 22Bên cạnh việc quy định trực tiếp Điều khoản hardship, các bên có thể hạn chế phần nào tác động của ngoại cảnh vào hợp đồng bằng cách thỏa thuận
sử dụng đơn giá điều chỉnh trong hợp đồng mua bán hàng hóa Điều này khiến giá trị hợp đồng phần nào thích ứng được với những biến động bên ngoài, tuy nhiên, nếu biến động quá lớn, phương án này cũng không mang lại hiệu quả cao
Vì sự giới hạn về năng lực và sự cẩn trọng cần thiết, không phải trong mọi trường hợp các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng đều có thể xác lập một biện pháp dự phòng như trên
b Đưa ra một biện pháp khắc phục khi đã xuất hiện hậu quả
Phương án giải quyết thứ hai là tìm ra một câu trả lời làm hài lòng các bên khi xuất hiện Hoàn cảnh hardship Do sự thay đổi hoàn cảnh khiến cán cân nghĩa vụ đặt ra ban đầu thay đổi, hành vi tác động vào chính việc thực hiện nghĩa vụ này nhằm khôi phục phần nào kì vọng của các bên dường như
là phương án hợp lý nhất
Cơ sở của việc điều chỉnh hợp đồng
Mặc dù được xây dựng trên nền tảng thỏa thuận tự do, việc điều chỉnh hợp đồng của các bên thời kì đầu luôn gặp khó khăn bởi những nguyên tắc cơ bản của pháp luật
Đối với các quốc gia theo trường phái luật Châu Âu – Lục Địa, những người theo chủ nghĩa truyền thống phản đối việc can thiệp vào thỏa thuận ban đầu của các bên, kể cả khi xuất hiện Hoàn cảnh hardship Việc tuân thủ nghĩa
vụ hợp đồng càng phải được tôn trọng, đặc biệt đối với những giao dịch mang tính chất quốc tế [31, p.2017] Quan niệm nêu trên xuất phát từ nguyên tắc
được thừa nhận phổ quát là pacta sunt servanda hay về tính ràng buộc của hợp đồng Nguyên tắc pacta sunt servanda đã tồn tại từ thời kì cổ đại với nền
tảng liên quan đến tôn giáo và những lời căn dặn của thánh thần [22,
Trang 23pp.775-776], điều này khiến nó có tính tuân thủ cao ngay từ khi xuất hiện Mục đích của nguyên tắc là bảo vệ quyền lợi của các bên và giúp giao dịch trở nên chắc chắn về mặt pháp lý Theo đó, khi các bên đã tiến hành giao kết hợp đồng, họ
có trách nhiệm thực hiện đúng những gì đã cam kết Tuy nhiên, việc tuân thủ hợp đồng một cách cứng nhắc tạo nên không ít trở ngại trong đời sống thương mại do những biến đổi và tác động của ngoại cảnh Nhiều nỗ lực cải thiện vấn
đề này dần được hình thành, và một trong những quan điểm nền tảng là triết
lý về luật tự nhiên của Thánh Thomas Aquinas Trên cơ sở cho rằng luật bất công không phải là luật và nhìn nhận luật pháp trong mối quan hệ với đạo đức [14, tr.19-20], ông đề ra ý niệm về việc bất tuân nghĩa vụ trong cả lĩnh vực luật công và luật tư Liên quan đến hợp đồng, Thomas Aquinas cho rằng nếu đối tượng của hợp đồng là người hoặc vật thay đổi so với thời điểm giao kết, việc không thực hiện hợp đồng có thể được chấp thuận [22, p.777] Ý niệm về việc không thực hiện nghĩa vụ sau này được thừa nhận tương đối rộng rãi, đặc biệt là trường hợp force majeure khi hoàn cảnh khách quan khiến nghĩa vụ của các bên trở nên bất khả thi Đối với hardship, vẫn tồn tại những sự dè dặt
nhất định Rất nhiều quốc gia tiếp tục việc áp dụng pacta sunt servanda một
cách cứng nhắc, hay nói một cách khác là dù hợp đồng mất cân bằng thì các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện như những gì đã thỏa thuận
Rào cản của việc điều chỉnh hợp đồng đối với các nước theo truyền thống thông luật xuất phát từ quan niệm về hợp đồng Theo quan niệm của hệ
thống pháp luật Common Law thì “về bản chất, hợp đồng là thoả thuận ràng
buộc về mặt pháp lí giữa hai bên hoặc nhiều bên hoặc (như một số định nghĩa
đã đặt ra) một tập hợp các lời hứa ràng buộc về mặt pháp lí được thực hiện bởi một bên hoặc nhiều bên” [6, tr.93] Bên cạnh các yếu tố thường thấy như
đề nghị và chấp thuận, một trong những điều kiện cần để hợp đồng có hiệu lực là “khoản đối ứng” (consideration)
Trang 24““Consideration” có bản chất pháp lý là vật/thứ/việc (things) được trao đi đổi lại giữa các bên trong giao kết hợp đồng, cam kết và hứa hẹn trao đổi các vật/thứ/việc (things) trong quá trình thực hiện hợp đồng trên thực tế Trong đa số trường hợp, nếu không có “consideration” thì hợp đồng không
có giá trị ràng buộc các bên trong giao kết hợp đồng.” [6] Với quan niệm
như vậy, các nước theo truyền thống common law phát triển học thuyết về sự ràng buộc của “tiền nghĩa vụ” (pre-existing duty) Theo đó, một lời hứa nhằm (i) bổ sung một khoản đối ứng hoặc (ii) cam kết thực hiện thêm một hành vi của một bên để đổi lại việc thực hiện hợp đồng của bên kia sẽ không có giá trị bắt buộc, nếu trước đó hai bên đã chịu ràng buộc bởi những lời hứa và một khoản đối ứng nhất định [29, p.850]
Ví dụ, A và B giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa dài hạn với giá 50$/ một đơn vị hàng hóa Sau một năm thực hiện hợp đồng A và B thỏa thuận điều chỉnh mức giá xuống còn 30$/một đơn vị hàng hóa trong khi chất lượng hàng vẫn giữ nguyên Theo quan niệm cũ, thỏa thuận này có thể không
có giá trị bắt buộc thực hiện (tức là trong trường hợp có tranh chấp cơ quan tài phán có thể yêu cầu các bên phải thực hiện hợp đồng với mức giá ban đầu) bởi khoản đối ứng của hợp đồng đã suy giảm theo thỏa thuận mới
Các vấn đề về khoản đối ứng liên quan trực tiếp tới việc điều chỉnh hợp đồng nói chung và trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản nói riêng Bởi như đã đề cập, mọi sự thỏa thuận lại đều dẫn tới chênh lệch về khoản đối ứng được xác lập tại thời điểm giao kết hợp đồng Nhiều tòa án tại Anh có khuynh hướng cấm hành vi thỏa thuận lại dù tự nguyện của các bên trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi [29, p.852] Bên cạnh đó, cũng có những nỗ lực tìm phương án giải quyết sao cho phù hợp với lợi ích của các bên và quan niệm
về hợp đồng, tỉ dụ:
Trang 25- Quan niệm điều chỉnh hợp đồng thực chất là việc chấm dứt những thỏa thuận cũ và thiết lập nên một thỏa thuận mới với khoản đối ứng mới
- Quan niệm việc thay đổi khoản đối ứng về thực chất là việc một bên tặng/cho hoặc từ bỏ một phần quyền đối với khoản đối ứng của mình, vì vậy hợp đồng vẫn giữ được sự cân bằng giữa 2 bên [29, p.853]
Mặc dù có thể sử dụng các phương thức lập luận khác nhau để tránh đề cập trực tiếp tới việc điều chỉnh hợp đồng, đi ngược lại với học thuyết về tiền nghĩa vụ, nhưng điểm dễ dàng nhận thấy là dù lập luận theo hướng nào thì trong các trường hợp điều chỉnh, ý chí của các bên vẫn là tiếp tục thực hiện hợp đồng, chỉ là thực hiện với những điều khoản mới mà không có sự ngắt quãng
Một số nền tài phán lựa chọn phương án xác định trực tiếp vấn đề là khi điều chỉnh hợp đồng, một phần khoản đối ứng sẽ bị tiêu hao, họ cố gắng tìm câu trả lời cho câu hỏi :”liệu hợp đồng có nên được tiếp tục thực thi khi khoản đối ứng suy giảm như vậy hay không?” [29, p.857] Rất nhiều yếu tố cần được xác định, bao gồm nhưng không giới hạn ý chí của các bên chủ thể khi điều chỉnh hợp đồng, một trong những điều kiện tối thiểu để chấp nhận việc điều chỉnh hợp đồng là không có sự cưỡng ép đối với các chủ thể giao kết Kế đến đó, cần phải xác định sự suy giảm khoản đối ứng đến mức độ nào thì được chấp nhận, vv…Mặc dù xuất hiện rất nhiều quy tắc ngặt nghèo, tuy nhiên việc điều chỉnh hợp đồng dần được chấp nhận, một trong những tác nhân hỗ trợ việc chấp nhận này là nguyên tắc thiện chí
“Thiện chí là một nguyên tắc ứng xử rất quan trọng không chỉ trong quan hệ hợp đồng mà còn trong tổ chức đời sống xã hội Nó là một trong những vấn đề căn bản để duy trì sự tồn tại và phát triển chung của cộng đồng Bởi con người sinh ra vốn rất cần đến nhau và sự hợp tác, và sự hợp tác chỉ
có được khi các bên đều có thiện chí.” [1, tr.154]
Trang 26Theo từ điển Black’s Law, thiện chí được định nghĩa: “là một phẩm
chất vô hình, trừu tượng và không có nghĩa đen theo luật định, nó bao gồm, bên cạnh các thuộc tính khác, một niềm tin trung thực, sự không ác ý và việc không có ý định lừa gạt hoặc không có gắng gặt hái những lợi ích có tính cá nhân.” Điều 1.7 PICC 2016 quy định về việc các bên phải hành xử một cách
thiện chí trong quan hệ thương mại quốc tế
Bộ luật Dân sự 2015 thừa nhận thiện chí như một nguyên tắc cơ bản,
theo đó đạo luật này quy định “Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện,
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.”
Nguyên tắc thiện chí ngày nay thường được tiếp cận theo giác độ “công bằng” và “kinh tế” [1, tr.155] Có thể đưa ra nhận định về nguyên tắc thiện chí như sau:
Thứ nhất, nó nhằm mô tả một phẩm chất trừu tượng trong quan hệ hợp
đồng mà theo đó diễn đạt sự tin tưởng hoặc động cơ thành thật mà không có bất kỳ sự các ý hoặc mong muốn lừa dối người khác nào Theo đó, một bên phải hành xử trên cơ sở vì lợi ích chung của cả hai
Thứ hai, thiện chí không chỉ tồn tại trong quá trình giao kết hợp
đồng mà còn là nghĩa vụ bắt buộc của các bên trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng
Các đặc trưng của nguyên tắc thiện chí củng cố nền tảng của việc điều chỉnh một hợp đồng đã được giao kết
Ngoài ra không thể không nhắc đến nguyên tắc tự do ý chí – một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hợp đồng
Điều 1.1 PICC 2016 ghi nhận: “Các bên được tự do giao kết hợp đồng
và ấn định các điều khoản của hợp đồng” Phần bình luận chính thức của bộ
nguyên tắc này nêu rõ tự do hợp đồng là một nguyên tắc cơ bản trong giao dịch thương mại quốc tế
Trang 27Hiểu theo nghĩa rộng, trong quan hệ hợp đồng, tự do ý chí được thể hiện dưới nhiều phương diện khác nhau, bao gồm:
(i) Tự do lựa chọn việc ký kết hay không ký kết hợp đồng
(ii) Tự do lựa chọn đối tượng ký kết hợp đồng
(ii) Tự do xác lập nội dung hợp đồng
(iii) Tự do thay đổi những nội dung đã giao kết [1, tr.29-34]
Tự do ý chí đồng nghĩa với việc, mặc dù các bên đã đồng ý chịu ràng buộc với những điều khoản được thỏa thuận trong hợp đồng, tuy nhiên, khi có
sự đồng thuận, họ hoàn toàn có thể thay đổi các thỏa thuận đã đặt ra trước đó
Áp dụng tư tưởng nêu trên vào trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, khi hoàn cảnh thay đổi xảy ra, một trong hai bên có quyền đề xuất sửa đổi hoặc thậm chí chấm dứt các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng
Khi đã có cơ sở để điều chỉnh hợp đồng, trở ngại lớn nhất trong quá trình thỏa thuận phương án xử lý khi Hoàn cảnh hardship xảy ra là việc cân bằng lợi ích của hai bên
Trong quan hệ giữa hai bên, hậu quả của Hoàn cảnh hardship là việc một bên chịu thiệt hại so với lợi ích họ lẽ ra được hưởng ban đầu, trong khi bên còn lại có thể vẫn giữ nguyên những kỳ vọng tại thời điểm giao kết
Trong quan hệ với thị trường, Hoàn cảnh hardship không chỉ tước đi lợi ích của một bên mà dường như còn trao tặng cho bên kia những quyền lợi nhất định, ví dụ như được lợi từ việc mua sản phẩm với mức giá tại thời điểm chưa có biến động trên thị trường
Vì vậy, không phải trong mọi trường hợp sự thỏa thuận để đạt được giải pháp khắc phục hậu quả cho Hoàn cảnh hardship luôn khả thi Điều này dẫn tới nhu cầu về một cơ chế mang tính cưỡng chế của pháp luật, cho phép những sự can thiệp vào hợp đồng nằm ngoài ý chí của các bên của bên thứ ba
Trang 28Sự can thiệp vào hợp đồng của cơ quan tài phán
Trong khi việc điều chỉnh hợp đồng trong trường hợp đạt được sự đồng thuận của các bên giao kết ngày nay được thừa nhận một cách rộng rãi, sự can thiệp của cơ quan tài phán vẫn để lại nhiều băn khoăn (xem thêm thực tiễn tại chương II), xuất phát từ những nguyên nhân sau:
- Thứ nhất, hợp đồng được hình thành dựa trên sự thống nhất ý chí của các bên mà nội dung của nó bao gồm cả những ngụ ý chấp nhận rủi ro có thể xảy đến Việc điều chỉnh hợp đồng của cơ quan tài phán trên cơ sở bảo đảm công bằng khi xuất hiện rủi ro dường như là một sự xâm phạm tới nguyên tắc
tự do ý chí, tự do hợp đồng
- Thứ hai, ngay cả khi có được quyền tác động vào thỏa thuận sẵn có, cơ quan tài phán không có đủ cơ sở để xác định phạm vi điều chỉnh của mình Đối với vấn đề thứ nhất, một số học giả cho rằng thẩm quyền can thiệp vào hợp đồng của cơ quan tài phán đến từ quan điểm bảo vệ lợi ích tối đa cho các bên [30, p.2] Theo đó thay vì phải đi đến giải pháp chấm dứt hợp đồng nếu không đạt được sự đồng thuận sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi, các bên có thể tiếp tục hưởng lợi ích từ hợp đồng sau khi cơ quan tài phán tiến hành điều chỉnh những điều khoản phù hợp Đồng thời việc làm này, trên cơ
sở nguyên tắc tự do hợp đồng, thể hiện những nỗ lực cố gắng khôi phục lại ý chí của các bên tại thời điểm giao kết
Đối với vấn đề thứ hai, cơ quan tài phán hoàn toàn có thể tiến hành điều chỉnh hợp đồng dựa trên thỏa thuận ban đầu của các bên, các yếu tố liên quan
và hiểu biết cá nhân người tiến hành điều chỉnh [30, p.5]
Một cách tiếp cận khác đối với việc điều chỉnh hợp đồng của cơ quan tài phán dựa trên sự hạn chế tự do ý chí, tự do hợp đồng Nguyên tắc của phương
án này là việc tự do ý chí “không thể giải quyết được một cách thỏa đáng
những mối quan hệ xã hội phức tạp ngày nay khi mà con người sống trong sự
Trang 29phụ thuộc lẫn nhau, khi mà vị thế kinh tế, xã hội của mỗi người không hoàn toàn ngang bằng, khi mà một nền kinh tế tự do hoàn toàn không thể duy trì được nữa” [1, tr.26]
Theo đó, trong những trường hợp đặc biệt, nhà nước, thông qua các quy định pháp luật, cần bảo vệ những người yếu thế trong một giao dịch cụ thể Quy định về trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản cho phép một sự can thiệp nhất định vào địa phần cá nhân, điều chỉnh hợp đồng được thỏa thuận một cách tự do và tự nguyện giữa các thương nhân Bởi trong những trường hợp này, sự tác động của ngoại cảnh khiến cho việc thực hiện hợp đồng trở nên nặng nề hơn cho một bên, vô hình trung biến bên đó thành một bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng
Nhìn chung, trước nhu cầu của thời đại và những biến động về kinh tế, chính trị, xã hội, các hệ thống pháp luật dần cởi mở hơn với quan niệm cho phép can thiệp vào hợp đồng và cố gắng khôi phục lại những gì đã mất do hoàn cảnh thay đổi cơ bản, không chỉ bởi các chủ thể giao kết mà cả bên thứ
ba có thẩm quyền Quan niệm này khiến cho Hoàn cảnh hardship dần trở thành một rủi ro có thể khắc phục hoặc hạn chế một phần đáng kể
Tiểu kết
Song song với việc mang lại các giá trị kinh tế, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế luôn chứa đựng rủi ro cho các bên tham gia, đặc biệt là rủi ro liên quan tới trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản Chính vì vậy, để tối ưu hóa lợi nhuận cũng như hạn chế thiệt hại không đáng có, pháp luật quốc tế nói chung và các quốc gia nói riêng luôn tìm kiếm những giải pháp cụ thể
Chương thứ hai xem xét hardship dưới hình thức quy định có tính áp dụng (bao gồm luật thành văn, án lệ và một số bộ tập quán quốc tế) Ở đó, luật pháp không đơn thuần dựa vào sự chủ động phòng ngừa của các bên mà
Trang 30định sẵn ra những phương hướng hành xử khi có sự xuất hiện của hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Trong chương này, người viết sẽ giải quyết những vấn đề:
(i) Có hay không sự khác biệt trong quan niệm về hoàn cảnh thay đổi cơ bản giữa các hệ thống pháp luật
(ii) Phương thức hình thành nên các quy định liên quan tới hoàn cảnh thay đổi cơ bản
(iii) Nội hàm các quy định liên quan tới hoàn cảnh thay đổi cơ bản, cách giải thích, áp dụng trên thực tiễn đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Chương thứ ba xem xét các vấn đề liên quan hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Trong chương thứ ba, người viết sẽ trả lời các câu hỏi:
(i) Quan niệm của các nhà lập pháp Việt Nam liên quan tới trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản
(ii) Thực trạng các Quy định hardship trong hệ thống pháp luật Việt Nam (iii) Kiến nghị, đề xuất góp phần hoàn thiện các quy định liên quan tới hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Trang 31CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN TRƯỜNG HỢP HOÀN
CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN
2.1 Quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hệ thống pháp luật quốc gia
Không phải mọi quốc gia đều thiết lập một cơ chế khắc phục thiệt hại rủi
ro từ Hoàn cảnh hardship Tuy nhiên, một số hệ thống pháp luật lớn đã đương đầu với sự thay đổi hoàn cảnh trong thực hiện hợp đồng từ rất sớm và xây dựng phương án xử lý dựa trên các cách tiếp cận khác nhau Nghiên cứu quan điểm về Quy định hardship của những quốc gia này không chỉ có giá trị trong việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản
mà còn mang lại lợi ích thực tiễn, khi luật áp dụng trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế vô cùng đa dạng và phong phú
2.1.1 Pháp luật tại Pháp
Là một trong những quốc gia tiêu biểu của hệ thống Châu Âu lục địa, Pháp có hệ thống luật tư ổn định dựa trên nền tảng bền vững của Bộ luật Napoleon [12, tr.13] Trải qua hơn 200 năm áp dụng, chế định hợp đồng trong Đạo luật này hầu như không có sự thay đổi đáng kể Tuy nhiên, trước sự vận động của xã hội và tác động của toàn cầu hóa, tính bền vững của Bộ luật Napoleon bị hoài nghi và pháp luật Pháp tỏ ra thiếu hấp dẫn đối với đời sống dân sự trong và ngoài nước [32, p.818] Điều này dẫn tới cuộc đại cải cách năm 2016 đối với Bộ luật Dân sự Pháp mà chế định thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một trong những điểm nhấn được chú ý
2.1.1.1 Quan niệm về điều chỉnh hợp đồng của pháp luật Pháp
a Quan niệm cứng nhắc thời kì đầu
Pháp luật của Pháp vốn chịu ảnh hưởng từ những nguyên tắc của Luật
La Mã Vì vậy, không quá ngạc nhiên khi trong một khoảng thời gian dài,
người Pháp áp dụng nguyên tắc pacta sunt servanda một cách triệt để Trong
Trang 32trường hợp không có quy định của pháp luật, các án lệ của Pháp “từ chối việc
hủy bỏ hoặc thay đổi hợp đồng đang được thực hiện khi xảy ra sự kiện không thể dự liệu trước gây ảnh hưởng tới việc thực hiện hợp đồng trọn vẹn, hoặc tăng đáng kể chi phí của một bên, nếu như nó không làm cho việc thực hiện hợp đồng trở nên bất khả thi” [15, p.1] Hợp đồng đóng vai trò luật giữa các
bên, tạo ra sự ràng buộc đòi hỏi các chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ của mình đến cùng
Án lệ Kênh Craponne (1876)
Năm 1567, Adam de Craponne – một kỹ sư người pháp đã xây dựng một con kênh ở Pélissanne, chi phí xây dựng con kênh này được đóng góp bởi người dân quanh vùng Những người này cam kết duy trì việc hoạt động của con kênh với mức giá cố định Rất lâu sau, tới thế kỉ 19, việc phải đối mặt với lạm phát và gia tăng chi phí lao động, khiến những người phụ trách bảo trì kênh yêu cầu tăng giá Chi phí cố định ban đầu lúc này trở nên không phù hợp
và không thể đảm bảo cho việc duy trì hoạt động của con kênh Yêu cầu của những người phụ trách được tòa án cấp dưới chấp nhận, tuy nhiên nó hoàn toàn bị bãi bỏ bởi Tối cao Pháp viện của Pháp thông qua các lập luận sau:
- Thứ nhất, Tối cao Pháp viện khẳng định nguyên tắc chung của luật hợp đồng, đó là mọi thỏa thuận đưa ra phải được thực hiện đến cùng Đây cũng là điều được quy định tại Điều 1134 Bộ luật dân sự Pháp lúc bấy giờ: “Một thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực ràng buộc như luật giữa các bên.” Mặc dù
Bộ luật dân sự bấy giờ ra đời sau khi vụ việc diễn ra, tuy nhiên nguyên tắc này, từ trước đến nay vẫn áp dụng chung cho tất cả các hợp đồng
- Thứ hai, cũng theo Điều 1134, Tòa án không có thẩm quyền sửa đổi thỏa thuận được kí kết giữa các bên, dù dựa trên cơ sở nhằm thiết lập lại lẽ công bằng Việc sửa đổi này như một sự can thiệp, bác bỏ đối với những thỏa thuận tự do được chấp thuận từ đầu giữa các bên [58]
Trang 33Dù bị phản đối bởi Tối cao Pháp viện, tuy nhiên có thể thấy ý tưởng về việc cho phép điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, khiến chi phí thực hiện của một bên gia tăng so với thỏa thuận ban đầu đã được manh nha thông qua phán quyết của Tòa cấp dưới trong án lệ nêu trên Đây cũng là
cơ sở mở ra những cuộc tranh luận về việc chấp nhận hay không việc xây dựng các Quy định hardship tại Pháp
Những ý kiến ủng hộ hardship xuất phát từ nền tảng tôn trọng ý nguyện của các bên tham gia hợp đồng [15, p.1] Theo đó, tại thời điểm giao kết, những hoàn cảnh bất ngờ không nằm trong dự liệu của các chủ thể Việc cho phép điều chỉnh hợp đồng thể hiện một nỗ lực khôi phục lại kỳ vọng ban đầu của các bên, đồng thời giảm thiểu tối đa những thiệt hại mà một bên có thể phải gánh chịu
Các lập luận phản đối cho rằng việc quy định hardship sẽ ảnh hưởng tới tính ổn định của các giao dịch [15, p.1] Việc cho phép một trong các bên quyền điều chỉnh hợp đồng khi có hoàn cảnh cụ thể xảy ra dẫn tới khả năng hợp đồng được thực hiện trái với dự liệu khi giao kết của các bên Không chỉ dừng lại ở đó, nếu không nghiên cứu và xây dựng chặt chẽ, Quy định hardship có thể được vận dụng như một công cụ giúp một bên không trung thực, trốn tránh thực hiện các giao dịch bất lợi, mang đến thiệt hại cho bên kia khi hợp đồng bị điều chỉnh hoặc chấm dứt Một mối lo ngại khác có thể kể đến là nguy cơ thẩm phán có thể điều chỉnh hợp đồng Điều này về lý thuyết ảnh hưởng tới nguyên tắc tự do hợp đồng khi cơ quan tư pháp có quyền trực
tiếp tác động vào ý chí của các bên “Trên thực tế, các thẩm phán bấy giờ
cũng chưa được đào tạo để áp dụng quyền năng tư pháp mới này” [15, p.1]
Trong thời kì tranh cãi nổ ra, việc áp nguyên tắc pacta sunt servanda vẫn được thừa nhận chính thức Theo đó, pháp luật sẽ không thừa nhận việc điều
chỉnh hợp đồng trong Hoàn cảnh hardship Điều này đòi hỏi các bên phải chủ
Trang 34động trong việc lường trước rủi ro và tìm ra những phương án giải quyết tại thời điểm giao kết hợp đồng [33, pp.96-98]
b Sự cởi mở hơn với việc điều chỉnh hợp đồng trước yêu cầu của thời đại
Án lệ Gaz de Bordeaux là một trong những cơ sở phát triển học thuyết
về hardship của Pháp (imprévision)
Tranh chấp giữa các bên diễn ra năm 1916 Chiến tranh thế giới thứ nhất qua đi, để lại hậu quả là giá than tăng gấp ba lần, vượt qua mức dự tính được thỏa thuận ban đầu trong hợp đồng Công - tư về việc cung cấp khí ga giữa một Công ty tư nhân và Thành phố Bordeaux
Hợp đồng này được ký kết để ghi nhận việc các bên phải thực hiện nghĩa
vụ của mình cho tới khi hợp đồng hết hạn, với những điều khoản liên quan tới dịch vụ công với mức chi phí và thuế được quy định Sự biến động giá trên thị trường được coi là rủi ro trong kinh doanh và được các bên chấp nhận tại thời điểm ký kết hợp đồng
Tác động kinh tế ảnh hưởng bởi chiến tranh dẫn tới các điều chỉnh về giá được dự liệu trong hợp đồng là không đủ, hợp đồng trở nên bất hợp lý và tính kinh tế được các bên ngụ ý ban đầu bị ảnh hưởng
Vì vậy, công ty tư nhân dường như không thể cung cấp dịch vụ trong điều kiện bất thường như vậy Tòa án lập luận rằng:
“… Công ty không thể lập luận rằng họ không phải gánh chịu bất kỷ rủi ro nào liên quan tới tăng giá…Tuy nhiên sẽ rất bất hợp lý nếu sự gia tăng đột biến này được coi là một rủi ro kinh doanh bình thường, mặt khác, cần phải tìm ra một giải pháp để kết thúc sự khó khăn tạm thời, cân nhắc lợi ích của đôi bên….;
và các điều kiện đặc biệt khiến hợp đồng không thể thực hiện bình thường; theo
đó một mặt, cần phải quyết định rằng Công ty bắt buộc phải tiếp tục cung cấp dịch vụ công, và mặt khác, trong giai đoạn này, công ty chỉ phải chịu một phần hậu quả bất lợi dựa trên một giải thích hợp lý về hợp đồng.”
Trang 35Trên cơ sở đó, Tòa án quyết định rằng Thành phố Bordeaux phải gánh chịu khoản thâm hụt còn lại và rằng, nếu các bên không thỏa thuận được về
số tiền Thành phố Bordeaux gánh chịu, điều này sẽ được xác định bởi thẩm phán giải quyết vụ án [24, pp.198-199]
Trong phán quyết nêu trên, với việc cho phép điều chỉnh hợp đồng, Công
ty tư nhân bắt buộc phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cung cấp khí ga cho thành phố, tuy nhiên Công ty được chia sẻ một phần rủi ro do nền kinh tế hậu chiến gây ra Án lệ này phần nào thể hiện rõ những ưu, nhược điểm liên quan tới chế định hardship vẫn được đưa ra tranh luận
Về mặt tích cực, hợp đồng cung cấp ga ký kết giữa Thành phố Bordeaux
và Công ty tư vẫn tiếp tục được thực hiện, các bên vẫn nhận được lợi ích mong muốn (một bên là khí ga và một bên là tiền) Việc điều chỉnh hợp đồng cho phép rủi ro được chia sẻ, theo đó khi sự kiện không thể lường trước xảy
ra, công ty tư nhân không phải gánh chịu toàn bộ hậu quả mà Thành phố Bordeaux sẽ tiếp nhận một phần thông qua cơ chế điều chỉnh giá, phù hợp với nguyên tắc thiện chí và lẽ công bằng Đặc biệt, xuất phát từ bản chất là một hợp đồng Công – Tư, việc duy trì thực hiện hợp đồng đồng nghĩa với việc bảo đảm lợi ích công cộng với những người hưởng lợi là công dân thành phố Ngược lại, bất cập của việc can thiệp vào hợp đồng bộc lộ ở hai khía cạnh Thứ nhất, về nguyên tắc, thành phố Bordeaux đã phải chi trả một khoản nhiều hơn so với dự tính ban đầu trong hợp đồng đối với số ga được cung cấp Nguồn chi phí bỏ thêm này, trong những trường hợp đặc biệt có thể tác động tới năng lực tài chính của thành phố Thứ hai, bằng phán quyết của mình, Tòa
án đã mở rộng quyền năng của thẩm phán trong việc điều chỉnh hợp đồng giữa các bên, đi ngược lại với nguyên tắc tự do hợp đồng
Trên thực tế, việc điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi xảy ra bấy giờ chủ yếu được áp dụng trong lĩnh vực hành chính, hoặc giữa các hợp đồng
Trang 36mà một bên có sự tham gia của Nhà nước Trong lĩnh vực luật tư, các Tòa án khắt khe hơn khi vẫn yêu cầu việc thực hiện hợp đồng đến cùng khi hoàn cảnh thay đổi xảy ra [33, p.109]
2.1.1.2 Quy định hardship theo pháp luật cải cách của Pháp
Với việc PECL, PICC cũng như pháp luật một số quốc gia Châu Âu đều
có những quy định liên quan tới trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, các quy tắc nghiêm ngặt của Pháp cần phải thay đổi để phù hợp hơn với thực tiễn Năm 2016, Bộ luật Dân sự Pháp đã được sửa đổi và Quy định hardship được thừa nhận chính thức tại Điều 1195
a Các thành tố của Hardship theo Bộ luật Dân sự Pháp
(1) Sự thay đổi hoàn cảnh không thể lường trước
Theo Điều 1195, sự thay đổi hoàn cảnh phải không thể lường trước tại thời điểm giao kết hợp đồng Giống như các hệ thống pháp luật khác, đây là điều kiện tiên quyết trong việc áp dụng Quy định hardship Lý do hiển nhiên
là nếu các bên biết và dự liệu trước sự thay đổi hoàn cảnh, họ sẽ có nhiều lựa chọn để ứng phó Những lựa chọn này bao gồm: (1) không giao kết hợp đồng, (2) giao kết với một nội dung hoàn toàn khác (về đối tượng hợp đồng, mức giá hoặc các điều khoản về phương thức vận chuyển, thanh toán,…), (3) thiết
kế những điều khoản điều chỉnh hành vi khi mất cân bằng hợp đồng xảy ra (cho phép thay đổi giá, chấm dứt hợp đồng hoặc ràng buộc nghĩa vụ đàm phán lại) Nếu đã biết nhưng vẫn tiếp tục giao kết với nội dung ban đầu, các bên có thể bị coi là sơ suất hoặc ngầm chấp nhận rủi ro phát sinh Và trong trường hợp này không có cơ sở cho việc đề nghị điều chỉnh hợp đồng của bên
bị bất lợi trừ khi đối phương thực sự thiện chí
Việc lường trước sự thay đổi hoàn cảnh cơ bản bao gồm cả dự tính hậu quả của nó gây ra đối với quan hệ hợp đồng giữa các bên Hậu quả này khác nhau đối với từng loại tác nhân Thông thường, việc dự liệu và tính toán đối
Trang 37với tác nhân nhân tạo có phần chắc chắn hơn so với các tác nhân tự nhiên Tuy nhiên, trong thời đại khoa học công nghệ ngày một phát triển, khoảng cách này ngày dần được lấp đầy, kéo theo đó gia tăng trách nhiệm của các bên trong việc lường trước rủi ro đối với hợp đồng
(2) Việc thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận khi hoàn cảnh thay đổi gây thiệt hại nặng nề cho một bên
Đây là đặc tính thường có sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật Đối chiếu với định nghĩa hardship trong PICC:
“Điều 6.2.2 Định nghĩa hardship
Hoàn cảnh được gọi là hardship nếu có sự kiện xảy ra làm mất tính cân bằng của hợp đồng vì nguyên nhân chi phí thực hiện nghĩa vụ gia tăng hoặc giá trị nhận được khi thực hiện nghĩa vụ giảm xuống …” [55]
Có thể thấy tồn tại hai luồng quan điểm: Bộ luật dân sự Pháp tập trung vào sự gia tăng gánh nặng khi thực hiện nghĩa vụ trong khi PICC xoáy sâu vào tính cân bằng của hợp đồng Về bản chất, khi việc thực hiện nghĩa vụ của một trong các bên trở nên nặng nề hơn rất nhiều thì tính cân bằng của hợp đồng đã không còn Việc lựa chọn một tập hợp con khiến Bộ luật dân sự Pháp loại trừ quyền năng yêu cầu điều chỉnh lại hợp đồng trong trường hợp giá trị nhận được khi thực hiện nghĩa vụ của một bên giảm xuống
Việc hiểu và giải thích thế nào là “nặng nề hơn” cũng cần được cân nhắc
kĩ Bên cạnh những điều khoản đã thỏa thuận rõ ràng, các bên có thể căn cứ thêm vào những yếu tố khách quan liên quan tới hợp đồng (ví dụ như năng lực kinh tế) để đưa ra lời đề nghị điều chỉnh của mình
Quay trở lại với Trường hợp 1 nêu trên, nếu chi phí gia công thiết bị điện
tử tăng mạnh nhưng bản thân bên bán hoàn toàn đủ khả năng gánh chịu những chi phí đó, và theo tính toán khi tiếp tục thực hiện hợp đồng họ vẫn thu về lợi nhuận (dù không được như dự kiện ban đầu) thì tính hợp lý của việc đề xuất đàm phán lại hợp đồng sẽ cần được xem xét
Trang 38Bản thân Bộ luật Dân sự Pháp không quy định cụ thể về định lượng đối với thiệt hại “nặng nề hơn”, trách nhiệm xác định lúc này thuộc về thẩm phán trong từng vụ việc cụ thể
(3) Bên bị thiệt hại không đồng ý gánh chịu rủi ro do hoàn cảnh thay đổi cơ bản mang lại
Điều kiện này có phần không cần thiết khi xem xét tương quan quy định tại điều 1195 Bởi một trong những điều kiện tiên quyết để áp dụng hardship
là các bên không thể lường trước được rủi ro phát sinh từ sự thay đổi hoàn cảnh cơ bản Điều này đ ồng nghĩa với việc sẽ không có sự chấp thuận gánh chịu rủi ro nào của một trong các bên tại thời điểm giao kết hợp đồng, đặc biệt
là bên bị thiệt hại khi hoàn cảnh thay đổi xảy ra
b Hậu quả pháp lý của việc áp dụng Quy định hardship
Khi hoàn cảnh thay đổi xảy ra, Bộ luật Dân sự Pháp thiết lập cơ chế giải quyết hai cấp bậc
(1) Giải quyết nội bộ giữa các chủ thể giao kết hợp đồng
Theo đó, bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng, tuy nhiên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đã giao kết trong quá trình đàm phán lại Cách quy định này thể hiện rõ những triết lý ủng hộ Quy định hardship đã
từng đề cập Một mặt, nguyên tắc pacta sunt servanda vẫn được thừa nhận, các
bên phải thực hiện những gì đã cam kết tới cùng Mặt khác, các chủ thể tham gia hợp đồng có cơ hội thể hiện những nỗ lực đưa hợp đồng về lại thế cân bằng, khôi phục mong muốn tại thời điểm giao kết Cần nhấn mạnh việc đề nghị sửa đổi hợp đồng là quyền của bên bị thiệt hại, quyền đề nghị này không làm phát sinh nghĩa vụ bắt buộc tiến vào cuộc đàm phán của bên kia
Trong trường hợp lời đề nghị đàm phán lại bị từ chối hoặc các bên không đạt được sự đồng thuận đối với nội dung đàm phán lại, họ có thể thỏa thuận chấm dứt hợp đồng
Trang 39Nhìn chung, phương hướng giải quyết trong giai đoạn này của Bộ luật Dân sự Pháp mang tính gợi mở, tôn trọng tối đa ý chí của các chủ thể tham gia hợp đồng Quá trình giải quyết nội bộ này hoàn toàn phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí giữa các bên mà không cần tới sự điều chỉnh của pháp luật hay tác động từ cơ quan công quyền
(2) Giải quyết tại Tòa án
Khi quyền tự định đoạt của các bên không mang lại kết quả, tranh chấp sẽ xảy ra Lúc này sự can thiệp của một cơ quan tài phán là tất yếu và cần thiết Theo Điều 1195, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết hợp đồng khi một trong các bên
có yêu cầu Tương tự cơ chế giải quyết nội bộ, Tòa án có hai lựa chọn: hoặc điều chỉnh hợp đồng phù hợp với lẽ công bằng, hoặc chấm dứt nó Tuy nhiên ngôn ngữ của Bộ luật dân sự Pháp để lại một số câu hỏi lớn [15, p.6]
Thứ nhất, trong trường hợp cả hai bên có yêu cầu Tòa án xem xét hợp đồng, Tòa án sẽ căn cứ vào yêu cầu nào để giải quyết? Khi Hoàn cảnh hardship xảy ra, những xung đột liên quan tới lợi ích vô cùng đa dạng Bên bị thiệt hại hoặc có mong muốn hợp đồng được điều chỉnh để khôi phục tính cân bằng và giảm thiểu những rủi ro sẽ phải gánh chịu, hoặc muốn chấm dứt luôn
để thoát khỏi những thiệt hại về mặt kinh tế Trong khi đó, bên còn lại cũng có những lựa chọn cho riêng mình, hoặc muốn giữ nguyên hợp đồng như ban đầu
vì phần nào hưởng lợi, hoặc muốn điều chỉnh hợp đồng để giữ lại một phần lợi ích có thể nhận được so với trường hợp hợp đồng bị chấm dứt Khi những yêu cầu này không đồng nhất và cùng được đệ trình thì Tòa án phải có căn cứ hợp pháp để thụ lý, đây là vấn đề chưa được đề cập tới trong Điều 1195
Thứ hai, khi đã đủ cơ sở để xem xét hợp đồng, đâu là cơ sở để Tòa đưa
ra phương án xử lý Điều 1195 không đưa ra quy tắc định lượng để Tòa án lựa chọn giữa phương án điều chỉnh và chấm dứt hợp đồng, dẫn tới kết quả vụ việc phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan và năng lực của thẩm phán Vì
Trang 40vậy, vẫn có khả năng quyết định của Tòa không mang lại lợi ích tối đa cho các bên Một số yếu tố liên quan mà thẩm phán có thể cân nhắc trong quá trình xét xử để đưa ra quyết định là thiện chí của các bên trong việc tiếp tục thực hiện hợp đồng, chi phí các bên phải bỏ ra và lợi ích thu lại được trong từng trường hợp cụ thể
Thứ ba, việc Tòa án sửa đổi hợp đồng có thể vi phạm nguyên tắc tự do ý chí khi cơ quan công quyền được phép can thiệp trực tiếp vào thỏa thuận của các bên Điều này càng thể hiện rõ ở việc Tòa án có quyền thụ lý vụ việc theo yêu cầu của một bên mà không cần tới sự đồng thuận của bên kia Bài toán kinh nghiệm cần thời gian để giải quyết, còn cơ sở cho việc tác động vào hợp đồng của thẩm phán, có lẽ xuất phát từ vai trò tối cao là bảo vệ công lý và lẽ phải Nhìn chung, việc thừa nhận Hoàn cảnh hardship ở Pháp là một hệ quả tất yếu, xuất phát từ những nỗ lực theo kịp biến đổi xã hội và nhu cầu hợp tác quốc tế Nhóm quy định mới ở Bộ luật Dân sự Pháp đã kế thừa tương đối từ các bộ nguyên tắc quốc tế về hợp đồng, dù còn một số vấn đề gây tranh cãi nhưng chúng thiết lập cơ bản phương hướng xử lý khi hardship xảy ra, với mục tiêu sau cùng là khôi phục lẽ công bằng và bảo đảm lợi ích tối đa cho các bên
2.1.2 Pháp luật tại Đức
Với những biến động mạnh mẽ của lịch sử, nước Đức phải đối mặt với vấn đề hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong thực hiện hợp đồng từ rất sớm Đây là động lực để đất nước này xây dựng một hệ thống học thuyết và án lệ tương đối vững chắc nhằm tìm ra phương hướng giải quyết vấn đề nêu trên Năm
2002, Đức chính thức pháp điển hóa các Quy định hardship Điểm đặc biệt là quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong Bộ luật dân sự Đức có một cách tiếp cận khác lạ và tương đối trừu tượng, nhưng vẫn đủ để điều chỉnh và bao quát các vấn đề do xã hội đặt ra