Bahnar là tộc người lớn nhất trong số những tộc người thuộc dòng ngôn ngữ Nam Á ở nước ta. Dân tộc Bahnar có một nền văn hóa độc đáo với nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật phong phú.
Trang 1SỐ 06 NĂM 2019
1 Khái quát về người Bahnar ở An Khê
Dân tộc Bahnar là một trong những dân
tộc thuộc ngữ hệ Môn - Khmer ở Việt Nam Đây
là dân tộc có số dân đông nhất trong những
DTTS nói tiếng Môn - Khmer ở khu vực Nam
Trung Bộ Địa bàn cư trú chủ yếu của người
Bahnar là nam tỉnh Kon Tum, bắc và đông tỉnh
Gia Lai Ngoài ra, còn có một bộ phận người
Bahnar sống rải rác ở các huyện phía tây của
tỉnh Bình Định và tỉnh Phú Yên
Theo Biểu tổng hợp hộ, khẩu nghèo và cận
nghèo theo dân tộc năm 2017 của Ban dân tộc
tỉnh Gia Lai năm 2017, dân số người Bahnar ở
Gia Lai khoảng 171.289 người Khu vực cư trú
tập trung của người Bahnar là phía đông cao
nguyên Pleiku (thuộc địa bàn các huyện: Mang
Yang, Đăk Đoa và xã Hà Tây, Ia Khươl (phía bắc
Đặc điểm cư trú và xã hội của
người Bahnar ở An Khê
ThS NGUYỄN THỊ BÌNH
Trường Chính trị tỉnh Gia Lai
Bahnar là tộc người lớn nhất trong số những tộc người thuộc dòng ngôn
ngữ Nam Á ở nước ta Dân tộc Bahnar có một nền văn hoá độc đáo với nhiều
loại hình văn hóa nghệ thuật phong phú.
Những thay đổi nhiều mặt về kinh tế - xã hội và sự tác động của làn sóng
văn hoá đương đại trong mấy thập niên gần đây đã dẫn đến việc giải thể cấu
trúc văn hóa cổ truyền Bahnar ở các địa bàn dân cư với những mức độ khác
nhau Trước thực trạng này, nghiên cứu về đời sống văn hóa của cộng đồng
người Bahnar ở An Khê là một việc làm cần thiết; góp phần bảo tồn, lưu giữ và
phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của người Bahnar trong bối cảnh
kinh tế hội nhập hiện nay.
Từ khóa: Người Bahnar, An Khê, cư trú, xã hội
huyện Chư Pah - trên phần đất tiếp giáp với tỉnh Kon Tum); trên cao nguyên Kon Hà Nừng thuộc địa bàn huyện KBang; vùng trũng An Khê thuộc các huyện Đak Pơ, Kông Chro và 2 xã Song An
và Tú An, thuộc thị xã An Khê Theo thống kê điều tra dân số năm 2015, ở thị xã An Khê, tổng
Trang 2TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG
số nhân khẩu của người Bahnar là 1.156 người
Phân bố nhân khẩu của người Bahnar ở An Khê
gồm: Làng Pốt, xã Song An có 62 hộ, 304 khẩu;
làng Pơnang, xã Tú An có 53 hộ, 228 khẩu; làng
Hòa Bình, xã Tú An có 96 hộ, 435 khẩu; làng
Nhoi, xã Tú An có 44 hộ, 189 khẩu
Người Bahnar ở Gia Lai thuộc 4 nhóm địa phương chính là: Bahnar Gơlar, Bahnar Bơnâm,
Bahnar Kon Kơđeh và Bahnar Tơlô Cộng đồng
người Bahnar cư trú tại địa bàn huyện An Khê
cũ thuộc 3 trong 4 nhóm địa phương trên là
Bahnar Bơnâm, Bahnar Kon Kơđeh và Bahnar
Tơlô; riêng 4 làng Bahnar ở 2 xã Song An và Tú
An, thị xã An Khê lại “có quan hệ rất gắn bó với
nhóm Bahnar Krem huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình
Định” [1, tr 37]
2 Đặc điểm cư trú của người Bahnar ở
An Khê
Ở Gia Lai, địa bàn sinh sống của người Bahnar trải dài từ nam cao nguyên Kon Plông
đến bắc thung lũng Cheo Reo (theo chiều bắc
- nam); từ đông cao nguyên Pleiku, đến hết
vùng trũng An Khê (theo chiều đông - tây)
Người Bahnar ở vùng An Khê cư trú chủ yếu ở
Điều kiện cư trú có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành, duy trì và phát triển tín ngưỡng
cổ truyền ở bộ phận dân cư có tín ngưỡng “vạn vật hữu linh” như các dân tộc Bahnar, Jrai Người Bahnar ở vùng An Khê cư trú thành
từng làng và họ gọi làng của mình là pơlei Hiện
nay, thị xã An Khê có 4 làng Bahnar:
Pơlei Pốt là làng Bahnar duy nhất thuộc xã
Song An, hiện có 62 hộ dân với 304 nhân khẩu (Số liệu thu thập điền dã khảo sát của người viết) Đây là một làng thuần nông có 100% hộ đồng bào dân tộc Bahnar sinh sống Ở làng Pốt hiện nay có gần 15 vòi nước vĩnh cửu cung cấp nước sinh hoạt cho cả làng Điểm đặc biệt của những vòi nước này là chảy liên tục cả ngày lẫn đêm Người Bahnar để cho nước trong vòi chảy
tự nhiên, chứ không khóa van lại như những vòi nước thông thường
Pơlei đe Pơnang thuộc xã Tú An hiện có 53
hộ dân với 228 nhân khẩu (Số liệu điền dã khảo sát của người viết) Tên của làng trước đây là
pơlei đe Hơmâu Làng đổi tên thành Pơnang (cây
cau) vì trước đây ở làng có rất nhiều cau do dân làng trồng, một phần để lấy quả ăn trầu, một phần thì đem xuống chợ Tú Thủy bán cho các thương lái người Kinh Hiện tại trong làng vẫn còn trồng cau nhưng số lượng không nhiều, chỉ khoảng vài chục cây
Pơlei đe Hơbinh (Hiện nay được viết là Hòa
Bình) thuộc xã Tú An hiện có có 96 hộ dân với
435 nhân khẩu (Số liệu thu thập điền dã khảo sát của người viết) “Đây chính là làng Bahnar
cổ, được sử liệu Việt Nam nhắc đến bằng tên làng Cổ Yêm Có người giải thích: Tên của làng
trước kia là Duch Jem (cô gái đẹp) nên người Việt đọc thành Cô Jem và biến âm dần thành
Cổ Yêm” [1, tr 37]
Trang 3SỐ 06 NĂM 2019
Pơlei đe Nhoi thuộc xã Tú An hiện có 44 hộ
dân với 189 nhân khẩu Làng vốn được tách ra
từ Pơlei đe Hơbinh và mang tên Nhoi do uống
nước từ Đak Nhoi.
Theo kết quả điền dã của chúng tôi, 04 làng
của người Bahnar ở thị xã An Khê nằm cách biệt
nhau Các làng này đều nằm ở gần nguồn nước,
thuận lợi cho sinh hoạt và sản xuất Quy mô của
mỗi làng phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và
môi trường sống cụ thể của người dân trong
làng, trong đó Pơlei đe Hơbinh là làng có quy
mô lớn nhất và có điều kiện kinh tế nhất trong
số các làng Bahnar ở thị xã An Khê
Trong cách bố trí truyền thống của người
Bahnar, làng là cộng đồng sở hữu về khu vực
sinh sống “Làng Bahnar không sắp xếp theo
một hình mẫu nhất định nào” [1, tr 37] Đất
đai của làng được bố trí thành các khu vực sử
dụng riêng: Đất ở, nghĩa địa, đất canh tác, khu
vực săn bắn
Khi mới lập làng, người Bahnar đã chọn vị
trí và dành một khu đất riêng cho việc xây dựng
nhà rông - ngôi nhà chung của cả cộng đồng
Trong làng, nhà rông là ngôi nhà lớn nhất - linh
hồn của cả làng và là nơi hội họp của các già
làng mỗi khi có việc cần bàn bạc [4, tr29] Đó
cũng là nơi cho thanh niên đến ngủ đêm, nơi
tụ họp của dân làng khi có những việc trọng
đại hay thực hiện những nghi lễ quan trọng
Trước đây, nhà rông Bahnar còn đóng vai trò
đặc biệt quan trọng trong hoạt động quân sự
Tùy từng làng Bahnar mà kích thước nhà rông
có thể khác nhau, từ 10-15m chiều dài, 4-5m chiều rộng, 1-1,5m chiều cao sàn nhà Hai mái
là phần ấn tượng nhất của nhà rông, cao gấp nhiều lần vách, có hình lưỡi rìu, phần giữa hơi
lồi ra [5, 189] Trên nóc (pơ pung) có trang trí hình mặt trời (măt tơ ngai) ở giữa, hình trăng khuyết hai bên mặt trời và hình rau rớn (ktoanh)
ở hai đầu hồi Theo Bùi Minh Đạo thì “kết cấu bộ khung nhà rông cũng tương tự như khung nhà
sàn, nhưng cao hơn, với các vì cột (drăng) được kết nối với quá giang (tơ pơng pụ), xà ngang (tơ pơng tol), xà dọc (tơ pơng vil) dầm ngang và dầm
dọc bằng tạo ngoàm và buộc dây Nằm chéo theo mái phía trong nhà là 2 cây rừng loại nhỏ
nhưng chắc (loong tơ rạ) có nhiệm vụ giữ cho
ngôi nhà luôn vững chãi” [2, tr 166] Nhà rông Bahnar thường có 3 gian hay 5 gian, gồm hai hàng cột, mỗi hàng 4-6 cột, mỗi gian rộng 2,5-3
sải tay, lòng gian dài 3-3,5 sải tay Vách nhà (tơ năr) được đan bằng lồ ô dày, bên ngoài vách
có các đố dọc và nẹp ngang Nhà rông chỉ có
một cửa ra vào (măng tơm) ở chính giữa, các cửa sổ (măng mók) thường mở phía trước nhà
Giống như nhà ở, giữa cầu thang lên xuống với cửa chính nhà rông có một khoảng sàn
(pra pông) lộ thiên, hai góc ngoài là 2 cột cao (gu pra), đỉnh cột thường được đẽo khắc hình
người, hình quả bầu, hình nồi đồng hay hình rau rớn Không gian nhà rông được chia làm 3
Trang 4TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG
nhỏ, xung quanh có tua ra tết bằng phoi tre
Ngăn bên trái là nơi đặt bếp lửa, nơi để vũ khí,
nơi ngủ của thanh niên và đàn ông chưa vợ
Ngăn bên phải cũng có một bếp lửa, là nơi ngồi
hợp của dân làng Vật liệu xây dựng nhà rông
đều là vật liệu tự nhiên, được cả làng chuẩn bị
trước hàng tháng và được già làng lựa chọn kỹ
càng Nhà rông Bahnar chứa đựng nhiều chức
năng: Xã hội, tín ngưỡng và văn hóa Nhà rông
4 làng Bahnar ở thị xã An Khê hiện nay được làm
theo kiểu mới với mái lợp tôn thay vì lợp tranh
như truyền thống do khó khăn trong việc tìm
nguyên vật liệu So với các nhà rông của người
Bahnar ở khu vực Mang Yang hay Kon Tum thì
những nhà rông này nhỏ hơn về kích thước và
sàn nhà rông cũng thấp hơn
Mỗi làng Bahnar ở An Khê có từ 30 - 70 nóc nhà Nhà cửa trong làng dựng tùy theo thế đất
và dọc theo trục đường chính của làng Ngôi
nhà truyền thống của người Bahnar thường
chia làm 3 phần: Gian phía đông thường là
gian của vợ chồng chủ nhà; gian giữa là nơi
tiếp khách, ở đó có một bếp lửa to, là nơi ngủ
các làng Bahnar, bên cạnh nhà truyền thống
là một ngôi nhà cấp 4 do Nhà nước hỗ trợ xây dựng hoặc các gia đình tự xây Theo tìm hiểu của chúng tôi, lớp trẻ Bahnar thích sinh hoạt ở nhà xây trong khi lớp người lớn tuổi vẫn sinh hoạt ở những ngôi nhà truyền thống Ở thị xã
An Khê hiện không có nhà Bahnar truyền thống nào 5 gian Tuy nhiên, trong quá trình điền dã chúng tôi nhận thấy, ở thị trấn Kông Chro hiện vẫn còn có những ngôi nhà sàn 5 gian Trong
đó, gian chính giữa là nơi đặt cột cúng của gia đình và nơi ngủ của con trai chưa đến tuổi ngủ nhà rông; gian ngoài cùng bên phải là gian của
vợ chồng chủ nhà (tơm hnam), gian ngoài cùng
bên trái dành cho các thiếu nữ Bahnar chưa
chồng (minh chơ găn drụ); các gian còn lại dành
cho các cặp vợ chồng cùng các thành viên của
họ Tất cả các gian đều có đặt bếp lửa nhưng
bếp lửa đặt trong gian của chủ nhà (uynh tơm hnam) được xem là bếp lửa chính của gia đình.
Theo nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn thì xưa kia, “Các làng đều có một hàng rào phòng thủ kiên cố bao quanh, nay không còn
Trang 5SỐ 06 NĂM 2019
thấy hoặc nếu thấy có cũng chỉ là những hàng
rào dậu tượng trưng nhằm ngăn cản gia súc
Các nhà trong làng bao quanh nhà rông ở
phía trong hàng rào Kho thóc của từng nhà
được xây cất tập trung hay rải rác xa các nhà
ở phòng tránh hỏa hoạn Nhiều nơi, hiện nay
(thời điểm 1981) kho vẫn để trên rẫy như ở
vùng An Khê” [3, tr 128-129] Nguồn nước (có
nơi gọi là giọt nước) của từng làng có thể ở
trong hay ngoài hàng rào làng Nghĩa địa làng
thì cố định ở phía tây ngoài hàng rào Các làng
Bahnar thường được bao quanh bởi nương rẫy
hoặc những cánh đồng rộng Ranh giới giữa hai
làng Bahnar nếu liền kề nhau thường được quy
định đại khái
3 Đặc điểm xã hội của người Bahnar ở
An Khê
Chung sống trong làng là những gia đình
mẫu hệ hoặc phụ hệ Gia đình Bahnar nghiêng
theo dòng họ cha nhưng không hiếm trường
hợp người con rể có thể sang ở bên phía vợ
Hầu hết người Bahnar ở thị xã An Khê hiện nay
đều mang họ Đinh hoặc họ Hồ
Những người sống trong một làng không
nhất thiết phải có quan hệ huyết thống, tính
chất của một công xã láng giềng trong các làng
Bahnar đã rất rõ nét “Đó là những công xã láng
giềng, tụ tập những gia đình tự nguyện cùng
chung sống với nhau” [3, tr 130]
Tuy nhiên, những người lạ mới đến sinh cơ
lập nghiệp (thường là người Kinh, trừ trường
hợp do kết hôn với người trong làng) dù đã
được sự đồng ý của làng cũng không được
phép ở giữa làng mà phải làm nhà ở bìa rừng
gần hàng rào của làng Chỉ sau 2 hoặc 3 năm,
nếu sự có mặt của họ không ảnh hưởng gì
đến mọi hoạt động của làng thì họ mới hoàn
toàn được thừa nhận là dân làng một cách
đúng nghĩa theo phong tục của người Bahnar
Những hộ dân sống trong một làng có quan hệ
chặt chẽ với nhau cả trong đời sống vật chất
và tinh thần
Đứng đầu làng là tổ chức tự quản: Những
người đàn ông chủ các nóc nhà, có uy tín với
dân làng Họ đảm nhiệm chức năng điều hòa, tập hợp các gia đình thành khối cộng cư thống nhất Một trong số những người này sẽ được
chọn làm già làng (kră pơlei) Già làng đại diện
cho hội đồng già làng lãnh đạo những công việc chung của cả cộng đồng: Dời làng, đặt tên làng, dựng nhà rông, dựng nhà cho dân làng,
tổ chức lễ hội, phân xử các vụ việc trong làng theo luật tục Hội đồng già làng của các làng Bahnar có số lượng không giống nhau Tùy theo quan niệm về hệ thống thần linh của từng làng mà dân làng cắt cử số người tương xứng
để đảm đương công việc: 8 người; được phân công cụ thể như sau: 3 già làng phụ trách việc
cúng tại nhà rông Yang gọi là kră Yang Rông, 3
già làng phụ trách việc cúng bến nước được
gọi là Kră chruih Đak, 2 già làng phụ trách việc cúng ngoài đường (ngã 3 đầu làng) gọi là kră Tơ Tha Trong Sơlăh Có thể nói, đối với cộng đồng
người Bahnar truyền thống, “Ý thức làm chủ tập thể ở đây tuy còn dạng sơ khai nhưng đã được quán triệt Một khi công việc đã được bàn bạc dẫn đến quyết định, cả làng tự giác hoàn thành dưới sự điều khiển của các già làng” [3, tr 131]
Từ sau năm 1975, kết cấu tổ chức làng Bahnar ở An Khê có nhiều biến chuyển Làng không còn là cộng đồng sở hữu về lãnh thổ như trước, mà sở hữu Nhà nước đã thay thế cho sở hữu của các buôn làng Quan hệ làng xóm của người Bahnar hiện nay là quan hệ bình đẳng
Mặc dù tính tự quản với vai trò của già làng vẫn còn nhưng đã có sự tác động mạnh mẽ của các
tổ chức chính quyền cấp xã, thôn trong việc điều hành mọi hoạt động của làng Nhà rông không còn là nơi tụ tập để phòng thủ hay bàn việc tấn công các làng khác khi chiến tranh xảy
ra giữa các làng nữa mà là nơi hội họp dân làng mỗi khi có dịp lễ, tết hay bàn việc sản xuất, vui chơi, giải trí
Có thể nói, ở 4 làng Bahnar ở An Khê, từ
15 năm trở lại đây, loại hình nhà ống xây bằng vật liệu mới như xi măng, sắt, gạch, tôn, ngói
đã tăng lên với số lượng lớn bên cạnh các nhà sàn truyền thống Đó là thành quả của việc người Bahnar đã xóa bỏ các tập quán sản xuất
Trang 6TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG
rõ rệt Nhà ống của người Bahnar được ngăn ra
thành nhiều phòng để “đảm bảo sự riêng tư”
Từ khi người Bahnar có nhiều nhà ống, nhà sàn
chỉ còn là nơi yên tĩnh của người cao tuổi, nó
không còn phản ánh mối quan hệ và sự kiểm
soát đa chiều, liên thế hệ nữa
4 Kết luận
Có thể nói, cộng đồng người Bahnar ở vùng An Khê có một nền văn hóa bản địa phong
phú và đa dạng, với văn hóa chữ viết, trang
phục, nhà sàn truyền thống, âm nhạc dân gian,
văn hóa ẩm thực độc đáo
Hiện nay, người Bahnar ở An Khê là nơi còn lưu giữ được nhiều di sản văn hóa vật thể
và phi vật thể, vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá
trị thẩm mỹ độc đáo như: Nhà rông, nhà sàn,
thiết chế văn hóa phù hợp để nhân dân sống với văn hóa của minh và hưởng thụ các giá trị văn hóa với sự giúp đỡ của nhà nước Có như vậy, chúng ta mới bảo tồn và phát huy được các giá trị văn hóa truyền thống trong cộng đồng người Bahnar nói riêng và các dân tộc tại chỗ trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói chung./
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 UBND thị xã An Khê, Lịch sử và văn hóa vùng đất An Khê - Gia Lai Nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh năm 2017.
2 Ban chấp hành Đảng bộ thị xã An Khê (2010), Lịch
sử Đảng bộ thị xã An Khê (1945-2005), NXB Chính trị quốc gia.
3 Bùi Minh Đạo (cb) (2006), Dân tộc Bahnar ở Việt Nam,
NXB Khoa học Xã hội.
4 Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) (1981), Các dân tộc tỉnh
Gia Lai - Công Tum, NXB Khoa học Xã hội.
5 Lưu Hùng (1996), Làng buôn cổ truyền xứ Thượng, NXB
Văn hoá Dân tộc Hà Nội.
6 Nguyễn Khắc Tụng (1991), Nhà rông các dân tộc Bắc
Tây Nguyên, NXB Khoa học xã hội.