Việc nghiên cứu về Then Tày hiện đại ở Ba Bể và vấn đề giáo dục học sinh phổ thông ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn chính là tìm hiểu sâu sắc về di sản văn học dân gian đó của tộc người Tày ở
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ HUYỀN ANH
THEN TÀY Ở BA BỂ, BẮC KẠN
VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HỌC SINH PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ HUYỀN ANH
THEN TÀY Ở BA BỂ, BẮC KẠN
VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HỌC SINH PHỔ THÔNG
NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 8 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ MINH THU
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn khoa học “Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn và vấn đề giáo dục học sinh phổ thông” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020
Tác giả luận văn
Nông Thị Huyền Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Ban chủ nhiệm, quý thầy, cô giáo khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và quý thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Tác giả xin chân thành cảm ơn: Đảng ủy - UBND, phòng Văn hóa thông tin, phòng Thống kê huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, lãnh đạo, giáo viên, học sinh các trường THPT Ba Bể, THCS Bành Trạch, PTDTNT Ba Bể và cá nhân các ông (bà) Hoàng Đức Dục, Dương Quang Thục, Ma Văn Trực, Lộc Thị Nự, Lã Văn Trường, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thu, người đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời
gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả cảm ơn tập thể lớp cao học K26 Bắc Kạn chuyên ngành Ngữ văn trường ĐHSP Thái Nguyên đã đóng góp ý kiến trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tác giả để hoàn thành luận văn này
Tác giả
Nông Thị Huyền Anh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Những đóng góp của luận văn 10
7 Bố cục của luận văn 10
NỘI DUNG 11
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI TÀY, THEN TÀY Ở BA BỂ, BẮC KẠN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN 11
1.1 Điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội, đời sống văn hóa của người Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn 11
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 11
1.1.2 Đặc điểm lịch sử 14
1.1.3 Đời sống văn hóa - xã hội 17
1.2 Khái quát về Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn 23
1.2.1 Khái niệm, nguồn gốc 23
1.2.2 Quá trình phát triển 28
1.2.3 Phân loại 29
1.2.4 Diễn xướng Then Tày 31
1.3 Vai trò của văn hóa, văn học trong việc giáo dục học sinh 37
Tiểu kết chương 1 40
Chương 2: NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA THEN TÀY Ở BA BỂ, BẮC KẠN 41
Trang 62.1 Nội dung của Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn 41
2.1.1 Then Tày phản ánh đời sống của người Tày 41
2.1.2 Then ca ngợi phẩm chất tốt và phê phán những thói xấu 48
2.2 Nghệ thuật Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn 61
2.2.1 Thể thơ 61
2.2.2 Ngôn ngữ 66
Tiểu kết chương 2 73
Chương 3: THEN TÀY Ở BA BỂ, BẮC KẠN VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HỌC SINH PHỔ THÔNG 74
3.1 Thực trạng giáo dục học sinh phổ thông ở Ba Bể qua Then Tày 74
3.1.1 Kết quả khảo sát 74
3.1.2 Những mặt tích cực 81
3.1.3 Một số hạn chế 82
3.2 Đề xuất hoạt động giáo dục Then Tày cho học sinh phổ thông ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 83
3.2.1 Cơ sở, nguyên tắc, quy trình 83
3.2.2 Đề xuất hoạt động giáo dục: Thành lập “Câu lạc bộ hát Then và đàn Tính” ở trường THPT Ba Bể 87
Tiểu kết chương 3 92
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Trang 7đó, Then là một di sản vô cùng quý giá phản ánh đời sống tín ngưỡng, đời sống hiện thực, tâm tư, tình cảm của dân tộc Tày Trong đời sống xã hội của người Tày từ xưa tới nay, Then Tày vẫn luôn được người dân tộc Tày gìn giữ, phát triển Then được sử dụng trong rất nhiều hoạt động như trong các nghi lễ cầu cúng chữa bệnh, giải hạn, đầy tháng, cầu phúc, cầu lộc, cầu tài, lễ hội lồng tồng, văn nghệ, vui chơi,… Song vì nhiều nguyên nhân mà Then Tày chưa được phổ biến rộng rãi Nguy cơ một kho tàng văn hóa dân tộc quý giá của dân tộc Tày bị mai một dần là không thể tránh khỏi trong thời đại xã hội hiện nay Bởi vậy, việc bảo tồn và phát triển các làn điệu Then Tày là một việc làm rất cần thiết không chỉ của các cấp chính quyền, địa phương mà còn của chính những người dân
Tỉnh Bắc Kạn là một tỉnh phía Đông Bắc nước ta, nơi có số người dân tộc Tày chiếm đa số, cũng được đánh giá là một cái nôi của những khúc hát Then Then của người Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn hiện còn được bảo tồn khá phong phú qua nhiều hình thức như ghi chép bằng chữ viết Tày, thông qua hoạt động nghi lễ, thờ cúng, lễ hội, hoạt động ca hát,…
Xét từ góc độ văn học, lời Then là di sản văn học dân gian rất tiêu biểu của dân tộc Tày Việc nghiên cứu về Then Tày hiện đại ở Ba Bể và vấn đề giáo dục học sinh phổ thông ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn chính là tìm hiểu sâu sắc về di sản văn học dân gian đó của tộc người Tày ở một địa bàn văn hóa tiêu biểu và mối liên hệ giữa di sản văn hóa đó với vấn đề giáo dục học sinh ở các trường phổ thông trong địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, để từ đó nâng cao ý thức bảo tồn và phát triển Then Tày hiện đại nói riêng, các loại hình nghệ thuật dân gian dân tộc thiểu số nói chung ở học sinh phổ thông của huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Trang 81.2 Lí do thực tiễn
Qua một thời gian tìm hiểu về Then Tày, chúng tôi nhận thấy bên cạnh Then
Tày nói chung, Then Tày của tỉnh Bắc Kạn cũng luôn giữ vị trí, quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Bởi thế mà cũng đã nhận được sự quan tâm nhất định của những cá nhân, tổ chức tìm hiểu, nghiên cứu Một số nhà nghiên cứu dân gian đã
cố công sưu tầm và biên soạn thành công trình khoa học có giá trị Trong đó, Then Tày ở Ba Bể hiện nay lại càng được Đảng và chính quyền quan tâm sâu sắc, đã và đang thực hiện nhiều hoạt động thiết thực để bảo tồn và phát huy thể tài văn hóa phi vật thể có giá trị này Bên cạnh đó, nhiều nghệ nhân hát Then cũng rất có ý thức trong việc lưu truyền, phát triển Then Tày như: sưu tầm Then cổ, đặt lời Then lời mới, truyền dạy cho các thế hệ kế cận, sinh hoạt trong những câu lạc bộ hát Then đàn tính,
… Đó cũng chính là một hình thức rất hữu ích để có thể lưu giữ được những giá trị văn hóa dân gian của dân tộc Vì vậy phong trào hát Then ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tương đối phát triển, đặc biệt là Then lời mới Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng, cho tới hiện nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu về nội dung và nghệ thuật của loại hình Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn một cách chuyên biệt, có tính hệ thống và vấn đề đưa Then Tày vào việc giáo dục học sinh ở các trường phổ thông, để từ đây những giá trị văn hóa phi vật thể phong phú của người
Tày được phát triển sâu rộng hơn, có sự lan tỏa rộng rãi hơn
Bên cạnh đó, tác giả luận văn lại là một giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn
ở huyện Ba Bể, người dân tộc Tày, sinh ra trên chính quê hương Bắc Kạn Bởi vậy
mà hoạt động nghiên cứu Then Tày ở huyện Ba Bể, Bắc Kạn còn có ý nghĩa thiết thực hơn là sẽ phục vụ trực tiếp cho bản thân trong phần giảng dạy văn học địa phương theo chương trình Giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Hơn nữa, qua việc tìm hiểu về Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn, chúng tôi hi vọng
có thể góp một phần nhỏ bé của mình trong việc khẳng định, giữ gìn và phát huy tốt hơn nữa những giá trị văn hóa quý báu của dân tộc Tày tại địa phương nơi mình sinh sống và làm việc
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn
và vấn đề giáo dục học sinh phổ thông làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
Trang 92 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu về Then Tày nói chung
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm đặc biệt tới việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa, văn học của các dân tộc trên khắp dải đất hình chữ S Đặc biệt, trong thời kì xã hội đang đứng trước xu thế hiện đại hóa, hội nhập thế giới diễn ra ngày càng mạnh mẽ, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc đang có nguy cơ mai một dần thì vấn đề gìn giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc nói chung, của dân tộc Tày nói riêng là một vấn đề rất cần thiết Là một thể loại trong kho tàng văn hóa, văn học dân gian của dân tộc Tày, từ lâu hát Then đã nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, sưu tầm Then Tày ở Việt Nam rất phong phú nhưng nhắc đến Then Tày, các nhà sưu tầm, nghiên cứu và những người yêu thích Then nghĩ ngay đến vùng Việt Bắc - nơi từ lâu được coi là cái nôi của văn hóa, văn học dân gian Tày Then phát triển hầu hết ở các tỉnh thuộc vùng Việt Bắc như Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn và Bắc Kạn Làn điệu Then của người Tày ở vùng Việt Bắc trong đó có Bắc Kạn đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Giai đoạn trước năm 1945, có thể do hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học chưa phát triển nên hầu như không có những công trình sưu tầm, nghiên cứu cụ thể
về loại hình Then Nhưng từ sau năm 1945, đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về Then và có xu thế tăng dần cả về số lượng và chất lượng
Trước tiên cần kể tới cuốn Lời hát Then của tác giả Dương Kim Bội Đây có
thể coi là cuốn sách đầu đề cập tới lời hát Then ở dạng nguyên bản tiếng Tày Trong cuốn sách này, tác giả đã định nghĩa “Then là loại hình văn học - nghệ thuật tổng
hợp, vì diễn xướng Then gồm có đàn, hát, múa và trang trí” [3, tr.59] Ngoài ra, công
trình này cũng tìm hiểu về những khía cạnh khác của Then như mặt văn nghệ, làn điệu âm nhạc và các động tác múa sử dụng trong Then Theo quan điểm của tác giả Dương Kim Bội, các bài hát Then có nội dung chủ yếu là thể hiện lòng lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống bình dị của nhân dân lao động Cuốn sách cũng đã góp phần nào trong việc khẳng định vai trò và giá trị của hát Then đối với đời sống của người dân tộc Tày Ta có thể nhận thấy đây là một công trình nghiên cứu có giá trị về văn học
Trang 10dân gian Tuy vậy, trong cuốn sách này, tác giả cũng mới trích dịch được một phần nhỏ trong phần phụ lục chứ chưa chú ý dịch sang tiếng phổ thông được nhiều Mặt khác, công trình nghiên cứu này còn chưa bao quát được giá trị phần lời của Then Tày cả về nội dung lẫn nghệ thuật
Trong cuốn Mấy vấn đề về Then Việt Bắc - một công trình nghiên cứu có tập
hợp những bài viết về Then ở phạm vi rộng và nhiều khía cạnh - của nhiều tác giả, ta
có thể thấy được nhiều khía cạnh của Then được đề cập tới trong các bài viết như nguồn gốc, loại hình, nghệ thuật diễn xướng, tín ngưỡng, hiện thực sinh hoạt, …
Trong đó, bài viết của nhà nghiên cứu Lê Chí Quế với tiêu đề Bước đầu tìm hiểu
những yếu tố hiện thực sinh hoạt và yếu tố tín ngưỡng nghi lễ đã có những nhận
định khá sâu sắc Tác giả đã khẳng định về mối liên hệ giữa hai yếu tố hiện thực sinh
hoạt và tín ngưỡng ở trong Then: “hiện thực sinh hoạt và tín ngưỡng là hai yếu tố quan trọng trong hát Then” [23, tr.112]
Ở cuốn Lễ cầu tự của người Tày ở Cao Bằng của tác giả Triệu Thị Mai, quan
điểm thể hiện sự tin tưởng ở thế giới thần linh trong việc chữa bệnh và cầu tự của người Tày dù trong đời sống ngày nay khoa học đã phát triển được nêu ra rất rõ [20, tr.79]
Còn ở cuốn Then Tày của nhà Nghiên cứu Nguyễn Thị Yên cũng đã giúp
người đọc có được cái nhìn khá toàn diện về Then Tày Tác giả đã có sự khái quát, nhìn nhận, đánh giá về Then, đã mô tả diễn biến của một buổi lễ Then cấp sắc với đầy
đủ các bước, đoạn, chương trong Then cấp sắc qua lễ cấp sắc cho ông Nguyễn Văn Ngời trú tại bản Phú Nà, xã Tự Do, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng
Ngoài những công trình đã kể ở trên, còn có những công trình nghiên cứu khác
Trang 11- Triều Ân, Hoàng Hưng, Dương Nhật Thanh, Nông Đức Thịnh (2000), Then Tày, những khúc hát, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội
- Nông Thị Nhình (2000), Âm nhạc dân gian các dân tộc Tày, Nùng, Dao Lạng Sơn, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội
- Hà Đình Thành (2000), “Then của người Tày - Nùng với tín ngưỡng tôn giáo dân gian”, Tạp chí văn hóa nghệ thuật (số 5, tr 35 - 39)
- Ngô Đức Thịnh (2002), “Then - một hình thức Shaman của Dân tộc Tày ở Việt Nam”, Tạp chí văn hóa dân gian
- Lương Thị Đại (2014), Hát Then lên chợ mường trời (Khắp Then pay ỉn
dương cươi), Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội;
- Hoàng Thu Trang (2017), Biểu tượng trong Then Tày, Luận văn Thạc sĩ,
ĐHSP Thái Nguyên
Những cuốn sách kể trên được đánh giá là những công trình nghiên cứu, sưu tầm khá công phu và giá trị về phần Then nghi lễ của người Tày Các tác giả đã quan tâm nghiên cứu các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng trong Then Tày, đời sống của các ông Then, bà Then, và nhất là vai trò của Then đối với đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Tày Những công trình này cũng có sưu tầm được khá phong phú những khúc hát then hành lễ, có kèm lời giới thiệu về giá trị nội dung, nghệ thuật và những đặc điểm nghi lễ gắn liền với khúc hát Then
Qua một số công trình nghiên cứu đã thống kê ở trên, có thể nhận ra được bản chất của Then Then có sự hòa quyện thống nhất giữa hai yếu tố loại hình văn nghệ dân gian và tín ngưỡng dân gian Chính sự kết hợp ấy đã tạo ra nét đặc sắc rất riêng cho loại hình nghệ thuật này Và như vậy, những công trình nghiên cứu đó cũng đã góp phần khá quan trọng trong việc giới thiệu cũng như nghiên cứu về Then
2.2 Lịch sử nghiên cứu về Then Tày ở Bắc Kạn và Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn
Trong 7 dân tộc anh em sinh sống ở Bắc Kạn, người Tày chiếm đa số với 52,6% Then được coi như một thể tài diễn xướng dân gian đặc trưng của người Tày ở Bắc Kạn Ngày 13 tháng 12 năm 2019, tại phiên họp Ủy ban Liên chính phủ Công ước
2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 14 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học
và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) diễn ra tại Bogotá, Colombia, di sản thực hành
Trang 12Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Việc UNESCO vinh danh hát Then là Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân lại là một điều vô cùng có ý nghĩa, đã góp phần khẳng định được giá trị của hát Then trong nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của người Tày nói riêng, của dân tộc Việt nói chung Tuy nhiên, hiện nay các công trình khoa học nghiên cứu về Then Tày ở Bắc Kạn vẫn còn rất ít ỏi
Trong khóa luận tốt nghiệp thạc sĩ của mình, tác giả Hà Thị Tầm đã nghiên cứu về Then Tày ở Chợ Mới, Bắc Kạn Ở đó, tác giả đã có nghiên cứu khá sâu sắc về khía cạnh nội dung và nghệ thuật của Then Tày lưu truyền ở vùng huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn Tác giả khóa luận cũng đã chỉ ra điểm riêng biệt trong nội dung Then Tày vùng Chợ Mới: “Ngoài điểm giống với các dân tộc khác là thờ cúng tổ tiên thì điểm khác biệt trong tín ngưỡng của những người làm nghề Then là họ thờ cúng tổ
sư Dòng Then khu vực Chợ Mới, Bắc Kạn khi đi hành nghề phải mang theo bức tranh thờ tổ sư gia truyền của gia đình để treo trước đàn cúng biểu thị sức mạnh và binh lực của tổ sư - tổ tiên luôn luôn đi theo trợ giúp cho họ Qua Then, người đọc còn hình dung ra một bức tranh hiện thực sinh động về cuộc sống của người Tày trong quá khứ” [41, tr 78]
Cũng trong khóa luận tốt nghiệp cử nhân văn hóa của mình, tác giả Vũ Thị
Nhung đã nghiên cứu về Then cầu an của người Tày ở Dương Quang, Bắc Kạn
Trong khóa luận, tác giả đã chỉ ra vai trò quan trọng của Then cầu an đối với đời sống
xã hội của người dân tộc Tày ở một địa phương cụ thể là xã Dương Quang, Bắc Kạn Ngoài ra, công trình cũng có đề cập tới các giá trị về mặt văn học, xã hội và nghệ thuật của Then cầu an [29, tr 59] Công trình cũng phần nào góp công vào việc giữ gìn, bảo tồn loại hình Then cầu an nói riêng, bản sắc văn hóa của dân tộc Tày ở địa phương nói chung
Về Then Tày của huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, những người đặc biệt có công sưu tầm, biên soạn là các tác giả Dương Thục (Ở Tiểu khu 7, thị trấn Chợ Rã, huyện
Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn), Nguyễn Trung Trực (ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn), Hoàng Đức Dục (Ở xã Mỹ Phương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn), anh Lã Văn Trường (ở xã Cao Thượng, Ba Bể, Bắc Kạn), cô Lộc Thị Nự (ở Tiểu khu 3, thị trấn
Trang 13Chợ Rã, Ba Bể, Bắc Kạn) Ông Hoàng Đức Dục là một nghệ nhân hát then đã được
Bộ văn hóa thông tin công nhận, đồng thời Quyền là Pháp thư tự pháp Phong (người được cấp sắc để chuyên hát Then nghi lễ) Ông Dương Thục là một cán bộ phòng Văn hóa thông tin và thể thao huyện Ba Bể đã nghỉ hưu - một nghệ nhân hát then, đồng thời là người sáng tạo ra cây đàn tính 12 dây độc nhất vô nhị ở Việt Nam Bản thân nghệ nhân Dương Thục đã sáng tác được 31 bài Then Tày lời mới và ngoài ra còn sưu tầm được nhiều bài Then của các tác giả khác vẫn được lưu truyền ở Ba Bể, Bắc Kạn Nghệ nhân Mã Văn Trực (nghệ danh là Trung Trực) cũng là cựu cán bộ của phòng Văn hóa thông tin và thể thao huyện Ba Bể, vì đam mê với hát Then và sáng tạo đàn tính nên đã nghỉ việc để chuyên tâm chăm lo cho Câu lạc bộ hát Then đàn tính ở Bản Hon (xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn) và sáng tạo ra những cây đàn tính phục vụ nhu cầu của nhân dân Anh Lã Văn Trường là một người đặc biệt có niềm đam mê về Then Tày, hiện anh còn lưu giữ được 1 cuốn viết tay với hơn trăm bài thơ Tày do chính ông ngoại của anh là cố nhà thơ Triệu Sinh sáng tác và bản thân anh đã sử dụng chính những lời thơ Tày đó để hát Then không chỉ để lưu giữ được tài sản tinh thần quý giá của gia đình mà còn góp phần làm cho loại hình văn nghệ dân gian đặc trưng của dân tộc Tày trở nên phong phú hơn cả về giá trị nội dung
và nghệ thuật Cô Lộc Thị Nự cũng là một trong những người có niềm yêu thích đối với loại hình Then Tày, cô cũng đã sáng tác được 03 bài hát Then và sưu tầm được một số bài Then khác về Ba Bể, Bắc Kạn Những tác giả được kể trên đã có rất nhiều công lao đối với việc lưu truyền, bảo tồn, phát huy Then Tày ở địa bàn huyện Ba Bể
Họ đã sưu tầm được khá nhiều bài then lời cổ, sáng tác được nhiều bài Then lời mới phục vụ hoạt động giải trí, hoạt động du lịch ở địa phương Tuy nhiên, hiện các sáng tác của các tác giả vẫn chưa được tập hợp thành hệ thống và chưa được biên soạn thành sách để lưu truyền, phổ biến rộng rãi Những văn bản hiện các tác giả lưu giữ được là rất có giá trị đối với việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn Tuy nhiên, xét ở góc độ văn học thì những sáng tác của các tác giả kể trên cũng còn chưa được quan tâm nhiều tới giá trị nội dung và nghệ thuật của những lời hát Then mà mới chỉ được quan tâm ở hình thức diễn xướng trong những môi trường diễn xướng cụ thể
Trang 14Sau khi tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy thực tế đã có không ít công trình nghiên cứu về Then Những công trình nghiên cứu đó nghiên cứu Then chủ yếu ở phương diện tín ngưỡng hay ở góc độ nghệ thuật Mặc dù có những nhà khoa học đã nghiên cứu, đánh giá cụ thể về hình thức Then cầu an hoặc Then cấp sắc ở trong hệ thống Then Tày nói chung song vẫn chưa có một công trình nào đi sâu vào nghiên cứu về Then Tày Ba Bể, Bắc Kạn cùng vấn đề giáo dục học sinh phổ thông Đó chính là
những gợi ý và cũng là cơ sở để chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài này có mục đích hướng tới cái nhìn toàn diện và chân thực nhất về mảng Then lời mới của người Tày ở địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn trên cơ sở hệ thống hóa các văn bản Từ đó, đề xuất hoạt động thành lập “Câu lạc bộ Hát Then và đàn Tính ở trường THPT Ba Bể” nhằm góp phần bảo tồn, phát triển một hình thức sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật dân gian tốt đẹp của dân tộc Tày trong các trường phổ thông trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu một số vấn đề lí luận và thực tế liên quan đến đề tài
Sưu tầm, tập hợp, tìm hiểu các lời hát Then Tày lời mới với một số loại hình văn hóa nghệ thuật, tập tục, tín ngưỡng có liên quan đến đề tài hiện đang lưu truyền trong đời sống dân gian
Khảo sát, thống kê, phân tích, lí giải lời Then Tày lời mới và một số vấn đề có liên quan đến giá trị nội dung, nghệ thuật đặc trưng của nó
Khảo sát, thống kê, đánh giá về thực trạng, ý nghĩa của Then Tày với vấn đề giáo dục học sinh phổ thông ở huyện Ba Bể, Bắc Kạn, từ đó, đề xuất hoạt động đưa Then Tày vào giáo dục học sinh phổ thông qua hình thức Câu lạc bộ
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chủ yếu của luận văn là những bài Then Tày lời mới được sưu tầm, lưu truyền ở Ba Bể, Bắc Kạn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi tư liệu nghiên cứu:
Trang 15Các văn bản Then Tày do các nghệ nhân Dương Thục, Mã Văn Trực, Lã Văn Trường, cô Lộc Thị Nự sáng tác và sưu tầm được ghi chép lại, hiện vẫn chưa được công bố, xuất bản Cụ thể: nghệ nhân Dương Thục có 33 bài, nghệ nhân Mã Văn Trực có 03 bài, cô Lộc Thị Nự có 03 bài, anh Lã Văn Trường sưu tầm được 126 bài
do ông ngoại là cố nhà thơ Triệu Sinh sáng tác
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, chúng tôi sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
Phương pháp điền dã văn học, văn hóa dân gian: Chúng tôi đã đến gặp trực
tiếp các nghệ nhân hát Then, những người có hiểu biết nhiều, chuyên sưu tầm và sáng
tác lời Then Tày ở địa bàn huyện Ba Bể để sưu tầm tư liệu phục vụ cho đề tài Chúng
tôi cũng tiến hành khảo sát thực trạng của hoạt động hát Then ở Ba Bể, Bắc Kạn, nhu cầu của học sinh phổ thông về Then Tày, tạo cơ sở tốt cho việc đưa ra những giải pháp hữu ích; thu thập được những số liệu chính xác về các bài Then Tày ở Ba Bể,
thống kê được một số phương diện về nghệ thuật của Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở tổng hợp, phân loại tư liệu điền
dã chúng tôi sử dụng phương pháp này để tiến hành phân tích những điểm nổi bật về giá trị nội dung và nghệ thuật của Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn Sau khi đã phân tích, chúng tôi đưa ra những nhận xét tổng hợp, đánh giá sâu sắc về cả phương diện nội dung, nghệ thuật của Then Tày ở Ba Bể, đánh giá thực trạng, nhu cầu của học sinh ở một số trường phổ thông đối với Then Tày Ba Bể
Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phương pháp này được sử dụng phương
pháp này để chúng tôi làm nổi bật được những nét đặc sắc của Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Then Tày ở Ba Bể vốn gắn liền với đời
sống của người dân, không tách rời hoạt động diễn xướng trong dân gian, bởi vậy, khi tiếp cận Then Tày Ba Bể, chúng tôi tiếp cận ở nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực,
Trang 16nhiều ngành khoa học khác nhau như âm nhạc, nghệ thuật, lịch sử, văn hóa, văn học,
du lịch,… để có được những hiểu biết đầy đủ, khoa học nhất vể Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn
6 Những đóng góp của luận văn
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống những giá trị cơ
bản về nội dung và nghệ thuật trong lời hát Then Tày lời mới ở Ba Bể, Bắc Kạn
Trong quá trình điền dã, khảo sát, nghiên cứu, tác giả luận văn đã thu thập được một số lượng đáng kể những bài Then Tày lời mới hiện được lưu truyền trong đời sống dân gian ở Ba Bể, Bắc Kạn
Khảo sát thực tế trên là cơ sở khoa học để tác giả luận văn bước đầu đề xuất hướng bảo tồn và phát huy giữ gìn nét đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc Tày nói chung trong đó có dân tộc Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Tổng quan về người Tày, Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn và một số
vấn đề lí luận
Chương 2: Nội dung và nghệ thuật của Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn
Chương 3: Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn với vấn đề giáo dục học sinh phổ thông
Trang 17NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI TÀY, THEN TÀY Ở BA BỂ, BẮC KẠN
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
1.1 Điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội, đời sống văn hóa của người Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Ba Bể là một huyện miền núi thuộc tỉnh Bắc Kạn Huyện được đổi tên từ huyện Chợ Rã cũ vào ngày 6 tháng 11 năm 1984, khi đó thuộc tỉnh Cao Bằng Ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Bắc Kạn được tái lập từ tỉnh Bắc Thái, huyện Ba Bể được chuyển từ tỉnh Cao Bằng về tỉnh Bắc Kạn quản lí Huyện nằm ở phía tây bắc tỉnh Bắc Kạn, phía bắc và đông bắc giáp huyện Pắc Nặm, phía tây giáp huyện Na Hang (Tuyên Quang), tây nam là huyện Chợ Đồn, phía nam là huyện Bạch Thông và Ngân Sơn ở phía đông Huyện có diện tích 684,09 km² Huyện lị là thị trấn Chợ Rã nằm trên quốc lộ 279, cách thành phố Bắc Kạn khoảng 50 km về hướng tây bắc Ngoài trục đường chính là quốc lộ 279, còn có các con đường tỉnh lộ 254 đi về huyện Chợ Đồn, tỉnh lộ 201 đi về huyện Bạch Thông ở phía nam và đường liên tỉnh
212 sang Cao Bằng ở phía bắc
Huyện có 15 đơn vị hành chính, gồm 14 xã và 01 thị trấn với 200 thôn bản Dân số toàn huyện có gần 48.325 người (Theo số liệu tổng điều tra dân số ngày 01/4/2019 của Kho dữ liệu điện tử dân cư, Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Bắc Kạn), trong đó có: dân tộc Kinh là 2506 người (5,2%), dân tộc Tày là 27.255 người (56,4%), dân tộc Nùng là 2309 người (4,8%), dân tộc Mông là 3821 người (7,9%), dân tộc Dao là 12.284 người (25,4%), dân tộc Sán Chay và dân tộc khác là
150 người (0,3%) Như vậy ở huyện Ba Bể, có tới 94,8% là người dân tộc thiểu số, trong đó người dân tộc Tày chiếm số lượng đông hơn cả với 56,4%
Địa hình
Huyện Ba Bể chủ yếu là đất lâm nghiệp chiếm trên 80%, đất nông nghiệp chiếm 10% Huyện có địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi sông, suối, núi nên giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các thôn bản vùng cao Ở đây chủ yếu
Trang 18là núi cao xen lẫn những khối núi đá vôi hiểm trở, phân lớp dầy, trong quá trình cacxtơ tạo thành những hình dạng kỳ thú, đặc trưng là dãy núi Phja Bjooc có độ cao 1.578m, là mái nhà của 03 huyện: Ba Bể, Chợ Đồn, Bạch Thông
Cùng với đó, trên địa bàn huyện có 2 con sông là sông Năng và sông Chợ Lùng chảy qua Sông Năng bắt nguồn từ dãy núi cao Phja Giạ (thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng) chảy vào địa phận huyện Ba Bể từ xã Bành Trạch theo hướng Đông - Tây; sông Chợ Lùng bắt nguồn từ phía Nam huyện Ba Bể theo hường Đông Nam - Tây Bắc sau đó đổ vào hồ Ba Bể rồi thông ra sông Năng; cánh cung sông Gâm chạy dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, xuyên suốt địa giới của huyện với nhiều ngọn núi cao trùng điệp đã tạo nên địa hình hiểm trở rất đặc trưng của huyện Ba Bể
Ngoài ra, trên địa bàn Ba Bể có nhiều tuyến giao thông chạy qua như: Quốc lộ
279, tỉnh lộ 201, 254… Hiện nay, 14/14 xã ở Ba Bể có đường ô tô về đến trung tâm xã
Khí hậu
Nhiệt độ trung bình năm từ 21oC - 23oC, là vùng khuất gió mùa đông bắc, nhưng lại đón gió mùa Tây Nam nên ở Ba Bể thường mưa nhiều, lượng mưa trung bình hơn 1.600 mm và có thảm thực vật phong phú Vùng hồ Ba Bể và sườn núi Phja Bjoóc gần như mát mẻ quanh năm Tuy nhiên đôi khi thời tiết cũng rất khắc nghiệt Mùa đông ở Ba Bể thường có sương muối, băng giá hoặc có những đợt mưa phùn, gió bấc kéo dài không có lợi cho sự sinh trưởng của động, thực vật, ảnh hưởng tới hoạt động, sức khoẻ con người Mùa mưa, nhiều xã ven sông Năng thường bị ngập lụt nên ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất nông nghiệp đáng kể Nhưng bởi nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, ở độ cao từ 500 - 1000m so với mặt biển, Ba Bể
có đủ nhiệt độ, nắng, mưa thích hợp cho sự phát triển của động vật, thực vật, thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp vốn là nghề chủ yếu của địa phương, đặc biệt rất thích hợp để người dân nơi đây trồng cây bầu - loại cây vừa để cung cấp thức ăn cho nhân dân vừa cho quả để những nghệ nhân nơi đây sử dụng tạo nên những cây đàn tính phục vụ hoạt động nghi lễ, hoạt động văn nghệ, du lịch ở địa phương
Sông ngòi
Ba Bể có nhiều sông, suối, lòng sông suối thường sâu, để có nước tưới cho đồng ruộng, nhất là các chân ruộng bậc thang, đồng bào các dân tộc có nhiều kinh
Trang 19nghiệm làm mương, phai, bắc máng, làm guồng nước Đồng bào còn lợi dụng sức nước để phục vụ sản xuất, đời sống như cối giã gạo, máy bật bông, làm thuỷ điện mi
ni, xuôi mảng Với đặc điểm về sông ngòi như vậy rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp, giao thông đường thủy Đường thuỷ sông Năng phối hợp với các đường bộ tạo nên hệ thống giao thông tương đối thuận lợi thông thương giữa các huyện Ba Bể, huyện Chợ Đồn, Na Hang (Tuyên Quang) Hơn nữa dòng sông Năng với động Puông, thác Đầu Đẳng cũng đã góp phần không nhỏ để huyện Ba Bể phát triển tiềm năng du lịch Nhiều du khách vừa ngồi thuyền xuôi sông Năng ngắm cảnh, vừa được lắng nghe những chàng trai, cô gái dân tộc Tày bản địa gảy đàn tính, hát Then với âm điệu réo rắt, chạm tới trái tim, để rồi đi xa mà vẫn nhớ mãi
Tài nguyên thiên nhiên
Ở Ba Bể tập trung nhiều loại khoáng sản như: Vàng gốc (nguyên sinh) và vàng sa khoáng, khoáng sắt và sắt - mangan, đá vôi biến chất thành đá hoa như xung quanh hồ Ba Bể, sắt, mangan ở Bản Nùng Ngoài ra còn có đá quý ở Bản Đuống, Bản Vàng…
Đất Ba bể có thể trồng nhiều loại cây thương phẩm có giá trị kinh tế cao như: hồng không hạt, hoa lily, ngô, đậu tương, trúc Hiện tại, Ba Bể đã phát triển được hơn 1.000 ha mơ, mận, dứa Đất đai ở Ba Bể cũng thích hợp cho việc chăn nuôi đại gia súc như: trâu, bò, dê
Núi đá xen lẫn núi đất chiếm phần lớn diện tích đất đai tự nhiên Rừng có nhiều gỗ quý (đinh, lim, nghiến, táu…) cùng nhiều cây dược liệu và nhiều loại chim muông, thú rừng như phượng hoàng, công, trĩ, hươu, nai, sơn dương, khỉ, lợn rừng,
kỳ đà…
Do kiến tạo địa chất, sự bồi đắp của các con sông, suối đã tạo cho Ba Bể những bồn địa, những thung lũng lòng máng, lòng chảo, đất đai khá màu mỡ thích hợp với việc trồng lúa, ngô, các loại rau, đậu, cây công nghiệp (mía, bông và cây ăn quả (cam, quýt, chuối, hồng)
Đặc biệt, Vườn Quốc gia Ba Bể là một di sản thiên nhiên quý giá với hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi có tới 417 loài thực vật và 299 loài động vật có xương sống Nhiều loài động vật quý vẫn còn lưu giữ được như phượng hoàng đất, gà
Trang 20lôi, vọc mũi hếch… Trong hồ vẫn còn 49 loài cá nước ngọt, trong đó có một số loài
cá quý hiếm như cá chép kính, cá rầm xanh, cá chiên…
Cùng với đó, hồ Ba Bể rộng gần 500ha gắn liền với dòng sông Năng và hệ thống hang động, thác nước thiên nhiên kì vĩ trở thành khu danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở khu vực miền núi phía Bắc Những năm gần đây, hoạt động du lịch ở Ba Bể phát triển mạnh, thu hút được rất nhiều lượt khách du lịch trong và ngoài nước đến thưởng ngoạn cảnh trí Điều đó cũng tạo ra cơ hội thuận lợi để những đoàn văn nghệ dân tộc phát huy được năng lực sở trường của mình, đem những làn điệu then, lượn, phong slư,… của dân tộc đến với nhiều nơi trên đất nước Việt Nam và bạn bè thế giới Cũng nhờ thế mà Then Tày càng được chú ý gìn giữ, phát triển mạnh mẽ hơn
1.1.2 Đặc điểm lịch sử
Theo các tài liệu sưu tầm, trong lịch sử phát triển, huyện Ba Bể cũng đã trải qua nhiều bước thăng trầm Thời Lý, huyện Ba Bể ngày nay thuộc đất huyện Vĩnh Thông; thời Lê, nằm ở châu Bạch Thông thuộc phủ Thông Hoá Thị trấn Chợ Rã là huyện lị Ba Bể, đồng bào địa phương gọi là Chợ Slo Tên gọi Chợ Rã xuất hiện sớm
trong lịch sử, được nêu trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi và sau đó nêu ở Đại Nam nhất thống chí, trong mục Thái Nguyên thổ sản
Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), tỉnh Thái Nguyên được thành lập, địa bàn Chợ Rã thuộc đất Thái Nguyên Trong những năm từ 1884 đến 1888, thực dân Pháp lần lượt đem quân đánh chiếm các tỉnh Việt Bắc Sau khi hoàn thành công cuộc chinh phục và bình định căn bản khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc, để thống trị và bóc lột nhân dân các dân tộc miền núi đạt ý đồ của Pháp, ngày 11/4/1900, toàn quyền Đông Dương ra nghị định tách một phần đất thuộc tỉnh Thái Nguyên thành lập tỉnh Bắc Kạn gồm 4 châu: Bạch Thông, Chợ Rã, Thông Hoá (sau đổi thành Na Rì) và Cảm Hoá (sau đổi thành Ngân Sơn)
Ngày 25/6/1901, thực dân Pháp sáp nhập địa giới tổng Yên Đĩnh, huyện Phú Lương (Thái Nguyên) vào châu Bạch Thông (Bắc Kạn) Đến ngày 08/6/1916, thực dân Pháp lại tách một số tổng thuộc châu Bạch Thông và châu Chợ Rã để thành lập châu Chợ Đồn Do vậy, trước năm 1901, trong sự phân chia địa giới, địa phận Ba Bể
có cả một số địa phương châu Chợ Đồn Trong thời thuộc Pháp, châu Chợ Rã chiếm khoảng 115km2
Trang 21Năm 1942, phong trào Việt Minh được củng cố và mở rộng căn cứ ở Cao - Bắc - Lạng, đồng thời mở con đường Nam tiến, các xã phía Đông Chợ Rã (Hà Hiệu, Bành Trạch, Phúc Lộc…) phát triển mạnh mẽ phong trào Việt Minh Năm 1943, các đoàn Nam tiến và Tây tiến đều xuất phát từ Nguyên Bình tiến qua Chợ Rã xây dựng
cơ sở Việt Minh trong đồng bào các dân tộc Điều đó cho thấy, Châu Chợ Rã là một địa phương của tỉnh Bắc Kạn sớm có phong trào Việt Minh rộng lớn trong đồng bào các dân tộc
Ngày 30/03/1945, UBND lâm thời châu Chợ Rã được thành lập, đây là chính quyền cách mạng cấp huyện đầu tiên trong cao trào khởi nghĩa kháng Nhật cứu nước 1945
Từ tháng 4/1945 đến 20/8/1945, lực lượng vũ trang nhân dân các dân tộc châu Chợ Rã đã 3 lần đánh bại quân đội phát xít Nhật tấn công muốn chiếm lại Chợ Rã để chốt giữ sâu trong vùng giải phóng của ta
Trong thời kỳ vận động cách mạng Tháng Tám, Ba Bể cũng là một trong những huyện có cơ sở và phong trào cách mạng sớm, là huyện thành lập được chính quyền cách mạng cấp huyện đầu tiên của tỉnh Bắc Kạn Ba Bể đã đập tan các cuộc tiến công của phát xít Nhật vào vùng giải phóng, giữ vững chính quyền cách mạng, bảo vệ an toàn cuộc hành trình của lãnh tụ Hồ Chí Minh từ Cao Bằng qua Ba Bể về Tân Trào để chỉ đạo cuộc chuẩn bị tổng khởi nghĩa kịp thời cơ
Trong suốt cuộc kháng chiến bùng nổ, Đảng bộ Ba Bể ra đời đã lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi công cuộc kháng chiến kiến quốc của Đảng, bảo vệ và giải phóng quê hương, đập tan các cuộc hành quân xâm lược của thực dân Pháp, góp phần vào giải phóng Bắc Kạn Ba Bể đã thể hiện được vai trò là hậu phương kháng chiến vững chắc Đảng bộ Ba Bể đã cùng nhân dân các dân tộc tiến hành cuộc vận động tiễu phỉ, củng cố chính quyền, đẩy mạnh sản xuất, phát triển văn hoá giáo dục, ra sức đóng góp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến của dân tộc đi đến thắng lợi
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, lực lượng võ trang và nhân dân các dân tộc châu Chợ Rã đã góp phần đánh bại quân Pháp tiến công căn cứ địa Việt Bắc, bảo vệ các cơ quan Trung ương và tỉnh, góp phần xứng đáng vào chiến thắng Việt Bắc mùa đông năm 1947
Trang 22Một thành tích nổi bật nữa của Chợ Rã là đã đấu tranh chống phỉ suốt 6 năm, làm tan rã hoàn toàn nạn thổ phỉ vào tháng 11/1953
Đến năm 1965, do yêu cầu của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên được hợp nhất Ngày 21/4/1965, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam)
ra Nghị định số 103/NĐ-TVQH thành lập tỉnh Bắc Thái trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn Ba Bể trở thành huyện của tỉnh Bắc Thái
Trong kháng chiến chống Mỹ, Chợ Rã đã tích cực chống chiến tranh phá hoại của đến quốc Mỹ, làm tốt nhiệm vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn
Năm 1978, xuất phát từ yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, để có hậu phương cho tỉnh Cao Bằng, ngày 29/12, theo đề nghị của Hội đồng nhân dân hai tỉnh Cao Lạng và Bắc Thái, kỳ họp thứ 4 của Quốc hội khoá VI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết nghị sáp nhập hai huyện Ngân Sơn và Chợ Rã của Bắc Thái vào tỉnh Cao Bằng
Ba Bể thuộc tỉnh Cao Bằng Ngày 6 tháng 11 năm 1984, huyện Chợ Rã đổi tên thành huyện Ba Bể
Năm 1997, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân các dân tộc trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, ngày 01/01, Quốc hội quyết định tái thành lập tỉnh Bắc Kạn, huyện Ba Bể và Ngân Sơn trở lại thuộc tỉnh Bắc Kạn
Ngày 28/5/2003, Chính phủ ban hành Nghị định 56/NĐ-CP về việc thành lập huyện Pác Nặm trên cơ sở tách huyện Ba Bể Theo đó đã tách 10 xã của huyện Ba Bể: An Thắng, Bằng Thành, Bộc Bố Cao Tân, Cổ Linh, Công Bằng, Giáo Hiệu, Nghiên Loan, Nhạn Môn, Xuân La để thành lập huyện Pác Nặm Huyện Ba Bể còn lại thị trấn Chợ Rã và 15 xã: Bành Trạch, Cao Thượng, Cao Trĩ, Chu Hương, Địa Linh, Đồng Phúc, Hà Hiệu, Hoàng Trĩ, Khang Ninh, Mỹ Phương, Nam Mẫu, Phúc Lộc, Quảng Khê, Thượng Giáo, Yến Dương
Ngày 10 tháng 1 năm 2020, sáp nhập toàn bộ diện tích và dân số xã Cao Trĩ vào xã Thượng Giáo thành xã Thượng Giáo Như vậy, hiện nay, huyện Ba Bể có 1 thị trấn và 14 xã: Bành Trạch, Cao Thượng, Chu Hương, Địa Linh, Đồng Phúc, Hà Hiệu, Hoàng Trĩ, Khang Ninh, Mỹ Phương, Nam Mẫu, Phúc Lộc, Quảng Khê, Thượng Giáo, Yến Dương
Trang 231.1.3 Đời sống văn hóa - xã hội
Về đời sống văn hóa - xã hội, cũng như người Tày ở các địa phương khác, người Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn có một đời sống rất phong phú, đa dạng, giàu bản sắc cả
về vật chất lẫn tinh thần
Đầu tiên, phải kể đến không gian sinh hoạt và văn hóa của đồng bào dân Tày Nếu đời sống văn hóa của người Êđê ở Tây Nguyên gắn với ngôi nhà rông thì với đồng bào người Tày nói chung, đồng bào Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn nói riêng chính là ngôi nhà sàn Từ ngày xưa, đồng bào Tày đã thường cư trú ở khu vực đồi núi, hay ở bên cạnh bờ sông, khe suối, thung lũng, lại có nhiều nguyên liệu tại chỗ như các loại
gỗ quý, gianh, tre, mai, nứa, lá cọ, … bởi vậy mà họ đã biết tận dụng nguồn nguyên vật liệu dựng căn nhà sàn để vừa thuận lợi trong sinh hoạt, vừa có thể tránh được những thú dữ, sử dụng được vào nhiều mục đích khác nhau Căn nhà sàn của người Tày có kiến trúc khá độc đáo, chủ yếu được làm bằng nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên Cấu tạo của căn nhà sàn gồm có mặt sàn, gầm sàn, các khoang nhà được ghép lại với nhau bởi các hàng cột Đầu nhà có cầu thang để lên xuống (có thể làm bằng gỗ hoặc đẽo từ thân cây bương) Tùy vào điều kiện, sở thích của từng gia chủ hoặc từng địa phương mà kiến trúc của nhà sàn cũng có đôi chút khác nhau Ví dụ như nhà sàn nhỏ nhất loại một gian chỉ có 12 cột được chia làm 3 vì, 4 hàng cột, 3 gian nhỏ và 9 ô vuông; nhà sàn to loại một gian thì có 36 cột được chia thành 6 vì, 6 hàng cột và 25 ô vuông; nhà sàn to loại hai gian thì có tới 42 cột được chia thành 6 vì, 7 hàng cột và có
30 ô….vv Không gian mặt sàn gồm có nhiều khoang nhà chính là không gian sinh hoạt của cả gia đình Hai bên đầu nhà còn có không gian để rửa ráy, chuẩn bị vật dụng sinh hoạt Không gian phía dưới gầm sàn, người Tày tận dụng vào những mục đích khác như để dụng cụ lao động, nuôi, nhốt gia súc, gia cầm, … Người Tày cũng
có ý thức quan tâm tới việc lựa chọn hướng nhà Có thể nhận thấy, hầu như các căn nhà sàn đều dựa lưng vào núi, mặt trước căn nhà thường hướng về phía đường đi, ruộng vườn, sông suối - nơi có không gian thoáng đãng
Trong đời sống hiện đại ngày nay, nhiều gia đình đã dỡ bỏ căn nhà sàn để thay thế bằng những căn nhà xây, nhà cấp bốn, song cũng còn rất nhiều gia đình lại lựa chọn gắn bó với nhà sàn Hơn nữa họ cũng đã biết sửa chữa, tôn tạo để căn nhà sàn
Trang 24trở nên đẹp hơn, có giá trị thẩm mĩ cao hơn Đặc biệt, những căn nhà sàn ở khu vực
hồ Ba Bể đã được các cấp chính quyền của tỉnh Bắc Kạn, huyện Ba Bể đầu tư tôn tạo
để còn phục vụ cho cả hoạt động du lịch của địa phương Những căn nhà sàn đó ngoài là không gian sinh hoạt trong gia đình thì còn gắn với những hoạt động khác của đồng bào người Tày như sinh hoạt nghi lễ, phong tục tập quán, diễn xướng Then,
… Bởi vậy mà căn nhà sàn là một trong những nét văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Tày nói chung, của vùng huyện Ba Bể nói riêng
Về trang phục truyền thống của người Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn, cũng như các dân tộc khác, người Tày cũng có bộ trang phục mang đặc trưng riêng của dân tộc mình Đó là áo chàm Sắc áo chàm của người Tày đã đi vào trong trang thơ của Tố
Hữu ở bài thơ Việt Bắc đầy cảm xúc:
Áo chàm đưa buổi phân li, Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Không ai biết bộ trang phục chàm của người Tày có từ bao giờ, chỉ biết rằng nó
đã có từ rất xưa Chất liệu chủ yếu làm nên bộ trang phục của người Tày là vải sợi bông tự dệt được nhuộm chàm Xưa, người Tày cũng tự trồng cây bông để làm ra sợi, dệt thành vải may váy áo Tuy nhiên qua thời gian, nghề trồng bông cũng đã không còn phát triển nữa Thay vào đó, họ đã mua vải tấm ở dưới xuôi mang lên bán về cắt, may (hoặc khâu tay) thành váy, áo, khăn đội đầu hoặc những vật dụng khác như mặt chăn, mặt địu, đẫy, … Điểm đặc biệt ở bộ trang phục người Tày không phải ở kiểu dáng hay màu sắc sặc sỡ như trang phục các dân tộc khác mà là lối dùng màu chàm đồng nhất trên bộ trang phục Còn màu ngũ sắc, người Tày chỉ sử dụng để tạo hoa văn ở mặt chăn, mặt địu là chính Một công đoạn rất quan trọng để tạo nên nét riêng trong bộ trang phục đó là nhuộm chàm Công đoạn tạo chàm để nhuộm cũng rất kì công, đòi hỏi những bàn tay khéo léo, tỉ mỉ và kiên trì của những người phụ nữ dân tộc Tày Chàm là một loại cây thân gỗ mọc trên núi rừng vùng Việt Bắc, gắn liền với một truyền thuyết nói tới sự ra đời của cây chàm mà người Tày ở vùng Ba Bể vẫn lưu truyền:
Thuở ấy có một cô gái con nhà nghèo, mồ côi cha từ nhỏ mà mẹ lại mù lòa Nàng phải đi làm thuê, làm mướn tần tảo mới có bữa cơm, bữa cháo qua ngày Khi nàng lớn lên thì người mẹ thân yêu cũng qua đời, để lại một mình nàng cô đơn giữa
Trang 25cuộc đời Một hôm, có một chàng trai ăn mặc rách rưới đến nhà nàng xin ăn Vì nhà nghèo không có gì cho kẻ ăn mày, nàng mời khách vào nhà ngồi đợi rồi ra đi cắt bộ tóc dài của mình để đổi lấy đồ ăn về cho kẻ ăn mày cùng ăn Thời gian trôi qua, bỗng một hôm có đám về hỏi nàng Bà mối cho biết, người đến hỏi nàng làm vợ chính là chàng
ăn mày nọ Sau bữa cơm nàng cho ăn, chàng biết nàng đã cắt bộ tóc dài của mình để đổi lấy bữa ăn cho chàng, nên chàng cảm phục tình cảm của nàng Nàng nhận lời và họ chung sống bên nhau hạnh phúc Bỗng đất nước bị giặc Hung nô xâm lược, là phận trai, chàng phải đeo gươm, giáo lên đường đánh giặc giữ nước, một mình nàng ở nhà quán xuyến mọi việc gia đình Chiến tranh kéo dài, biết bao mùa hoa đã nở, biết bao mùa chim én đã làm tổ mà nàng vẫn mong ngóng chồng trở về trong sự cô đơn, mệt mỏi Thế rồi nàng quyết định theo hướng chiến trận ra đi tìm chồng Nàng đi không biết qua bao nhiêu bản, bao nhiêu núi, xuyên qua bao nhiêu rừng già… Sự nhớ nhung, mệt mỏi khiến nàng ngủ thiếp đi và ra đi mãi mãi Dân làng biết rất cảm phục tấm lòng chung thủy của nàng, định chôn cất nàng đến nơi nàng yên nghỉ thì thấy mọc lên một cây lạ với mùi thơm kì lạ Dân làng hiểu rằng, cây lạ đó là hiện thân phần xác của nàng, mùi thơm từ cây đó tỏa ra là hiện thân của lòng chung thủy của nàng Cây đó chính là cây chàm mà ngày nay đồng bào dùng để nhuộm quần áo mặc
Người Tày đã sử dụng vỏ cây chàm để ngâm nước cho ra màu xanh đen, sau
đó đổ thêm vôi vào nước chàm, khoắng lên để cho bột chàm lắng xuống dưới đáy chậu mới đổ lớp nước trong bên trên đi Tiếp đó, họ lấy một lượng tro bếp vừa phải trộn với bột chàm, khoắng cho nước chàm lên men đỏ Như vậy là họ đã tạo ra được chất chàm Công đoạn tiếp theo, họ sẽ nhúng vải xuống để nhuộm rồi phơi khô, hôm sau tiếp tục lặp lại công đoạn đó cho tới khi vải lên màu xanh đen là được Màu chàm trầm tĩnh cũng thể hiện được sâu sắc nét đẹp tâm hồn bình dị của những con người dân tộc Tày chân chất, cần cù, chịu thương chịu khó Bộ trang phục chàm của người Tày xưa được sử dụng hàng ngày, nhưng ngày nay chỉ còn được sử dụng vào những dịp quan trọng như lễ, tết, những dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng Đặc biệt, khi diễn xướng Then thì bao giờ người Tày cũng sẽ mặc áo chàm Bởi thế, bộ trang phục áo chàm cũng là một trong những nét văn hóa rất độc đáo, đặc sắc và có ý nghĩa của người Tày nói chung, người Tày ở huyện Ba Bể nói riêng
Trang 26Về văn hóa ẩm thực, người Tày cũng tạo ra được những nét riêng rất độc đáo trong các món ăn ở vùng miền mình Người Tày sống gắn bó với thiên nhiên, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, chính vì thế mà nguồn lương thực, thực phẩm chính của người Tày cũng chính là những sản phẩm của hoạt động sản xuất ở địa phương như lúa, ngô, khoai, sắn, đậu, đỗ, các loại rau quả do họ từ trồng trọt hoặc hái lượm ở trong rừng, các loại thuỷ sản nước ngọt như cá, tôm, cua do họ nuôi thả hoặc đánh bắt
ở sông, suối, các loại gia súc, gia cầm nuôi thả như trâu, bò, gà, lợn, vịt, … hay là các loài chim, thú mà họ săn bắt được ở trong rừng Từ những nguồn lương thực, thực phẩm đó, người Tày ở huyện Ba Bể đã chế biến ra rất nhiều món ăn ngon, bổ dưỡng, mang đậm dấu ấn của vùng miền núi Đến với huyện Ba Bể, chúng ta sẽ được thưởng thức rất nhiều những món ngon như xôi ngũ sắc được làm từ gạo nếp nương và nước
lá cẩm tự trồng gói trong những tấm lá dong thơm phức, thịt lợn ướp treo gác bếp xào với lá tỏi tươi thơm lừng, món thịt chua, tép chua xào thịt với hương vị rất đặc trưng, món măng rừng nhồi thịt đạm vị núi rừng, món rau lá ngón bản xào tỏi thơm nức mũi, món cá, tôm khô nướng ở bờ hồ Ba Bể, món rau bồ khai xào trứng bổ dưỡng, món ngô nước xào, món canh rau ngót rừng hoặc rau “Phjiắc khỉ” rất đặc biệt của vùng núi Ba Bể, … Ngoài ra, từ đôi bàn tay khéo léo của những người phụ nữ Tày Ba
Bể, còn có nhiều món bánh rất đặc trưng chỉ có ở Ba Bể như “pẻng phạ” (bánh trời) được làm từ gạo nếp thơm hạt to mẩy, qua nhiều công đoạn để tạo thành những viên bột trắng, tròn như những hòn bi, sau đó họ chao trong nồi mật mía để những viên bột
ấy hút mật vào lòng bánh Công đoạn cuối cùng là vớt bánh ra lăn vào bột khô để những viên bánh trời không bị dính vào nhau Bánh trời khi ăn sẽ giòn tan, đượm vị ngọt thơm của mật mía mà ai đã được ăn sẽ thật khó quên được hương vị của nó Ngoài bánh trời, người Tày Ba Bể còn có nhiều loại bánh đặc trưng khác như “pẻng khỉ mạ” (bánh được làm từ lá khúc), “pẻng coóc mò” (bánh sừng bò), cơm lam, … Bữa cơm của gia đình người Tày cũng có nét đặc sắc riêng Cơm thường được nấu bằng nồi gang trên bếp lửa Thức ăn sau khi nấu chín sẽ được bày biện trên chiếc mâm gỗ hay mâm bằng mây, tre tự làm Các thành viên trong gia đình cùng ngồi quây quần bên mâm cơm ấm cúng, vừa ăn vừa trò chuyện rôm rả Rượu cũng là một thức uống được người Tày ưa chuộng trong các bữa ăn hoặc khi có khách, những dịp
Trang 27lễ, tết, … Họ tự cất rượu từ gạo, ngô, sắn và men lá tự làm nên khi uống có vị cay nhẹ, mát ngọt, không bị đau đầu khi uống Với người Tày, khi khách tới nhà bao giờ cũng được họ mang rượu ra tiếp Như vậy, các món ăn đặc trưng cùng với rượu men
lá của người Tày ở huyện Ba Bể đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng của dân tộc Tày ở huyện Ba Bể, Bắc Kạn
Trong văn hóa ứng xử thì người dân tộc Tày rất coi trọng đạo nghĩa Ở mối quan hệ gia đình, họ hàng, dân tộc Tày có sự phân chia các thứ bậc theo các chi, các nhánh rõ ràng Con cái trong gia đình phải có đạo hiếu với ông bà, cha mẹ, phải kính trọng người bề trên, vợ chồng phải có tình nghĩa, thủy chung son sắt, anh em trong gia đình phải biết yêu thương, hòa thuận, đoàn kết lẫn nhau, họ giữ gìn mối quan hệ thuận hòa, gắn bó với làng xóm láng giềng, … Gia đình người Tày cũng coi trọng vai trò của người con trưởng trong gia đình Theo đó, người con trưởng trong gia đình, dòng họ là nam sẽ gánh vác những công việc quan trọng của cả gia đình, dòng họ, cũng sẽ có trách nhiệm trong việc thờ cúng tổ tiên Trong mối quan hệ với thiên nhiên, đồng bào Tày sống dựa vào thiên nhiên, hài hòa với thế giới tự nhiên, biết làm chủ thiên nhiên những cũng biết quý trọng và cải tạo thiên nhiên để tạo ra được điều kiện sống thuận lợi nhất
Đồng bào dân tộc Tày còn rất coi trọng đời sống văn hóa tinh thần Họ có quan niệm thế giới gồm có ba tầng: tầng trên nhất là thượng giới, tầng dưới là cõi âm phủ
và tầng giữa là trần gian, nơi con người sinh sống Và người có khả năng đi lại trong
ba cõi ấy chính là những Pháp sư đã được cấp sắc bởi Ngọc Hoàng Con người sau khi chết thì sẽ có hai phần là phần hồn (tiếng Tày gọi là phi (ma)) và phần xác Xác thì được làm lễ chôn xuống đất, còn hồn (ma) sẽ có một đời sống riêng ở thế giới bên kia, được người Tày thờ phụng nơi bàn thờ tổ tiên Ma thì được chia ra hai loại là ma lành và ma dữ Những con ma lành sẽ luôn đi theo phù hộ cho con cháu tai qua nạn khỏi, còn ma dữ sẽ quấy nhiễu gây tai ương cho gia chủ, cần phải nhờ thầy Mo, thầy Tào hay thầy Then về cúng tế, xua đuổi tà ma Văn hóa thờ cúng cũng được đồng bào Tày đặc biệt coi trọng Họ không chỉ thờ cúng tổ tiên mà còn thờ cúng cả những vị thần cai quản đất đai, mường bản, các vị thần sông, thần núi, thần mưa, … để mong cho mưa thuận gió hòa, con người có được cuộc sống bình an, no ấm Nét đẹp ấy
Trang 28cũng đã được ghi dấu ấn nhiều trong các lời Then hay những câu truyện dân gian của người Tày ở Ba Bể
Hoạt động văn hóa, văn nghệ của người Tày ở huyện Ba Bể khá phát triển Hàng năm ở nơi đây đã diễn ra rất nhiều lễ hội truyền thống, các hội diễn văn nghệ dân tộc, đặc biệt là vào dịp đầu năm Đến với Ba Bể vào đầu năm, chúng ta sẽ được
dự các lễ hội Lồng tồng (Có nơi gọi là Lồng tổng - có nghĩa là lễ hội xuống đồng) Mỗi xã sẽ chọn 1,2 ngày để tổ chức lễ hội để nhân dân trong xã được vui xuân, giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao To nhất và hay nhất trong các lễ hội Lồng tồng ở huyện Ba Bể phải kể tới hội Hồ Ba Bể Hội diễn ra vào dịp tháng giêng (các ngày từ mùng 9 tới 11 tháng giêng hàng năm) Trong các hội Lồng tồng ấy, mỗi dân tộc đều
có những tiết mục đặc sắc để tham gia Và dân tộc Tày cũng có góp vào phần lễ và hội những phần thi, phần trình diễn rất đặc sắc như thi giã bánh dày, thi gói bánh trưng, thi làm mâm cỗ, tham gia những tiết mục văn nghệ như hát Sli, Lượn cọi, hát Then, … Các lễ hội cũng chính là một môi trường diễn xướng rất tốt của Then Tày Ngoài ra, hiện nay ở huyện Ba Bể, các xã đều đã thành lập được những câu lạc bộ văn hóa văn nghệ dân tộc, những câu lạc bộ hát Then sinh hoạt thường xuyên để vừa sưu tầm, lưu giữ các lời Then vừa góp phần phát triển rộng rãi hát Then bằng cách truyền dạy cho các thế hệ trẻ ở trong vùng Có những xã còn thành lập được 5,6 đội văn nghệ dân tộc chuyên phục vụ văn nghệ cho du khách đến tham quan hồ Ba Bể như xã Nam Mẫu Hay ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể còn có hẳn một thôn bảo tồn Then Tày là thôn Bản Hon Ở nơi đây, nghệ nhân Mã Văn Trực đã có công lao rất lớn với công tác bảo tồn, phát triển Then trong đời sống của nhân dân Không chỉ sản xuất ra đàn tính để phục vụ nhu cầu trong và ngoài tỉnh, nghệ nhân Mã Văn Trực còn thành lập riêng một câu lạc bộ hát Then ngay tại chính căn nhà sàn của mình (từ tháng 7 năm 2016) với số lượng thành viên câu lạc bộ ban đầu chỉ 13 người Sau này
số người sinh hoạt ở câu lạc bộ đã tăng lên, lúc nào cũng duy trì trên dưới 20 người tham gia sinh hoạt thường xuyên, vừa giao lưu đàn hát cùng nhau, vừa có dịch vụ phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước khi đến với huyện Ba Bể Ngoài ra, anh cũng đã mở được rất nhiều lớp dạy hát Then để dạy cho những người yêu hát Then ở khắp các xã trong huyện Ba Bể Số lượng học viên đã học với anh tính tới nay cũng
Trang 29đã vài trăm người, trong đó thành thạo nghề hát Then để tham gia ở các đội văn nghệ của các xã cũng hơn trăm người Từ năm 2006 đến nay, anh Mã Văn Trực đã tham gia rất nhiều cuộc liên hoan, hội diễn… và đã đạt được nhiều thành tích lớn cho huyện Ba Bể và tỉnh nhà như: Giải A Liên hoan Tiếng hát dân ca tỉnh Bắc Kạn năm 2006; Huy chương Bạc tại Hội diễn nghệ thuật quần chúng tỉnh Bắc Kạn năm 2007; Hai giải A tại Hội diễn Tiếng hát ngành xây dựng tỉnh Bắc Kạn lần thứ nhất năm 2008; Giải A tại Ngày hội văn hóa các dân tộc tỉnh Bắc Kạn năm 2009; Giải B Liên hoan Tiếng hát dân ca Việt Nam năm 2009; Giải B Liên hoan Tuyên truyền lưu động
và triển lãm tỉnh Bắc Kạn năm 2010; Giải A Liên hoan Nghệ thuật hát then đàn tính toàn quốc lần thứ IV Lạng Sơn năm 2012… Năm 2005 đến năm 2011, anh công tác tại Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Ba Bể, thường xuyên tham gia các chương trình văn hóa, văn nghệ tại địa phương, biểu diễn các làn điệu hát then, đàn tính của dân tộc Tày, Nùng Từ năm 2011 - 2013, anh công tác tại Trung tâm Văn Hóa tỉnh Bắc Kạn rồi nghỉ làm, trở về địa phương, giành thời gian tâm huyết cho niềm đam mê của mình là chế tác đàn tính phục vụ nhu cầu của những người đam mê hát Then đàn tính trong và ngoài nước Những hoạt động văn hóa, văn nghệ kể trên đã góp phần quan trọng để cho Then Tày được bảo tồn và phát triển rộng rãi hơn trong đời sống nhân dân, không chỉ trong hoạt động nghi lễ nữa mà đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống tinh thần của những đồng bào dân tộc Tày ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Như vậy có thể khẳng định đời sống văn hóa của người Tày ở huyện Ba Bể vẫn mang đậm bản sắc riêng của dân tộc mình Những điều đó được thể hiện rất đậm nét ở trong các lời hát Then của người Tày Đó cũng chính là cơ sở quan trọng để chúng tôi có thể thực hiện được đề tài này
1.2 Khái quát về Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn
1.2.1 Khái niệm, nguồn gốc
Bên cạnh những loại hình nghệ thuật đặc sắc của người Tày vùng Việt Bắc như sli, lượn, phong slư thì Then cũng là một loại hình nghệ thuật rất độc đáo Về khái niệm hát Then, có một số nhà nghiên cứu đã đề cập tới với những quan điểm
khác nhau Theo nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, “Hát Then là một loại hình sử thi
Trang 30nghi lễ phong tục của người Tày - Nùng Thường vào mùa xuân, các gia đình Tày - Nùng mời ông tào, bà Then về cúng cầu phúc, cầu may cho người già trẻ nhỏ Nghi thức hành lễ trong Then có phần giống như hình thức nhập hồn của Saman giáo” [1,
tr 172] Trong khái niệm này, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân nêu lên được đặc điểm
cơ bản nhất của hát Then Nhưng nếu chỉ coi Then là một “loại hình sử thi nghi lễ phong tục” thì có lẽ cũng chưa thật đầy đủ vì ngoài những bài hát Then nghi lễ, trong
Then của người dân tộc Tày vẫn còn khá nhiều khía cạnh nội dung khác nữa
Ở cuốn Lời hát Then của tác giả Dương Kim Bội lại nêu khái niệm: “Then là một hình thức văn học - nghệ thuật dân gian được đông đảo quần chúng của hai dân tộc Tày, Nùng yêu thích, trân trọng và giữ gìn Then từ lâu đã gắn bó với tâm tư, tình cảm của bất kỳ người Tày, Nùng nào: từ cụ già đến em nhỏ, từ thanh niên đến gái đến trai, từ những người lao động sản xuất ở địa phương đến những người thoát ly
cơ sở đi công tác các nơi Nói chung trong khu tự trị Việt Bắc, nơi nào có người Tày, Nùng cư trú thì ở nơi đó có Then” Qua khái niệm đó, ta thấy Then còn là loại
hình văn học - nghệ thuật tổng hợp nữa, bởi nó còn bao gồm cả đàn, hát, múa và trang trí ở trong đó
Trong công trình nghiên cứu Một số vấn đề về Then Việt Bắc (của nhiều tác
giả), lại có quan niệm Then là tiên (có nơi lại gọi là sliên) - là người của nhà trời Then có vai trò quan trọng là giữ mối liên hệ của con người cõi trần với Ngọc Hoàng thượng đế và với Long vương Lúc hành nghề Then thì chính là lúc Then sẽ đại diện cho nhà Trời để giúp đỡ con người nơi trần thế được vạn sự tốt lành, có thể vượt qua mọi tai ương trong cuộc sống
Cách tiếp cận trên có phần tương đồng với khái niệm Then ở cuốn Từ điển Tiếng Việt: “thứ nhất là chỉ lực lượng siêu nhiên sáng tạo ra thế giới của một số dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam; thứ hai là chỉ người làm nghề cúng bái (thường là nữ) ở các vùng dân tộc thiểu số nói trên; thứ ba là loại hình nghệ thuật tổng hợp gồm đàn, hát, múa gắn liền với tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số nói trên” [32, tr 931]
Theo cách tiếp cận này thì khái niệm Then lại có nhiều tầng nghĩa
Tác giả Nguyễn Thị Yên trong cuốn “Then Tày” nêu khái niệm về Then:
“Then là một loại hình văn hóa dân gian tổng thể đặc trưng của dân tộc Tày Ở đó,
Trang 31trên cái nền của hiện tượng tín ngưỡng đã tích hợp và phát sinh nhiều sinh hoạt văn hóa nghệ thuật, như âm nhạc, vũ đạo, tạo hình dân gian, các hình thức liên kết và quan hệ xã hội … nhằm thỏa mãn đời sống tâm linh của con người, không chỉ trong
xã hội cổ truyền mà cả trong xã hội đương đại”
Trong luận văn Thạc sĩ “Then Tày Chợ Mới - Bắc Kạn”, Tác giả Hà Thị Tầm
cũng có nêu cách hiểu về Then: “Then là một hình thức văn hóa tín ngưỡng có từ xa xưa trong đời sống của người Tày Nội dung Then phản ánh những vấn đề liên quan đến đời sống xã hội của người Tày trong quá khứ Nghệ thuật Then là sự tổng hợp của nghi lễ với lời hát, điệu múa, âm nhạc, hội họa và lời ca nhằm đưa con người tới được những bí ẩn của thế giới tâm linh với niềm tin linh thiêng” [41, tr 20]
Như thế, qua một số công trình nghiên cứu về Then mà chúng tôi đề cập tới ở trên đã cho thấy rằng khái niệm Then có thể hiểu theo ba nghĩa: thứ nhất là lực lượng siêu nhiên, thứ hai là người làm Then và thứ ba là loại hình văn hóa Then Ở đây, khi nghiên cứu, chúng tôi quan tâm chủ yếu tới khái niệm Then với cách hiểu thứ ba: loại hình văn hóa Then, đặc biệt là trong đời sống hiện đại - Then lời mới
Nói tới thời điểm Then ra đời, một số nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đã cho
là hát Then đã xuất hiện khoảng cuối thế kỉ XV, đầu thế kỉ XVI Khi đó nhà Mạc đã chạy lên Cao Bằng rồi xây dựng thành quách tại đó Dựa theo truyền thuyết thì có hai
vị quan của nhà Mạc tên là Đế Phụng và Đế Đáng là người rất yêu âm nhạc, cũng rất thích ca hát Họ đã tự chế tạo được tính tẩu, sau đó thành lập hai tốp hát nhằm phục
vụ cho cung đình Sau đó, dân chúng thấy nó hay nên đã bắt chước theo rồi lưu truyền rộng rãi trong dân gian Qua thời gian thì hát Then - đàn tính đã được lan tỏa rộng rãi ở các tỉnh miền núi phía Bắc, trở thành một món ăn tinh thần rất ý nghĩa, không thể thiếu trong đời sống của đồng bào một số dân tộc: Tày, Nùng, Thái
Cho tới ngày nay vẫn chưa có một tài liệu nghiên cứu nào khẳng định chắc chắn thời điểm ra đời của Then Chúng ta chỉ có thể nhận biết Then qua những câu văn vần thuộc vào dòng văn hóa dân gian được các nghệ nhân sáng tác và lưu truyền Những câu văn vần đó gắn liền với những làn điệu cụ thể, được lưu truyền từ đời này qua đời khác - có thể bằng văn tự hoặc truyền miệng qua những người học làm Then - tới tận ngày nay Những người làm Then vốn dĩ là những người dân lao động bình
Trang 32thường trong đời sống, họ được thừa hưởng từ cha ông những kinh nghiệm quý báu, thấu hiểu sâu sắc những phong tục tập quán của dân tộc mình, cũng biết cách hướng dẫn thực hiện một số nghi lễ như ma chay, cưới xin, cầu cúng Những người làm Then được nhân dân yêu mến, kính trọng và nhờ cậy Dựa vào đó mà ta cũng có thể khẳng định Then được bắt nguồn từ chính cuộc sống lao động bình dị của nhân dân
Ngày xưa, đời sống của người dân tộc Tày còn lệ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên Chính vì thế mà họ đã biết dùng những nguyên vật liệu có sẵn trong tự nhiên
để tạo ra các nhạc cụ đơn giản phục vụ nhu cầu tinh thần của họ, trong đó phải kể đến cây đàn tính Đàn tính là loại nhạc cụ mà nghi lễ Then sử dụng Cây đàn tính được tạo thành từ quả bầu già để khô, trên mặt cắt của quả bầu được gắn một miếng ván mỏng, dây đàn được làm từ vật liệu là dây tơ tằm
Ngày nay, vẫn còn có nhiều truyền thuyết về nguồn gốc của Then và đàn tính
được lưu truyền trong đồng bào dân tộc Tày Như truyền thuyết kể về Cô gái mồ côi:
“Ngày xưa, có một cô gái mồ côi cha mẹ từ nhỏ Khi lớn lên, lấy chồng thì chồng lại chết sớm, cô rất buồn Một đêm nằm mơ thấy có một người mang đến cho cô ba hạt giống và cô đã cất vào níp đựng quần áo Khi thức dậy, mở níp ra, quả nhiên thấy ba hạt giống, cô đem hai hạt ra gieo, ngày hôm sau một hạt mọc lên cây dâu và một hạt mọc thành cây bầu Vài ngày sau, cô định lấy nốt hạt thứ ba ra trồng, nhưng không thấy hạt giống mà chỉ thấy con tằm Ngày tháng trôi qua, cây dâu đã lớn, quả bầu đã già, tằm đã cho tơ, nhưng nỗi buồn của cô vẫn không nguôi Cô lại nằm mơ thấy người cho hạt giống tới, khuyên cô lấy cây dâu, vỏ bầu và tơ tằm làm thành cây đàn, đem gảy cho mọi người nghe thì sẽ vơi bớt nỗi buồn Cô nghe theo, hàng ngày mang
cây đàn đi khắp nơi để làm vui lòng mọi người và từ đó cô trở thành người cứu khổ
cho chúng sinh”
Hay trong trích đoạn bài Then cốc tính do nghệ nhân Dương Quang Thục biên
dịch cũng đã đề cập tới nguồn gốc ra đời của Then:
Then cốc tính chuyện xưa để lại Chuyện xưa còn lưu mãi tới giờ
Có anh chàng Xiên Cân thuở ấy
30 tuổi chưa lập gia đình
Trang 33Ngày đêm ở một mình vắng vẻ Xiên Cân tìm lên chốn nàng Dâu Xin giống dâu về để nuôi tằm Được tơ chỉ ngũ sắc nàng Mân
Ơn nàng anh được dây chỉ đẹp Chàng đến bụt xin tiếp giống bầu Mười ngày sau mọc mầm xanh lá
Ít lâu sau có quả bầu tròn Anh lên rừng tìm cây hương mộc Dùi thành mười hai lỗ xuyên ngang Mắc dây tơ âm vang thánh thót Làm thành đàn cốc tính tiếng then Mười hai dây cất lên dàn hát
[44, b 17]
Theo ghi chép đó của nghệ nhân Dương Thục thì nguồn gốc ra đời của Then cốc tính có thể kể một cách tóm tắt: Truyện kể rằng, thuở xưa có chàng Xiên Cân (nghìn cân) ngoài 30 tuổi vẫn chưa lấy được vợ Buồn cho sự hẩm hiu, Xiên Cân chỉ biết làm bạn với đàn hát Anh lên trời xin nàng Dâu giống cây dâu về trồng để nuôi tằm lấy tơ, xin giống bầu về gieo để lấy quả Khi có dây tơ và bầu, Xiên Cân bèn lấy cây khảo hương (1 loài gỗ quý trong núi rừng Việt Bắc) làm cần đàn và sừng đàn rồi móc 12 dây tơ, mỗi khi gẩy, tiếng đàn của anh làm cho muôn loài say mê, vô số loài
mê nghe đến kiệt sức rồi chết Bụt thấy nếu cứ để cây đàn như thế muôn loài dưới trần gian sẽ chết hết Bụt liền bắt Xiên Cân phải cắt đi 9 dây đàn Từ đó cây đàn tính chỉ còn có 3 dây
Qua những câu chuyện vẫn lưu truyền trong đời sống tinh thần của đồng bào Tày, ta có thể khẳng định hát Then cùng với cây đàn tính của đồng bào dân tộc Tày
đã có từ rất lâu đời, gắn liền với nhu cầu sinh hoạt văn hóa của dân tộc Tày Sự phát triển của Then Tày gắn liền với sự phát triển, tiến bộ của cộng đồng dân tộc Tày qua các giai đoạn lịch sử
Trang 341.2.2 Quá trình phát triển
Cũng như Then Tày ở các địa phương khác nói riêng, Then Tày nói chung, Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn cũng có một quá trình hình thành và phát triển với những nét đặc trưng riêng
Then Tày xuất hiện ở Ba Bể, Bắc Kạn từ khi nào thì cũng không ai rõ, cũng không có tài liệu nào ghi chép lại Nhưng theo lời chia sẻ của nghệ nhân hát Then Hoàng Đức Dục (Mỹ Phương, Ba Bể) thì Then Tày phải có từ rất lâu đời rồi, bởi ông
là đời thứ 7 trong dòng họ hành nghề Then Và hiện nay trên toàn huyện Ba Bể cũng chỉ còn duy nhất mình nghệ nhân là thầy Then thực hành Then Tày cổ mà thôi
Có sự phát triển như hiện nay thì Then Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn cũng trải qua nhiều thăng trầm theo dòng chảy lịch sử của dân tộc Có thể xem xét sự phát triển của Then Tày Ba Bể ở các giai đoạn tiêu biểu như sau:
Giai đoạn thứ nhất, trước năm 1945: Then Tày chưa được phát triển mở rộng, chỉ có Then cổ được các ông Then, bà Then đã được Ngọc Hoàng cấp sắc hát khi thực hiện các nghi lễ như lễ cấp sắc, lễ cầu mùa, lễ giải hạn, lễ đầy tháng cho trẻ nhỏ,… Giai đoạn này chưa có sự xuất hiện của loại Then lời mới trong đời sống nhân dân
Giai đoạn thứ 2, từ năm 1945 đến 1975: Then Tày đã có bước phát triển hơn về mục đích sử dụng Không chỉ sử dụng trong các hoạt động nghi lễ, Then Tày đã được đưa lên sử dụng ở các sân khấu văn nghệ, các hoạt động văn nghệ để phục vụ cho nhu cầu giải trí của nhân dân Giai đoạn này cả nước ta phải trải qua hai cuộc kháng chiến trường kì hào hùng mà đầy gian khổ là cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) và kháng chiến chống Mĩ (1955 - 1975) Then Tày ở Ba Bể cũng đã góp một phần nhỏ bé trong việc động viên tinh thần nhân dân đấu tranh, xua tan đi những mỏi mệt của những người lính trên đường hành quân ở nơi chiến trường khốc liệt
Giai đoạn thứ 3, từ sau 1975 đến nay: Then cổ vẫn tiếp tục được duy trì trong các hoạt động nghi lễ của đồng bào Tày ở Ba Bể, Bắc Kạn Đó là hoạt động không thể thiếu trong các nghi lễ của những gia đình người Tày, trong những lễ hội quan trọng của làng, xã như hội lồng tồng, lễ cầu mùa, … Bên cạnh đó, Then mới ngày càng mở rộng hơn, được đông đảo nhân dân trong và ngoài huyện mê thích Nhiều người học đàn tính để hát Then, không chỉ để diễn ở các hội diễn văn nghệ mà còn để
Trang 35hát cho nhau nghe hàng ngày Theo lời chia sẻ của nghệ nhân Dương Quang Thục thì
nhất là những năm 80, 90 của thập kỉ XX, “Then ở Ba Bể sôi nổi lắm, bà con rất thích nghe hát Then, cứ tối đến là họ lại tụ tập ở nhà của một người nào đó để cùng đàn tính, hát Then Những khúc hát Then khi cất lên cứ làm mê đắm lòng người Tối nào không được nghe Then là lại thấy buồn, thấy nhớ” Then mới ở Ba Bể phát triển
nhất phải kể đến thời điểm từ đầu thế kỉ XXI tới nay, khi mà các hoạt động bảo tồn và phát triển các loại hình văn nghệ dân gian ở Ba Bể được chính quyền các cấp từ xã
tới tỉnh Bắc Kạn được đẩy mạnh Việc học hát Then, đàn tính đã được chú trọng hơn,
cũng được tổ chức quy củ hơn Các địa phương trên toàn huyện cũng đã ý thức rõ hơn về việc bảo tồn và phát huy không chỉ hát Then mà còn các loại hình văn nghệ khác nên đã thành lập được nhiều câu lạc bộ hoặc nhóm văn nghệ dân tộc, cũng tạo nhiều môi trường thuận lợi hơn cho nhân dân được truyền dạy hát Then, được trình diễn, nâng cao hơn tình cảm của dân đối với Then Tày không chỉ ở phạm vi đồng bào dân tộc Tày mà còn lan tỏa cả tới các dân tộc khác trong huyện
Như vậy có thể thấy ở Ba Bể, Bắc Kạn, Then Tày lời mới đã hình thành muộn hơn Then cổ, phát triển song hành cùng Then cổ trong tiến trình phát triển của lịch sử nhưng càng về sau thì càng phát triển mạnh mẽ hơn, góp phần không nhỏ trong việc tạo nên nét văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Tày ở địa phương
1.2.3 Phân loại
Then Tày phổ biến từ lâu ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta như Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang Nói về phân loại Then Tày, hiện nay có nhiều cách phân chia khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương, theo từng tiêu chí cụ thể
Trong cuốn Mấy vấn đề về Then Việt Bắc, tác giả Nông Văn Hoàn phân chia
Then thành các loại: Then cầu mong, Then chữa bệnh, Then tống tiễn, Then chúc tụng, ca ngợi, Then trung lễ, đại lễ cấp sắc Cách phân chia này được thực hiện căn
cứ vào nội dung của nghi lễ trong đời sống của đồng bào Tày
Còn trong cuốn Từ điển thuật ngữ Văn học, tác giả Lại Nguyên Ân lại phân
chia hát Then thành hai dạng chính: Hát Then nghi lễ và dạng hát Then ngoài mọi nghi lễ, cầu cúng Hát Then nghi lễ có hai ngành: pựt tính và pựt nhạc (cũng gọi là
Trang 36pựt Tày và pựt Ngạn), chương khúc và lời thơ giống nhau, chỉ khác về phong cách: Then tính thường thiên về vui tươi, trong sáng, Then ngạn thiên về nghiêm trang, khắc khổ Ngoài ra còn có dạng hát Then ngoài mọi nghi lễ, cầu cúng Những người biết hát Then mà không làm nghề cúng Then được gọi là Then sống (pựt đíp) Họ hát trong đêm trăng, ở đầu núi, ngoài sàn, trên sân, ngoài đồng, trên nương…, ở đây hát Then là một loại dân ca sinh hoạt [1, tr 173]
Như thế, cách phân chia của tác giả Lại Nguyên Ân là căn cứ vào mục đích phục vụ sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Theo anh Mã Văn Trực, người có nhiều đóng góp cho việc bảo tổn, phát triển Then Tày ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Then Tày được chia thành 2 loại là: Then cổ (dùng trong các sinh hoạt nghi lễ chủ yếu phục vụ cho nhu cầu văn hóa tâm linh, tín ngưỡng của người Tày từ xưa tới nay) và Then Tày lời mới (dùng trong nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, trong đời sống hàng ngày của đồng bào Tày) Trong đó, mảng Then Tày lời mới đang ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn cả
Từ việc tìm hiểu, phỏng vấn nghệ nhân về những cách phân loại Then Tày ở
Ba Bể, Bắc Kạn, chúng tôi đồng tình xem xét, phân loại Then Tày Ba Bể, Bắc Kạn theo cách phân chia của nghệ nhân Mã Văn Trực: Then Tày ở Ba Bể gồm có Then Tày cổ và Then Tày lời mới Then cổ là loại Then được hình thành sớm nhất, từ rất lâu đời, sử dụng trong các hoạt động nghi lễ của người dân tộc Tày như: trấn trạch nhà mới, thôi nôi đầy tháng, cầu phúc, cầu lộc, cầu tài, trấn trạch long mạch, giải xung giải hạn, lễ an mả,… có ý nghĩa đặc biệt trong đời sống tâm linh của người Tày Tuy nhiên, hiện tại ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn chỉ có một nghệ nhân hát Then Tày
cổ được Ngọc Hoàng cấp sắc để thực hành được những nghi lễ kể trên Then Tày lời mới có thể được hiểu là một loại hình nghệ thuật tổng hợp được các nghệ nhân cải biên, đặt lời dựa trên làn điệu Then cổ, có nội dung và hình thức rất phong phú, đa dạng, phản ánh được chân thực đời sống xã hội cũng như tư tưởng, tình cảm của người Tày Then Tày lời mới có một môi trường diễn xướng linh hoạt, không chỉ bó hẹp ở phạm vi trước bàn thờ gia tiên mà được trình diễn ở nhiều không gian khác nhau trong đời sống của con người Mặc dù hình thành muộn hơn so với Then Tày
cổ, song Then Tày lời mới ở Ba Bể cũngNhững nét đẹp cả về nội dung lẫn hình thức
Trang 37nghệ thuật của Then Tày lời mới ở Ba Bể, Bắc Kạn được thể hiện khá sinh động trong những lời Then, tuy nhiên lại chưa được nhìn nhận, đánh giá đúng giá trị Bởi vậy việc nghiên cứu Then Tày lời mới là một việc làm thiết thực, có ý nghĩa, góp phần đưa ra cách nhìn nhận bao quát, sâu sắc về Then Tày ở Ba Bể cả về phương diện nội dung và nghệ thuật, từ đó góp tiếng nói khích lệ nhân dân nơi đây nâng cao hơn nữa ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị của loại hình văn học dân gian đặc trưng của người Tày ở vùng đất miền núi của tỉnh Bắc Kạn
1.2.4 Diễn xướng Then Tày
Diễn xướng vốn dĩ là yếu tố ở bên ngoài văn bản nghệ thuật ngôn từ, nhưng một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian lại luôn gắn liền với hình thức diễn xướng Bởi vậy, cần phải gắn vào môi trường diễn xướng của văn bản nghệ thuật ấy để có thể hiểu đúng, hiểu sâu sắc giá trị của văn bản Tìm hiểu Then Tày của người Tày ở
Ba Bể, Bắc Kạn cũng cần đảm bảo được yêu cầu đó
Về khái niệm diễn xướng, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số khái niệm khác nhau, tiêu biểu như:
Nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu định nghĩa: thuật ngữ diễn xướng dân gian
có thể và cần được hiểu với hai nghĩa rộng và hẹp khác nhau Với nghĩa rộng, diễn xướng dân gian là tất cả mọi hình thức biểu diễn (hay diễn xướng) và ít hoặc nhiều đều mang tính chất tổng hợp tự nhiên, (hay tính chất nguyên hợp) mà lâu nay ta quen gọi là văn học dân gian; còn nghĩa hẹp, nó chỉ bao gồm các thể loại diễn (như trò diễn, trò tế lễ dân gian ) [55, tr 64-67]
Trong cuốn Diễn xướng dân gian và nghệ thuật sân khấu, Nguyễn Hữu Thu
đã quan niệm: Thuật ngữ diễn xướng dùng để chỉ chung việc thể hiện, trình bày các sáng tác văn nghệ của con người, gồm nhiều yếu tố hợp thành, diễn xướng là tất cả
những phương thức sinh hoạt văn nghệ mang tính chất nguyên hợp của loài người từ lúc sơ khai cho đến thời đại văn minh hiện nay [49, tr 56-58]
Còn cuốn Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) lại đưa ra định nghĩa về diễn xướng rất ngắn gọn là trình bày các sáng tác dân gian bằng lời lẽ, âm thanh, nhịp điệu [32, tr 85]
Từ việc tìm hiểu các quan điểm về diễn xướng, chúng tôi thấy đa phần các nhà nghiên cứu đều có điểm chung cho rằng: Diễn xướng chính là hình thức biểu hiện,
Trang 38trình bày những sáng tác dân gian bằng lời lẽ, điệu bộ, cử chỉ, âm thanh, Và như vậy, diễn xướng Then Tày ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn cũng được chúng tôi hiểu theo nghĩa trên, được xem xét ở một số khía cạnh tiêu biểu như sau:
1.2.4.1 Môi trường diễn xướng
Hát Then là một loại hình hát rất độc đáo, đặc sắc trong hệ thống các làn điệu dân ca của dân tộc Tày Để tạo nên nét độc đáo riêng biệt ấy, không thể không kể đến môi trường diễn xướng của Then Môi trường diễn xướng của Then cổ chủ yếu diễn
ra vào mùa xuân và gắn với không gian nhà sàn, ngay trước bàn thờ tổ tiên Thời
điểm này, đồng bào dân tộc Tày nói riêng, các dân tộc ở vùng Ba Bể nói riêng đã thu hoạch xong vụ mùa, lương thực, thực phẩm dồi dào để chuẩn bị đón một năm mới tới Đầu xuân năm mới, đồng bào Tày ở Ba Bể thường mời thầy Then về để làm lễ kì yên giải hạn, cầu mong những điều may mắn, tốt lành cho năm mới Hay Then cũng được diễn xướng khi gia đình có trẻ tròn một tháng tuổi, khi có người ốm đau, bệnh tật, hoặc có người chết, … Mùa xuân tới cũng chính là thời điểm để các xã trong huyện tổ chức các hoạt động lễ hội mừng Đảng, mừng xuân, hát Then được các nghệ nhân và những người say mê, yêu thích hát Then luyện tập, diễn xướng cho đông đảo
bà con thưởng thức, để quên đi những mệt mỏi của công việc lao động vất vả Không chỉ gắn với môi trường nghi lễ, lễ hội, hát Then còn gắn với không gian sinh hoạt hàng ngày của đồng bào Tày nơi đây Sau những giờ làm việc căng thẳng, hoặc mỗi khi có thời gian rảnh, những người yêu thích Then thường đánh đàn tính, cất lên những lời Then với những giai điệu ngọt ngào, mê đắm lòng người
Không gian diễn xướng của Then Tày cổ gắn liền với bàn thờ tổ tiên trong căn nhà sàn của đồng bào Tày Chỉ những người đã được cấp sắc hành nghề hát Then như thầy Then, Pụt, thầy cúng, thầy tào mới được hát các bài Then nghi lễ Trước khi đi làm lễ hát Then ở nhà người khác, họ sẽ phải thắp hương lên bàn thờ tổ tiên của mình
để xin phép Họ cũng chỉ có thể hát Then, thực hành các nghi lễ khi gia chủ đã chuẩn
bị đầy đủ mâm lễ cúng trước bàn thờ và thắp hương lên bàn thờ tổ tiên
Tuy nhiên với Then Tày lời mới thì không gian diễn xướng lại hoàn toàn khác, không gắn với bàn thờ tổ tiên mà phong phú, đa dạng hơn Người Tày diễn xướng Then Tày lời mới ở mọi lúc, mọi nơi, chỉ cần có cây đàn tính Nhưng không gian diễn
Trang 39xướng chủ yếu của Then Tày lời mới vẫn là gắn liền với căn nhà sàn của đồng bào Tày Không gian ấy đã tạo nên một nét riêng độc đáo cho Then Tày Ngoài ra, một không gian diễn xướng cũng không kém phần độc đáo của hát Then ở Ba Bể chính là gắn với những con thuyền độc mộc, những chiếc xuồng thả trôi lững lờ trên hồ Ba
Bể Hòa mình với thiên nhiên hùng vĩ, không khí trong lành, lại được thưởng thức những lời Then ngọt ngào, mê đắm lòng người của các cô gái vùng Ba Bể sẽ để lại những ấn tượng thật khó phai trong lòng những du khách đến thăm hồ Ba Bể Then Tày lời mới còn được trình diễn ở các sân khấu lớn, trong các chương trình văn nghệ
từ quy mô nhỏ ở thôn, xã tới những sân khấu lớn rực rỡ ánh đèn của cấp quốc gia Dù
ở không gian nào thì hát Then cũng đều đem đến cho người thưởng thức những cảm nhận thật thú vị, khó quên về nét văn hóa độc đáo của người dân tộc Tày
1.2.4.2 Nhân vật diễn xướng
Nhân vật diễn xướng trong Then chính là những người trực tiếp hát Then Trong Then Tày cổ, nhân vật diễn xướng được quy định rõ ràng là những thầy Then, Pựt, Tào - những người đã được Ngọc Hoàng phong chức sắc Theo lời nghệ nhân hát Then Hoàng Đức Dục, khi Then được sân khấu hóa trong các Lễ hội hoặc các hội thi văn nghệ thì sẽ do các nghệ nhân diễn xướng Có thể thấy, mỗi nghệ nhân có một giọng hát, một phong cách hát khác nhau và cách diễn xướng cũng phải phụ thuộc vào mục đích của từng bài Then
Hiện nay trên địa bàn huyện Ba Bể, Bắc Kạn chỉ có 01 người được công nhận là nghệ nhân hát Then cổ là thầy Then Hoàng Đức Dục cư trú tại xã Mỹ Phương, huyện Ba
Bể, tỉnh Bắc Kạn Ông cũng đã hơn 60 tuổi, gắn với hát Then cổ đã hơn 20 năm nay
Trong Then Tày lời mới, nhân vật diễn xướng không nhất thiết phải là Pháp thư được cấp sắc mà có thể là những nghệ nhân hát Then, những người có niềm đam
mê với hát Then ở mọi lứa tuổi, giới tính, hay có thể chỉ là những người dân lao động bình thường biết đàn tính, hát Then Và như thế, khi hát Then Tày lời mới, không đòi hỏi chỉ có một người thực hành Then mà có thể là nhiều người cùng diễn xướng, trình diễn, kết hợp cả âm nhạc, điệu múa Chính nhờ sự linh hoạt về nhân vật diễn xướng như vậy mà Then Tày lời mới ở Ba Bể ngày càng phát triển rộng rãi hơn, tạo được niềm yêu thích ở đông đảo nhân dân trong và ngoài huyện, ngoài tỉnh, thậm chí là các
du khách nước ngoài đến tham quan hồ Ba Bể
Trang 401.2.4.3 Trang phục diễn xướng
Then là một trong những thể loại của dân ca Tày mà người diễn xướng có trang phục rất đặc trưng Khi thực hành Then Tày cổ, các nghệ nhân mặc áo dài hào quang có màu chủ đạo là vàng hoặc đỏ rực rỡ Trên áo được trang trí rất tỉ mỉ, thường
có thêu hình rồng, phượng, công rất tinh xảo Kèm theo áo là 2 đai sắc lệnh, 1 thắt
ngang và mũ thất phật (mũ có bảy hình phật) cũng đều được thêu rất tinh xảo, mà
theo lời của nghệ nhân Hoàng Đức Dục thì đó là hệ thống trị ma quỷ, trấn trạch nhà mới thôi nôi đầy tháng, trấn trạch long mạch, giải xung giải hạn, cầu phúc, cầu lộc, cầu tài năm mới, lễ an mả,… Theo quan niệm tâm linh, đây là bộ trang phục do Ngọc Hoàng cấp cho các ông Then, bà Then Vì vậy người ta cũng không thể tùy tiện mặc
bộ trang phục này mà chỉ có thể mặc khi thực hành nghi lễ Then trước bàn thờ tổ tiên của gia chủ sau khi đã được thắp hương Ở một số nơi, bà Then còn mặc bộ lễ phục gồm: áo dài, mão, khăn đội đầu màu đỏ, trang phục có gắn những hạt kim sa lóng lánh hoặc gắn những bông hoa, hoa văn phức tạp… Ngoài ra, khi hát Then, các thầy cúng, thầy tào còn mặc áo màu xanh nhưng về cơ bản vẫn được thiết kế giống như áo màu đỏ, vàng Đây chính là những điểm khác biệt về trang phục của những nghệ nhân hát Then cổ và các nghệ sĩ hát Then lời mới sau này
Trang phục của các nghệ sĩ hát những bài Then Tày lời mới không bị gò ép trong một khuôn khổ như các nghệ nhân thực hành Then Tày cổ mà linh hoạt, tự do hơn Người hát Then có thể mặc trang phục truyền thống của dân tộc Tày là bộ áo chàm dài truyền thống hoặc đã được cách tân khi tham gia hát Then trong những dịp
lễ hội hoặc các hội diễn văn nghệ có đông đảo người xem Bộ trang phục truyền thống của người Tày là áo chàm dài thường có màu đồng nhất là màu chàm Tuy nhiên trong đời sống hiện đại ngày nay thì trang phục Tày sử dụng trình diễn trên sân khấu khi được cách tân thì đã có thay đổi nhiều về cả chất liệu và hoa văn trang trí trên áo, đai áo để những chiếc áo dài trở nên mềm mại, lung linh hơn Ngoài ra, người hát Then Tày lời mới khi diễn xướng ngoài không gian sân khấu văn nghệ thì cũng có thể lựa chọn trang phục bình dị thường ngày khi hát Then với mục đích thư giãn tại gia đình, bên những người bạn, Tuy nhiên, giai điệu dân ca này vẫn luôn gắn liền với những trang phục biểu diễn mang đậm nét văn hóa của dân tộc Tày nơi đây là sắc
áo chàm truyền thống