Tóm tắt phương pháp nghiên cứuKhung nghiên cứu: NCS tiến hành phỏng vấn sâu cán bộ quản lý nhà nước về khởi nghiệp, nhà khởinghiệp đang phát triển dự án thành công, trường hợp doanh nghi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-NGUYỄN NGỌC THỨC
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP ĐẾN CƠ HỘI KHỞI NGHIỆP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-NGUYỄN NGỌC THỨC
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP ĐẾN CƠ HỘI KHỞI NGHIỆP
Chuyên ngành: Khoa học quản lý
Mã số: 9310110
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS PHAN KIM CHIẾN
HÀ NỘI – 2020
Trang 3LỜI CAM KẾT
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng bài tiểu luận tổng quan này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Ngọc Thức
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến các thầy cô giáo khoa Khoa học Quản lý, giảng viên hướng dẫn PGS.TS Phan Kim Chiến đã nhiệt tình, tận tâm chỉ bảo, định hướng cho NCS hoàn thành luận án.
Xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ thuộc Viện đào tạo Sau đại học – ĐH Kinh tế Quốc dân đã tạo điều kiện cho NCS hoàn thành luận án.
Xin cảm ơn Trường ĐH Công nghiệp TP Hồ Chí Minh, Khoa Quản trị Kinh doanh đã tạo điều kiện cho NCS tham gia học tập, nâng cao trình độ tại Đại học Kinh
tế Quốc dân.
Xin gửi lời cảm ơn tới các chuyên gia thuộc Bộ Khoa học Công nghệ, các nhà nghiên cứu chính sách tại ĐH Kinh tế Quốc dân, ĐH Công nghiệp TP Hồ Chí Minh, đã nhiệt tình tạo điều kiện, hợp tác giúp đỡ, tích cực phản biện giúp NCS hoàn thành luận án.
Cảm ơn, gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ trong suốt thời gian qua.
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Ngọc Thức
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM KẾT i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ x
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP ĐẾN CƠ HỘI KHỞI NGHIỆP 9
1.1 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài 9
1.1.1 Thể chế 10
1.1.2 Chuẩn mực văn hóa và xã hội 11
1.1.3 Giáo dục và đào tạo 11
1.1.4 Hỗ trợ tài chính cho khởi nghiệp 12
1.1.5 Cơ sở hạ tầng 13
1.1.6 Cơ hội khởi nghiệp 13
1.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 14
1.3 Khoảng trống nghiên cứu 18
TỔNG KẾT CHƯƠNG 1 21
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP ĐẾN CƠ HỘI KHỞI NGHIỆP 22
2.1 Khái niệm khởi nghiệp và cơ hội khởi nghiệp 22
2.1.1 Khái niệm khởi nghiệp 22
2.1.2 Cơ hội khởi nghiệp 25
2.2 Chính sách hỗ trợ khởi nghiệp 26
2.2.1 Khái niệm, mục tiêu chính sách hỗ trợ khởi nghiệp 26
2.2.2 Căn cứ hình thành chính sách hỗ trợ khởi nghiệp 29
2.2.3 Chủ thể ban hành chính sách hỗ trợ khởi nghiệp 31
2.2.4 Nguyên tắc chính sách hỗ trợ khởi nghiệp 31
2.2.5 Nội dung của chính sách hỗ trợ khởi nghiệp 32
2.3 Tác động của chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đến cơ hội khởi nghiệp 35
2.3.1 Thể chế 35
2.3.2 Nền tảng văn hóa xã hội 37
Trang 62.3.3 Giáo dục khởi nghiệp 39
2.3.4 Hỗ trợ tài chính 41
2.3.5 Hỗ trợ từ cơ sở hạ tầng 42
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách hỗ trợ khởi nghiệp 43
2.4.1 Nhóm yếu tố thuộc về bối cảnh chính sách 43
2.4.2 Nhóm các yếu tố thuộc chủ thể chính sách 44
2.4.3 Nhóm các yếu tố thuộc đối tượng chính sách 45
2.5 Bài học kinh nghiệm về chính sách hỗ trợ khởi nghiệp: 46
2.5.1 Kinh nghiệm xây dựng, tổ chức thực thi chính sách ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới 46
2.5.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 50
TỔNG KẾT CHƯƠNG 2 52
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53
3.1 Mô hình nghiên cứu và thang đo 53
3.1.1 Lý thuyết nền tảng 53
3.1.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 56
3.1.3 Thang đo đề xuất 58
3.2 Quy trình nghiên cứu 62
3.2.1 Nghiên cứu định tính 64
3.2.2 Nghiên cứu định lượng 69
TỔNG KẾT CHƯƠNG 3 72
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG KHỞI NGHIỆP VÀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP Ở VIỆT NAM 73
4.1 Thực trạng chính sách hỗ trợ khởi nghiệp ở Việt Nam 73
4.1.1 Thể chế 73
4.1.2 Nền tảng văn hóa 86
4.1.3 Giáo dục 87
4.1.4 Hỗ trợ tài chính 89
4.1.5 Cơ sở hạ tầng 90
4.2 Thực trạng khởi nghiệp tại Việt Nam 92
4.2.1 Đăng ký doanh nghiệp mới tại Việt Nam 92
4.2.2 Doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam 93
4.2.3 Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 94
4.2.4 Thực trạng phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo 96
4.3 Một số khó khăn, tồn tại làm giảm cơ hội khởi nghiệp 96
TỔNG KẾT CHƯƠNG 4 100
Trang 7CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ
ĐẾN CƠ HỘI KHỞI NGHIỆP 101
5.1 Thống kê mô tả mẫu 101
5.1.1 Phân tích giá trị mean của biến thể chế I 103
5.1.2 Phân tích giá trị mean của biến “Thể chế II” 104
5.1.3 Phân tích giá trị mean của biến “Văn hóa” 104
5.1.4 Phân tích giá trị mean của biên “Giáo dục I” 105
5.1.5 Phân tích giá trị mean cho biến “Giáo dục II” 105
5.1.6 Phân tích giá trị mean của biến “hỗ trợ tài chính” 106
5.1.7 Phân tích giá trị mean của biến “ cơ sở hạ tầng” 106
5.1.8 Phân tích giá trị mean của biến “cơ hội khởi nghiệp” 107
5.2 Kết quả kiểm định thang đo 107
5.3 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 113
5.4 Phân tích tương quan 114
5.5 Kiểm định các giả thuyết 116
5.6 Phân tích hồi quy 120
TỔNG KẾT CHƯƠNG 5 122
CHƯƠNG 6: BÀN LUẬN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 123
6.1 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 123
6.2 Một số gợi ý chính sách 124
6.2.1 Hoàn thiện thể chế 126
6.2.2 Về văn hóa xã hội 128
6.2.3 Quan tâm, hoàn thiện các chính sách về giáo dục, đặc biệt là giáo dục khởi nghiệp 129
6.2.4 Đẩy mạnh các giải pháp hỗ trợ tài chính 130
6.2.5 Về cơ sở hạ tầng cho khởi nghiệp 131
6.3 Một số kiến nghị với các cơ quan quản lý 132
6.4 Một số kiến nghị, giải pháp cần đặc biệt quan tâm rút ra từ nghiên cứu định lượng 134
KẾT LUẬN CHUNG 137
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 138
TÀI LIỆU THAM KHẢO 139
PHỤ LỤC 152
Trang 8: Giáo dục: Khoa học và công nghệ: Khởi nghiệp
: Khởi nghiệp sáng tạo: Organization for Economic Cooperation and Development: Phi tài chính
: The global entrepreneurship monitor: Tài chính
: Thể chế: United Nation Conference on Trade and Development: Văn hóa
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tổng hợp những chính sách hỗ trợ khởi nghiệp chủ yếu từ nghiên cứu tổng
quan 18
Bảng 3.1 Thang đo đề xuất từ nghiên cứu tổng quan 58
Bảng 3.2 Thang đo chính thức của luận án 66
Bảng 4.1 Hệ thống chính sách của chính quyền trung ương hỗ trợ khởi nghiệp tại Việt Nam 76
Bảng 4.2 Hệ thống chính sách hỗ trợ khởi nghiệp cấp tỉnh ở Việt Nam 77
Bảng 4.3 Một số chính sách hỗ trợ đối tượng đặc thù do chính quyền cấp tỉnh ban hành .82
Bảng 4.4: Tổng số lượng các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp 85
Bảng 4.5: Số liệu đăng ký doanh nghiệp giai đoạn 2015 - 2019 93
Bảng 4.6: Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp năm 2017 95
Bảng 5.1 Thống kê mẫu theo giới tính 101
Bảng 5.2 Thống kê mẫu theo năm học 101
Bảng 5.3 Thống kê mẫu theo ngành học 102
Bảng 5.4 Thống kê mẫu theo nghề bố hoặc mẹ 102
Bảng 5.5 Giá trị mean của biến độc lập “thể chế I” 103
Bảng 5.6 Giá trị mean của biến thể chế II 104
Bảng 5.7 Giá trị mean của biến “văn hóa” 104
Bảng 5.8 Giá trị mean của biến “giáo dục I” 105
Bảng 5.9 Giá trị mean của biến “giáo dục II” 105
Bảng 5.10 Giá trị mean của biến “hỗ trợ tài chính” 106
Bảng 5.11 Giá trị mean của biến “cơ sở hạ tầng” 106
Bảng 5.12 Giá trị mean của biến phụ thuộc “cơ hội khởi nghiệp” 107
Bảng 5.13 Kết quả kiểm định Cronback Alpha 107
Bảng 5.14 Kết quả Cronback Alpha sau khi loại các quan sát không phù hợp 110
Bảng 5.15 KMO 113
Bảng 5.16 Ma trận nhân tố xoay 113
Bảng 5.17 Phân tích tương quan 115
Bảng 5.18 Kiểm định T- test của biến “Thể chế I” 117
Trang 10Bảng 5.19 Kiểm định T- test của biến “Thể chế II” 118
Bảng 5.20 Kiểm định T- test của biến “Văn hóa” 118
Bảng 5.21 Kiểm định T- test của biến “Giáo dục I” 119
Bảng 5.22 Kiểm định T- test của biến “Giáo dục II” 119
Bảng 5.22 Kiểm định T- test của biến “Hỗ trợ tài chính” 119
Bảng 5.22 Kiểm định T- test của biến “Cơ sở hạ tầng” 120
Bảng 5.23 Các kết quả phân tích hồi quy đa biến 121
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Cây mục tiêu chính sách hỗ trợ khởi nghiệp 29
Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 57
Hình 4.1 Các quỹ đầu tư cho khởi nghiệp có văn phòng đại diện tại Việt Nam 89
Hình 4.2 Các quỹ đầu tư khởi nghiệp tại Việt Nam 90
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Cơ cấu các doanh nghiệp có kết quả kinh doanh phân theo ngành năm
2018 .94Biểu đồ 4.2 Cơ cấu các doanh nghiệp có kết quả kinh doanh phân theo loại hình doanhnghiệp năm 2018
Trang 13LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của nghiên cứu
Khởi nghiệp kinh doanh tạo cơ hội cho các cá nhân khởi nghiệp phát huy tinhthần sáng tạo, ý chí tự lập nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp, chuyển dịch cơ cấukinh tế, đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước Ở Việt Nam, nền kinh tế chủyếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, quy mô nội lực còn yếu, việc thúc đẩy tinh thầnkhởi nghiệp là hướng đi không thể thiếu Các quốc gia phát triển trên thế giới coi khởinghiệp là cách thức thúc đẩy kinh tế, tạo việc làm, duy trì sức khỏe cho nền kinh tế
Bên cạnh những doanh nghiệp truyền thống, những doanh nghiệp khởi nghiệpđổi mới sáng tạo đang ngày một chứng tỏ vai trò quan trọng trong sự phát triển của đấtnước Thực tế diễn ra tại nhiều nước phát triển trên thế giới cho thấy, các doanh nghiệpkhởi nghiệp đổi mới sáng tạo có đóng góp to lớn do đặc trưng là sử dụng hạ tầng côngnghệ cao, khai thác chất xám, thúc đẩy tinh thần ham làm giàu, vươn mình phát triểncủa giới trẻ Ngoài ra việc phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo sẽtạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, chuyểndịch cơ cấu kinh tế, nâng cao và phát triển khoa học công nghệ quốc gia
Cách mạng công nghiệp 4.0 và vai trò ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển củathế giới nói chung và Việt Nam nói riêng ngày càng được quan tâm và nghiên cứu, tìmhiểu Thực tế thì nó đã ảnh hưởng đến nhiều mặt kinh tế - xã hội ở nước ta, do vậy việcphát triển khởi nghiệp, đặc biệt là khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là bước phát triển tấtyếu vì sự phát triển này dựa trên nền tảng phát triển khoa học và công nghệ
Việc xây dựng và triển khai các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp nói chung và hỗtrợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nói riêng hiện nay được Chính phủ cũng như các Bộngành từ Trung ương đến địa phương quan tâm, có thể nói, hiện nay toàn hệ thống côngquyền đang tích cực hỗ trợ, quan tâm và chăm sóc các doanh nghiệp khởi nghiệp, coiđây là nguồn tài nguyên quý của quốc gia Các chính sách này đang dần đi vào thực thi
và cũng từng bước đạt được những kết quả đáng khích lệ trong mấy năm qua Tuy nhiênnếu đánh giá về những chính sách tác động đến cơ hội khởi nghiệp trong điều kiện hiệnnay, cần có cái nhìn bao quát, tổng thể, tức là phải xem xét tất cả các chính sách có tácđộng đến mọi đối tượng khởi nghiệp Xuất phát từ những lý do trên, NCS cho rằng việcnghiên cứu xây dựng khung chính sách tác động đến cơ hội khởi nghiệp là rất cần thiết
Trang 14Mặt khác, hiện nay ở Việt Nam các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếmkhoảng 97% số doanh nghiệp, đang đóng góp khoảng 42% GDP, 31% tổng số thu ngânsách, 38% tổng số thu toàn xã hội Do tầm quan trọng của các DNNVV, hiện nay cácchính sách hỗ trợ phát triển kinh tế đều đặt khu vực doanh nghiệp này ở vị trí trung tâm.Bởi vậy các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp hiện nay đều có rất nhiều chính sách thựchiện chung chung với khu vực doanh nghiệp này, hay nói cách khác định hướng chínhsách về doanh nghiệp khởi nghiệp chưa được đề cập nhiều bằng văn bản luật cũng nhưcác cơ chế, chính sách Như vậy, nhu cầu xây dựng khung pháp lý rõ ràng, riêng biệtcho các doanh nghiệp khởi nghiệp là rất bức thiết hiện nay Các doanh nghiệp khởinghiệp phần lớn còn yếu nhiều về các yếu tố như: thị trường, vấn đề sở hữu trí tuệ, bảnquyền, nguồn vốn…Do vậy, khung pháp lý liên quan đến vấn đề này là cơ sở quan trọng
để giúp doanh nghiệp khởi nghiệp đứng vững Một khung pháp lý phù hợp cùng vớinhững chính sách kịp thời sẽ khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khởinghiệp bứt phá, từ đó giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người dân, tạo đà cho nềnkinh tế phát triển
Như vậy nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện khung lý thuyết về khởi nghiệp giúpcác nhà hoạch định chính sách có được dữ liệu cần thiết để đưa ra những chính sách phùhợp với đối tượng thụ hưởng là các doanh nghiệp khởi nghiệp Việc xác định các yếu tốảnh hưởng đến cơ hội khởi nghiệp, sẽ giúp các nghiên cứu sau phân tích sự phù hợp,mối quan hệ tương quan giữa các yếu tố đến sự khởi nghiệp, từ đó có những gợi ý chínhsách phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam hiện nay
Thực tế các nghiên cứu về khởi nghiệp hiện nay ở Việt Nam, đặc biệt về chínhsách hỗ trợ khởi nghiệp còn rất chung chung Một số quan niệm còn nhầm lẫn giữadoanh nghiệp khởi nghiệp và DNNVV Thực tế như đã nói ở trên, các chính sách hỗ trợhiện nay cũng đánh đồng hai đối tượng này vì chưa thực sự phân định rõ ràng từ nghiên
cứu đến chính sách thực hiện trong thực tế Riêng đối với nghiên cứu về lý thuyết khởi nghiệp, có rất nhiều các nghiên cứu về nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp, sự sẵn sàng khởi nghiệp, những nghiên cứu này đã góp phần hoàn thiện bức tranh về khởi nghiệp hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới Những nghiên cứu về chính sách hỗ trợ khởi nghiệp cũng rất đa dạng, tuy nhiên hầu hết những nghiên cứu này ở Việt Nam
có khung nghiên cứu chung là thống kê, mô tả đánh giá thực trạng các chính sách này ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp dựa trên suy luận định tính, hoặc tham khảo ý kiến chuyên gia về vấn đề này, hiện hầu như có rất ít nghiên cứu quan tâm xây dựng khung chính sách cụ thể tác động đến cơ hội khởi nghiệp NCS
Trang 15nhận định đây là hướng nghiên cứu rất quan trọng vì các chính sách hỗ trợ cần được xâydựng trên một khung lý thuyết khoa học, được xây dựng từ những nghiên cứu điển hình
trên thế giới và kiểm định định lượng tại Việt Nam, do vậy NCS chọn đề tài: “Tác động của chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đến cơ hội khởi nghiệp” làm đề tài cho luận án tiến
sĩ của mình
2. Mục tiêu nghiên cứu
(1)Phân tích thực trạng các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp hiện nay ở Việt Nam.(2) Xác định các chính sách hỗ trợ và xây dựng khung lý thuyết, đề xuất và kiểmđịnh mô hình tác động của chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đến cơ hội khởi nghiệp
(3) Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các chính sách hỗ trợ để tăng cơ hội khởi nghiệp
3. Câu hỏi nghiên cứu:
(1) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến cơ hội khởi nghiệp? Tầm quan trọng của các yếu tố đó?
(2) Cơ quan quản lý Nhà nước cần làm gì để tăng cơ hội khởi nghiệp?
(3)Các cá nhân khởi nghiệp cần làm gì để đón nhận những cơ hội khởi nghiệp?
Câu hỏi quản lý:
(1) Làm thế nào để nâng cao số lượng các doanh nghiệp khởi nghiệp?
(2) Làm thế nào để duy trì và phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp?
4. Phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của chính sách hỗ trợ khởi nghiệp tới cơ hộikhởi nghiệp và một số yếu tố liên quan có tác động đến cơ hội khởi nghiệp, bao gồm thểchế, giáo dục, văn hóa, hỗ trợ tài chính và cơ sở hạ tầng
- Nội dung: NCS nghiên cứu tác động của các yếu tố về chính sách đến cơ hội khởi nghiệp
- Không gian: NCS tập trung nghiên cứu các cá nhân khởi nghiệp tại Thành phố
Hồ Chí Minh, Thủ đô Hà Nội vì đây là các trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị hàngđầu của cả nước Như vậy NCS cho rằng không gian nghiên cứu đã đảm bảo tính kháiquát, đại diện cho nghiên cứu về khởi nghiệp tại Việt Nam NCS chọn đối tượng điều tra
là sinh viên 2 năm cuối tại các trường đại học vì cho rằng đây là đối tượng có nhận
Trang 16thức xã hội cao, kiến thức tốt, nền tảng văn hóa tốt,…đủ khả năng để đón nhận các cơ hội khởi nghiệp đến với mình.
- Thời gian: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2016-2020, sơ cấp được thực hiện từ tháng 12/2018-10/2019
5. Quy trình nghiên cứu:
Bước 1: Nghiên cứu tổng quan các công trình trên thế giới và tại Việt Nam, hệthống hóa cơ sở lý luận về khởi nghiệp, nghiên cứu các chính sách tác động đến cơ hộikhởi nghiệp
Bước 2: Xây dựng khung lý thuyết – Mô hình nghiên cứu ban đầu bao gồm: câuhỏi nghiên cứu; xác các biến độc lập và biến phụ thuộc; xác định thang đo cho các biến
và xây dựng giả thuyết về mối tương quan trong mô hình hồi quy
Bước 3: Thiết kế nội dung phỏng vấn sâu các chuyên gia quản lý nhà nước, cácnhà hoạch định chính sách, cá nhân có doanh nghiệp khởi nghiệp
Bước 4: Thiết kế bảng hỏi định lượng dựa trên kết quả của bước 3
Bước 5: Điều tra trên diện rộng bằng cách gửi các câu hỏi bằng giấy và câu hỏiqua email đến mẫu đối tượng điều tra
Bước 6: Phân tích các dữ liệu định tính và định lượng bằng SPSS 20, Excel nhằmtrả lời câu hỏi nghiên cứu, kiểm định các giả thuyết
Bước 7: Viết luận án
Trang 176. Tóm tắt phương pháp nghiên cứu
Khung nghiên cứu:
NCS tiến hành phỏng vấn sâu cán bộ quản lý nhà nước về khởi nghiệp, nhà khởinghiệp đang phát triển dự án thành công, trường hợp doanh nghiệp khởi nghiệp thất bại,nhà nghiên cứu chính sách, và thảo luận nhóm với sinh viên đại học đang học, cụ thể:
Kết quả của nghiên cứu định tính nhằm đạt được 2 mục tiêu chính:
- Xác định và làm rõ những chính sách hỗ trợ khởi nghiệp hiện nay có tác động đến cơ hội khởi nghiệp
- Xác định sự phù hợp của các biến trong mô hình nghiên cứu, sáng lọc các quansát cho phù hợp với văn hóa, ngôn ngữ Việt Nam, từ đó xây dựng thang đo chính thức
để tiến hành nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng:
Nghiên cứu này lựa chọn đối tượng khảo sát định lượng là sinh viên vì những
lý do sau:
Về chủ quan:
+ Nghiên cứu này tập trung đánh giá tác động của các chính sách hỗ trợ khởi
Trang 18nghiệp nhằm làm tăng cơ hội khởi nghiệp mặc dù các chính sách này có sự bao trùm vềcác đối tượng thụ hưởng tuy nhiên có rất nhiều các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp mớihiện nay đều quan tâm lớn tới việc xây dựng kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mớisáng tạo do vậy việc đánh giá tác động chính sách theo NCS cần tập trung khảo sátnhững đối tượng có nhiều điều kiện, khả năng để khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
+ Sinh viên là đối tượng thanh niên trẻ có kiến thức và hoài bão khởi nghiệp, sẵnsàng chấp nhận rủi ro khi khởi nghiệp, tuy chỉ là một trong những đối tượng mà cácchính sách hỗ trợ khởi nghiệp hướng tới nhưng đây được xác định là một trong nhữngđối tượng trọng điểm (VD: Quyết định 1665/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ năm
2017 về hỗ trợ học sinh – sinh viên khởi nghiệp) về hỗ trợ khởi nghiệp Việc khảo sátsinh viên sẽ cung cấp những cảm nhận thực tế về các chính sách hỗ trợ hiện hành củanhững thanh niên trẻ, phản ánh mức độ tiếp nhận thông tin khởi nghiệp, sự quan tâmđến chủ đề khởi nghiệp nhằm giúp họ khởi nghiệp ngay hoặc khởi nghiệp sau khi đãtích lũy đủ những điều kiện cần thiết khi ra trường
Về khách quan:
Với việc các khái niệm về doanh nghiệp khởi nghiệp thông thường và doanhnghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo còn đang có nhiều ý kiến tranh biện, mặc dù cómột số chính sách cũng đã nêu rõ, xác định rõ đối tượng hỗ trợ (Ví dụ như các chínhsách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo) tuy nhiên theo nghiên cứuphỏng vấn sâu của tác giả, việc phân định này còn thiếu các tiêu chuẩn rõ ràng để phânbiệt, chẳng hạn như một số doanh nghiệp kinh doanh đa ngành nghề, trong đó hầu hếtđều có áp dụng một phần những tiến bộ khoa học công nghệ, nếu xét theo tiêu chí côngnghệ mới thì hầu hết các doanh nghiệp ngày nay đều có ứng dụng (có thể ứng dụng đầuvào hoặc đầu ra của quá trình sản xuất) Do vậy để xác định rõ doanh nghiệp nào đượcgọi là start-up thì chưa thực sự rõ ràng Tuy có số liệu thống kê của bộ Khoa học &Công nghệ với khoảng hơn 2000 ý tưởng ,dự án tính đến cuối năm 2019 được xem làkhởi nghiệp đổi mới sáng tạo tuy nhiên việc xác định tiêu chí để chọn lựa thực sự làchưa rõ ràng vì theo tiêu chí có áp dụng khoa học công nghệ, áp dụng mô hình kinhdoanh mới,…thì hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp hiện hành cũng đang nghiên cứu,thực thi Do vậy NCS cho rằng việc tiếp cận để khảo sát diện rộng các đối tượng nàycòn cần nhiều điều kiện hơn để đảm bảo tính chính xác, khách quan hơn trong nghiêncứu
Phương thức khảo sát:
Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng phương pháp phát phiếu trực tiếp
Trang 19(với thước đo likekert 5 điểm) tới sinh viên thông qua giáo viên bộ môn đứng lớp tại cáclớp học trong các trường đại học tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh nhờ các mối quan hệquen biết của NCS, ngoài ra NCS xin danh sách email từ phòng quản lý sinh viên cáctrường tiến hành khảo sát online bằng google doc, kết quả thu được là 475 phiếu hợp lệ.
Từ đó, NCS sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20 để phân tích và kết quả của bướcnày được sử dụng để hoàn thành luận án
7. Các kết quả nghiên cứu
Những đóng góp chính:
(1)Xác định các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp có tác động đến cơ hội khởi nghiệp
(2) Luận án xây dựng khung lý thuyết các yếu tố chính sách tác động đến cơ hộikhởi nghiệp từ nghiên cứu tổng quan, mô hình các biến bao gồm 7 biến độc lập và 1biến phụ thuộc, trong đó các biến độc lập gồm:
- Những quy định, luật, chính sách chung áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp
(Thể chế I)
- Những quy định, luật, chính sách riêng cho các doanh nghiệp mới khởi nghiệp
(Thể chế II)
- Nền tảng văn hóa (Văn hóa)
- Giáo dục cấp tiểu học, trung học (Giáo dục I)
- Giáo dục cấp cao đẳng, đại học (Giáo dục II)
- Các hỗ trợ tài chính (Hỗ trợ tài chính)
- Các hỗ trợ về cơ sở hạ tầng như: Cơ sở hạ tầng cơ bản, công nghệ kỹ thuật,
quản lý nhân sự, tư vấn luật,…(Cơ sở hạ tầng)
Và biến phụ thuộc là cơ hội khởi nghiệp
(3) Luận án khái quát các khái niệm cơ bản về khởi nghiệp, chính sách hỗ trợkhởi nghiệp Thống kê, trình bày thực trạng khởi nghiệp và việc thực thi các chính sách
hỗ trợ khởi nghiệp ở Việt Nam, chỉ rõ những rào cản, hạn chế, tồn tại, từ đó đề xuấtnhững giải pháp mang tính trước mắt và lâu dài để đẩy mạnh cơ hội khởi nghiệp
(4) Kết quả phân tích định lượng chỉ ra cần: thứ nhất quan tâm thay đổi nhận
thức quan điểm của các cán bộ quản lý nhà nước về khởi nghiệp, tránh sự quan liêu,
chậm trễ Thứ hai chú trọng triển khai các chính sách tín dụng cho khởi nghiệp, giúp các
nhà khởi nghiệp tiếp cận vốn dễ dang hơn, vì đây là nguồn lực tối quan trọng cho khởi
nghiệp Thứ ba, cần có sự thống nhất về cơ quan hỗ trợ khởi nghiệp, cơ quan cung cấp
các thông tin hỗ trợ thông tin, chính sách ưu đãi, hỗ trợ khởi nghiệp, từ đó giúp các cánhân khởi nghiệp có cái nhìn chính xác về môi trường khởi nghiệp
Trang 20(5) Ngoài các quan sát trong mô hình nghiên cứu, NCS đề xuất thêm quan sát
“Nhà nước quan tâm đến việc xây dựng thị trường chứng khoán thứ cấp cho doanhnghiệp khởi nghiệp huy động vốn” trong biến độc lập “Hỗ trợ tài chính” Kết quảnghiên cứu định lượng ủng hộ đề xuất này
Những hạn chế:
-Phần nghiên cứu định lượng, NCS chọn đối tượng khảo sát là sinh viên, donhận thức của sinh viên về thể chế, văn hóa, giáo dục, các chính sách hỗ trợ,…có thểcòn nhiều cảm tính do thiếu thông tin
Một số hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung làm rõ sự khác biệt giữa đối tượng sinh viên với các nhóm đối tượng khác khi khởi nghiệp
- Tiến hành khảo sát định lượng với các đối tượng cụ thể hơn như các chủ doanhnghiệp, dự án khởi nghiệp nhằm đánh giá khách quan hơn các tác động của chính sách
hỗ trợ khởi nghiệp tới cơ hội khởi nghiệp
8. Bố cục luận án
Luận án bao gồm phần mở đầu, 6 chương và phần kết luận
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu tác động của chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đến
cơ hội khởi nghiệp
Chương 2: Cơ sở lý luận của luận về sự tác động của chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đến cơ hội khởi nghiệp
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Thực trạng khởi nghiệp và chính sách hỗ trợ khởi nghiệp ở Việt Nam.Chương 5: Phân tích tác động của các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đến cơ hội khởi nghiệp
Chương 6: Bàn luận về kết quả nghiên cứu và một số gợi ý chính sách
Trang 21CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH
HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP ĐẾN CƠ HỘI KHỞI NGHIỆP
1.1 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài
Khởi nghiệp kinh doanh được coi là một yếu tố quan trọng trong việc giải thích
sự tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia (Baughn và Neupert 2003; Martínez-Fierro
et al 2016) Điều này giải thích tại sao cần làm rõ các yếu tố thúc đẩy và định hình hoạtđộng kinh doanh rất quan trọng đối với các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là về kinh tế,kinh doanh, xã hội học và tâm lý học (Simón-Moya et al 2014) Hiện tại, quan điểm vềthể chế, chính sách đã nhận được rất nhiều sự quan tâm bởi vì nó giúp giải thích lý dotại sao một số quốc gia phát triển kinh tế mạnh mẽ trong khi một số quốc gia khác thìkhông (Amorós và Bosma 2014) Tuy nhiên, tỷ lệ khởi nghiệp là khác nhau và khôngchỉ phụ thuộc số lượng các cá nhân có xu hướng khởi nghiệp có sẵn mà còn từ môitrường, bối cảnh thể chế, chính sách thích hợp cũng như việc có được môi trường kinh
tế, xã hội và chính trị thuận lợi (Mueller và Thomas 2000; Van et al 2005)
Baumol (1996) nhấn mạnh, có hai kiểu tác động đến nỗ lực khởi nghiệp kinhdoanh: đầu tiên liên quan đến mức độ thực thi luật pháp ở trong nước trong khi kiểuthứ hai là liên quan đến mức độ mà pháp luật hỗ trợ cho những nỗ lực kinh doanh.Martínez-Fierro và cộng sự (2016) đã khảo sát và kết luận, một nền kinh tế phát triển,
cơ hội khởi nghiệp được thúc đẩy bằng các yêu cầu cơ bản, như phát triển thể chế, cơ
sở hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục
Mặc dù các học giả có xu hướng đồng đồng thuận yếu tố thể chế có thể ảnhhưởng đến cơ hội khởi nghiệp kinh doanh, tuy nhiên vẫn có sự khác biệt khi đánh giácác yếu tố tác động tới nhận thức về cơ hội khởi nghiệp Chẳng hạn, có một số nghiêncứu đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố văn hóa và xã hội (Thai và Turkina2014; George và Zahra 2002), ở khía cạnh khác một số nghiên cứu coi trọng vai trò củagiáo dục và đào tạo trong kinh doanh tuy nhiên một số nghiên cứu lại tập trung làm rõvai trò của các chương trình và chính sách của chính phủ đối với cơ hội khởi nghiệp(Bruton et al 2010; Thai và Turkina 2014)
Dựa vào mô hình của GEM (2016) ; Pinho, J C (2016) các tác giả Ali Davaria
và Taraneh Farokhmanesh (2017) trong bối cảnh tại Iran đã nghiên cứu các chính sách
Trang 22tác động đến cơ hội khởi nghiệp bao gồm văn hóa và xã hội, các chương trình và chínhsách của chính phủ, giáo dục phổ thông (tiểu học và trung học) và giáo dục sau đại học,các chính sách hỗ trợ tài chính, phi tài chính.
1.1.1 Thể chế
Thể chế là khả năng thiết lập các quy tắc, kiểm tra hoặc xem xét sự tuân thủ củangười khác đối với chúng và khi cần thiết có các biện pháp trừng phạt nhằm thực hiệnđiều chỉnh đối với hành vi trong tương lai (Scott 1995)
Phù hợp với các tác giả trước đây, người ta cho rằng quy định của chính phủ vềhoạt động kinh tế thúc đẩy hoạt động kinh doanh (McMullen và cộng sự 2008); (Valdez
và Richardson, 2013) Theo khảo sát của GEM (2016), các chương trình của chính phủ
và các chính sách của chính phủ được đưa vào như các biến quan sát để đo lường tácđộng của chúng trong mô hình suy rộng về cơ hội khởi nghiệp, cụ thể các chính phủ sẽđảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả bằng cách loại bỏ các điều kiện tạo ra rào cản gianhập thị trường và quy định không cần thiết (Bruton et al 2010) Sambharya vàMusteen (2014) cho rằng các quốc gia đặt ra các yêu cầu về giấy phép kinh doanh, vốntối thiểu, an toàn tiêu dùng, luật lao động và các thủ tục khác để bắt đầu khởi nghiệp làrất khác nhau Đó có thể là nguyên nhân tạo ra môi trường kinh doanh không thân thiệnchẳng hạn như tạo ra các rào cản tiếp cận vốn làm giảm sự hưng phấn của doanh nhân(Bruton et al 2010) Về vấn đề này, Khoury và Prasad (2015) tuyên bố rằng thể chếchính thức có thể tác động tiêu cực đến cơ hội khởi nghiệp thông qua sự tham nhũngcủa chính phủ, hệ thống tư pháp không công bằng theo lợi ích nhóm, tiếp cận hạn chếgiáo dục hoặc lợi ích công cộng, hạn chế tự do dân sự, hạn chế thương mại quốc tế, sựkiểm soát về truyền thông của nhà nước, hoặc những nguy cơ liên tục vì bất ổn chính trị
Hall & Sobel (2006) cho rằng hệ thống chính sách công như (thuế, các quy định
về kinh doanh, hệ thống tư pháp, tự do kinh tế) tác động mạnh mẽ đến cơ hội kinhdoanh, trong khi khung nghiên cứu của UNCTAD (2005) cho rằng cần cái thiện cácchính sách xuất nhập khẩu, hạn chế các rào cản thương mại quốc tế nhằm gia tăng cơhội khởi nghiệp Ở một cách nhìn khác, Lee et al (2013) lại chia nhóm các chính sáchtác động đến khởi nghiệp thành 2 nhóm, nhóm thứ nhất là các chính sách nhằm đẩymạnh phát triển doanh nghiệp mới thành lập bao gồm các chính sách loại bỏ các rào cảngia nhập thị trường, chống độc quyền còn nhóm thứ hai là các chính sách nhằm hạn chếcác tổn thất khi phá sản Trước đó khi nêu quan điểm về vấn đề này, Golden et al (2003)ủng hộ việc khuyến khích phát triển tinh thần kinh doanh bằng cách giảm thiểu rủi roliên quan đến việc phá sản
Trang 231.1.2 Chuẩn mực văn hóa và xã hội
Valdez và Richardson (2013) coi nhận thức của các doanh nhân về các chuẩnmực xã hội liên quan đến khả năng tận dụng cơ hội khởi nghiệp của họ Các chuẩn mựcvăn hóa và xã hội định hình hành vi của con người và có thể được xem như sự ảnhhưởng lẫn nhau giữa những người sống trong cùng một môi trường xã hội (Hofstede1991)
Mặc dù Hofstede (1991) không đề cập trực tiếp đến mối quan hệ giữa văn hóa vàhoạt động khởi sự kinh doanh, tuy nhiên mối liên hệ này được nghiên cứu bởi một sốtác giả (Mitchell và cộng sự 2000; Kreiser et al 2010) Một số tác giả đã nghiên cứu sựkhác biệt văn hóa, đặc biệt là vai trò của văn hóa đề cao chủ nghĩa cá nhân, tính tự chủ,đặc điểm hình thành nhận thức kinh doanh và ảnh hưởng đến khả năng bắt đầu mộtdoanh nghiệp mới (Mitchell et al 2000) Có rất nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận rằngmột số loại văn hóa nhất định có định hướng hỗ trợ xã hội nhiều hơn, có tác động lớnhơn đến hiệu quả (Stephan và Uhlaner 2010) Những nền văn hóa này không chỉ đánhgiá thành công cá nhân đạt được thông qua những nỗ lực cá nhân mà còn nhấn mạnhđến sự tự chủ, và chủ động của cá nhân Trong những nền văn hóa như vậy, các cá nhânthường bị thu hút bởi việc tự làm chủ vì họ hy vọng rằng điều này sẽ mang lại lợi íchlớn hơn, nâng cao địa vị xã hội của chính họ (Mitchell et al 2000; Stephan và Uhlaner2010)
1.1.3 Giáo dục và đào tạo
Busenitz et al (2000) cho rằng kiến thức và kỹ năng mà người dân ở một quốc gia cóliên quan đến việc thành lập và điều hành một doanh nghiệp mới, điều này phù hợp với kếtquả khảo sát của GEM (2016), khảo sát này đã đưa giáo dục và đào tạo về hoạt động khởinghiệp được đưa vào như một biến để giải thích nhận thức cơ hội khởi nghiệp của doanhnhân Khi phân tích tác động của giáo dục và đào tạo đối với hoạt động khởi nghiệp của mộtquốc gia, cần phân biệt giữa giáo dục chung và giáo dục khởi nghiệp (Verheul et al 2001).Dựa trên quan điểm này O’Connor (2013) đã phân biệt hai loại hình giáo dục:
(1) giáo dục phổ thông và (2) giáo dục và đào tạo về khởi nghiệp, ông lập luận rằng cácnước phát triển (hoặc có định hướng đổi mới) có tỷ lệ thành công kinh doanh cao hơn khi
họ chứng minh trình độ giáo dục phổ thông cao hơn (Leffler và Svedberg 2005; O'Connor
2013 ) Trong khi đó, Triniti et al (2006) đã tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa các cấphọc cao hơn và hoạt động kinh doanh khởi nghiệp giữa các quốc gia Giáo dục phổ thôngkhông chỉ góp phần mở rộng tầm nhìn kiến thức giúp cá nhân nhận thức rõ hơn về các cơhội tiềm năng trên thị trường mà còn cung cấp những kiến thức cần thiết và sự linh
Trang 24hoạt để tận dụng những cơ hội này Paço et al (2015) tổng hợp vai trò của giáo dục vànhận định giáo dục là điều kiện cần để (1) cung cấp cho các nhà khởi nghiệp tương lai ýthức độc lập, tự chủ và tự tin; (2) làm cho mọi người nhận thức được các lựa chọn nghềnghiệp thay thế; (3) mở rộng tầm nhìn của mọi người làm cho họ có nhiều khả năngnhận thức các cơ hội thị trường tiềm năng; và để (4) cung cấp kiến thức có thể được sửdụng bởi các cá nhân để phát triển các cơ hội kinh doanh mới.
Tuy nhiên, các tác giả khác cho rằng vai trò của giáo dục và đào tạo trong khởinghiệp là hiệu quả hơn để thúc đẩy và kích thích các kỹ năng và kiến thức kinh doanh(Verheul et al 2001, p 34), do đó thực hiện ảnh hưởng lớn đến thái độ doanh nhân.GEM (2016) phân chia giáo dục thành giáo dục tiểu học, trung học và đại học trongnghiên cứu các tác động đến cơ hội khởi nghiệp Paço et al (2011) lại cho rằng thái độ
cá nhân là rất quan trọng để giải thích ý định khởi nghiệp các tác giả nhấn mạnh, giáodục và đào tạo nên tập trung nhiều hơn vào việc thay đổi /kích thích thái độ cá nhânthuận lợi đối với tinh thần kinh doanh hơn là cung cấp kiến thức kỹ thuật về kinh doanh
Cụ thể, trong nghiên cứu hiện nay giáo dục khởi nghiệp được định nghĩa là đào tạo các
cá nhân để tạo mới hoặc quản lý các doanh nghiệp được đưa vào trong các hệ thốnggiáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp (Amorós và Bosma 2014)
1.1.4 Hỗ trợ tài chính cho khởi nghiệp
Xây dựng môi trường khởi nghiệp tích cực là một yếu tố quan trọng để tăng vàduy trì khả năng cạnh tranh quốc gia Chính sách tài chính và đầu tư đóng vai trò ngàycàng quan trọng trong phát triển kinh doanh Nhiều chính phủ công nhận lợi ích của đầu
tư mạo hiểm và họ đã nỗ lực tài trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp Các chính sáchtài chính và đầu tư là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu ở các nước đangphát triển để hỗ trợ đầu tư cho các doanh nghiệp địa phương, đặc biệt là các doanhnghiệp vừa và nhỏ (SME) và các tập đoàn xuyên quốc gia đang đầu tư vào các quốc gianày Chính sách hỗ trợ các công ty ở giai đoạn phát triển ban đầu bằng cách sử dụng vốnđầu tư mạo hiểm mang lại tiềm năng thay đổi kinh tế (David, Hall, & Toole, 2000; Hall
& van Reenen, 2000; Hyytinen & Toivanen, 2005; Mani, 2004) Chính phủ đóng mộtvai trò quan trọng trong việc cung cấp các hỗ trợ tài chính và đầu tư phát triển để thúcđẩy tăng trưởng kinh tế (OECD, 2016) Các biện pháp chính sách công để hỗ trợ pháttriển doanh nhân bao gồm các chương trình tài chính khác nhau như cho vay, tài trợ,nghiên cứu và phát triển, ưu đãi thuế, tài chính, đầu tư mạo hiểm (Mani, 2004) Chínhsách công nên tập trung vào việc loại bỏ những trở ngại cho sự sáng tạo và khởi tạodoanh nghiệp mới Cụ thể, các chính sách của chính phủ cần tạo
Trang 25cơ hội để hỗ trợ sự phát triển về công nghệ cho các doanh nghiệp Ngoài ra, chính phủ
có thể đóng vai trò hàng đầu trong việc cung cấp các chương trình tài chính để thúc đẩynăng lực đổi mới quốc gia (Carlsson, 2006; Wonglimpiyarat, 2007)
Thị trường chứng khoán rất cần thiết cho các nhà đầu tư mạo hiểm để nâng caotính thanh khoản của nó có thể có tác động tích cực đáng kể đến các khoản đầu tư củacác nhà đầu tư mạo hiểm ở giai đoạn đầu (Gompers & Lerner, 1998; Groh, vonLiechtenstein, & Lieser, 2010) Hầu hết các nhà đầu tư mạo hiểm và các nhà đầu tư đềukhông thích rủi ro Họ thấy rằng rủi ro lớn là rủi ro không lấy lại được tiền từ một khoảnđầu tư và do đó thích đầu tư vào các doanh nghiệp có lợi nhuận IPO gây quỹ cho công
ty phát hành cũng như cung cấp nhanh chóng một lối ra cho nhà đầu tư Do đó, thịtrường chứng khoán riêng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp là lối thoát rất quan trọngcho các nhà đầu tư mạo hiểm (Barnes, Cahill, &Mccarthy, 2003; Black & Gilson, 1998;Gompers, 1998; Gompers & Lerner, 1998, 1999, 2001; Hellmann, 2000; Jeng & Wells,2000; Lerner, 1999, 2002)
1.1.5 Cơ sở hạ tầng
Ali Davaria và Taraneh Farokhmanesh (2017) cho rằng , hỗ trợ về cơ sở hạ tầngcần chú trọng tăng chất lượng, số lượng các dịch vụ tư vấn, dịch vụ kỹ thuật & đào tạo.Cần cải thiện khả năng tiếp cận thông tin về nguồn tài chính, hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn,quản trị mạng và các dịch vụ công cộng để cân bằng các cơ hội khởi nghiệp đối với mọiđối tượng (OECD, 2016) Cụ thể, nghiên cứu khảo sát chỉ ra trợ cấp công cộng và cơ sở
hạ tầng hướng tới nền tảng bền vững và đổi mới tạo ra sự thuận lợi trong nhận thức cơhội khởi nghiệp (Dirk Engel, 2003) Nghiên cứu này cũng chỉ ra sự thu hút các nhà sánglập tiềm năng là do cơ sở hạ tầng có thể làm giảm chi phí của công ty Một số nghiêncứu nhấn mạnh tầm quan trọng của các liên kết giao thông được thiết lập tốt đối với vịtrí các công ty, đặc biệt là đối với các ngành công nghiệp chuyên sâu về chi phí vậnchuyển
Khung nghiên cứu của UNCTAD (2005) về chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đã đolường tác động của các chính sách hỗ trợ kỹ thuật, quản lý, cơ sở hạ tầng đưa vào môhình các chính sách tác động làm tăng cơ hội khởi nghiệp cá nhân
1.1.6 Cơ hội khởi nghiệp
Davidsson (2015) cho rằng cơ hội là một khái niệm không thể xác định một cách
rõ ràng, người ta thấy rằng có ít tác phẩm đưa ra một định nghĩa rõ ràng về cơ hội, do
đó, các tác giả đã có những tranh cãi định nghĩa để áp dụng một quan điểm một
Trang 26cách nhất quán Tuy nhiên, có một sự đồng thuận rộng rãi rằng các cơ hội không tựnhiên mà có mà là kết quả của những nỗ lực quyết tâm hành động và phát triển của cácdoanh nhân (Alvarez et al 2015) Urbano và Alvarez (2014) cho rằng có một số biệnpháp chính sách của chính phủ có thể thúc đẩy các cơ hội tạo ra các doanh nghiệp mới.Những biện pháp này bao gồm hạ thấp các rào cản gia nhập để hình thành công ty mới;giảm các rào cản để mở rộng và tăng trưởng, bao gồm cả những khó khăn trong việctuyển dụng và sa thải lao động, chế độ thuế, hoặc đóng cửa kinh doanh; cải thiện khảnăng tiếp cận tín dụng; và cung cấp thông tin, đào tạo và hỗ trợ phi tài chính khác chocác doanh nhân Ngược lại, sự hiện diện của các quy định nghiêm ngặt có thể ức chế các
cơ hội kinh doanh khi họ hạn chế tự do kinh tế và tăng chi phí giao dịch liên quan đếnviệc ra mắt một doanh nghiệp mới Một ví dụ điển hình là nước Anh với quyết địnhBrexit
Cơ hội khởi nghiệp chịu ảnh hưởng của môi trường thể chế và chính sách khởinghiệp Những cơ hội này góp phần khởi tạo, sáng tạo, khởi nghiệp, các công ty tăngtrưởng cao và gia tăng lợi thế cạnh tranh (Pinho, 2016) Cơ hội khởi nghiệp còn tạo rađóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, kinh tế và môitrường (Hall et al., 2010) Chính sách khởi nghiệp dẫn đến nhiều cơ hội cuối cùng ảnhhưởng đến hiệu quả kinh tế tốt hơn
1.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, có rất nhiều công trình nghiên cứu về chính sách hỗ trợ khởi nghiệp,các nghiên cứu này tập trung vào những hướng chính sau đây:
Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp:
Nguyễn Anh Tuấn (2019) cho rằng khát vọng thành công, kinh nghiệm, tính sángtạo là những yếu tố quyết định ảnh hưởng tới dự định khởi nghiệp, trong khi đó, nghiêncứu của các tác giả Phan Anh Tú, Giang Thị Cẩm Tiên (2015) cho thấy các khóa họckhởi nghiệp ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp, cụ thể là chương trình giáo dục khởinghiệp có tác động tích cực đến ý đinh khởi nghiệp Thống nhất với quan điểm trên,Đoàn Thị Thu Trang (2012) cho rằng chương trình giáo dục khởi nghiệp ảnh hưởng đếnlượng khởi nghiệp vì nó làm giàu kiến thức về khởi nghiệp và làm phát triển các kỹnăng khởi nghiệp Các cơ sỏ giáo dục cần phải tập trung, kết nối với xã hội, tạo các sânchơi khởi nghiệp, gặp gỡ các doanh nghiệp thành công, truyền cảm hứng khởi nghiệp
Với chủ đề huấn luyện khởi nghiệp thực tế, Nguyễn Thị Thủy (2015) kết luận các
cá nhân khởi nghiệp có trải nghiệm về doanh nghiệp có xu hướng khởi nghiệp cao hơn
Trang 27những cá nhân chưa có trải nghiệm về doanh nghiệp Các tác giả Dư Thị Hà và cộng sự(2018) lại có quan điểm khác về vấn đề này với kết quả nghiên cứu thực nghiệm nhómtác giả này đã chứng minh người chưa có va chạm thực tế về doanh nghiệp có xu hướngkiên định về khởi nghiệp cao hơn người đã có va chạm thực tế về doanh nghiệp Đứngtrên khía cạnh khác ,Võ Nguyên Phú (2018) có quan điểm rằng trải nghiệm thực tế tạidoanh nghiệp có vai trò quan trọng thúc đẩy khởi nghiệp.
Một số tác giả cho rằng bầu không khí cởi mở, sáng tạo trong giảng dạy ảnhhưởng đến ý định khởi nghiệp (Nguyễn Quốc Nam, 2017) Trong khi các tác giả Đỗ Thị
Ý Nhi và cộng sự (2009) tập trung xem xét đánh giá các bộ phận hỗ trợ thiết thực cho ýtưởng khởi nghiệp Điểm chung của hai nghiên cứu này là các tác giả đồng ý rằng yếu tố
“môi trường giáo dục” là xem xét môi trường giáo dục nói chung có khuyến khích ýtưởng, sáng kiến khởi nghiệp hay không
Tóm lại, có rất nhiều nghiên cứu tại Việt Nam theo hướng tiếp cận về đánh giá các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp, các nghiên cứu này có xuất phát chung thường dựa trên mô hình gốc của Thuyết hành vi có hoạch định của Ajzen (1985), hoặc
lý thuyết hành vi kế hoạch (TPB) của chính tác giả này phát triển năm 1991 Xuất phát
từ những nghiên cứu gốc rễ này, các nhà nghiên cứu tại Việt Nam đã kế thừa và phát triển nhằm hoàn thiện khung nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên, kết quả của những nghiên cứu này nhận được sự đồng tình của đa số các học giả, khung nghiên cứu về ý định khởi nghiệp xuất phát từ mô hình lý thuyết hành vi kế hoạch (TPB) được
sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu Như vậy hướng nghiên cứu này tại Việt Nam đã
được phân tích rất sâu rộng, vì lẽ đó NCS không chọn hướng nghiên cứu này cho đề tài
Trang 28khung pháp lý cho doanh nghiệp khởi nghiệp, coi đây là giải pháp căn bản nhất để pháttriển khởi nghiệp Nghiên cứu của Bùi Tiến Dũng (2019) tập trung xem xét thực thichính sách hỗ trợ khởi nghiệp thông qua vai trò cầu nối của trường đại học, tác giả đềxuất các biện pháp giữa trên quy trình các bước: biết về khởi nghiệp; hiểu về khởinghiệp, làm về khởi nghiệp, từ các bước nay tác giả đề xuất những nội dung cụ thể cầntriển khai để tăng cường khởi nghiệp bao gồm: Thứ nhất là đẩy mạnh việc tuyên truyền
về những thông tin chính sách hỗ trợ khởi nghiệp chung và hỗ trợ khởi nghiệp, ngoài racần giới thiệu, tuyên truyền về cơ cấu, nội dung của các dự án thành công, nhằm nângcao sự hiểu biết của các cá nhân khởi nghiệp về định hướng khởi nghiệp của đất nước.Thứ hai là tích cực nang cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học, tham khảo cácchương trình đào tạo về khởi nghiệp tiên tiến trên thế giới, ban hành các chính sách hỗtrợ đào tạo khởi nghiệp, tăng thời lượng các chương trình ngoại khóa, tiếp xúc doanhnghiệp, lấy ý kiến các chuyên gia nghiên cứu chính sách, các nhà quản lý doanh nghiệp,
tổ chức các cuộc thi về khởi nghiệp nhằm giúp các cá nhân khởi nghiệp hiểu rõ về khởinghiệp, có cảm hứng, niềm tin vào khởi nghiệp Thứ ba là tạo môi trường thuận lợi đểkhởi nghiệp như xây dựng không gian chung cho khởi nghiệp, tích cực tổ chức các cuộcthi về khởi nghiệp hiện thực hóa các ý tưởng, hỗ trợ tài chính cho khởi nghiệp, hỗ trợ cơ
sở hạ tầng, tư vấn pháp luật khởi nghiệp miễn phí, hỗ trợ về kỹ thuật, quản lý, lao động,
…cho khởi nghiệp
Trịnh Đức Chiều (2016) cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến hệ sinh thái khởinghiệp tại Việt Nam bao gồm các chính sách, quy định; chuẩn mực văn hóa; giáo dục,
cơ sở hạ tầng, tài chính, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, chương trình hỗ trợ của Chính phủ.Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ dừng ở việc trình bày chứ không đi sâu phân tích các tácđộng của các yếu tố này đến khởi nghiệp Thay vào đó, nghiên cứu tập trung làm rõ cácchính sách hiện hành và kết quả bước đầu đạt được khi thực hiện các chính sách hỗ trợkhởi nghiệp Ngoài ra tác giả còn chỉ rõ những hạn chế, rào cản khi thực thi chính sáchbao gồm tâm lý sợ thất bại trong kinh doanh, năng lực chuyên môn và khả năng sáng tạohạn chế, huy động vốn gặp nhiều khó khăn Từ việc chỉ ra những hạn chế, tác giả đã đềxuất nhiều giải pháp trong đó trọng tâm là cải thiện thể chế, xây dựng môi trường kinhdoanh lành mạnh, hấp dẫn nhà đầu tư, khuyến khích cá nhân khởi nghiệp, cải cách hànhchính, nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là giáo dục khởi nghiệp
Nghiên cứu của Trần Thị Vân Anh (2016) đã tổng quan những chính sách hiện hành
hỗ trợ khởi nghiệp tại Hàn Quốc, coi đây là một trong những bài học kinh nghiệm thànhcông mà Việt Nam có thể học hỏi, áp dụng Từ kết quả của nghiên cứu này, tác giả
Trang 29đã gợi ý những chính sách hỗ trợ của Việt Nam nên tập trung vào (1) Cần đánh giá đúngthực trạng môi trường khởi nghiệp tại Việt Nam, múc đích là để hiểu rõ những đặc điểmkhởi nghiệp, từ đó xây dựng những chính sách hỗ trợ phù hợp, áp dụng, học hỏi từ cácquốc gia khởi nghiệp thành công trên thế giới (2) Hỗ trợ khởi nghiệp không chỉ tậptrung vào doanh nghiệp khởi nghiệp mà còn phải hỗ trợ các nhà đầu tư, nhất là hỗ trợthoái vốn giúp họ an toàn và yên tâm đầu tư phát triển khởi nghiệp (3) Nên hỗ trợ tươngứng với các giai đoạn phát triển của dự án khởi nghiệp, xây dựng vườn ươm khởi nghiệp(4) Xây dựng sàn chứng khoán riêng cho doanh nghiệp khởi nghiệp với những đặc điểm
ưu đãi nổi trội cho doanh nghiệp và nhà đầu tư thiên thần, có thể học hỏi mô hình sànchứng khoán KONEX của Hàn Quốc
Các tác giả Vũ Văn Ninh, Phạm Thị Thanh Hòa (2018) Phạm Tiến Đạt (2018)tập trung nghiên cứu vai trò của chính sách tài chính, tín dụng trong hỗ trợ khởi nghiệp,các nghiên cứu này có chung quan điểm khi đánh giá vai trò then chốt của huy động vốncũng như những khó khăn khi tiếp cận vốn của các doanh nghiệp khởi nghiệp, từ đóthống nhất cần đề xuất các giải pháp mang tính hệ thống, lâu dài như: Phát triển đa dạngcác kênh huy động vốn cho doanh nghiệp, phát triển sàn chứng khoán riêng cho doanhnghiệp khởi nghiệp; Phát hành trái phiếu doanh nghiệp, rà soát lại các văn bản quy định
về phát hành trái phiếu, xây dựng công thông tin trái phiếu doanh nghiệp, đẩy mạnh cảicách thủ tục hành chính, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi Xây dựng văn bản hướngdẫn xây dựng quỹ đầu tư mạo hiểm, các chính sách hỗ trợ cụ thể đối với các nhà đầu tưthiên thần
Lâm Thị Kim Liên, Huỳnh Lưu Đức Toàn (2018) tập trung phân tích thành côngcủa giáo dục khởi nghiệp tại một số quốc gia như Mỹ, Anh, Úc, Israel,…từ đó tập trungxây dựng chính sách giáo dục từ cấp vi mô (trường đại học) đến cấp vĩ mô (cấp quốcgia), cụ thể cần xây dựng chương trinh giáo dục khởi nghiệp, bổ sung các hoạt độngngoại khóa, kết nối doanh nghiệp, tổ chức các chương trình, cuộc thi khởi nghiệp trongtrường đại học, xây dựng các quỹ khởi nghiệp từ các nguồn thu hợp pháp,… Cũng tậptrung làm rõ vấn đề này, tác giả Trần Thị Thu Hà (2019) cho rằng cần xây dựng chiếnlược giáo dục và đào tạo khởi nghiệp cấp quốc gia, chiến lược này muốn thực hiện đượccần các giải pháp như (1) Cần bổ sung, đào tạo những giảng viên có kiến thức, trình độ
về giáo dục khởi nghiệp, cải cách toàn diện giáo dục, bỏ lề lỗi tư duy áp đặt trong giáodục, tích cực hợp tác với các chuyên gia hàng đầu về khởi nghiệp, xây dụng các chươngtrình trao đổi, phổ biến kiên thức khởi nghiệp cho sinh viên (2) Cần xem xét giáo dụckhởi nghiệp như một bộ phận cấu thành chiến lược khởi nghiệp quốc gia, đưa giáo dụckhởi nghiệp vào từ các bậc tiểu học, trung học chứ không chỉ ở các bậc
Trang 30học cao hơn Ngoài ra Chính phủ cần đóng vai trò trung tâm điều phối, gây nguồn quỹ tài
trợ cho giáo dục khởi nghiệp, xây dựng cơ chế hợp tác công tư, đẩy mạnh vai trò của các
doanh nghiệp, các hiệp hội tham gia vào giáo dục khởi nghiệp (3) Chính sách giáo dục khởi
nghiệp phải được xây dựng từ cấp vi mô đến cấp vĩ mô, từ trường học đến các bộ, ban
ngành, chính phủ, tập trung hỗ trợ, phát triển các nhóm yếu thế (thanh niên nông thôn, dân
tộc thiểu số, phụ nữ), Tập trung xây dựng giáo dục khởi nghiệp trở thành chính sách then
chốt của từng địa phương (4) Chú trọng bồi dưỡng kỹ năng kiến thức chuyên môn trong các
cơ sở giáo dục chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng đào tạo, có chính sách đinh hướng các
trường đại học tích cực xây dựng, kiểm định chất lượng theo các tiêu chuẩn quốc tế nhằm
tích cực hội nhập giáo dục, thay đổi tư duy về giáo dục hiện đại
Như vậy, có thể kết luận các nghiên cứu trong nước theo hướng này đã tập trung
làm rõ các chính sách hiện hành hỗ trợ khởi nghiệp tại Việt Nam Các nghiên cứu này
đã phân tích rõ thực trạng khởi nghiệp tại Việt Nam, phân tích sâu các chính sách hỗ
trợ khởi nghiệp và tổng hợp đề xuất những giải pháp mang tính chất căn bản, chiến
lược nhằm giúp đẩy mạnh phong trào khởi nghiệp nói chung và khởi nghiệp sinh viên
nói riêng, tuy vậy còn ít nghiên cứu định lượng phân tích tác động của từng chính sách
đến cơ hội khởi nghiệp của sinh viên, lấy đó làm căn cứ xác định, xây dựng khung chính
sách khởi nghiệp áp dụng tại Việt Nam Điều này là đặc biệt quan trong, vì kết quả
nghiên cứu sẽ là cơ sở quan trọng để xây dụng các chính sách phù hợp với văn hóa,
năng lực con người Việt Nam.
1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Qua phân tích tổng quan, NCS xây dựng bảng tổng hợp các chính sách chính của
những nghiên cứu nền móng xác định có tác động đến cơ hội khởi nghiệp như sau:
Bảng 1.1 Tổng hợp những chính sách hỗ trợ khởi nghiệp chủ yếu từ
nghiên cứu tổng quan
Trang 314 Lundstrom&
Stevenson
triểnnhânsánh sự khácbiệt
chính sách hỗtrợ
nghiệpcác quốc gia
Các nghiên cứu về chính sách hỗ trợ khởi nghiệp tại Việt Nam cũng đã tập trung
phân tích, thống kê các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, kết quả cho thấy các chính sách
có tác động đến việc phát triển khởi nghiệp cũng đồng nhất, phù hợp, trùng lặp với các
chính sách đã trình bày trong những nghiên cứu ở bảng 1.1 Ngoài ra những nghiên cứu
này còn đề xuất những giải pháp đa dạng, thiết thực, trong đó có
Trang 32những giải pháp trước mắt và lâu dài Các nghiên cứu cũng đã chỉ rõ các trường hợpthành công trên thế giới khi xây dựng chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, từ đó rút ra kinhnghiệm học tập cho Việt Nam Điều này rất hữu ích cho cho phát triển khởi nghiệp tạiViệt Nam.
Tóm lại, đa phần các nghiên cứu về khởi nghiệp ở Việt Nam hiện nay tập trung(1) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp, sự sẵn sàng khởi sự doanhnghiệp, (2) phát triển theo hướng nghiên cứu về chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đã trìnhbày được những chính sách cơ bản, chính yếu phù hợp với những nghiên cứu kinh điển
trên thế giới về chính sách hỗ trợ khởi nghiệp Tuy nhiên NCS cho rằng các nghiên cứu tại Việt Nam chưa tập chung làm rõ mô hình các chính sách tác động đến cơ hội khởi nghiệp, cũng như làm rõ những khái luận về “cơ hội khởi nghiệp” chính
vì vậy NCS chọn cho mình cách tiếp cận là tổng hợp, phân tích, đánh gia tác động của các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đến cơ hội khởi nghiệp.
Xuất phát từ những lý do trên, NCS đã quyết định chọn đề tài “Tác động của chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đến cơ hội khởi nghiệp” làm đề tài luận án tiến sĩ.
Trang 33Trên thế giới, nghiên cứu về những chính sách hỗ trợ khởi nghiệp củaGEM(2016), OECD(2016) , Hall et all(2005) , Pinho(2016), Kuziwa (2005), UNCTAD(2005),… được nghiên cứu tập trung vào những hướng chính sau đây:
- Các quy định, luật định chung áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp (Thể chế I)
- Các quy định, luật định riêng cho các doanh nghiệp mới khởi nghiệp (Thể chế II)
- Nền tảng văn hóa khởi nghiệp
- Giáo dục tiểu học và trung học (Giáo dục I)
- Giáo dục chuyên nghiệp như cao đẳng đại học (Giáo dục II)
- Hỗ trợ tài chính
- Cơ sở hạ tầng: hỗ trợ kỹ thuật, quản lý, cơ sở hạ tầng cơ bản cho khởi nghiệp
- Cơ hội khởi nghiệp
Đây là cơ sở để NCS đề xuất mô hình nghiên cứu cho luận án, nhằm xây dựng khung lý thuyết khoa học cho khởi nghiệp, nâng cao cơ hội khởi nghiệp
NCS cũng căn cứ vào phân tích tổng quan đề tìm ra khoảng trống nghiên cứu và tìm ra tên luận án tiến sĩ của mình
Trang 34CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ
KHỞI NGHIỆP ĐẾN CƠ HỘI KHỞI NGHIỆP
2.1 Khái niệm khởi nghiệp và cơ hội khởi nghiệp
2.1.1 Khái niệm khởi nghiệp
Theo định nghĩa tiếng Việt, khởi nghiệp là bắt đầu tạo lập một công việc kinhdoanh mới hay bắt đầu sự nghiệp kinh doanh Trong lĩnh vực kinh tế và quản trị kinhdoanh, khởi nghiệp gắn với thuật ngữ “ Tinh thần doanh nhân – Entrepreneurship”, làviệc một cá nhân, tận dụng cơ hội thị trường tạo dựng một công việc kinh doanh mới(Lowell W.B., 2003), hoặc là một thái độ làm việc đề cao tính độc lập, tự chủ, sáng tạoluôn đổi mới, chấp nhận rủi ro, tạo ra giá trị mới trong doanh nghiệp hiện tại (Bird,1988) là đổi mới, là một phong cách nhận thức và suy nghĩ (Mac Millan, I.C 2003), là
dự định phát triển nhanh (Lowell W.B 2003)
Khởi nghiệp theo hướng nghiên cứu của các học giả trong lĩnh vực kinh tế laođộng cho rằng khởi nghiệp là một sự lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân giữa việc đi làmthuê hoặc tự tạo việc làm cho mình Theo Kolvereid, L, (1996) khởi nghiệp nên gắn vớithuật ngữ “Tự tạo việc làm – Self employment” Như vậy, khởi nghiệp là lựa chọn nghềnghiệp của những người không sợ rủi ro, tự làm chủ công việc kinh doanh của chínhmình, và thuê người khác làm công cho họ ( Greve, A and Salaff, 2003) Làm thuê đượchiểu là cá nhân sẽ làm việc cho một doanh nghiệp hoặc tổ chức do người khác làm chủ,
do vậy khởi nghiệp kinh doanh nghĩa là tự làm chủ và thuê người khác làm việc chomình
Như vậy giữa khái niệm khởi nghiệp theo nghĩa tự tạo việc làm và theo nghĩatinh thần doanh nhân có sự khác biệt Theo nghĩa tự tạo việc làm, doanh nhân tự làmchủ chính mình, không đi làm thuê cho ai cả, trong khi theo nghĩa tinh thần doanh nhân,các doanh nhân có thể thành lập doanh nghiệp mới, thuê người quản lý doanh nghiệp
cho mình, còn bản thân có thể đi làm thuê cho doanh nghiệp khác.
Xuất phát từ những khái niệm trên NCS cho rằng : “Khởi nghiệp là tận dụng cơ
hội thị trường để bắt đầu một công việc kinh doanh mới, nhằm làm chủ- tự mình điều hành công việc kinh doanh hoặc thuê người quản lý, với mục đích mang lại giá trị cho bản thân cũng như nhiều lợi ích cho xã hội”
Trang 35Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo:
Khởi nghiệp sáng tạo (startup) là khởi nghiệp dựa trên nền của sáng tạo (dựa trênmột công nghệ mới, hoặc tạo ra hình thức kinh doanh mới, hoặc xây dựng một phânkhúc thị trường mới ) Tức là các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phải có
sự khác biệt không chỉ với các doanh nghiệp ở trong nước, với tất cả các công ty trướcđây và cả với các doanh nghiệp khác trên thế giới, cụ thể:
Theo Blank và Dorf (2012), DNKNST “là tổ chức lâm thời tìm kiếm mô hìnhkinh doanh có khả năng tăng tốc phát triển, nhân rộng và mang lại lợi nhuận” Bên cạnhkhả năng tăng tốc (có tiềm năng tăng trưởng), các DNKNST cũng thường mang đặcđiểm đổi mới sáng tạo (Sarkar, 2016) vì các DN này thường có xu hướng phát triển hoặchướng tới tạo ra những sản phẩm và dịchvụ mới cho thị trường Theo Schumpeter(1934) - một trong những học giả có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lĩnh vực khởi nghiệp
và đổi mới sáng tạo, doanh nhân là tác nhân của đổi mới sáng tạo và chuyển đổi kinh tế.Tuy nhiên, các DNKNST chưa có nhiều thành tựu và thành công nên NĐT khó có thểhiểu rõ và định giá DN (Holstein, 2015) Vì vậy, DNKNST được xem là loại hình DNrủi ro và khó tiếp cận được nguồn vốn vay ngân hàng Đây là một trong nhiều lý dokhiến DNKNST phải tìm kiếm các nguồn vốn khác, thường dựa trên việc trao đổi cổphần trong các giai đoạn phát triển đầu tiên, bao gồm vốn từ NĐT thiên thần và vốn đầu
tư mạo hiểm (Thiel và Masters, 2014)
Theo định nghĩa của các học giả phương Tây, DNKNST có thể hiểu là một tậphợp các nguồn lực tạm thời (nhân lực, tiền, thời gian…) để đi tìm kiếm một mô hìnhkinh doanh mới và nhanh chóng xây dựng thành một tổ chức /doanh nghiệp đạt quy mô,đồng thời có khả năng lặp lại hay nhân rộng tại các thị trường khác nhau; và thường tậndụng công nghệ làm lợi thế cạnh tranh
Tại Việt Nam, theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2017, KNST(startup) là quá trình khởi nghiệp dựa trên việc tạo ra hoặc ứng dụng kết quả nghiên cứu,giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, giátrị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa và có khả năng tăng trưởng nhanh
Phân loại các loại hình khởi nghiệp
- Về động cơ khởi nghiệp:
Các lý thuyết nghiên cứu về động cơ của tinh thần doanh nhân giải thích hai loạiđộng cơ chính của tinh thần doanh nhân theo lý thuyết “đẩy” và “kéo” (Schjoedt, L andShaver, 2007) Lý thuyết đẩy cho rằng các cá nhân bị áp lực trở thành doanh
Trang 36nhân bởi những yếu tố tiêu cực bên ngoài Nhân tố đẩy là các đặc tính cá nhân, hoặc cácnhân tố bên ngoài và thường có ý nghĩa tiêu cực (lương thấp, địa điểm làm xa nhà, côngviệc nhàm chán,…) Ngược lại, lý thuyết “kéo” cho rằng, động cơ để các cá nhân khởinghiệp kinh doanh là họ bị hấp dẫn bởi sự thành đạt, giàu có, độc lập tài chính và cáckết quả mong muốn khác (Segal và cộng sự, 2005)
Một số nghiên cứu cho rằng các doanh nhân khởi nghiệp với động cơ “đẩy” ítthành công về mặt tài chính hơn các doanh nhân khởi nghiệp với động cơ “kéo” (Amit,
R. anh Muller, E., 1995) tuy nhiên, sự phát triển của internet và sự bùng nổ mạng xã hội
đã làm thay đổi phần nào lý thuyết đẩy và lý thuyết kéo trong những năm gần đây dorào cản kinh doanh đã giảm bớt (Schjoedt,L and Shaver, 2007)
-Về đặc điểm kinh doanh:
+ Các doanh nghiệp khởi nghiệp được thành lập độc lập: Các doanh nghiệp nàyđược thành lập bởi một cá nhân, hay một nhóm các cá nhân độc lập, không bị chi phốibởi các doanh nghiệp khác, họ hoàn toàn sở hữu doanh nghiệp của mình và tự xây dựngthương hiệu, chiến lược kinh doanh độc lập cho doanh nghiệp của họ
+Các doanh nghiệp được thành lập bởi các doanh nghiệp đã có sẵn trên thị trường:
Một công ty đang hoạt động hoàn toàn có thể nắm bắt thời cơ, xu hướng kinhdoanh mới bằng cách thành lập một doanh nghiệp mới Doanh nghiệp mới này có nhiệm
vụ khai thác, phát huy tối đa nguồn lực để tận dụng cơ hội mà doanh nghiệp hiện tạiđang hoạt động không đáp ứng được Do vậy doanh nghiệp được thành lập mới theocách này sẽ chịu sự chi phối, điều hành từ các doanh nghiệp đang hoạt động
- Theo mục đích kinh doanh:
+ Khởi nghiệp kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận
+ Khởi nghiệp kinh đoan không vì lợi nhuận (doanh nghiệp công ích, xã hội)
Vai trò của khởi nghiệp đối với sự phát triển của đất nước
Nhiều nghiên cứu lý thuyết và kết luận từ thực tiễn đã chứng minh rằng, khởinghiệp kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế đất nước Thànhlập mới doanh nghiệp nghĩa là tạo thêm cơ hội công ăn việc làm cho người lao động,giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóađói giảm nghèo…và giải quyết những vấn đề mang tính xã hội Vai trò cụ thể của khởinghiệp được thể hiện qua những mặt sau:
- Việc tạo lập doanh nghiệp mới sẽ thu hút lao động, giải quyết áp lực xã hội về
Trang 37việc làm, góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước Các doanh nghiệp mớithành lập thường là loại doanh nghiệp nhỏ nên thể hiện tính linh hoạt, đa dạng về ngànhnghề kinh doanh do vậy dễ dàng đáp ứng nhu cầu của người lao động.
- Làm phong phú các sản phẩm, dịch vụ , đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước cũng như thế giới
- Gia tăng sự cạnh tranh với các doanh nghiệp đang tồn tại trên thị trường, điềunày sẽ góp phần tạo ra một nền kinh tế phát triển lành mạnh, cạnh tranh Người tiêudùng được hưởng lợi về giá và chất lượng sản phẩm, dịch vụ
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo sự cân đối giữa các thành phần kinh tế, sự hợp
lý giữa cơ cấu các ngành, các vùng kinh tế vì doanh nghiệp mới khởi nghiệp hầu hết làdoanh nghiệp nhỏ và vừa nên nó có thể thay đổi ngành nghề, chuyển hướng kinh doanhlinh hoạt, thích ứng nhanh chóng với biến động thị trường
- Khởi nghiệp kinh doanh giúp tận dụng nguồn lực đất nước một cách hiệu quả:Đặc điểm của khởi nghiệp là phát huy năng lực tự trang trải của bản thân, gia đình, bạn
bè, do vậy, khởi nghiệp sẽ phần nào đưa “vốn” nhàn rỗi vào kinh doanh Mặt khác cácdoanh nghiệp khởi nghiệp nằm rải rác khắp các địa phương, điều này sẽ tận dụng đượclao động, nguyên vật liệu, các sản phẩm phụ trợ của địa phương đó
- Khởi nghiệp giúp tăng cường đổi mới và chuyển giao tri thức:
Quá trình khởi nghiệp sẽ hiện thực hóa các ý tưởng kinh doanh vào thực tế, quátrình này sẽ truyền tải những tri thức mới vào đời sống kinh doanh Rõ ràng, nhiệm vụtruyền bá tri thức mới chủ yếu phụ thuộc vào các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường.Những doanh nghiệp này vận dụng tri thức để đáp ứng nhu cầu mới phát sinh trên thịtrường hoặc tìm cách đáp ứng những nhu cầu mà thị trường đáp ứng nó chưa tốt, quátrình này sẽ giúp các doanh nghiệp mới và cũ giao lưu, truyền bá tri thức, học hỏi lẫnnhau Đây là tiền đề cho việc phát triển đổi mới khoa học công nghệ, tạo điều kiện chonền kinh tế tri thức phát triển
2.1.2 Cơ hội khởi nghiệp
Khái niệm:
Cơ hội là khái niệm đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới nghiên cứu Từ
điển Tiếng Việt định nghĩa “Cơ hội là hoàn cảnh thuận lợi để thực hiện điều mình muốn” Muốn nắm bắt được những điều kiện thuận lợi, cần có đủ nguồn lực và sự sẵn
sàng để tận dụng nó (OECD,2016) Đồng quan điểm, Pinho (2016) cho rằng cơ hội là
Trang 38thứ luôn tồn tại xung quanh chúng ta, điều quan trọng là con người nhận ra và tận dụng
cơ hội Trong khí đó Peng &Lee (2013) cho rằng cơ hội chỉ thực sự có ý nghĩa khi nóđược tận dụng và mang đến những kết quả tích cực cho xã hội
Như vậy, cơ hội khởi nghiệp là những điều kiện thuận lợi để cá nhân có thể nắm bắt để khởi nghiệp, tạo ra mục địch tốt đẹp cho xã hội là phát triển kinh tế, tăng cơ hội việc làm, các cơ hội khởi nghiệp có được tận dụng hay không còn do nhiều yếu tố, tuy nhiên duy trì một xã hội có nhiều cơ hội là tiền đề để phát triển khởi nghiệp Việc nâng cao cơ hội khởi nghiệp là tạo thêm nhiều cơ hội thuận lợi nhằm giúp các cá nhân khởi nghiệp có điều kiện tốt nhất để khởi nghiệp.
Thang đo cơ hội khởi nghiệp:
Cũng trong nghiên cứu của Pinho(2016) cơ hội khởi nghiệp được đo lường bằng
sự cảm nhận về ủng hộ của môi trường cũng như việc gặp thuận lợi trong việc khởi
nghiệp Trong khi các tác giả Ali &Taraneh (2017) lại có cái nhìn rộng hơn khi cho rằng
cơ hội khởi nghiệp được đánh giá bằng sự cảm nhận công bằng giữa các cá thể trong xãhội khi khởi nghiệp kinh doanh, ngoài ra cơ hội khởi nghiệp được đo bằng cảm nhận về
số lượng các cơ hội, cảm nhận về sự dễ dàng và nhận được ủng hộ khi khởi nghiệp của
cá nhân khởi nghiệp,… OECD (2016); SEM(2016); Hall & Sobell (2006) đồng nhấtquan điểm khi cho rằng cơ hội khởi nghiệp chịu tác động bởi sự can thiệp về chính sách,các định chế điều tiết hành vi xã hội
Thang đo cụ thể về cơ hội khởi nghiệp sẽ được NCS trình bày chi tiết tại chương
3 (Phương pháp nghiên cứu), cụ thể là phần “mô hình nghiên cứu và thang đo” trong luận án này.
Trang 39nước Thuật ngữ chính sách được sử dụng với hàm ý chính sách công, trong đó Nhànước là nhân vật then chốt, là chủ thể cho ra đời các sản phẩm là chính sách Chính sách
là biện pháp can thiệp của Nhà nước vào một ngành, một lĩnh vực hay toàn bộ nền kinh
tế nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định, với những công cụ và giải pháp nhất định
và trong một thời hạn xác định Theo khái niệm trên, “chính sách” bao hàm các nộidung:
- Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra;
- Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hìnhthực tế
- Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhằm đến mục đích nhất định; nhằmthực hiện một mục tiêu nào đó, chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủđích rõ ràng Khi một vấn đề kinh tế - xã hội cần được giải quyết, chính quyền sẽ đưa ramục tiêu và cách thức giải quyết (để cho vấn đề tự phát triển cũng là một cách giảiquyết) Sự lựa chọn cách giải quyết đưa đến những quyết định và toàn bộ quy trình nàyđược đặt trong một môi trường tương tác của các tác nhân chính sách, tạo ra hàng loạtcác ràng buộc trước khi chính sách xuất hiện và các tác động sau đó Chính sách không
tự nhiên xuất hiện, nó chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, vănhóa, được thể hiện cụ thể qua sự can thiệp của Nhà nước đối với các thất bại thị trường,những giá trị chính trị thịnh hành, tâm lý công chúng vào thời điểm đó, cấu trúc củachính quyền, các quy phạm xã hội của quốc gia và địa phương và hàng loạt các biến cốkhác Từ sự chi phối của những điều kiện này, dẫn đến cách thể hiện khác nhau trongcác vai trò chính sách và quy trình chính sách Chính sách của Nhà nước đưa ra nhằmtác động vào các ngành, lĩnh vực, khu vực như: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, sảnxuất, tiêu dùng,… Từ cách tiếp cận chính sách như trên, mỗi lĩnh vực nhà nước có chính
sách riêng, ta có khái niệm chính sách hỗ trợ khởi nghiệp như sau: Chính sách hỗ trợ khởi nghiệp là công cụ để hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp và nhà đầu tư, bao gồm các chế độ, các biện pháp, các quy định cụ thể từ hình thành doanh nghiệp khởi nghiệp, xây dựng và phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp ,đảm bảo đơn giản hóa môi trường pháp lý, hỗ trợ vốn, tín dụng hỗ trợ quản lý, kỹ thuật,
đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, xây dựng văn hóa khởi nghiệp cấp quốc gia,… nhằm đạt được mục tiêu chiến lược khởi nghiệp quốc gia.
Mục tiêu của chính sách hỗ trợ khởi nghiệp:
Peng & Lee (2013) cho rằng, mục tiêu của các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp
được phân thành hai hướng chính: thứ nhất tối đa hóa lợi nhuận cho các doanh nghiệp
Trang 40khởi nghiệp, điều này được hiểu là các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp sẽ hướng tới việcgiúp doanh nghiệp đạt được mức loại nhuận tối đa có thể nhằm duy trì và phát triển
mạnh mẽ các doanh nghiệp này, thứ hai là giảm thiểu các thiệt hại khi chấm dứt kinh
doanh đối với chủ doanh nghiệp khởi nghiệp (phá sản, giải thể), điều này là hoàn toànhợp lý vì thực tế bản thân những doanh nhân khởi nghiệp tự thân thành công thườngkhông ít lần trải qua những thất bại trước đó, vấn đề là những bài học thất bại đó có đểlại cái giá quá cao đối với họ hay không?! Như vậy các chính sách hỗ trợ cũng phảihướng đến việc giảm thiểu các mất mát cho các chủ doanh nghiệp khi chấm dứt kinhdoanh Pinho (2016) khi nghiên cứu về chính sách hỗ trợ khởi nghiệp ở các quốc gia
điển hình đã chia các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp thành 5 nhóm chính : Yếu tố thể chế, văn hóa, giáo dục, hỗ trợ tài chính, và hỗ trợ cơ sở vật chất Kế thừa từ nghiên
cứu này, các tác giả Ali Davaria và Taraneh Farokhmanesh (2017) đã khẳng định cáchphân chia trên là có cơ sở trong một nghiên cứu về chính sách hỗ trợ khởi nghiệp tại
IRAN (Impact of entrepreneurship policies on opportunity to startup).
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn chính sách hỗ trợ khởi nghiệp tại Việt Nam NCSxây dựng cây mục tiêu cho chính sách hỗ trợ khởi nghiệp như sau: