các lý thuyết và thực trạng về việc vận dụng chủ nghĩa mac-lenin vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta hiện nay. Những thành tựu đã đạt được và những hạn chế còn tồn tại và giải pháp.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Thời kì quá độ là một tất yếu lịch sử đối với tất cả các nước đi lên CNXH, dù ở trình độ kinh tế nào,để cải biến cách mạng từ xã hội cũ sang xã hội mới, thực chất đó là quá trình cải tạo xã hội cũ, từng bước xây dựng xã hội mới-xã hội XHCN Đó là con đường mà nhiều nước đã lựa chọn, đặc biệt ở Việt Nam sau hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống giặc ngoại xâm và giành được độc lập, đất nước ta tiếp tục con đường mình đã lựa chọn,đó là con đường đi lên XHCN Chúng ta đang vững bước vào thế kỷ mới với những thách thức và khó khăn mới với con đường mà chúng ta đã chọn, nhưng không vì thế mà ta chịu lùi bước khuất phục trước khó khăn Ta sẽ vẫn tiếp tục va hoàn thành xuất sắc các mục tiêu và nhiệm vụ mà Đảng đề ra để đưa đất nước Việt Nam có thể sánh vai với các cường quốc khác trên thế giới, đem lại cuộc sống hạnh phúc ấm no và công bằng cho nhân dân Tuy nhiên từ giờ tới đó chúng ta còn bao nhiêu việc phải làm, bao nhiêu nhiện vụ phải hoàn tất Con đường mà chúng ta đang đi có đầy chông gai đòi hỏi chúng ta phải có những phương hướng đúng đắn,phải nêu rõ được nhiệm vụ cơ bản mà ta cần làm và phải nhận thức rõ ràng, đúng đắn về CNXH và con đường quá độ lên CNXH Để hiểu rõ hơn về con đường tiến lên CNXH mà VN và các nước đã chọn, chúng em xin được mạnh dạn chon đè tài: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Leenin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và sự vận dụng của VN.
Trang 21 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ THỜI KỲ QUÁ
ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI.
1.1 Khái niệm và các con đường đilên chủ nghĩa xã hội.
1.1.1 Khái niệm về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt
để tất cả các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng để xây dựng những nhân tố mới của xã hội xã hội chủ nghĩa.
1.1.2 Các con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Theo chủ nghĩa mác-Lênin có hai con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Con đường thứ nhất là quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ chủ nghĩa tư bản loại
quá độ này phản ánh quy luật phát triển tuần tự của xã hội loài người
Con đường thứ hai là quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ các hình thái kinh tế xã
hội trước chủ nghĩa tư bản loại quá độ này phản ánh quy luật phát triển nhảy vọt của xã hội loài người
Quan điểm thứ hai này đã được Các mác và Ăngghen dự kiến Theo Các mác và Ăngghen sau khi chủ nghĩa xã hội ở các nước tư bản Tây Âu giành được thắng lợi, thì các nước lạc hậu có thẻ đi thẳng lên chủ nghĩa xã hội Tiếp tục tư tưởng đó, Lênin đã chỉ ra bản chất giai cấp, nội dung và các điều kiện qua độ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa
Để có thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa sẽ cần
có những điều kiện tiến thẳng, đó là:
- Điều kiện bên ngoài: là phải có một nước giành được thắng lợi trong cách
mạng vô sản, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội công cuộc xây dựng thành công
Trang 3chủ nghĩa xã hội ở nước này là tấm gương và tạo điều kiện giúp đơ các nước lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ quagiai đoạn phát triển xã hội chủ nghĩa.
- Điều kiện bên trong: là phải hình thành được các tổ chức Đảng cách mạng
và cộng sản, phải giành được chính quyền về tay mình, xây dựng được các tổ chức nhà nước mà bản chất là Xô-Viết nông dân và Xô-Viết người lao động
1.2 Tính tất yếu khách quan về thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
1.2.1 Chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội khác nhau về bản chất Chủ nghĩa
tư bản được xây dựng trên chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Chủ nghĩa xã hội được xây dựng trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức cụ thể là nhà nước và tập thể, không còn tình trạng đối kháng giái cấp, không còn áp bức bóc lột Bản chất của hai xã hội này mâu thuẫn với nhau, để giải quyết mâu thuẫn này để chuyển sang chế độ mới thì cần có một giai đoạn lịch sử nhất định
1.2.2 Chủ nghĩa xã hội được xây dựng trên nền sản xuất hiện đại công nghiệp
có trình độ cao Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra cơ sở vật chất đó nhưng muốn nó phục
vụ cho chủ nghĩa xã hội thì cần phải có thời gian sắp xếp lại nó Với những nước chưa từng trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa hay vẫn đang trong giai đoạn thấp của chủ nghĩa tư băn thì thời kì nay sẽ kéo dài hơn với nhiệm vụ trọng tâm của nó là tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa
1.2.3 Quan hệ sản xuất của xã hội xã hội chủ nghĩa không tự nảy sinh trong lòng xã hội tư bản vì vậy càn phải có thời gian để cải tạo các quan hệ này Đó chính là thời kỳ quá độ.
Trang 41.2.4 Công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa là một công việc khó khăn, phức tạp và mới mẻ.phải cần có thời gian để giai cấp công nhân làm quen với
Một là: kế thừa và phát triển lực lượng sản xuất mà chủ nghĩa tư bản đã tạo ra
Nâng cao trình độ xã hội hóa sản xuất và lao động
Hai là: quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất tồn tại ở hai hình thức chủ yếu là sở hữu
toàn dân và sở hữu tập thể
Ba là: còn sản xuất hàng hóa, còn giai cấp, còn nhà nước.
Bốn là: lao động vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ và còn sự khác nhau về lao
động, do đó kết quả lao động cũng khác nhau
Năm là: thực hiện phân phối theo lao đông nên còn mang dấu vết của “pháp quyền tư sản”.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu về tưliệu sản xuất, tồn tại nhiều tầng lớp, giai cấp trong xã hội nên tất yếu sẽ tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong một hệ thống kinh tế quốc dân thống nhất vận động định hướng xã hội chủ nghĩa Nhất là với những nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong khi còn lạc hậu thì nền kinh tế nhiều thành phần càng trở nên tất yếu, khách quan Trong giai đoạn này tồn tại nhiều hình thức sở hữu và nhiều hình thức phân phối khác nhau trong đó hình thức phân phối theo lao động là chi phối nhất và giữ
vai trò chủ đạo trong giai đoạn này không thể áp dụng hình thức phân phối “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” mà phải áp dụng hình thức phân phối “làm theo năng lực hưởng theo lao động” vì khi đó, cở vật chất và trình độ sản xuất
chưa đạt dến mức rất cao đủ để đáp ứng cho toàn xã hội
Trang 5Phân tích thực trạng nước Nga lúc đó, Lênin đã rút ra có 5 thành phàn kinh tế đó là:
- Thành phần kinh tế nông dân gia trưởng
- Thành phần kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ của nông dân, tiểu thủ công cá thể và tiểu thương
- Thành phần kinh tế tư bản tư nhân
- Thành phần kinh tế tư bản nhà nước
- Thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa
1.3.3 trên lĩnh vực văn hóa – xã hội và tư tưởng.
Đan xen nhiều yếu tố văn hóa khác nhau, vừa đấu tranh, vừa thống nhất với nhau Tuy nhiên, tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư tưởng Mác-Lênin phải là tư tưởng giữ vai trò chủ đạo.
Trong một xã hội vừa “thoát thai” từ xã hội tư bản thì còn tồn tại nhiều yếu tố văn hóa của xã hội cũ và xã hội mới hai xã hội mâu thuẫn với nhau thì chắc chắn sẽ cónhiều yếu tố vă hóa mâu thuẫn nhau, chúng sẽ đấu tranh với nhau để loại bỏ đi những yếu tố đã lỗi thời và thống nhất với nhau Vì văn hóa và xã hội liên tục phát triển và liên tục sẽ có những yếu tố văn hóa lỗi thời nên quá trình vừa đấu tranh vừa thông nhất này sẽ liên tục tiếp diễn
Trang 6Tư tương xã hội chủ nghĩa và tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin là tư tưởng tiến
bộ, khoa học nhât và chân chính nhất nên nó sẽ vẫn là tư tưởng chủ đạo trong thời
kỳ này
1.4 Nội dungkinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
1.4.1 Về nội dung kinh tế.
Nội dung cơ bản trên lĩnh vực kinh tế của thời quá độ lên chủ nghia xã hội phải thực hiện việc sắp xếp, bố trí lại lực lượng sản xuất, cải tạo quan hệ sản xuất sao cho phù hợp.
Tuy nhiên việc sắp xếp này phải tuân theo các quy luật tất yếu, khách quan của kinh tế, đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất
Đối với những nước chưa trải qua sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thì nhất định phải trải qua quá trình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Nhiệm vụ trọng tâm của những nước này trong thời kỳ quá độ là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa
1.4.2 Về nội dung chính trị.
Nội dung cơ bản trong thời kì này về chính trị đó là đấu tranh chống lại các thế lực thù địch, chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; tiến hành xây dựng củng cố nhà nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng vững mạnh, đảm
Trang 7bảo quyền làm chủ của nhân dân lao độngtrong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh.
Trong sự nghiệp tiến hành quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đó là khi chủ nghĩa tư bản mất dần đi quyền lợi, chắc chắn sẽ xảy ra sự đấu tranh chông lại quá trình này từ giai cấp tư bản giai cấp tư bản rất mạnh, vì vậy đẻ lật đỏ được giai cấp nay thì càn phải có nhiều thời gian, sự đồng lòng của tất cả các tầng lớp khác trong xã hội đặc biệt là liên minh công-nông, phải phối hợp với nhau chạt chẽ Song song với đó chúng ta phải tích cực xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân; xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh và lấy tư tưởng Mác-leenin làm t5w tưởng cốt lõi của đảng
1.4.3 Trong lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và xã hội
Trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng: thực hiện tuyên truyền, phổ biến các giá trị văn
hóa, các tư tưởng khoa học, cách mạngđồng thời đẩy lùi những tư tưởng, tâm lý tiêu cực ảnh hưởng không tốt đến công cuộc đi lên chủ nghĩa xã hội, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Trong lĩnh vực xã hội: khắc phục những tệ nạn xã hội do xã hội cũ để lại; từng
bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, miền, các tầng lớp dân cư trong xã hội, thực hiện mục tiêu bình đẳng xã hội; xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người theo mục tiêu lí tưởng tự do của người này là điều kiện, tiền
đề cho tự do của người khác
THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀO VIỆT NAM.
Trang 82.1 Tính tất yếu khách quan của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam; mục tiêu cơ bản.
2.1.1 thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội gắn với Việt Nam chính là thời kì quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, đó là sự tất yếu, khách quan đối với Việt Nam Quá độ lên CNXH ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1954 (ở miền Bắc) và cả
nước bắt đầu đi lên quá trình này từ năm 1975, là quá trình chuyển từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân sang cách mạng xã hội chủ nghĩa
Việt Nam từ một nước kém phát triển tiến thẳng lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN
là tất yếu lịch sử của sự phát triển đất nước, dân tộc Thời kì quá độ lên CNXH là tất yếu khách quan bởi:
Thời kì quá độ lên CNXH ở nước ta phù hợp với lý luận chung về tính tất yếu của thời kì quá độ Sau thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,
chính quyền thuộc giai cấp công nhân và nhân dân lao động thì mục tiêu tiếp theo của cách mạng nước ta là phải bước vào thời kì quá độ lên CNXH
TKQĐ ở nước ta phù hợp với lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa M-LN Sau thắng lợi của cách mạng dân chủ nhân dân, dưới sự lãnh đạo của
ĐCSVN, nước ta phải chuyển ngay sang CMXHCN tức là làm cách mạng không ngừng do đó phải bước vào thời kì quá độ lên CNXH
TKQĐ ở nước ta phù hợp với xu thế tất yếu của thời đại ngày nay được
mở đầu từ cách mạng tháng 10 Nga-1917 mà nội dung cơ bản là quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới, mở ra một xu thế tất yếu của thời đại và nước
ta cũng không nằm ngoài xu thế đó
Với quan điểm ấy, nhân dân ta đã làm cách mạng tháng 8 thành công, tiến hành hai cuộc kháng chiến thành công, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc Ngày nay, chỉ có đi lên chủ nghĩa xẫ hội mới giữ vững được tự do, độc lập của dân tộc
và thực hiện được mục tiêu làm cho nhân dân ấm no hạnh phúc Sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc và quá độ lên chủ nghĩa xã hội vừa phù hợp với xu thế của
Trang 9thời đại lại phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Điều đó cũng thể hiện việc quá
độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa tư bản là tất yếu khách quan đối với Việt Nam
2.1.2 Khả năng quá độ lên CNXH bỏ qua CNTB ở Việt Nam.
2.1.2.1 Về khả năng khách quan, trước hết phải kể đến nhân tố thời đại, tức xu thế quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Nhân tố thời
đại đóng vai trò tích cực làm thức tỉnh các dân tộc, các quốc gia, không những quá
độ bỏ qua chế độ tư bản trở thành tất yếu mà còn làm những điều kiện và khả năng khách quan cho sự quá độ này
Quá trình quốc tế hóa sản xuất và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày
càng tăng lên cùng với sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ tạo điềukiện thuận lợi để các nước thực hiện “con đường phát triển rút ngắn”
Xu thế toàn cầu hóa, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên thế giới
ngày càng tăng tạo khả năng khách quan cho việc khắc phục khó khăn về nguồn vốn và kỹ thuật hiện đại
2.1.2.2 Về khả năng chủ quan, Việt nam có nguồn nhân lực rồi rào, tài
nguyên đa dạng, chính quyền có đảng lãnh đạo, có đường lối đúng đắn và gắn bó với quần chúng nhân dân tạo thành nhân tố chủ quan có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bảo đảm thắng lợi cho công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam
Sự lãnh đạo của đảng và sự quyết tâm của nhân dân sẽ trở thành lực lượng vật chất đủ sức vượt qua mọi khó khăn và xây dựng CNXH
Công cuộc đổi mới do đảng ta lãnh đạo bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến nay đã thu được nhiều thành tựu khả quan, giữ vững ổn định chính trị; tạo môi trường hợp tác đầu tư; phát triển kinh tế; đời sống nhân dân được cải thiện… điều
đó đã khẳng định lựa chọn lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn
2.1.3 Mục tiêu cơ bản của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay.
Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
Trang 10hội đã khẳng định: Xã hội xã hội chủ nghĩa nhân dân ta xây dựng là một xa hội:
- Do nhân dân lao động làm chủ
- Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ cônghữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu
- Có nèn văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
- Con người dược giải phóng khỏi áp bức bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sông tự do hạnh phúc, có điều kiện phát triển cá nhân
- Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng tiến bộ
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới
=> xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
2.2 sự vận dụng của Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế; những vấn đề kinh tế
cơ bản.
2.2.1 Nhiệm vụ kinh tế cơ bản.
2.2.1.1 Phát triển lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động, tư liệu sản xuất và khoa học Do
đó phải đầu tư cho con người, vì con người phải phát triển giáo dục, đào tạo cùng với hàng loạt chính sách tuyển dụng, sử dụng đãi ngộ Mặt khác trong thời kỳ quá
độ, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa được coi là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ nhằm xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, phát triển lực lượng sản xuất
2.2.1.2 Xây dựng quan hệ sản xuất mới theo hướng định hướng XHCN
phải từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mới; tuân theo những quy luật khách quan về mốiquan hệ gữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Trang 11Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta do đa dạng hóa về quan hệ, sở hữu nên cơ cấu kinh tế tất yếu phải có nhiều thành phần, trong đó kinh té nhà nước và kinh tế tập thể phải dữ vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế quốc dân.
2.2.1.3 Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.
Đứng trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế và sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, nền kinh tế nước ta không thể là một nền kinh tế khép kín, mà phải tích cực mở rộng quan hệ đối ngoại Đó là xu thế tất yếu của thời đại, là vấn đề có tính quy luật trong thời đại ngày nay Chúng ta mở cửa nền kinh tế, nhằm thu hút các nguồn lực từ bên ngoài và có cơ hội phát huy tối đa các nguồn lực bên trong, thay đổi mạnh mẽ về công nghệ, cơ cấu kinh tế ngành, vươn lên bắt kịp trình độ khu vực và thế giới
Để làm tốt những việc đó chúng ta phải từng bước nâng cao sức cạnh tranh quốc tế; tích cực khai thác thị trường thế giới; cân bằng quan hệ xuất nhập khẩu, tích cựchợp tác kinh tế trong khu vực và trên thế giới; xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa việc mở rộng với độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh và bảo vệ an ninh quốc gia
2.2.2 Quá trình thành và phát triển nền kinh tế quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
2.2.2.1 Bước đầu hình thành đường lối cách mạng XHCN ở miền Bắc từ năm 1954.
Từ khi hòa bình lặp lại ở miền bắc đã chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa Hội nghị lần thứ 14 của trung ương (11/1958) chủ trương đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa với thành phần kinh tế cá thể nông dân và tư bản tư doanh, phát triển nền kinh tế quốc doanh, lấy hợp tác hóa nông nghiệp làm khâu trung tâmtrong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Đại hội III của đảng đánh dấu một mốc lịch sử quan trongjcuar cách mạng việt nam, vạch ra con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ởmiền Bắc và con đường giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà Tại đại hội này, Đảng ta còn nêu thêm nhiệm vụ: ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách
Trang 12hợp lý, ra sức phát triển công nghiệp nhẹ và nông nghiệp, đẩy mạnh cách mạng văn hóa tư tưởng, văn hóa, xã hội biến nước ta thành một nước có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học tiên tiến.
2.2.2.2 quá trình bổ sung và hoàn chỉnh đường lối cách mạng của Đảng (từ sau đại hội III đến đại hội IV)
Đảng ta đã chỉ ra, và lý giải thời kỳ quá độ lên CNXH của nước ta là tất yếu và phù hợp với tính tất yếu của thời đại và lý luận về cách mạng không ngừng
Hoàn chỉnh đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta :
- nắm vững chuyên chính vô sản để tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng
- xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa
- về đường lối kinh tế: vai trò của nông nghiệp và công nghiệp nhẹ được coi trọng,
ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển của nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; nêu lên và coi trọng kinh tế địa phương, kết hợp kinh
tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân vững chắc;khái quát phương hướng xây dựng và phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ là đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa
2.2.2.3 Cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.
*trước đổi mới: sau năm 1975, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, hoàn cảnh
đất nước vô cùng khó khăn, đây cũng là lúc mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp bộc lộ một cách toàn diện những tiêu cực của nó mà hậu quả là cuộc
khủng hoảng kinh tế - xã hội sâu sắc vào cuối những năm 70 đầu những năm 80 Trong thời kỳ nay nền kinh tế trở lên gay gắt, sản xuất phát triển chậm trong khi dân số tăng nhanh, một phần của tiêu dùng phải dựa vào đi vay và viên trợ, nền kinh tế chưa tạo được tích lũy, lương thực và quần áo, các hàng tiêu dùng thiết yếu đều thiếu, tình hình xã hội căng thẳng, đời sống người lao động gặp nhiều khó
Trang 13khăn Trước tình hình đó, mà nguyên nhân chủ yếu là do mô hình kinh tế, cơ chế kinh tế không phù hợp với quy luật kinh tế khách quan, thì tư duy đổi mới đã từng bước hình thành và phát triển qua các đại hội thứ IV, thứ V của Đảng và dẫn tới sự nhảy vọt trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI về mô hình kinh tế mới, Đại hôi dã quyết định đường lối đổi mới và đường lối đổi mới đó đã nhanh chóng đi vào cuộc sống vì nó không những được chuẩn bị trước về mặt nhận thức, lý luận
mà cả về mặt thực tiễn
*Sau đổi mới (từ sau đại hội VI của Đảng)
Đại hội đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện cả vè chính trị văn hóa, tư tưởng, tư duy, nhận thức, hoạt động thực tiễn của đảng, nhà nước và các tầng lớp nhân dân
và đặc biệt là đường lối đổi mới về kinh tế Qua đại hội, Đảng ta đã nghiêm túc nhìn nhận lại quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời căn cứ vào thời đại
và tình hình nước ta lúc bấy giờ để xác lập một mô hình mới về xã hội chủ nghĩa ở nước ta Trong các Đại hội sau của Đảng, đường lối đổi mới liên tục được hoàn thiện và ngày càng phù hợp hơn với hoàn cảnh của nước ta lúc bấy giờ, cụ thể là:
- Chuyển nền kinh tế từ hiện vật bao cấp sang nền kinh tế hang hóa vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Động viên, phát huy mọi nhân tố tích cực của các thành phần kinh tế nhưng tập trung vào nền kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể
- Thu hút đầu tư nước ngoài dưới nhiều hình thức và trình độ khác nhau
- Tùy theo lực lương sản xuất mà xã hội hóa sản xuất trên cơ sở công hữu về
tư liệu sản xuất
- Thực hiện nhiều nguyên tắc phân phối, tiến dần đến nguyên tắc phân phối theo lao động Thực hiện nguyên tắc chung khuyến khích bằng vật chất đi đôi với giáo dục và tinh thần
Trang 14- Trong cơ chế mới, kế hoạch vẫn đóng vai trò quan trọng, là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước nhưng mang tính định hướng gián tiếp các tổ chức sản xuất kinh doanh thông qua sự điều tiết thị trường, và quản lý kinh tế bằng phương pháp kinh tế.
- Nền kinh tế mở và hội nhập với nền kinh tế thế giới trên nguyên tắc vừa cạnh tranh vừa hợp tác và đảm bảo tính độc lập tự chủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Sở hữu tư liệu sản xuất và vai trò của nó:
Sở hữu là hình thức lịch sử xã hội nhất định của sự chiếm hữu Phạm trù sở hữu khi được thể chế hóa thành quyền sở hữu được thông qua một cơ chế nhất định được gọi là chế độ sở hữu
- Về mặt pháp lý, sở hữu được ghi trong hiến pháp, nó khẳng định ai là chủ sở hữu
- Về mặt kinh tế, sở hữu biểu hiện thông qua thu nhập, thu nhập càng cao thì
sở hữu về mặt kinh tế càng được thực hiện
Tuy nhiên, chung quy lại thì có hai hình thức sở hữu là sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng Sự xuất hiện của các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất do trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất quy định Sự thay thế sở hữu tư nhân bằng sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, mở đường cho sự phát triển hơn nữa là tất yếu kháchquan
Ở nước ta, trong thời kỳ quá độ,trình độ của lực lượng sản xuất còn rất thấp
kemsvaf do đó,sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vẫn còn phù hợp là nhân tố thúc
Trang 15đẩy sự phát triển của lực lựng sản xuất Bởi vậy,trong giai đoạn đầu của thời kỳ qua độ sở hữu tư nhân chẳng những không xóa bỏ mà cần được tạo mọi điều kiện phát triển.
sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu cần thựchiện trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Hơn nữa, sở hữu công cộng vè tư liệu sản xuất còn là công cụ quan trọng định hướng nền kinh tế lên chủ nghĩa xã hội Do đó,xây dựng sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất là tất yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Cơ cấu các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Trong thời kỳ quá độ ở nước ta, lực lượng sản xuất
phát triển không đồng đều Do đó, trong nền kinh tế tất yếu tồn tại nhiều hình thức
sở hữu về tư liệu sản xuất đan xen và tác động lẫn nhau Đó là các hình thức sở hữu: toàn dân, tập thể, cá thể, tư bản tư nhân và sở hữu hỗn hợp
- Sở hữu toàn dân là hình thức sở hữu mà nhà nước là đại diện của xã hội sở hữu những tài nguyên, tài sản, những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội
- Sở hữu tập thể là hình thức sở hữu mà những người lao động tự nguyện tham gia làm chủ sở hữu Nòng cốt của sở hữu tập thể là kinh tế hợp tác
- Sở hữu cá thể là hình thức sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất kết hợp vớilao động cá nhân của người lao động Chủ thể là những người sản xuất nhỏ cá thể
- Sở hữu tư bản tư nhân là hình thức sở hữu mà tư liệu sản xuất tập trung trong tay nhà tư bản, còn người lao động không có tư liệu sản xuất, chỉ là người làm thuê
- Sở hữu hỗn hợp là kết hợp đan xen giữa sở hữu toàn dân và các loại sở hữu khác Trong hinh thức sở hữu này rõ nhất là kết hợp giữa nhà nước và tư bản tư nhân
Trang 16Các hình thức sở hữu là cơ sở thực hiện lợi ích của các chủ thể và tác động tới nhau trong tất cả các phương diện: tổ chức quản lý, phân phối thu nhập, năng suất, chất lượng, hiệu quả…
2 Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam.
Tính tất yếu khách quan của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần.
Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế dựa trên một hình thức
sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất Các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập
mà tác động lẫn nhau tạo thành cơ cấu thông nhất bao gồm nhiều thành phần kinh tế
Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá đô lên chủ nghĩa xã hội là tổng thể các thành phần kinh tế cùng tồn tại trong môi trường hợp tác và cạnh tranh.
Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ qua độ lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta là tất yếu khách quan bởi:
- Lực lượng sản xuất ở nước ta phát triển ở trình độ thấp lại không đồng đều giữa các ngành, khu vực…
- Xã hội cũ để lại không ít cacs thành phần kinh tế và chưa thể cải biến nhanh được
- Sự nghiệp hiện đại hóa, công nghiệp hóa là trọng tâm của nước ta trong giai đoạn này, tuy nhiên đây là một công việc rất khó khăn, phức tạp vì vậy nên không thể chỉ trông chờ vào nhà nước, tập thể mà cần sử dụng sức mạnh tổng hợp của cácthành phần kinh tế
- Nước ta có lực lượng lao động dồi dào nhưng việc làm thiếu nhiều, lãng phí sức lao động trong khi khả năng thu hút sức lao động của khu vực nhà nước không nhiều
Vai trò của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trang 17- Vì phù hợp với trình độ thấp kém và không đồng đều của lực lương sản xuấtnên nó giúp tăng năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- Thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hóa, góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân
- Cho phép khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước như: vốn, lao động, trình độ quản lý…
- Tạo điều kiện để thực hiện và mở rộng các hình thức kinh tế quá độ, trong
đó có hình thức kinh tế tư bản nhà nước, nó như cầu nối để đưa nước ta từ nền sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
- Tạo tiền đề khắc phục tình trạng độc quyền, tạo ra quan hệ cạnh tranh, động lực quan trọng thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, thúc đẩy lực lương sản xuất
Các thành kinh tế ở nước ta hiện nay:
- Kinh tế nhà nước: là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu toàn dân
về tư liệu sản xuất chủ yếu Đây là thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo trong nềnkinh tế quốc dân, là nhân tố mở đường cho sự phát triển kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và công cụ nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
- Kinh tế tập thể
- Kinh tế tư nhân: bao gồm kinh tế hộ gia đình và tư bản tư nhân
- Kinh tế tư bản nhà nước
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Tính thống nhất và mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế
- Tính thống nhất: trong thời qua độ lên chủ nghĩa xã hội, với cơ chế thị
trường, các thành phần kinh tế không tồn tại độc lập với nhau mà có mối quan hệ thống nhât với nhau: hoạt động sản xuất kinh doanh trong môi trường chung, cùng chịu tác động của các nhân tố, các quy luật thị trường và liên tục tác đọng lẫn nhau.Mặt khác, các thành phần kinh tế có thể hợp tác với nhau trong sản xuất, kinh