1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Nhận xét công tác tư vấn các biện pháp tránh thai cho phụ nữ có thai ngoài ý muốn tại Trung tâm tư vấn sức khỏe sinh sản Kế hoạch hóa gia đình Bệnh viện phụ sản Trung ương năm 2020

56 100 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiệnnay phá thai và các vấn đề sinh sản đang được quan tâm trên toàn thế giới.Chính vì vậy việc lạm dụng phá thai sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ và tâm lý, dễgây ra các biến chứng ảnh hưởng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

- -TRẦN THỊ QUÝ

NHẬN XÉT CÔNG TÁC TƯ VẤN CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI CHO PHỤ NỮ CÓ THAI NGOÀI Ý MUỐN TẠI TRUNG TÂM KHHGĐ TẠI BỆNH VIỆN

PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG 2020

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

- -TRẦN THỊ QUÝ

NHẬN XÉT CÔNG TÁC TƯ VẤN CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI CHO PHỤ NỮ CÓ THAI NGOÀI Ý MUỐN TẠI TRUNG TÂM KHHGĐ TẠI BỆNH VIỆN

PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG 2020Chuyên ngành: Điều dưỡng Sản phụ khoa

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THS.BÙI KHÁNH THUẬN

NAM ĐỊNH - 2020

Trang 3

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề này, tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các anh chị, bạn bè, đồng nghiệp,những người thân trong gia đình và các cơ quan có liên quan.

Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Phòng đào tạo Sauđại học, bộ môn Điều dưỡng Sản phụ khoa, các thầy cô giảng dạy của TrườngĐại học Điều dưỡng Nam Định đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong nhữngnăm học qua

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn:Ths Bùi Khánh Thuận, đã tận tình hướng dẫn, động viên, quan tâm và tạomọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học, thực hiện và hoàn thànhchuyên đề tốt nghiệp này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện Phụ Sản Trungương, tập thể bác sỹ, hộ sinh, điều dưỡng cán bộ Trung tâm tư vấn sức khỏesinh sản- Kế hoạch hóa gia đình đã cho tôi cơ hội được đi học chuyên sâu vềlĩnh vực điều dưỡng chuyên nghành phụ sản, tạo điều kiện, giúp đỡ, độngviên tôi trong quá trình học tập, công tác và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn đến bố mẹ, những người thân trong gia đình,bạn bè, đồng nghiệp vàcác anh chị em cùng khóa đã động viên, giúp đỡ tôi vềtinh thần để tôi hoàn thành chuyên đề này

Nam Định, tháng 8 năm 2020

TRẦN THỊ QUÝ

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là báo cáo chuyên đề của riêng tôi Nội dung trong bài báo cáo này hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa được áp dụng Báo cáo này do bản thân tôi thực hiện dưới sự giúp đỡ của Giáo viên hướng dẫn Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Học viên

TRẦN THỊ QUÝ

Trang 5

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Danh mục các chữ viết tắt iii

Danh mục bảng iv

Danh mục biểu đồ v

Đặt vấn đề 1

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.1.1 Kế hoạch hoá gia đình 3

1.1.2 Biện pháp tránh thai 6

1.2 Cơ sở thực tiễn 12

1.2.1 Các nghiên cứu trên Thế giới về thực trạng công tác tư vấn các BPTT 12

1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam về thực trạng công tác tư vấn các BPTT 13

Chương 2: Thực trạng công tác tư vấn 15

2.1 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu 15

2.2 Nghiên cứu thực trạng công tác tư vấn tại tại Trung tâm tư vấn SKSS – KHHG 16

Chương 3: Bàn luận 27

3.1 Những tồn tại của công tác tư vấn sử dụng các BPTT 27

3.2 Giải pháp để khắc phục những tồn tại trong công tác tư vấn sử dụng các BPTT 31

Kết luận 32

Đề xuất giải pháp 33 Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo báo cáo mới công bố của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Việt Nam

là nước đứng thứ 3 có số ca phá thai cao nhất toàn cầu với 1,52 triệu ca [12].Đồng thời Việt Nam được xếp vào danh sách một trong năm nước có tỷ lệphá thai cao nhất thế giới và là nước có tỷ lệ phá thai cao nhất châu Á[12] Năm 2018, Tổng tỷ suất phá thai ở Việt Nam là 0,42, có nghĩa là cứ 5phụ nữ thì có 2 người từng phá thai ít nhất một lần trong toàn bộ giai đoạnsinh sản [7]

Việc không sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT), sử dụng các biệnpháp kém hiệu quả và sử dụng không đúng cách, không phù hợp là nguyênnhân dẫn đến tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn ngày càng tăng cao [23,29] Hiệnnay phá thai và các vấn đề sinh sản đang được quan tâm trên toàn thế giới.Chính vì vậy việc lạm dụng phá thai sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ và tâm lý, dễgây ra các biến chứng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản sau này của thai phụnhư tắc vòi trứng, chửa ngoài tử cung, dính buồng tử cung [2]

Sinh đẻ là thiên chức đặc biệt của người phụ nữ nhưng đồng thời sinh đẻcũng tiềm tàng nguy cơ cho sức khỏe người phụ nữ, nhất là phụ nữ sinh nhiềucon, thời điểm sinh con không hợp lý và khoảng cách giữa các lần sinh quángắn Việc áp dụng các BPTT hiệu quả sẽ giúp đảm bảo được khoảng cáchsinh con an toàn và phù hợp với điều kiện sinh lý của cơ thể, làm giảm tỷ lệnạo hút thai cũng như điều kiện kinh tế, công việc hàng ngày và nuôi dạy concái [2] Ở Việt Nam, trong những năm qua, tỷ lệ sử dụng các BPTT ngày càngtăng lên góp phần quan trọng làm giảm mức sinh Số liệu của các cuộc Điềutra biến động dân số (BĐDS) hàng năm cho thấy tỷ lệ sử dụng BPTT bất kỳcủa Việt Nam hiện đang ở mức cao Kết quả điều tra BĐDS năm 2016 chothấy, tỷ lệ sử dụng các BPTT bất kỳ đạt 77,6%, tăng 1,9 điểm % so với kếtquả Điều tra BĐDS 2015 và tỷ lệ sử dụng các BPTT hiện đại tại thời điểm1/4/2016 đạt mức 66,5% [14]

Trang 11

Việc sử dụng BPTT kém được kết luận do nhiều yếu tố bao gồm chiphí phòng tránh thai, các khó khăn liên quan đến phương pháp và các chẩnmực văn hóa [26] Vì vậy, tư vấn các BPTT có tiềm năng to lớn như một cáchlựa chọn cho người phụ nữ không muốn mang thai lựa chọn phương phápngừa thai mà họ có thể sử dụng mang hiệu quả cao, do đó giảm nguy cơ mangthai ngoài ý muốn của bản thân họ [32].

Việc có nhân viên đã được đào tạo để cung cấp dịch vụ tránh thai lâudài và vĩnh viễn cho khách hàng là 1 phần quan trọng của việc cung cấp cácdịch vụ KHHGĐ toàn diện của các cơ sở tuyến huyện và tuyến cao (nghị định

43 của Bộ Y Tế năm 2013) [8] Việc giao tiếp giữa NVTV và bệnh nhân vềcác BPTT cũng được xác định là một yếu tố quan trọng có khả năng thúc đẩyviệc sử dụng BPTT [27]

Chính vì những lý do trên tôi thực hiện chuyên đề “Nhận xét công tác

tư vấn các biện pháp tránh thai cho phụ nữ có thai ngoài ý muốn tại Trung tâm tư vấn sức khỏe sinh sản- Kế hoạch hóa gia đình- Bệnh viện phụ sản Trung ương năm 2020”.

MỤC TIÊU

“ Mô tả công tác tư vấn các biện pháp tránh thai cho phụ nữ có thaingoài ý muốn tại Trung tâm tư vấn sức khỏe sinh sản- Kế hoạch hóa gia đình-Bệnh viện phụ sản Trung ương năm 2020”

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Kế hoạch hoá gia đình

Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) là chủ động có con theo ý muốn củacác cặp vợ chồng nhằm điều chỉnh số con và khoảng cách sinh con, không đểphải dẫn đến phá thai, hoặc đẻ quá nhiều con, để quá dày, đẻ khi còn quá trẻhoặc đẻ khi đã nhiều tuổi KHHGĐ không chỉ bao hàm việc lựa chọn sử dụngcác BPTT để tránh thai mà còn là những cố gắng của các cặp vợ chống để cóthai và sinh con trong trường hợp khuyến khích sinh [3]

Kế hoạch hóa gia đình cũng là nỗ lực của Nhà nước, xã hội để mỗi cánhân, cặp vợ chồng chủ động quyết định số con, thời gian sinh con và khoảngcách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôi dạy con có trách nhiệm,phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện gia đình [13]

Nguyên tắc của KHHGĐ:

- Có sự kết hợp giữa 4 yếu tố: Tự nguyện, lựa chọn khi đã đầy đủ thông

tin, có đầy đủ các BPTT, được cung cấp dịch vụ an toàn và thuận tiện

- Khách hàng có quyền tự quyết định sử dụng BPTT

- Kín đáo và tôn trọng khách hàng, không phân biệt tôn giáo, thành phần

xã hội, tuổi hay hoàn cảnh kinh tế

- Được cung cấp dịch vụ tránh thai an toàn, có chất lượng để phòng tránh

các nguy cơ, trong đó có cả nguy cơ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục

- Khuyến khích trách nhiệm của nam giới (chồng hoặc mẹ chồng) và

những nhà lãnh đạo cộng đồng vào chương trình KHHGĐ

Trang 13

- Tuyên truyền, giáo dục để khách hàng và cộng đồng hiểu về những lợi

ích đáng kể về mặt sức khỏe cũng như lợi ích khác ngoài lợi ích tránh thai củacông tác KHHGĐ

* Vai trò của tư vấn kế hoạch hóa gia đình[18]:

- Giúp khách hàng chọn đúng một BPTT và sử dụng đúng biện pháp đã

chọn

- Giúp tăng tỉ lệ tiếp tục sử dụng và hạn chế bỏ cuộc.

- Giúp tăng tỉ lệ sử dụng BPTT.

- Góp phần tăng cường sức khỏe và giảm chi phí chương trình KHHGĐ.

- Hiểu rõ và thực hành tình dục an toàn sẽ góp phần giảm nguy cơ có thai

ngoài ý muốn và nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục

* Mười quyền cơ bản của khách hàng [13,18]

- Quyền được thông tin.

- Quyền được tiếp cận dịch vụ và thông tin.

- Quyền tự do lựa chọn BPTT và từ chối hoặc chấm dứt BPTT.

- Quyền được nhận dịch vụ an toàn.

- Quyền được đảm bảo bí mật.

- Quyền được đảm bảo kín đáo.

- Quyền được thoải mái khi tiếp nhận dịch vụ.

- Quyền được tôn trọng.

- Quyền được tiếp tục nhận dịch vụ.

- Quyền được bày tỏ ý kiến.

* Các bước tư vấn KHHGĐ (6 bước) [18]

Bước 1 Gặp gỡ

- Tiếp đón, chào hỏi khách hàng niềm nở, gây thiện cảm để họ an tâm

ngay từ khi tiếp xúc

Trang 14

- Mời khách hàng ngồi ngang hàng với người tư vấn, nếu có chồng (hoặc

vợ) cùng đi cũng mời ngồi bên cạnh, không để họ phải đứng

- Tự giới thiệu: tên, chức vụ, nhiệm vụ chính tại Trung tâm của người

làm tư vấn

Bước 2 Gợi hỏi

- Hỏi tên, tuổi, địa chỉ của khách và lý do cần tư vấn

- Khi vấn đề cần TV của khách hàng có tính bí mật đặc biệt, NVTV hỏi

khách hàng để biết khách hàng có bằng lòng để người cùng đi ngồi nghe haykhông và phải tôn trọng ý kiến của khách hàng

- Hỏi về hoàn cảnh sinh sống, tiền sử bệnh tật toàn thân và bệnh phụ

khoa

- Hỏi về tình trạng hôn nhân, tiền sử thai nghén và sẩy, đẻ.

- Hỏi về tình trạng hoạt động tình dục

- Hỏi về các BPTT mà khách hàng đã nghe, đã biết.

- Sử dụng hầu hết các câu hỏi mở.

- Thái độ thân mật, gần gũi, lắng nghe, vui vẻ, quan tâm và đồng cảm Bước 3 Giới thiệu

- Trình bày cho khách hàng các BPTT dựa trên nhu cầu sinh sản thực tế

của họ (biết được qua gợi hỏi)

- Cung cấp đủ thông tin về cả hai mặt thuận lợi và không thuận lợi của

từng biện pháp, các tác dụng phụ ngoài ý muốn, thậm chí cả tai biến (nếu có)

- Trình bày kỹ các điều khách hàng muốn biết, khéo léo sửa lại những

hiểu biết chưa đúng của họ

Trang 15

Bước 4 Giúp đỡ

- Giúp khách hàng hiểu biết đầy đủ về các BPTT hiện đang có (bằng lời

và bằng hiện vật, tranh ảnh, mô hình) để họ tự chọn

- Không áp đặt, lựa chọn BPTT thay cho khách hàng

- Nếu khách chọn phải BPTT không phù hợp (chống chỉ định) thì nhẹ

nhàng giải thích để khách chọn một BPTT khác

Bước 5 Giải thích

- Nói cho khách hàng biết cách thức tiến hành (cả về thủ tục hành chính

lẫn chuyên môn) và sẵn sàng giúp họ hoàn tất các thủ tục cần thiết sau khi đãgiải thích (để họ tự nguyện ký vào hồ sơ) (nếu có)

- Giải thích đầy đủ cách sử dụng BPTT khách hàng đã chọn.

- Giải thích những nguyên nhân có thể làm BPTT thất bại.

- Nói rõ các tác dụng phụ của BPTT và cách xử trí tại nhà.

- Nói rõ các dấu hiệu cảnh báo về tai biến và cách xử trí.

- Nêu rõ khả năng phục hồi của BPTT khi thôi sử dụng.

- Nói rõ tại sao phải khám kiểm tra định kỳ và khuyên khách hàng thực

hiện sau này

- Khéo léo giải thích cho khách hàng những nhận thức chưa đúng do lời

đồn hay thông tin sai lạc (không thẳng thừng bác bỏ, không phê phán)

- Đề nghị khách hàng nhắc lại một số điểm để có thông tin phản hồi Bước 6 Gặp lại

- Hẹn khách hàng thời gian khám lại gần nhất.

- Căn dặn những trường hợp cần trở lại ngay cơ sở y tế.

Trang 16

- Khuyến khích khách hàng gặp lại bất cứ khi nào cần tìm hiểu về SKSS

của bản thân hay gia đình

- Hứa hẹn sẵn sàng đón tiếp và làm vui lòng khách hàng về các dịch vụ

vợ chồng thực hiện KHHGĐ [4]

Có nhiều BPTT để con người lựa chọn và cũng có nhiều cách để phânloại như phân loại theo BPTT hiện đại và tự nhiên, BPTT lâm sàng và phi lâmsàng, BPTT áp dụng theo giới tính [4]

1.1.2.2 Các biện pháp tránh thai hiện nay

Các biện pháp tránh thai hiện đại

* Các biện pháp tránh thai hiện đại dành cho nữ

(1) Dụng cụ tử cung: rẻ, sử dụng tiện lợi, thời gian sử dụng lâu dài, hiệuquả tránh thai cao, nhanh chóng có thai sau khi tháo bỏ dụng cụ Tuy nhiênkhông có tác dụng ngăn ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục; cần có

sự can thiệp y tế khi đặt vòng; tăng lượng máu kinh, nguy cơ viêm nhiễmđường sinh dục [4]

(2) Thuốc tiêm tránh thai: hiệu quả tránh thai cao, tác dụng kéo dài, giảmnguy cơ u xơ tử cung, ngăn ngừa ung thư niêm mạc tử cung, Nhược điểm là

Trang 17

rối loạn kinh nguyệt, vô kinh; có thai trở lại chậm, không tránh được cácbệnh lây truyền qua đường tình dục [4].

(3) Thuốc cấy tránh thai (que cấy) là phương pháp tránh thai dùng mộthay các que nhỏ như que diêm chứa hormone progesterene cấy vào dưới da.Khả năng tránh thai rất cao, sau khi rút que cấy sự thụ thai phục hồi nhanhchóng và hoàn toàn Tuy nhiên thường hay gây ra phản ứng phụ như rongkinh, vô kinh [4]

(4) Thuốc uống tránh thai (viên kết hợp): hiệu quả tránh thai cao, nhanhchóng có thai lại sau khi ngừng thuốc, giảm lượng máu kinh, đau bụng kinh,giảm nguy cơ chửa ngoài tử cung Đòi hỏi phải uống vào một giờ nhất định

để đảm bảo hàm lượng thuốc trong máu; không tránh được các bệnh lâytruyền qua đưởng tình dục [4]

(5) Biện pháp tránh thai khẩn cấp: có thể giảm tỷ lệ có thai ngoài ýmuốn, và bao gồm mọi BPTT sử dụng trong vòng năm ngày sau lần giao hợpkhông được bảo vệ [4]

(6) Triệt sản (cả nam và nữ) hiệu qua tránh thai cao, chi thực hiện mộtlần có tác dụng tránh thai vĩnh viễn; không có tác dung không mong muốn,không ảnh hưởng đến sứrc khỏe và đời sống tinh dục Phải được thực iện tại

cơ sở y tế có đầy đủ phương tiện; khó hồi phục sau khi can thiệp; có thể cónhững tai biến xảy ra trong và sau khi thực hiện phẫu thuật [5,15]

(7) Màng ngăn âm đạo: màng được đặt vào trong âm đạo và che phủ cổ

tử cung, chắn cổ tử cung lại cũng như tạo một khoang chứa các thuốc diệt tinhtrùng Màng được làm bằng cao su thiên nhiên, latex hoặc silicone và nên lưumàng lại tối thiểu 6 giờ sau giao hợp và tối đa 30 giờ sau khi đặt vào âm đạo[5,13]

(8) Mũ cổ tử cung: Mũ cổ tử cung là một dụng cụ cơ học, tránh thai bằngrào cản ở âm đạo Mũ cổ tử cung được làm bằng latex hoặc silicone và có thểtái sử dụng hoặc chỉ dùng một lần Mũ cần được lưu lại tối thiểu 6-8 giờ saugiao hợp và tối đa 72 giờ kể từ khi gắn vào [35]

Trang 18

(9) Miếng xốp âm đạo tránh thai: xuất hiện như là một biến thể củamàng ngăn âm đạo, được làm bằng polyurethane, được tấm nonoxynol-9 vàphóng thích 125 mg chất diệt tinh trùng trong vòng 24 giờ [34]

(10) Nhẫn tránh thai: Nhẫn tránh thai âm đạo được đưa vào âm đạo,phóng thích hormon giúp tránh thai Khách hàng có thể tự đưa nhẫn vào trong

âm đạo và để đó trong 3 tuần rồi lấy ra [34]

(11) Miếng dán tránh thai: Được dán ở bắp tay, mông, bụng hay ngực(không dán lên vú) Miếng dán có tác dụng phóng thích các hormone để cótác dụng tránh thai giống như tác dụng của các viên thuốc uống tránh thai[34] Mỗi miếng dán có tác dụng trong một tuần sau đó khách hàng thaymiếng dán mới Dán liên tục trong vòng 3 tuần và không dán trong tuần thứ 4

để bắt đầu kinh nguyệt Tác dụng phụ của miếng dán giống như tác dụng phụcủa viên thuốc uống tránh thai Khách hàng có thể đổi chỗ dán để tránh bịkích thích da [34,36]

* Các biện pháp tránh thai hiện đại dành cho nam giới

(1) Bao cao su: tránh được các bệnh lây truyền qua đường tnh dục; tiệnlợi, dễ sử dụng, rẻ tiền Nhược điểm là nếu không biết sử dụng đúng cách cóthể dẫn tới tránh thai thất bại; có thể bị thủng hoặc rách khi sử dụng [4]

(2) Thuốc diệt tinh trùng là chất nonoscinol đặt vào âm đạo có tác dụnghủy diệt hay làm cho tinh trùng bất động Các triệu chứng dị ứng ít khi xảy ra

và nếu có thì chỉ cần ngừng thuốc là hết, thuốc không gây ảnh hưởng đến thainhi nếu lỡ mang thai, không làm tổn hại đến chức năng hoạt động của các cơquan sinh dục Tuy nhiên hiệu quả tránh thai chưa thật cao, tỷ lệ thất bại chủyếu (60%) do sử dụng sai, giá thuốc không rẻ và không tiện mua [6,13]

Các biện pháp tránh thai truyền thống

Là những BPTT không sử dụng các phương tiện, thuốc men mà hoàntoàn phụ thuộc vào sự nỗ lực và hiểu biết của các cá nhân [4]

* Các biện pháp tránh thai truyền thống cho nữ

Trang 19

(1) Phương pháp tính vòng kinh: Là biện pháp dựa vào ngày có kinh,chọn giao hợp vào những ngày xa giai đoạn rụng trứng để không có thai.Trong vòng 5 ngày trước và 4 ngày sau khi rụng trứng là những ngày “không

an toàn", cân kiêng giao hợp hoặc nếu giao hợp thì cần dùng BPTT hỗ trợ[5,13]

(2) Phương pháp ghi chất nhầy cổ tử cung: Phương pháp này dựa vàoviệc người phu nữ có thể nhận biết những ngày đỉnh điểm thụ thai khi chấttiết cổ tử cung trơn, ướt và có thể kéo sợi Tỷ lệ có thai ngoài ý muốn của biệnpháp này là rất cao [5,13]

(3) Phương pháp ghi thân nhiệt: Phương pháp này dựa trên nhiệt cơ bảntăng 0,2 đến 0,5°C quanh thời điểm phóng noãn Người phụ nữ lấy thân nhiệt

và ghi lại vào mỗi buổi sáng vào một thời điểm Phương pháp này có nhữngđiểm không chính xác, do đó tỷ lệ có thai ngoài ý muốn của biện pháp này rấtcao [5,13]

Ưu điểm của BPTT truyền thống: Các BPTT truyền thống có ưu điểmchung là không cần phương tiện, thiết bị can thiệp do đó tránh được những taibiến cũng như tác dụng phụ Không phải chuẩn bị trước khi quan hệ tình dục Nhược điểm của BPTT truyền thống: hiệu quả tránh thai thấp, yêu cầu

sự chủ động khi áp dụng các biện pháp, một số biện pháp khá phúc tạp và dễthất bại khi sử dụng

* Các biện pháp tránh thai truyền thống cho nam

(1) Xuất tinh ngoài âm đạo (giao hợp ngắt quãng): Cơ chế tránh thai làtinh trùng không vào được đường sinh dục nữ nên không gặp dược noãn,ngăn cản hiện tượng thụ tinh, Phương pháp này đòi hỏi sự chủ động của namgiới khi quan hệ, nên hiệu quả tránh thai thấp [5,13]

(2) Kiêng giao hợp (cả nam và nữ): Là BPTT mà hoạt động tình dục diễn

ra xong không giao hợp trong âm đạo

* Một số quy định ở Việt Nam

Trang 20

 Nghị định 104/2003/NĐ-CP ngày 16/9/2003 của Chính phủ về quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số [9].

- Điều 8: Các loại dịch vụ dân số “Cung cấp phương tiện tránh thai; dịch

vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình…”

- Điều 14: Mục tiêu chăm sóc sức khoẻ, kế hoạch hoá gia đình

- Điều 15: Biện pháp chăm sóc sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia đình.

- Điều 18: Hình thức, tổ chức thực hiện việc tuyên truyền, vận động, giáo

dục, tư vấn về dân số, sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình

- Điều 19: Trách nhiệm của cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ

sinh sản, kế hoạch hoá gia đình

- Điều 20: Các hình thức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản,

kế hoạch hoá gia đình

 Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010: Phần thứ ba - Mục

IV - điểm 3: Chăm sóc SKSS/KHHGĐ đã nêu rõ “Nâng cao chất lượng chăm

sóc SKSS/KHHGĐ với các nội dung chủ yếu và phù hợp trong khuôn khổ chăm sóc sức khoẻ sinh sản ban đầu, tiến tới thoả mãn nhu cầu của khách hàng về SKSS/KHHGĐ, hạn chế đến mức thấp nhất có thai ngoài ý muốn, giảm nhanh nạo phá thai, góp phần nâng cao chất lượng dân số” [10].

 Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tụcđẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình đã chỉ rõ

nhiệm vụ và một số giải pháp chủ yếu, trong đó xác định nhiệm vụ "Hoàn

thiện hệ thống dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người sử dụng về các BPTT Chú trọng đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị và nâng cao trình độ CBYT, tham gia cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ, khuyến khích các tổ chức xã hội và tư nhân tham gia cung cấp các dịch vụ này Đẩy mạnh TTXH và bán rộng rãi các PTTT" (khoản 5,

mục c, phần II) [1]

Trang 21

Đồng thời, Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản và các văn bảnhướng dẫn thi hành đã xác định việc tiếp tục thực hiện mục tiêu, nhiệm vụcung cấp PTTT và dịch vụ SKSS/KHHGĐ nhằm đáp ứng nhu cầu về sốlượng, đa dạng hóa về chủng loại và chất lượng PTTT ngày càng cao của cácnhóm đối tượng sử dụng "Nhà nước nắm giữ vai trò chủ đạo trong việc điềuphối hàng hóa để đáp ứng nhu cầu về PTTT, ưu tiên miễn phí và trợ cấpPTTT cho người nghèo, các khu vực có điều kiện kinh tế và xã hội khó khăn,đồng thời tăng cường TTXH và kinh doanh các PTTT trên thị trường tự do".

 Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn

2011-2020 đã nhấn mạnh “Nâng cao chất lượng dịch vụ thông qua việc hoàn

thiện các quy định, quy trình kỹ thuật; tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện các quy định chuyên môn và quy trình kỹ thuật đối với các

cơ sở cung cấp dịch vụ; nâng cấp cơ sở hạ tầng, bổ sung trang thiết bị và tập huấn cập nhật kiến thức cho những người cung cấp dịch vụ dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản”[11].

đã chọn [22] Trong nghiên cứu này, các hành vi lấy khách hàng làm trungtâm là những hành vi được thiết kế để tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vàobuổi khám tư vấn, chẳng hạn như tuyên bố về quan hệ đối tác, trong khi cáchành vi lấy bác sĩ làm trung tâm là những hành vi hạn chế sự tham gia này,chẳng hạn như chỉ đạo công khai

Trang 22

Ngoài ra, một số nghiên cứu ở các nước đang phát triển đã sử dụng cácbiện pháp tư vấn tổng hợp, bao gồm các biện pháp của cả khía cạnh quan hệ

và định hướng nhiệm vụ của truyền thông, và đã phát hiện ra rằng những phụ

nữ cho biết trải qua dịch vụ chăm sóc chất lượng cao hơn có tỷ lệ tiếp tụctránh thai cao hơn [28,30] và sử dụng BPTT [28,31] Các nghiên cứu cũngphát hiện ra rằng việc cung cấp thông tin cụ thể về các tác dụng phụ của biệnpháp có liên quan đến việc cải thiện kết quả [24,25]

Một nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, về các nhà cung cấpphục vụ thanh thiếu niên người Mỹ gốc Phi tại các trung tâm y tế cộng đồng ởChicago cho thấy rằng các nhà cung cấp nhấn mạnh việc xây dựng mối quan

hệ trong quá trình tư vấn của họ [33]

Trong chăm sóc sức khỏe nói chung, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cácnhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe giao tiếp với bệnh nhân khác nhaudựa trên chủng tộc/dân tộc của họ So với bệnh nhân da trắng, bệnh nhân dađen ít tập trung vào bệnh nhân hơn, nhận được ít thông tin hơn, trải qua thờigian thăm khám tại phòng khám ngắn hơn và ít có khả năng thông báo hiểumọi điều bác sĩ của họ nói [37] Những khác biệt như vậy được cho là gópphần vào sự chênh lệch về kết quả sức khỏe Trong bối cảnh kế hoạch hóa giađình, có bằng chứng cho thấy phụ nữ thiểu số cảm nhận được các tương táckém chất lượng hơn Phụ nữ da đen và gốc Tây Ban Nha đánh giá ít tích cựchơn về việc thăm khám kế hoạch hóa gia đình so với phụ nữ da trắng và cũng

có nhiều khả năng bị áp lực phải sử dụng BPTT và hạn chế quy mô gia đìnhcủa họ [21] Ngoài ra, trong một cuộc khảo sát đối với phụ nữ da đen, 67%cho biết họ từng bị phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc khi nhận các dịch vụ

kế hoạch hóa gia đình và 52% cho biết trải nghiệm phản ánh định kiến củaphụ nữ da đen (ví dụ, nhà cung cấp cho rằng họ có quan hệ tình dục nhiều đốitác) [20]

Trang 23

1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam về thực trạng công tác tư vấn các BPTT

Chất lượng của các dịch vụ cũng là một trong các yếu tố ảnh hưởng đếnquyết định lựa chọn sử dụng BPTT của người phụ nữ Đặc biệt là khi điềukiện sống ngày càng được nâng cao thì chất lượng của dịch vụ là yếu tố cầnđược ưu tiên hàng đầu Khi cung cấp dịch vụ KHHGĐ theo quan điểm trướcđây, chúng ta vẫn coi là một dịch vụ xã hội mang tính chất "xin - cho" nhưngthực tế hiện nay, để lôi kéo được người tiêu dùng đến sử dụng dịch vụ thì yếutố đầu tiên phải được đảm bảo là tính chất lượng của dịch vụ, kể cả khi dịch

vụ dó được cung cấp miến phí Một trong các yếu tố tạo nên chất lượng chodịch vụ KHHGĐ là yếu tố con người

Theo báo cáo kết quả nghiên cứu đánh giá chất lượng KHHGĐ ViệtNam năm 2018, các khách hành đánh giá 93% hài lòng với chất lượng dịch vụđược cũng cấp Tuy nhiên, chỉ có 40% khách cho biết họ sẽ giới thiệu cơ sởcung cấp dịch vụ đó cho hàng xóm và người thân [7]

Qua kết quả nghiên cứu của UNFPA tại Hà Giang năm 2003 về chấtlượng dịch vụ ở trung tâm y tế xã và Bệnh viện huyện cho thấy trên 60% đốitượng tham gia nghiên cứu nhận định; CBYT luôn có mặt tại cơ sở y tế,CBYT luôn ân cần cởi mở, người dân không phải chờ lâu, cơ sở y tế sạch sẽgọn gàng, có tranh ảnh tuyên truyền về các BPTT và có các loại thuốc thôngthường tại cơ sở y tế 40% đối tượng phòng vấn xác nhận là đúng, đó là:CBYT có tay nghề vững, CBYT dành thời gian để nói chuyện với khách hàng

về các vấn đe sức khỏe, mọi thông tin của người đến khám/chữa bệnh tại cơ

sở y tế được giữ kín và trang thiết bị y tế đây đủ và sạch sč Qua đó có thểthấy mối quan hệ giữa phía cung cấp dịch vụ (gồm cơ sở vật chất, trang thiểt

bị, thuốc men và người cung cấp dịch vụ) với người dân là tương đối tốt [16]

Nghiên cứu về thực trạng và giải pháp để tăng cường tỷ lệ sử dụng cácBPTT lâm sàng cho các vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại một số tỉnh/ thành

Trang 24

phố của Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em năm 2007 cho thấynhững lý do từ phía nhà cung cấp liên quan đến việc sử dụng BPTT như: Dịch

vụ cung cấp thuận lợi, không phải trả tiền, nhiều người sử dụng, được bồidưỡng thêm Trong các yếu tố tác động thì CBYT cũng là người được kháchhàng tin tưởng và đã có vai trò đáng kể được công nhận để giúp khách hàngchấp nhận sử dụng các BPTT lâm sàng [17]

Trang 25

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TƯ VẤN

2.1 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu [19]

Trung tâm tư vấn SKSS – KHHG tiền thân là đơn nguyên kế hoạch hóagia đình trực thuộc khoa khám bệnh, được sự đồng ý của Bộ y tế và BanGiám đốc bệnh viện, Trung tâm tư vấn sức khỏe sinh sản- Kế hoạch hóa giađình của bệnh viện phụ sản trung ương được thành lập vào tháng 4/2007

2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm tư vấn SKSS – KHHG

- Tư vấn về SKSS và KHHGĐ cho phụ nữ trong lứa tuổi sinh sản, có nơidành riêng cho lứa tuổi vị thành niên Tư vấn về cách phòng tránh các bệnhlây truyền qua đường tình dục

- Hút thai chân không từ 6 đến hết 12 tuần (gây tê, gây mê)

- Thực hiện các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình (đặt, tháo dụng cụ tửcung; cấy và tháo thuốc tránh thai)

- Thực hiện phá thai bằng thuốc cho tuổi thai đến hết 9 tuần theo hướngdẫn chuẩn Quốc gia về các dịch vụ sức khỏe sinh sản

- Là Trung tâm giảng dạy về phá thai an toàn cho các tỉnh phía Bắc vàcho các nước trong khu vực

- Thực hiện các nghiên cứu khoa học trong nước và các đề tài dưới sự hỗtrợ của tổ chức quốc tế

- Thực hiện việc giám sát hoạt động sức khỏe sinh sản nói chung, pháthai an toàn nói riêng cho các tỉnh sau đào tạo

- Tổ chức quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn lực của Trung tâm nhằmmang lại lợi ích về kinh tế cho bệnh viện

Trang 26

- Đào tạo, chỉ đạo tuyến về phá thai an toàn (đặc biệt là cho các tỉnh phíaBắc)

- Nghiên cứu khoa học cấp Bộ Y tế, cấp cơ sở và các nghiên cứu dưới sựtài trợ của WHO, các tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực sức khoẻ sinh sản,phá thai an toàn

2.1.2 Hoạt động của Trung tâm tư vấn SKSS – KHHG

Hàng năm Trung tâm thực hiện tiến hành tư vấn cho nhiều lượt kháchhàng về lĩnh vực sức khoẻ sinh sản Trong đó có trên 10.000 lượt khách hàng

tư vấn qua điện thoại

Từ năm 2001 đến nay tại Trung tâm phương pháp nong và nạo thai đãđược thay thế hoàn toàn bằng phương pháp hút thai chân không bằng tay chotuổi thai từ 6 đến hết 12 tuần: thủ thuật hút chân không được tiến hành nhanhhơn và an toàn hơn

Có các nghiên cứu về phương pháp phá thai bằng thuốc đã được thựchiện để đưa ra phác đồ phá thai nội khoa an toàn, hiệu quả, giảm tai biến dophá thai ngoại khoa, tư vấn cho nhiều lượt khách hàng về các BPTT, áp dụngcác BPTT hiện đại và hiệu quả cao: Que cấy tránh thai, Vòng tránh thai nộitiết Mirena , tăng sự lựa chọn các phương pháp phá thai và mang lại sự hàilòng cho khách hàng

Năm 2019, Trung tâm đã được mở rộng và đến tháng 6/2019 đã triểnkhai gói Dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình bằng phương pháp hút thai chânkhông (từ 6 đến 12 tuần) có gây mê mang lại sự hài lòng cho nhiều kháchhàng

Trang 27

2.2 Nghiên cứu thực trạng công tác tư vấn tại tại Trung tâm tư vấn SKSS – KHHG

Đặc điểm chung của đối tượng

 Đặc điểm chung của nhân viên tư vấn

- Trung tâm tư vấn SKSS – KHHGĐ bao gồm 20 người: 5 bác sỹ làm

công tác chuyên môn, 14 Điều dưỡng/Hộ sinh làm công tác tư vấn, phụ bác

sỹ, tiếp đón bệnh nhân, 1 hộ lý

- Số nhân viên làm công tác tư vấn chiếm 70% tổng số nhân viên trong

Trung tâm

- 100% nhân viên tư vấn tham gia các lớp tập huấn về sử dụng BPTT.

Bảng 3.1.Đặc điểm nhóm tuổi của nhân viên tư vấn

Trang 28

Sau Đại học Đại học Cao đẳng Trung cấp

Biểu đồ 3.1 Trình độ chuyên môn của nhân viên tư vấn

Biểu đồ 3.1 cho thấy: đa số trình độ học vấn của nhân viên tư vấn là Đạihọc chiếm tỷ lệ 64,3% Tỷ lệ nhân viên có trình độ trung cấp là 21,4%; sauĐại học và cao đẳng đều chỉ có 1 người

Bảng 3.2.Trình độ chuyên môn của nhân viên tư vấn

 Đặc điểm chung của khách hàng

Bảng 3.3.Đặc điểm nhóm tuổi của khách hàng

Ngày đăng: 21/10/2020, 15:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w