1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thế giới quan của nguyễn trãi qua tác phẩm quân trung từ mệnh tậpvà quốc âm thi tập

81 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 82,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuynhiên, tính đến thời điểm hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về thếgiới quan của Nguyễn Trãi, do đó chúng tôi quyết định chọn hai tác phẩm“Quân trung từ mệnh tập” và “Quốc â

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ HÀ

THẾ GIỚI QUAN CỦA NGUYỄN TRÃI QUA TÁC PHẨM “ QUÂN TRUNG TỪ MỆNH TẬP”

VÀ “ QUỐC ÂM THI TẬP”

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ HÀ

THẾ GIỚI QUAN CỦA NGUYỄN TRÃI QUA TÁC PHẨM “ QUÂN TRUNG TỪ MỆNH TẬP”

VÀ “ QUỐC ÂM THI TẬP”

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 03 01

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hạnh

HÀ NỘI – 2014

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Trần Thị Hạnh

Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và không trùng lặp vớicác đề tài khác

Hà nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hà

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Triết học là một khoa học ra đời sớm dựa trên sự phát triển của lựclượng sản xuất, của sự phân hóa xã hội Vấn đề lớn nhất mà mọi triết họcquan tâm là vũ trụ quan và nhân sinh quan Vì lẽ đó, nghiên cứu thế giới quan

và phương pháp luận triết học mang lại ý nghĩa quan trọng trong việc địnhhướng cho toàn bộ cuộc sống của con người, từ đó con người xác lập lýtưởng, hệ giá trị, lối sống, nếp sống của mình Đây cũng là một trong nhữngtiêu chuẩn cơ bản đánh giá sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như củamỗi cộng đồng xã hội

Thế giới quan có thể hiểu đơn giản là cái nhìn về các mặt của thế giới,

là bức tranh toàn cảnh về mối quan hệ của con người và tự nhiên, của conngười và con người Thế giới quan bao gồm những nguyên tắc, quan điểm,niềm tin, khái niệm, biểu tượng về toàn bộ thế giới, sự vật, hiện tượng, nhữngquy luật chung, là sự chỉ dẫn phương hướng hoạt động của con người

Trong triết học phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, vấn đề

vũ trụ quan, nhân sinh quan có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nhưng nặng vềvấn đề nhân sinh quan, xã hội quan hơn là các vấn đề về tự nhiên và các hìnhthức của tư duy Mục đích của thế giới quan triết học phương Đông nói chung

và triết học Việt Nam nói riêng là xây dựng lý lẽ cho chính trị - xã hội và luân

lý nhằm giáo dục đạo đức cho con người

Ở Việt Nam, tư tưởng về thế giới quan được hình thành rất sớm tuychưa mang tính hệ thống song các nhà tư tưởng đã đưa ra những quan niệm sơ khai

về thế giới quan như quan niệm của Lý Thường Kiệt, Lý Công Uẩn… Và đếnNguyễn Trãi (1380 - 1442), tư tưởng về thế giới quan đã được hình thành một cách

rõ nét, và hệ thống Bởi thông qua thế giới quan của mình, Nguyễn Trãi đã phảnánh được tương đối hoàn chỉnh hiện trạng xã hội Đại

Trang 5

Việt cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV Ngoài ra, thế giới quan của NguyễnTrãi còn mang lại những bài học giá trị về: cách xử thế của con người với tựnhiên, về đạo thông qua mối quan hệ giữa con người với con người Tuynhiên, tính đến thời điểm hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về thếgiới quan của Nguyễn Trãi, do đó chúng tôi quyết định chọn hai tác phẩm

“Quân trung từ mệnh tập” và “Quốc âm thi tập” trong di sản của Nguyễn Trãi

làm đề tài nghiên cứu, bởi trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy ẩnđằng sau những tư tưởng thiên mệnh, con người, đạo đức …đó chính là lòngyêu nước, thương dân, là nỗi niềm đau đáu được ra giúp dân, giúp đời củaNguyễn Trãi từ lúc ông còn trẻ đến lúc tuổi già Đó là nhân cách cao quý củamột con người vĩ đại

Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Thế giới quan của Nguyễn

Trãi qua tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và “Quốc âm thi tập” làm đề

tài luận văn của mình

“Thế giới quan trong triết học Trung Quốc cổ đại”(2002) của Nguyễn Văn

Vịnh, nội dung chủ yếu là nghiên cứu thế giới quan của triết học Trung Quốcbao gồm vũ trụ quan, xã hội quan và nhân sinh quan thông qua xem xét một

số học thuyết tiêu biểu làm nên đặc trưng của thế giới quan triết học TrungQuốc Trên cơ sở đó đưa ra sự so sánh và nêu rõ sự khác nhau về đặc trưng

Trang 6

của thế giới quan triết học Trung Quốc cổ đại với thế giới quan của các nềntriết học cổ đại khác Công trình đã có vai trò khái quát chung nhất về về thếgiới quan triết học Trung Quốc.

- Loại công trình thứ hai nghiên cứu về một số luận điểm có tính chất

làm cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành: Lịch sử tư tưởng

Việt Nam; tập 1 (Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993),

trong cuốn sách có phần trình bày, phân tích khái quát thân thế, sự nghiệp củaNguyễn Trãi, đồng thời đi nghiên cứu một số tư tưởng triết học được thể hiện qua

thơ văn của Nguyễn Trãi Cuốn Đại cương triết học Việt

Nam (Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Chính trị quốc gia, 2010) nghiên cứu về tư

tưởng của các nhà triết học Việt Nam, trong đó có Nguyễn Trãi, nhằm gópphần tìm về cội nguồn của dân tộc, tìm ra cái logich ngầm trong sự phát triểncủa dân tộc

- Loại công trình thứ ba là những nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệpcủa Nguyễn Trãi

+ Nhóm thứ nhất là tổng tập, tuyển tập thơ văn của Nguyễn Trãi được

sưu tầm, phiên âm và chú giải: Quốc âm thi tập (Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điền phiên âm và chú giải, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, 1956); Nguyễn Trãi toàn

tập (Nxb Khoa hoc xã hội, Hà Nội, 1976) ; Nguyễn Trãi toàn tập,

Tân biên tập1; 2, (Nxb Văn hóa, 2000) Trong luận văn của mình, chúng tôi

sử dụng bản Nguyễn Trãi toàn tập (Nxb Khoa hoc xã hội, Hà Nội, 1976) để

nghiên cứu thế giới quan của Nguyễn Trãi

+ Nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp

của Nguyễn Trãi: Mấy vấn đề về sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi: nhân kỉ niệm

520 năm ngày Nguyễn Trãi mất (của nhiều nhà nghiên cứu, Nxb Khoa học, Hà

Nội, 1963) Đây là những bài viết, những nhận định sâu sắc về Nguyễn Trãi nhân

kỷ niệm 520 năm ngày mất của ông – người anh hùng dân

Trang 7

tộc, nhà quân sự lỗi lạc thông qua thơ văn của ông; Văn chương Nguyễn Trãi

(Bùi Văn Nguyên, Nxb Đại học và trung cấp chuyên nghiệp, Hà Nội, 1984);

Kỉ niệm sáu trăm năm sinh Nguyễn Trãi (của Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên

Giáp , Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1982) Đây là tập kỷ yếu của hội thảokhoa học nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, gồm các bàiviết, tham luận của các giáo sư, tiến sĩ, nhà khoa học đọc tại hội thảo, trong

đó có rất nhiều đánh giá xác đáng về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của

Nguyễn Trãi; Sáu trăm năm sinh Nguyễn Trãi (của nhiều tác giả, Nxb thành phố mới hội nhà văn Việt Nam, Hà Nội, 1980); Tư tưởng Nguyễn Trãi trong

tiến trình lịch sử Việt Nam (Võ Xuân Đàn, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội,

1996) Công trình này đưa đến một cái nhìn khái quát về tiến trình lịch sử

Việt Nam và vị trí, vai trò của Nguyễn Trãi; Nguyễn Trãi cuộc đời và sự

nghiệp (Trần Huy Liệu, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2000) Cuốn sách tái

hiện lại bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, gia đình,thân thế, sự nghiệp và các hoạt động của Nguyễn Trãi; nguồn gốc và nội dung

tư tưởng của Nguyễn Trãi, sự chỉ đạo chiến thuật trong thời kỳ kháng chiến

chống quân Minh và ý tưởng xây dựng đất nước của ông; Nguyễn Trãi và

Nho giáo, Nguyễn Trãi và văn hóa Việt Nam trung cận đại (Trần Đình Hượu,

Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2000) Các công trình nghiên cứu này chủ

yếu tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp về thế giới quan của Nguyễn Trãi, chủnghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc, đạo đức trong tư tưởng của Nguyễn Trãi

Cuốn “Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước” (Nguyễn Lương Bích, NXB Quân đội nhân dân, 1973) Tác phẩm trình bày toàn bộ sự nghiệp đánh giặc, cứu

nước và những hoạt động của Nguyễn Trãi trong suốt 15 năm từ khi chiếnthắng giặc Minh đến lúc ông mất Nội dung trong tác phẩm thể hiện ở nhữngđiểm sau Thứ nhất, Nguyễn Trãi là một người yêu nước, thương dân Ông tậntrung với nước, tận hiếu với dân Đây là tư tưởng về đạo làm người lớn, hiếmthấy trong thời đại trước Thứ hai, Nguyễn Trãi không chỉ là nhà tư tưởng

Trang 8

quân sự mà ông còn là một nhà chính trị lỗi lạc.Tư tưởng chính trị của ôngảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng chính trị thời kỳ ông sống và cho đến tậnngày nay Thứ ba là, Nguyễn Trãi là một nhà yêu nước tha thiết, đồng thời làmột nhà dân chủ chính trị kiên cường Ở ông, tư tưởng đi kèm với hành động.

- Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tạp chí: Nhân cách nhà Nho

trong con người Nguyễn Trãi, của Nguyễn Văn Bình, Tạp chí Triết học số 4

(104), T8 – 1998; Về tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi, của Doãn Chính, Tạp chí Triết học số 9 (220), 2009, Nguyễn Bá Cường (2013), Con người

trong tư tưởng Nguyễn Trãi, Tạp chí Triết học, số 7 (266), tr 61 – 67, Nguyễn

Bá Cường (2013), Quan niệm về tự nhiên trong tư tưởng của Nguyễn Trãi,

Tạp chí Khoa học xã hội tp Hồ Chí Minh, số 9 (181), tr 6-12

Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệpvăn thơ và tư tưởng của Nguyễn Trãi, rất ít công trình nghiên cứu chuyên về

tư tưởng thế giới quan của Nguyễn Trãi Vì vậy, trên cơ sơ kế thừa và pháttriển những thành quả của các nhà nghiên cứu trước đó, nhưng do điều kiệnhạn chế, nên chúng tôi chỉ nghiên cứu thế giới quan của Nguyễn Trãi qua tác

phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và “Quốc âm thi tập”.

3 Mục đích và nhiệm vụ

* Mục đích: Phân tích, làm rõ nội dung thế giới quan trong tư tưởng

Nguyễn Trãi thông qua hai tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và “Quốc âm thi

tập”, từ đó đưa ra đánh giá về thế giới quan của Nguyễn Trãi.

Trang 9

- Đưa ra một số giá trị về thế giới quan của Nguyễn Trãi

4 Cơ sở lí luận và phạm vi nghiên cứu

* Cơ sở lí luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận Mácxít để nghiên cứu những quan điểm, quan niệm trong thế giới quan của Nguyễn Trãi

* Phạm vi nghiên cứu: trong luận văn của mình, chúng tôi nghiên cứu

thế giới quan của Nguyễn Trãi thông quan hai tác phẩm “Quân trung từ mệnh

tập” và “Quốc âm thi tập”.

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu của khoa học xãhội, phương pháp Logic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp… đểhoàn thành nhiệm vụ mà luận văn đặt ra

6 Ý nghĩa của luận văn

* Về mặt lí luận: Luận văn chỉ ra và phân tích nội dung các quan niệm

về thế giới quan của Nguyễn Trãi, góp phần nghiên cứu cơ bản lịch sử tư tưởngtriết học Việt Nam giai đoạn thế kỷ XV

* Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể làm tham khảo cho những nghiêncứu tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi nói riêng, và nghiên cứu về tư tưởng triếthọc Việt Nam nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm hai chương, sáu tiết

Trang 10

NỘI DUNG

Chương 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CƠ BẢN HÌNH THÀNH THẾ GIỚI

QUAN CỦA NGUYỄN TRÃI 1.1 Hoàn cảnh kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội Đại Việt cuối thế kỳ XIV đầu thế kỷ XV

Trải qua các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, triều đình phong kiếntuy có lúc hưng lúc suy, song nhìn chung nó có những bước phát triển mạnh

mẽ, nhà nước phong kiến ngày càng được củng cố và trưởng thành về mọimặt, đặc biệt giai đoạn nhà Trần được đánh giá là một trong số thời kỳ hưngthịnh của triều đại phong kiến

Tuy nhiên đến cuối thế kỷ XIV, địa vị thống trị của nhà Trần có dấuhiệu lung lay, xã hội bước vào giai đoạn khủng hoảng trên tất cả các lĩnh vực

Về kinh tế, sau một thời gian phát triển, chế độ điền trang thái ấp vàchế độ nông nô, nô tỳ trở nên lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của sản xuất.Mặt khác, sự phát triển của địa chủ làm lung lay chế độ điền trang thái ấp

Bên cạnh đó, từ giữa thế kỷ XIV, nước ta liên tiếp gặp thiên tai mấtmùa, nạn đói thường xuyên xảy ra, đời sống nhân dân ngày càng cực khổ.Theo tài liệu sử học ghi chép: nạn đói thường xuyên diễn ra, đặc biệt vàonhững năm 1358; 1362; 1370; 1375, “chết đói nhiều nơi, triều đình phải kêugọi nhà giàu, các phủ nộp thóc để chuẩn cứu dân nghèo” Ngô Thì Sĩ phải thốtlên rằng “Mười năm năm đã sáu lần nhật thực, ba lần thủy tai, ba lần hạn hán,một lần sâu cắn lúa, lại luôn năm mất mùa đói kém Đến đây từ mùa xuân đếnmùa thu nào là núi lở, nào là động đất, không tháng nào không có tai biến”.[15; 284]

Về chính trị - xã hội, tầng lớp quý tộc nhà Trần từ vua cho đến vươnghầu, quan lại sa vào ăn chơi sa đọa, chỉ lo bóc lột, vơ vét của nhân dân đểsống xa hoa, phóng túng Trong khi đó, nông dân bị bóc lột tô thuế, lao dịch

Trang 11

nặng nề, ruộng đất bị địa chủ cướp Điều này làm cho mâu thuẫn trong xã hộitrở nên gay gắt Các cuộc khởi nghĩa xảy ra ở nhiều nơi, tuy thất bại, song đãgiáng những đòn đả kích quyết liệt vào nền thống trị của nhà Trần, vào chế độđiền trang thái ấp và chế độ nông nô, nô tỳ.

Trên lĩnh vực văn hóa – tư tưởng xuất hiện nhiều biến động Phật giáosau một thời gian hưng thịnh đã bắt đầu suy thoái cùng với đó là sự ủng hộnhà chùa thái quá của triều đình Những công thần như Trương Hán Siêu, LêQuát … bắt đầu công kích thế lực Phật giáo, tố cáo việc dựng chùa quá nhiều,lãng phí nhân lực, vật lực, các ông muốn “dùng đạo Thánh để giáo hóa dânchúng” nhưng không được Trần Minh Tông chấp thuận Đến thời kỳ của Trần

Dụ Tông đã xây dựng xã hội theo mô hình của Nho giáo nhưng mang tínhchất kỳ thị, thay thế thái độ mềm dẻo bằng một thái độ cứng ngắc, thay thếtinh thần khoan dung bằng một tinh thần nghiêm khắc, thay thế tinh thần hòađồng tự do bằng một tinh thần độc tôn

Như vậy, tính đến cuối thế kỷ XIV, tình hình kinh tế - xã hội nhà Trần

đã khủng hoảng nay lại càng khủng hoảng hơn Tình thế này đặt ra một yêucầu cấp thiết cần phải thủ tiêu chế độ điền trang thái ấp và quan hệ nông nô,

nô tỳ, thay đổi về đường lối trị nước để mở đường cho chế độ phong kiến tiếnlên một giai đoạn mới, cao hơn

Trong hoàn cảnh đó, năm 1400, Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, dựngtriều Hồ, tiến hành cải cách về mọi mặt

Hồ Quý Ly thi hành chính sách hạn điền hạn nô và thanh lọc sư tăng,bắt nhà sư chưa đến năm mươi tuổi phải hoàn tục Về ruộng đất, Hồ Quý Ly

ra quy định “Đại vương, trưởng công chúa không có hạn đình, dưới đến thứdân không được có quá mười mẫu Người nào nhiều ruộng được phép lấyruộng chuộc tội, số ruộng thừa ra thì sung công” [15]

Trang 12

Với chính sách này Hồ Quý Ly đã thu hẹp thế lực của quý tộc tônthất, phân tán quyền chiếm hữu ruộng đất của một số đại địa chủ, giải phóngcho nông nô và nô tỳ trở thành những người dân được sử dụng đất công, tạo

đà cho sản xuất

Ngoài ra Hồ Quý Ly còn tiến hành cải cách thuế, kiểm kê tài sản, cảicách tiền tệ, phát hành tiền giấy Những cải cách này đã tác động mạnh vào sởhữu của quý tộc, địa chủ, làm suy yếu tầng lớp thương nhân

Về văn hóa , tư tưởng, Hồ Quý Ly vừa muốn thanh lọc Phật giáo, vừamuốn phê phán, xét lại Nho giáo, nhưng ông cũng chưa xây dựng được ý thức

hệ mới, làm cốt lõi cho nền văn hóa Việt Nam Ông cho mở khoa thi đầu tiên,Nguyễn Trãi ra thi và đỗ Thái học sinh (Tiến sỹ) Sau khi thi đỗ, Nguyễn Trãiđược Hồ Quý Ly trao chức Ngự sử đài chánh chưởng

Những cải cách của Hồ Quý Ly mang tính nửa vời, thiếu triệt để,không giải quyết được đời sống cực khổ của nhân dân, đặc biệt là bộ phậnnông dân, nông nô, không cố kết được nhân tâm, không lấy được lòng dân.Nguyễn Trãi đã tổng kết: “Họ Hồ dùng gian trí để cướp lấy nước, lấy gian trí

để hiếp lòng dân Lệnh sao ban bố mà mọi người oán nỗi thương sinh, việc didân thi hành mọi người kêu bề thất sở Gia dĩ thuế mà phiền, giao dịch nặng,pháp luật ngặt, hình phạt nghiêm, chỉ vụ ích kỷ, phì gia, chẳng nghĩ khổ dân,lại nước, yêu gần vị tình riêng Họ hàng thì người thấp cũng tôn quý, tiểunhân mà nịnh cũng tin dùng Nhân mừng mà khen thưởng, nhân giận mà phạtgiết Người trung phải khóa miệng, kẻ lương thiện thì ngậm oan” [15; 237]

Sự thất bại của hai triều đại Trần – Hồ cho thấy vai trò to lớn của nhândân trong việc dựng và giữ nước Bên cạnh đó là vai trò của nhà cầm quyền,của quan lại trong việc hoạch định đường lối trị nước, nhằm đem lại cuộcsống bình yên cho nhân dân và sự vững chắc của triều đại Điều này đã được

Trang 13

Nguyễn Trãi nhận thấy và hoạch định trong “Bình ngô sách” dâng cho Lê Lợi

sau này

Trước tình hình đất nước ngày càng rối ren do nhà nước và các tầnglớp trong xã hội không có lợi ích thống nhất, năm 1406, quân Minh mangquân sang xâm lược nước ta Từ năm 1407 đến năm 1427, nhà Minh chínhthức đặt ách thống trị lên nước ta Về chính trị - xã hội, chúng đổi tên nước tathành quận Giao Chỉ, tổ chức chính quyền gồm ba ty, lệ thuộc trực tiếp vàotriều đình nhà Minh Bên cạnh đó, chúng ra sức đào tạo đội ngũ tay sai ngườibản xứ gọi là thổ quan, nhằm phục vụ đắc lực cho việc áp bức, bóc lột nhândân ta

Về kinh tế, chúng đặt ra vô số thứ thuế nặng nề đánh vào mọi hạngngười và mọi nghề nghiệp Chúng nắm độc quyền mua bán một số ngànhnghề quan trọng như nghề làm muối Ngoài ra, chúng còn bắt nhân dân ta điphu, đi lao dịch nhằm khai thác nguồn tài nguyên của đất nước

Về văn hóa, chúng thủ tiêu nền văn hóa lâu đời của dân tộc ta, đồngthời tiến hành đồng hóa về mặt phong tục, tập quán Chúng bắt nhân dân tathay đổi cách ăn mặc, phong tục tập quán theo phong tục và lễ giáo của nhàMinh Đối với Phật giáo, Đạo giáo chúng đốt kinh, sách, tuyên truyền mê tín

dị đoan trong nhân dân

Về giáo dục, nhà Minh ra sức hạn chế việc học, việc thi, biến nhàtrường thành nơi đào tạo tay sai, phục vụ cho chính quyền đô hộ

Dưới ách đô hộ của nhà Minh, xã hội Đại Việt bị kìm hãm sự pháttriển, đời sống nhân dân lâm vào tình trạng lầm than, cơ cực Điều nà y làmcho nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, như cuộc khởi nghĩa của Phạm Trân - mộtthổ hào ở Đông Triều (Hải Dương) đã lãnh đạo nhân dân nổi lên lập Trần

Nguyệt Hồ làm vua, và tổ chức quân khởi nghĩa gọi là “Trung nghĩa Quân”.

Khởi nghĩa của Trần Giản Định (1407 – 1409) - một tôn thất nhà Trần, nổi

Trang 14

lên khởi nghĩa ở Yên Mô (Ninh Bình), sau lui về Nghệ An, được hào kiệtkhắp nơi theo về hưởng ứng rất đông, trong đó có cả những cựu thần nhà Trầnnhư Đặng Tất, Trần Triệu Cơ đã làm quan cho nhà Minh cũng quay lại thamgia nghĩa quân Tuy các cuộc khởi nghĩa đều thất bại song nó đã khơi gợi tinhthần yêu nước trong nhân dân, đồng thời cho thấy sự khủng hoảng trong việctìm ra người có đủ đức, đủ tài đánh giặc cứu nước.

Năm 1396, khởi nghĩa Lam Sơn (Thanh Hóa) nổ ra, đã được toàn thểnhân dân hưởng ứng Khởi nghĩa đã tập hợp được những hào kiệt trong nướctham gia Trải qua hơn ba mươi năm chiến đấu gian khổ, năm 1427, khởinghĩa giành thắng lợi Năm 1428, Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng đế, lập ranhà nước chuyên chế trung ương tập quyền, lấy tên nước là Đại Việt Đây làmột bước ngoặt lịch sử, một sự chuyển đổi mô hình từ nền quân chủ quý tộcthời Lý – Trần, mang đậm tính Phật giáo, sang nền quân chủ tập quyền thời

Lê sơ Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa là chiến thắng của sự gắn bó sâu sắc vàkết hợp hài hòa trong thể thống nhất của tướng lĩnh với quân dân, của tập thểanh hùng và toàn thể dân tộc, mà đứng đầu là Lê Lợi, và người tham mưu kiệtxuất Nguyễn Trãi Sau khi giành thắng lợi, Nguyễn Trãi tiếp tục cống hiếnsức mình giúp Lê Lợi xây dựng và quản lý đất nước

Về mặt hành chính: Lê Thái Tổ chia đất nước thành năm đạo, sau đó

Lê Thái Tông cải tổ lại, chia thành 13 đạo (sau đổi thành 13 thừa tuyên), đứngđầu là các tuyên phủ sứ Số lượng được bổ sung thông qua các kỳ thi Nhưvậy, chế độ phong kiến phân quyền quý tộc bị thủ tiêu, thay vào đó là chế độphong kiến trung ương tập quyền Vua là biểu hiện tối cao của quyền lực, làngười toàn quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Trong việc trị nước thì dựatrên học thuyết của Nho giáo, bài xích Phật giáo và Đạo giáo, bên cạnh mặt lễgiáo, các vua thời Lê Sơ còn rất chú trọng đến việc chế định pháp luật Thời

kỳ này, nhà vua Lê Thánh Tông đã ban hành bộ luật Hồng Đức

Trang 15

Song song với việc kiện toàn nhà nước về mặt hành chính, nhà nước

Lê sơ còn tiến hành cải cách về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội Về kinh tế: Nhà

Lê kế thừa những cải cách của Hồ Quý Ly, hạn chế tối đa sự tồn tại và hìnhthành của những điền trang, bằng cách ban hành chế độ lộc điền trong triềuđình và chế độ quân điền ở làng xã Điều này đã góp phần tích cực làm ổnđịnh kinh tế tiểu nông, hạn chế việc phân hóa ruộng đất Về thủ công nghiệp,chủ yếu mở rộng quân xưởng chuyên sản xuất tiền tệ, vũ khí, đồ trang sức,xác lập một nền sản xuất bao cấp Về thương nghiệp, thi hành chính sách ứcthương

Về văn hóa thì xa rời vốn liếng dân gian Từ sách giáo khoa, việc học,việc thi, việc “bảng vàng bia đá đề danh”, cho đến âm nhạc, mỹ thuật đềunhất nhất mô phỏng theo thể chế nhà Minh

Chính sách cai trị như vậy gây ra sự tranh giành địa vị, nạn tham ôdiễn ra ở nhiều nơi Nhân dân lao động chưa vui mừng được bao nhiêu thì lạiphải hứng chịu sự vơ vét của quan lại và triều đình, trong hoàn cảnh này xuấthiện một nhà tư tưởng lớn – Nguyễn Trãi Tư tưởng của ông vượt qua ranhgiới của giai cấp, vượt lên trên tư tưởng của đại đa số các nhà Nho lúc bấygiờ, để hướng tới con người, tới những người lao động cực khổ Ông dành hếtcuộc đời mình đấu tranh chống bọn giặc cướp nước, chống bọn quan lại tham

ô, kêu gọi trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với nhân dân, trách nhiệm xâydựng một xã hội tốt đẹp như xã hội Nghiêu, Thuấn

1.2 Tiền đề tư tưởng hình thành thế giới quan của Nguyễn Trãi

1.2.1 Khái luận chung về thế giới quan

Theo Từ điển Triết học Nga (chủ biên: Rodentan), Nxb Sự thật 1976thì “Theo nghĩa tổng quát nhất, thế giới quan là toàn bộ những quan điểm vềthế giới, về các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, các quan điểm triết học,

xã hội, chính trị, mỹ học, khoa học” [42; 960]

Trang 16

Giáo trình Triết học Mác – Lênin: “Thế giới quan là toàn bộ nhữngquan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và

vị trí của con người trong thế giới đó” [2; 12]

Cuốn Triết học, hỏi và đáp của Trường Đại học Quốc gia Lômônôxốp(Trần Nguyên Việt dịch), Nxb Đà Nẵng 2004, không đưa ra một khái niệm cụthể về thế giới quan Nhưng trong chương “Con người trong vũ trụ: bức tranhcủa triết học, của tôn giáo và khoa học thế giới” đã cho rằng “Cơ cấu của sựhiểu biết thế giới có thể được hiểu là sự thống nhất bốn yếu tố: nguyên tắcxuất phát của hệ thống hóa tri thức về thế giới, và về con người, phương thứchay phương pháp nhận thức chỉnh thể, cơ sở triết học và định hướng thế giớiquan, đạo đức” [43; 171]

Công trình Luận án tiến sĩ “Thế giới quan trong triết học Trung Quốc

cổ đại”(2002) của Nguyễn Văn Vịnh đưa ra định nghĩa về thế giới quan như

sau: “Thế giới quan triết học là hệ thống lý luận về tồn tại và vận động của thếgiới khách quan, mang tính định hướng cho con người trong hoạt động thựctiễn” [55; 20]

Trong cuốn “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” do Nguyễn Tài Thư chủbiên cũng phân tích khá rõ về thế giới quan triết học Việt Nam, chỉ rõ sự khácbiệt của thế giới quan triết học Việt Nam so với thế giới quan của triết họcphương Tây Theo đó, “thế giới quan triết học Việt Nam thuộc loại thế giớiquan phức hợp, nó khác với thế giới quan phương Tây bởi nó là một thể kếthợp Nho, Phật, Đạo” “Thế giới quan triết học Việt Nam khác với các thế giớiquan khác Nó nặng về các vấn đề xã hội và nhân sinh mà nhẹ về các vấn đề

tự nhiên và các hình thức của tư duy con người, nó chú trọng xây dựng lý lẽcho chính trị - xã hội và luân lý hơn là xét mối quan hệ giữa các chủ thể vàkhách thể, giữa các thành phần của tư tưởng để hình thành nhận thức luận vàlogich học, nó thiên về giáo dục đạo làm người hơn là cung cấp cho con ngườinhững nhận thức mới mẻ về thế giới giới khách quan bên ngoài cũng

Trang 17

như thế giới nội tâm, nó thường xuất phát từ những định đề có sẵn hơn là từ

sự phát triển của thực tế khách quan để khái quát lên thành các nguyên lýkhác trước làm cơ sở cho luận chứng,…” [35; 22-23]

Trên cơ sở đưa ra các định nghĩa về thế giới quan trong dòng lịch sử

tư tưởng nhân loại, chúng tôi lấy định nghĩa “thế giới quan là toàn bộ những

quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và

vị trí của con người trong thế giới đó” làm cơ sở để từ đó tìm hiểu rõ hơn về

thế giới quan trong tư tưởng của Nguyễn Trãi được thể hiện qua hai tác phẩm

“Quân trung từ mệnh tập” và “Quốc âm thi tâp”

1.2.2 Ảnh hưởng của truyền thống dân tộc đến thế giới quan của Nguyễn Trãi

Chủ nghĩa yêu nước, ý thức về một dân tộc độc lập, có chủ quyền

được hình thành trong mỗi con người Việt Nam, trở thành tư tưởng chủ đạotrong dòng chảy tư tưởng triết học Việt Nam Tinh thần đó được thể hiện quacác câu chuyện thần thoại về Thánh Gióng đánh giặc Ân, truyền thuyết MỵChâu – Trọng Thủy; hay các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu,của Lý Bí, Ngô Quyền… Chủ nghĩa yêu nước còn được thể hiện trong khí tiếtkhẳng khái của các anh hùng thời kỳ Lý – Trần Tất cả chứng minh tinh thầnyêu nước, ý thức đoàn kết, đồng thời mang lại cho thế hệ con cháu những bàihọc to lớn về nghệ thuật giành và giữ nước của cha ông

Trong thời kỳ đó, cha ông ta đã hình thành quan niệm sơ khai về thếgiới quan, tiêu biểu trong số đó là quan niệm của Lý Thường Kiệt, thể hiệnqua bài thơ

“Sông núi nước Nam, vua Nam ở

Rõ ràng phân định ở sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Trang 18

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”[15; 289]

Với trình độ nhận thức đương thời, Lý Thường Kiệt quy mọi sự vềmệnh trời Ông cho rằng cơ sở để xác lập chủ quyền, ranh giới đó chính là ýtrời, mệnh trời Lý Thường Kiệt đã khéo vận dụng tư tưởng mệnh trời để củng

cố niềm tin cho quân dân Đến Nguyễn Trãi, ông đã kế thừa quan niệm nàycủa cha ông, song đề cao hơn vai trò của con người trong cuộc đấu tranhgiành và giữ nước của dân tộc

Tinh thần khoan dung, đạo lý nhân nghĩa, đặc biệt là tư tưởng lòng dân và ý dân được coi là cơ sở của mọi quốc sách của mọi đất nước Trong Chiếu dời đô năm 1010, Lý Công Uẩn khẳng định việc dời đô là “trên vâng

mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy thuận tiện thì thay đổi, cho nên vận nước lâu

dài, phong tục phồn thịnh” [56; 50] Chiếu rời đô đánh dấu sự trưởng thành

trong tư duy chính trị Việt Nam, phản ánh ý chí, chủ quyền dân tộc

Lý Thường Kiệt cũng khẳng định “Trời sinh ra dân chúng, vua hiền ắthòa mục Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân” [44; 16]

Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn khẳng định nhân dân là cơ sở đểtiến hành những cuộc chiến tranh giữ nước “….khoan thư sức dân để làm kếsâu gốc bền rễ, đó là thượng sách để giữ nước” [14] Như vậy, trong lịch sử tưtưởng dân tộc, yêu nước đồng nghĩa với việc lấy ý dân làm gốc Và đến với tưtưởng Nguyễn Trãi chủ nghĩa yêu nước, tinh thần khoan dung, vì dân, ý dânđược ông tiếp thu và phát triển đến đỉnh cao

1.2.3 Ảnh hưởng của Nho giáo đến thế giới quan của Nguyễn Trãi

Nho giáo là học thuyết do Khổng Tử sáng lập thế kỷ thứ 5 TCN Sựphát triển của Nho giáo trải qua các thời kỳ từ Nho giáo nguyên thủy (với cáctên tuổi tiêu biểu là Khổng Tử, Mạnh Tử), đến thời kỳ Hán Nho (Đổng TrọngThư, Vương Sung), và đến thời Tống Nho (với tên tuổi của Chu Đôn Di,

Trang 19

Trương Tải, Trình Hạo,Trình Di) … dần dần đã biến đổi làm cho Nho giáotrở lên phong phú, đa dạng so với hệ thống khác đương thời.

Vấn đề trọng tâm mà các nhà Nho ở các thời kỳ khác nhau quan tâm

đó chính là vấn đề về nguồn gốc, bản chất của thế giới, vạn vật và con người,

về sự vận động, biến hóa của vạn vật Từ đó các nhà Nho đưa ra vai trò củacon người trong thế giới ấy, được biểu hiện qua các thuật ngữ mà các nhà Nho

sử dụng là trời, đất, càn khôn, mệnh trời, đạo

Quan niệm của Nho giáo về nguồn gốc của thế giới, vạn vật Trải qua

các thời kỳ khác nhau thì quan niệm của các nhà Nho chia làm hai quan điểm:quan điểm duy tâm và quan điểm duy vật

Theo quan điểm duy tâm khẳng định nguồn gốc của thế giới, vạn vật

và con người “Vạn vật hồ thiên, nhân bản hồ tổ” nghĩa là thế giới, vạn vật cónguồn gốc từ trời, gốc của con người là tổ tiên, mà tổ tiên của con người đều

có nguồn gốc từ trời Như vậy gốc của thế giới, vạn vật và con người đều từtrời

Trên cơ sở đó, Khổng Tử trong tư tưởng của mình còn khẳng địnhquyền năng của trời đất Ông cho rằng trời là lực lượng hóa sinh ra muôn vật,trời là thực thể có ý chí, có nhân cách và quyền năng vô hạn, tối cao Số củacon người là do trời quyết định “Sống chết có mệnh, giàu sang tại trời” [11].Ông còn khẳng định tiêu chuẩn cơ bản để trở thành người quân tử là phải biết

“tri thiên mệnh, úy thiên mệnh”[11] Bên cạnh đó, trời trong quan niệm củaKhổng Tử còn được hiểu như là quy luật của tự nhiên “Trời có nói gì đâu màbốn mùa xuân, hạ, thu, đông xoay vần, vạn vật cứ sinh hóa mãi”[11]

Đến thời kỳ của Đổng Trọng Thư, quan niệm về trời tuy vẫn chịu ảnhhưởng của các nhà Nho đi trước, nhưng đã mang tính chất duy tâm thần bí vàyếu tố cực đoan Ông khẳng định “Trời là tổ của vạn vật, vạn vật không cótrời thì không sinh Trời làm ra cái tính mệnh của con người, khiến người làm

Trang 20

điều nhân nghĩa” Ông cho rằng trời đất sinh ra vạn vật để nuôi sống conngười Hình dáng, tinh thần, đạo đức của con người đều do trời tạo ra theohình mẫu của trời “Cái đầu tròn của con người là tượng dung mạo của trời,tóc là tượng các vì sao, tai mắt tượng mặt trời, mặt trăng, mũi miệng là tượnggió, mưa Lòng tốt, lòng xấu của con người là tương hợp với sự nóng lạnh, ẩmráo của trời” Từ đây ông có quan niệm cực đoan khi cho rằng mọi hiện tượngxảy ra trong tự nhiên cũng như trong xã hội là biểu hiện của sự vui buồn,mừng giận và là sự trừng phạt của trời.

Thời kỳ Tống Nho, đại diện tiêu biểu là Trình Hạo, Trình Di và Chu

Hy, với quan niệm về “lý” và “khí” Nhị Trình đều đồng nhất “lý” với “trời”

“trên trời chỉ có một lý”, “cái gọi là trời chính là lý vậy” Hai ông cho rằngtrời – “lý là cái tuyệt đối vĩnh cửu, ta không thể thêm bớt, không thể sờ thấycũng không thể nghe thấy, nhưng nó vẫn tồn tại Lý như là hư không, chẳng

có gì mà lại đủ cả, cái ấy làm sao nói được còn mất, thêm bớt” [39] Từ đâyhai ông khẳng định vũ trụ, giới tự nhiên, con người không chỉ có nguồn gốc từtrời, mà bị chi phối bởi trời

Tiếp tục phát triển tư tưởng của Nhị Trình về “lý” và “khí”, Chu Hycho rằng “lý” là nguồn gốc, là cơ sở tồn tại của mọi sự vật, hiện tượng trong

vũ trụ Cho nên loài người và muôn vật sinh ra phải bẩm thụ cái lý, cái khí ấy,sau đó mới có hình và thể của người và muôn vật “Lý” là cái bản nguyên, cái

có trước của trời đất, vạn vật

Như vậy tư tưởng của đa số các nhà Nho từ thời kỳ của Khổng –Mạnh qua thời kỳ Hán nho, Tống nho đều khẳng định thế giới vạn vật và conngười đều có nguồn gốc từ trời

Đối lập với quan điểm duy tâm, một số nhà Nho theo quan điểm duyvật có những lý giải khác về nguồn gốc của thế giới, van vật và con người

Trang 21

Theo Kinh Dịch, nguồn gốc của thế giới vạn vật và con người được lýgiải như sau: thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinhbát quát, bát quát sinh vạn vật, trong đó thái cực được hiểu là cực lớn, là cáihỗn độn ban đầu, được gọi là khí, lưỡng nghi trong đó một nghi là những khíđục, nặng rơi xuống tạo thành đất (âm), còn nghi kia là những khí nhẹ, trong,

lơ lửng trong không trung hợp thành trời (dương) Sự kết hợp âm dương tạo ravạn vật, con người Trong Kinh dịch còn ghi có trời đất rồi mới có muôn vật,

có muôn vật rồi mới có gái trai, có gái trai mới có vợ chồng, có vợ chồng mới

có cha con, có cha con mới có vua tôi, từ đó mới có trên dưới, và lễ nghĩađược

Tuân Tử cho rằng toàn bộ thế giới gồm ba bộ phận “Trời có bốn mùa,đất có sản vật, người có văn trị” [41], như vậy Tuân Tử cho rằng trời chỉ làmột bộ phận của tự nhiên, bản thân tự nhiên là cơ sở hình thành biến hóa củavạn vật Đồng thời, ông khẳng định con người không thể tùy tiện thay đổi quyluật của tự nhiên mà con người nên nhận thức và tuân thủ theo quy luật của tựnhiên, như vậy con người sẽ có được hạnh phúc “Trời không vì người ta ghétcái lạnh mà bỏ mùa đông, đất không vì người ta ngại xa mà bỏ bề rộng” [41].Điều này đã được Nguyễn Trãi đã tiếp thu trong tư tưởng của mình sau này

Từ đây ông đưa ra quy luật phát triển của thế giới vạn vật: mọi vật trong tựnhiên đều nằm trong quá trình phát triển từ thấp đến cao, con người có nguồngốc từ giới tự nhiên, đồng thời là thực thể cao nhất “nước lửa có khí nhưng vôsinh, cỏ cây có sinh nhưng vô tri, cầm thú có tri những vô lễ nghĩa, con người

có khí, có tri, có sinh và có cả lễ nghĩa” [41]

Như vậy đến với tư tưởng của Tuân Tử thì thế giới quan của Nho giáo

đã được bổ sung và phát triển mang nhiều yếu tố duy vật trong việc giải thíchnguồn gốc của thế giới vạn vật và con người

Trang 22

Quan niệm của các nhà Nho về sự vận động, biến hóa của thế giới vạn vật Đây được coi là nội dung chủ yếu trong thế giới quan Nho giáo Về

quan niệm này, nhìn chung các nhà nho đều khẳng định vũ trụ, vạn vật luônvận động và biến đổi không ngừng Khổng Tử cho rằng quá trình biến đổi củavạn vật như dòng chảy không ngừng, không có điểm khởi đầu hay kết thúc

“Cũng như nước sông chảy đi, mọi vật đều qua đi không có gì ngừng nghỉ”[11]

Khi bàn về nguồn gốc của sự vật động và biến hóa ấy, các nhà nho cócác tư tưởng khác nhau Trong Kinh Dịch thì cho rằng nguồn gốc là do sựthống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập “cương, nhu tương thôi nhi sinhbiến hóa” Có nhà nho như Đổng Trọng Thư thì luôn khẳng định nguồn gốccủa sự vận động và biến hóa ấy là từ trời “thiên bất biến, đạo diệc bất biến”.Tuy có những quan niệm khác nhau nhưng nó thể hiện một bước tiến quantrọng trong thế giới quan Nho giáo thời kỳ bấy giờ

Quan niệm của Nho giáo về vị trí và vai trò của con người trong thế giới Với quan niệm này, chúng ta xem xét ở hai khía cạnh Một là vai trò của

con người đối với trời đất và vạn vật Trong quan niệm của các nhà Nho, conngười là một bộ phận cao nhất của tự nhiên, con người đứng trên vạn vật Vìvậy, vai trò của con người có thể sánh ngang cùng trời đất hóa sinh muôn vật.Tuy nhiên để có được vị trí đó con người cần phải “biết thực hành đúng theođạo trời, mệnh trời, kính trời, phải bẩm thụ được đạo đức nhân, lễ, nghĩa, tín

mà trời ban cho”[4; 26] Như vậy trong quan niệm của Nho giáo, vai trò củacon người chỉ có thể có khi con người phục tùng theo quyền uy tối cao củatrời, phải tuân theo đạo, theo mệnh trời “Lớn thay đạo của thánh nhân! Mênhmông vô bờ bến, phát dục muôn vật, cao vút tận trời, đầy đủ mà dồi dào thay”[11] Mệnh trời trong quan niệm của Nho giáo chính là quyền uy tối cao, thểhiện vai trò của trời với sự sinh thành và phát triển của vạn vật, con người, cho nêncái tính, cái đức của con người, việc con người trở nên thiện nhân và

Trang 23

sang – hèn, sinh – tử … đều do trời quyết định “Người quân tử căn cứ vàođịa vị của mình mà hành động, không được ham cái ở ngoài bổn phận Ở địa

vị giàu sang thì làm theo cách giàu sang, ở địa vị nghèo hèn thì làm theo cáchnghèo hèn, ở thân di dịch thì phải chịu thân di dịch… Quân tử dù ở cảnh nàocũng tự tìm thấy niềm vui của mình” [12]

Tóm lại, quan niệm của Nho giáo về vai trò của con người trong mốiquan hệ với trời về cơ bản mang tính duy tâm Trước trời con người chỉ là lựclượng thụ động, con người chỉ có giới hạn ở việc đem cái đạo, cái mệnh củatrời lưu hành khắp vũ trụ mà thôi Đây là điểm hạn chế trong thế giới quanNho giáo Nguyên nhân cơ bản xuất phát từ quan niệm phân biệt đẳng cấp của

xã hội lúc bấy giờ Và đến với Nguyễn Trãi, ông đã đưa ra những tư tưởngkhắc phục điều này khi thấy được vai trò của con người tác động trở lại trờiđất, vũ trụ Tuy nhiên, tư tưởng thiên – nhân hợp nhất vẫn là tư tưởng chủ đạotrong thế giới quan Nguyễn Trãi

Hai là vai trò của con người trong các mối quan hệ xã hội cơ bản Nhogiáo đưa năm mối quan hệ cơ bản trong xã hội, trong đó mối quan hệ vua –tôi, cha – con, chồng – vợ là ba mối quan hệ rường cột của Nho giáo Từ đây,Nho giáo đưa ra những quy phạm, chuẩn mực đạo đức để ràng buộc tráchnhiệm của con người trong xã hội, mà các nhà Nho gọi đó là đạo làm người,với năm đức chủ yếu: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín

Từ những phân tích trên chúng ta thấy, tuy chịu ảnh hưởng của Nhogiáo song Nho giáo của Nguyễn Trãi là một thứ “Nho học khai phóng”, vớinhiều nội dung vượt lên trên Nho giáo chính thống, không còn mang tính chấtkinh viện nữa mà luôn gắn với thực tiễn xã hội Việt Nam, luôn xuất phát từlòng yêu nước, thương dân không biết mệt mỏi của Nguyễn Trãi Điều đó đãlàm nên những mới mẻ, tiến bộ trong tư tưởng về thế giới quan của ông

Trang 24

1.2.4 Ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo gia đến thế giới quan của Nguyễn Trãi

* Phật giáo và thế giới quan của Nguyễn Trãi

Phật giáo được ra đời vào thế kỷ thứ VI TCN, dựa trên nền tảng xâydựng một học thuyết giúp con người tìm ra nguyên nhân và cách thức diệt củanỗi đau khổ nhân thế

Theo Phật giáo, thế giới này do danh và sắc kết hợp với nhau màthành Hai yếu tố này liên hệ mật thiết với nhau, không có cái này thì cũngkhông có cái kia và ngược lại Vì mọi sự vật, hiện tượng đều do nhân duyênsinh nên thế giới này sinh ra không nhớ một đấng sáng tạo nào, mà do nhânquả nối tiếp nhau thành

Từ đây, Phật giáo đưa ra quan niệm về vô thường, vô ngã, vô tạo giả,trong đó, vô thường tức là mọi vật thường hằng, thường sinh, có diệt, biếnđổi, trôi chảy không ngừng, không có sự vật nào tồn tại vĩnh viễn, có sống tất

có chết Sự biến đổi này theo chu kỳ “thành – trụ - hoại – không” Từ đây,Phật giáo đi đến khái niệm vô ngã, tức là không có cái tôi, cái ta Thế giớiquan Phật giáo phủ định con người là sản phẩm của Barhman, và giải thích vềcác yếu tố hình thành nên con người theo thuyết Danh – Sắc Theo thuyết này,con người được cấu tạo bởi hai yếu tố danh và sắc, hay vật chất và tinh thần,trong đó danh chỉ yếu tố tinh thần, sắc chỉ yếu tố vật chất Thuyết lục đại cũnggiải thích nguồn gốc hình thành con người bởi sáu yếu tố: Địa – Thủy – Hỏa –Phong – Không – Thức, trong đó năm yếu tố đầu thuộc về vật chất, chỉ có yếu

tố thứ sáu thuộc về tinh thần

Thuyết Ngũ uẩn cho rằng con người được cấu tạo bởi năm yếu tố: Sắc – Thụ - Tưởng – Hành –Thức

Phật giáo đưa ra quan niệm về cuộc đời con người, cách thức giải thoátcho con người trong Tứ diệu đế: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế

Trang 25

Như vậy, từ quan niệm về thế giới quan đên nhân sinh quan của Phậtgiáo đều hướng con người đạt tới một trạng thái thanh tịnh, an nhàn, ungdung, tự tại Tuy nhiên khi du nhập vào Việt Nam, thế giới quan Phật giáomang thêm những đặc điểm riêng.

Thứ nhất, thế giới quan Phật giáo mang tính dân gian, có sự giao thoavới tín ngưỡng bản địa

Thứ hai, thế giới quan Phật giáo là sự kết hợp chặt chẽ giữa việc đời vàviệc đạo

Thứ ba, thế giới quan Phật giáo có mối quan hệ chặt chẽ với thế giớiquan Nho – Đạo, tạo nên sự dung thông tam giáo

Vì lẽ đó “Phật giáo Việt Nam xuất phát từ dân gian, ăn sâu vào tâmthức quảng đại quần chúng, trở thành một yếu tố tâm lý dân tộc, và vì vậymang tính dân tộc xuyên suốt lịch sử Đó là một sự thực khách quan” [16; 19]

Và đây cũng là lí do để Nguyễn Trãi - một nhà Nho đã lựa chọn triết lý củaPhật giáo, nhằm đem lại cho ông sự thư thái cũng như một triết lí nhân sinhmới bổ sung cho nhân cách của một nhà Nho Sau hơn ba mươi năm, NguyễnTrãi thấy được sự đời không diễn biến như những gì sách thánh hiền đã xâydựng Những lí tưởng mà ông và các nhà Nho không quản ngại khó khăn xâydựng lại quá xa vời Ông nhận ra rằng mọi công danh chỉ là hão huyền, tỉnhrồi phải có những quyết định dứt khoát cho bước đi tiếp theo của cuộc đời Vìvậy, ông tự nhủ mình hãy lui vào thủ phận, để tìm ra cho mình phương pháp

tu thân mới là Phật giáo, là đạo Lão – Trang chứ không phải là Nho giáo nữa

Từ đây ông đưa ra lẽ sống cho mình là trước hết phải chú ý đến hành thiện,

bởi vì “họa phúc gây mầm không một chốc”, mà cả một quá trình lâu dài Sửa

mình làm điều thiện, dù là việc nhỏ hay việc lớn – đây cũng chính là tinh thầncủa Phật giáo, khuyên con người nên hành thiện để tạo ra

Trang 26

một cái nghiệp tốt Điều đó đã giúp Nguyễn Trãi như thấy mình nhẹ nhõm khi

rời bỏ chốn quan trường, bởi ông không còn phải chịu lụy cái danh “hão

huyền” Tinh thần tự do, tự tại giúp ông hứng thú hơn với cuộc sống đạm bạc,

với mái lều tranh nơi rừng núi Côn Sơn

Tuy Nguyễn Trãi là một nhà Nho song ông lại quan tâm nghiên cứu,tìm hiểu nền Phật học, đặc biệt là Thiền học Lý - Trần và tỏ rõ sự hiểu biếtsâu sắc với triết lý uyên thâm của đạo Thiền Điều đó cho thấy một trí tuệ vàmột cách nhìn hơn người của Nguyễn Trãi so với nhiều nhà Nho lúc bấy giờkhi đã kế thừa những giá trị tư tưởng của Phật giáo với tư cách là di sản văn

hóa dân tộc theo phương châm “gạn đục khơi trong”, khi mà chính quyền và

giới Nho sĩ đang ra sức kỳ thị, đả kích và có ý định phủ định sạch trơn tất cảnhững gì mà nền Phật học nước nhà dày công xây dựng nên Đó là công laocủa Nguyễn Trãi và một số nhà Nho tiến bộ bấy giờ

* Đạo Lão – Trang và thế giới quan của Nguyễn Trãi

Đạo Lão – Trang có nguồn gốc từ Trung Quốc do Lão Tử sáng lập

Nền tảng chung của tư tưởng Lão – Trang là quan niệm về “đạo” và “đức”.

Quan niệm chính của Lão Tử là quay trở về với thiên nhiên, sống tự do,không màng đến quyền lợi, danh vọng, kẻ cầm quyền phải lấy đức tự nhiên đểcảm hóa dân chúng, dùng hạnh phúc,vô sự để thu phục dân chúng

Đạo Lão – Trang được truyền bá vào Việt Nam từ thời kỳ Bắc thuộc.Những tư tưởng của nó ít nhiều phù hợp với nhà nước phong kiến tập quyền,với tâm lí, tín ngưỡng, và đáp ứng được nhu cầu tâm lí của con người Chính

tư tưởng của Đạo gia về cuộc đời, về công danh, về thái độ đối với cuộc sốnglàm người, đã làm cho Nguyễn Trãi nói riêng và các nhà Nho nói chung tìmthấy thú vui, nhất là tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn, nhất là khi những tưtưởng nhân nghĩa, đạo trung hiếu, tấm lòng vì dân, vì nước, chủ nghĩa nhân

Trang 27

đạo của ông gặp phải sự đối kháng với tư tưởng tập quyền chuyên chế ích kỷgiai cấp của tầng lớp quý tộc Lê.

Như vậy, tìm đến tư tưởng của đạo Lão – Trang là Nguyễn Trãi tìmđến một phương tiện tự an ủi, tự giải tỏa khỏi những trớ trêu, bế tắc trongcuộc đời cũng như là một phương thức giúp ông vượt qua nỗi thất vọng khihoài bão giúp đời của ông không có cách nào thực hiện được

Giống như Phật giáo, ảnh hưởng của đạo Lão – Trang chỉ giữ vai tròthứ yếu tuy có tính hệ thống Trước hoàn cảnh xã hội, Nguyễn Trãi cảm thấybất lực, ông tự nhận mình là kẻ kém đức, kém tài, không dám ra làm quan, chỉ

ở nhà sống ẩn dật

Nguyễn Trãi muốn trở thành một cư sĩ, một đạo sĩ sống với tự nhiên;

từ đó phóng tầm mắt ra nhìn những đám mây trắng bay từ trong núi ra mộtcách vô tâm Đây là bước ngoặt quan trọng của bậc đại phu ưu thời mẫn thế,

đó là sự thức tỉnh bởi nhận ra danh lợi chỉ là “gió thổi hoa”, Nguyễn Trãi đã

chuyển cuộc đời mình gắn bó với tự nhiên, tự tại, cảm thấy nhẹ nhõm và tự

nhận thấy mình là “người cày trong thanh nhàn” và câu “trong hiu quạnh”

Ông nhận ra rằng cuộc đời chỉ như là một giấc mộng, không thực, danh phậnchỉ là hão huyền, vô nghĩa

Từ quan niệm đời là hư vô, giá trị cuộc sống là tương đối, ông đi đếnthái độ bất tranh, mà bất tranh là nguyên tắc quan trọng nhất trong triết lí sốngcủa đạo Lão – Trang, việc thực hiện nguyên tắc này sẽ đạt tới cuộc đời tự do,dứt mọi ưu phiền của cuộc sống và có thái độ sống ưu việt nhất Đây là điều

mà Nguyễn Trãi và các nhà nho đương thời tìm được khi dung thông với quanniệm của Đạo gia

Từ quan niệm sống bất tranh, Nguyễn Trãi chọn lối sống tu tiên, tiêudao, hoà mình với tự nhiên giống như quan điểm của Đạo gia Ông nâng niu

Trang 28

từng cành cây, ngọn cỏ, quý sự hài hòa của thiên nhiên mà không nỡ chặt câylàm mất chỗ của chim muông.

Tư tưởng yếm thế của Đạo gia được Nguyễn Trãi thể hiện một cáchkhá đầy đủ và hệ thống Tuy nhiên, nó chỉ ảnh hưởng trong một phạm vi nhấtđịnh trong cuộc đời của Nguyễn Trãi khi ông gặp những bước hoạn nạn, truânchuyên Bởi mặc dù xác định lối sống vô vi, nhàn tản, lãng quên nhưng toàn

bộ trí tuệ, tâm khảm của Nguyễn Trãi vẫn hướng tới cuộc đời, mong ước được

sử dụng, được cống hiến cho đời theo đúng nghĩa của một nhà Nho chânchính

Đây chính là cơ sở cho sự dung thông Nho – Phật – Đạo của NguyễnTrãi, dung thông để giải quyết vấn đề tạm thời nhưng không quên đi bản chấtcủa mình là một nhà Nho, và lí tưởng của mình là giúp đời, giúp nước Tưtưởng vô vi, hoà mình với tự nhiên chỉ là cái nền để khẳng định thêm tấmlòng trung với nước, yêu thương dân chúng của Nguyễn Trãi mà thôi

1.2.5 Ảnh hưởng của truyền thống gia đình và tài năng của Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi là một con người đầy tài năng, với một truyền thống giađình đáng tự hào - một môi trường thuận lợi cho lòng yêu nước, tinh thầnthương dân phát triển trong tư tưởng của ông Dòng họ nội của Nguyễn Trãingay từ xưa đã có nhiều người làm quan cho triều đình với những chức vụquan trọng Tiến sĩ Nguyễn Quốc đời Lý Anh Tông, từng làm Thượng thư bộHình, từng làm Đại tư đồ, đi sứ nhà Tống năm 1158 Cuối cùng vì đấu tranhcho công lí mà bị Đỗ Anh Vũ buộc uống thuốc độc chết Ở chi thứ ba, tức chiNguyễn Phúc có Tiến sĩ Nguyễn Thuyên làm Thượng thư bộ Hình ở thời vuaTrần Nhân Tông Ông còn là người biết áp dụng luật thơ Đường vào thơ quốc

âm, mà về sau người ta gọi là thơ Hàn luật Cách làm thơ quốc âm đó được

Trang 29

nhiều người hưởng ứng như Chu An, Hồ Quý Ly Và Nguyễn Trãi đã nối chíông tổ mình để lại cho chúng ta một tập thơ mấy trăm bài bằng chữ Nôm.

Dòng họ ngoại của Nguyễn Trãi là dòng dõi tôn thất nhà Trần Ôngngoại của Nguyễn Trãi là Trần Nguyên Đán - cháu bốn đời của Trần QuangKhải, một người vốn tính thâm trầm, nhưng lại giàu lòng thương người Tuyngồi ngôi Tể tướng, sống trong dinh nguy nga, nhưng vẫn nghĩ đến đời sốnglầm than của dân Lối sống và tâm hồn của ông ngoại có ảnh hưởng rất lớnđến Nguyễn Trãi

Mẹ của Nguyễn Trãi, bà Trần Thị Thái là một người phụ nữ dòng dõiquý tộc, được giáo dục lề lối, nề nếp, văn hóa Lối sống và cách sử dụng chữNôm của Nguyễn Trãi là được kế thừa từ người mẹ của mình

Cha của Nguyễn Trãi - Nguyễn Phi Khanh, là người có tài Ông là mộtngười giàu lòng yêu nước, thương dân

Với một truyền thống gia đình hết sức tốt đẹp, Nguyễn Trãi đã đượchình thành và phát triển cho mình ý thức về lòng yêu nước, về phương châmsửa mình, phong cách xử thế

Hơn nữa, bản thân Nguyễn Trãi là người có trí thông minh và đức tínhchăm học “Lục tuế nhi đồng phả ái thư” [22; 398] Đến tuổi thanh niên, ông

đã nổi tiếng học giỏi trong giới Nho học “thanh niên phương dự ái Nho lâm”[45; 364] Tuy nhiên, tuổi thơ của Nguyễn Trãi cũng đầy sóng gió Lên támtuổi, ông đã mồ côi mẹ Năm ông mười tuổi, Trần Nguyên Đán qua đời, ôngmất đi người luôn ở bên ông để nuôi dạy ông bằng truyền thống dân tộc vàđạo lý làm người Ông theo cha trở về làng quê sống cuộc sống bình dân Tạiđây, cuộc sống của Nguyễn Trãi được hòa vào cuộc sống của bao tầng lớp laođộng nghèo khổ, cùng sống và lao động với họ Điều này làm cho ông càngcảm thấy yêu quý và mang ơn họ “Ăn lộc nhờ ơn kẻ cấy cày” Cuộc sống bìnhthường nơi thôn dã đã giúp Nguyễn Trãi tìm hiểu được đời sống, tâm tư,

Trang 30

tình cảm và nguyện vọng của người dân lao động, cộng với lòng yêu nước,thương dân của mình đã giúp xây dựng lên một Nguyễn Trãi suốt đời chỉ trăntrở làm sao để xây dựng một xã hội như thời Ngu, Thuấn.

Như vậy, nhân tố chủ quan thiên tài cộng với truyền thống yêu nướcquý báu của dân tộc đã góp phần tạo nên vóc dáng nhà tư tưởng vĩ đại -Nguyễn Trãi một nhà Nho có bản lĩnh, giàu lòng yêu nước, vừa là một nhàthơ, nhà văn, nhà chiến lược, một nhà tư tưởng kiệt xuất Sự vĩ đại của nhà tưtưởng này không chỉ dừng lại ở những học thuyết, những tư tưởng cao siêu

mà còn thể hiện qua hành động của việc biến những tư tưởng thành hiện thực

“Sự học của tiên sinh vốn khởi phát tự gia đình, nhưng sâu sa và rộng rãi,ngay thẳng, lớn lao, cứng rắn, vuông vắn thì tự mình bấm chí đi tới” [22;107] Ngoài ra, tư tưởng của Nguyễn Trãi còn được hình thành thông qua việctiếp thu có chọn lọc những yếu tố tích cực thế giới quan của Nho – Phật –Đạo Chính ba học thuyết này đã tạo nên một hệ tư tưởng thống nhất trong đadạng, tạo sức mạnh cố kết cộng đồng, bồi đắp cho triết lý khoan dung, khoanhòa của người Việt Cùng với dân tộc, cùng với lịch sử, Nguyễn Trãi đã biếtchọn lọc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm phong phú thêm tư duycủa bản thân, tạo nên nền tảng tư tưởng của mình với những sắc thái và giá trịriêng biệt trong dòng tư tưởng lịch sử của dân tộc

1.3 Cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và

“Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi

1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi – vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, là mộtnhà Nho tiêu biểu nhất của thế kỷ XV, đồng thời là một nhà tư tưởng vĩ đạitrong lịch sử tư tưởng Việt Nam Cuộc đời của nhà tư tưởng vĩ đại này gắnvới những thăng trầm và biến cố của dân tộc

Trang 31

Nguyễn Trãi tên hiệu là Ức Trai, sinh năm 1380, quê ở xã Chi Ngại,huyện Phương Sơn, tức Phương Nhãn, nay là huyện Chí Linh (Hải Dương),sau mới dời đến làng Nhị Khê Là cháu ngoại của quan tư đồ Trần NguyênĐán Là con của Trần Thị Thái và Nguyễn Ứng Long, sau đổi tên thànhNguyễn Phi Khanh Cha Nguyễn Trãi là một người có tài Năm 1374, đời vuaTrần Huệ Tông mở khoa thi ở trong hành cung, Nguyễn Phi Khanh đỗ đệ nhấtgiáp, đệ nhị danh tức bảng nhãn Thượng hoàng Trần Nghệ Tông cho rằngông là con thường dân, lại lấy con gái họ tôn thất nên không bổ nhiệm ông ralàm quan Vì vậy, trong suốt hai bảy năm trời, Nguyễn Phi Khanh làm thầy đồdạy học Năm 20 tuổi, Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh dưới triều Hồ, rồisung chức ngự sử đài chánh chưởng.

Năm 1407, giặc Minh cướp nước ta, nhà Hồ sụp đổ Cha con Hồ Quý

Ly và các triều thần bị bắt và giải về Trung Quốc trong đó có Nguyễn PhiKhanh Được tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng người em là Nguyễn Phi Hùngđến chỗ quân Minh giam giữ tìm cha, rồi hai anh em lên ải Nam Quan với ýđịnh sang bên kia biên giới để phụng dưỡng cha Nhưng Nguyễn Phi Khanh

đã nói với Nguyễn Trãi rằng:

“Con là người có học, có tài nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thùcho cha, như thế mới là đại hiếu Lọ là cứ phải đi theo cha, khóc lóc như đàn

bà ấy mới là hiếu hay sao?” [28]

Nguyễn Trãi nghe lời cha trở về thành Đông Quan, bị giặc Minh bắt.Biết ông là người có tài, giặc Minh mời ông ra làm quan nhưng ông kiênquyết và khẳng khái từ chối Việc Nguyễn trãi nghe lời cha trở về và lời từchối với giặc Minh đánh dấu một sự trưởng thành trong tư tưởng đồng thờikhẳng định tấm lòng yêu nước của Nguyễn Trãi

Trong khoảng thời gian ông ở thành Đông Quan, các cuộc khởi nghĩacủa Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng ở vùng Thanh – Nghệ đã có ảnh hưởng lớn

Trang 32

đến tư tưởng Nguyễn Trãi, thôi thúc ông tìm đường cứu nước Trong khiNguyễn Trãi chưa tìm được những người cùng ý chí, cùng quan điểm để cùngnhau xả thân cứu nước, thì tại Thanh Hóa, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã lanrộng khắp nơi, vang dội khắp đất nước và đến với Nguyễn Trãi Ông tìm cáchthoát khỏi thành Đông quan, cùng Trần Nguyên Hãn lặn lội núi rừng, đi tìmgặp nghĩa quân Lê Lợi – người lãnh tụ của phong trào đó Việc Nguyễn Trãiđến với Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa là sự kiện có tính chất bước ngoặt trongcuộc đời ông, vì đến với Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã từ bỏ giai cấp của mình đểđến với nhân dân và tầng lớp địa chủ mới, đang là lực lượng tiến bộ lúc bấygiờ.

Năm 1420, Nguyễn Trãi dâng “Bình Ngô Sách”, gồm ba kế sách lớn đáh giặc Tiếc rằng bản “Bình Ngô Sách” không còn lại tới ngày nay, nhưng

chắc chắn nó là kế hoạch tốt với những đường lối sáng suốt và tài giỏi để đẩymạnh cuộc đấu tranh giải phóng đến ngày thắng lợi hoàn toàn Người đời sau

lưu truyền lại rằng “Bình Ngô Sách”: “hiến mưu chước lớn, ông không nói

đến việc đánh thành mà lại nói đến việc đánh vào lòng người, cuối cùng nhândân, đất đai của mười lăm đạo nước ta sẽ đem về cho ta tất cả”

Điều này chứng tỏ Nguyễn Trãi là một hiểu thời cuộc Ông đã vận

dụng “Bình Ngô Sách” để trù tính, giải quyết việc quân, việc nước Đường lối

cơ bản của ông là nhân nghĩa, nhân dân, dân chủ, đoàn kết Với tư tưởng vàđường lối của Nguyễn Trãi, nghĩa quân Lam Sơn đã đánh giặc bằng mọi cáchquân sự, chính trị, ngoại giao, binh vận tạo thành một sức mạnh to lớn, thếtiến công và cuối cùng đã chiến thắng

Năm 1428, sau khi toàn bộ quân xâm lược đã rút khỏi nước ta,Nguyễn Trãi vô cùng phấn khởi, thay mặt Lê Lợi, ông viết Cáo Bình Ngô – làbản tuyên cáo đánh thắng giặc Minh của nghĩa quân Lam Sơn, đồng thời làbản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta sau này

Trang 33

Từ đây, Nguyễn Trãi muốn thực hiện lí tưởng dựng nước của mình, là

phải làm thế nào để cho “dân yêu”, “thế nước yên”, Nguyễn Trãi đã cùng Lê

Lợi lo ngay việc củng cố nền độc lập dân tộc, giữ vững khối thống nhất tổquốc, xây dựng lại đất nước Nguyễn Trãi mơ ước về một xã hội lí tưởng nhưthời vua Nghiêu, vua Thuấn

Sau khi Lê Lợi lên ngôi, Nguyễn Trãi được ban quốc tính, được phongtước quan phục hầu, Nhập nội hành khiển Lại bộ thượng thư kiêm quản côngviệc Khu Mật viện Nhưng chức vụ này chỉ ở bậc trung của triều đình, không

cho phép ông trổ tài kinh bang tế thế Hơn nữa, những sách lược “tâm công”

của ông lại vấp phải sự phản đối trong bộ máy quan lại triều đình, gây ranhững điều dị nghị về ông

Năm 1430, bọn gian thần thấy ý thức dân chủ của vua quan triều thần

có chiều hướng đi lên, đe dọa nghiêm trọng đến địa vị, quyền lợi và vận mệnhcủa chúng Chúng tìm mọi cách hãm hại những công thần vì nước như việcvua cho bắt Trần Nguyên Hãn, khiến ông phải nhảy ông tự tử Bản thân

Nguyễn Trãi theo sử cũ Dương Bá Cung cho biết Nguyễn Trãi từng có việc

hạ ngục rồi lại được tha Mặc dù Lê Lợi tha cho Nguyễn Trãi, nhưng không

còn tin Nguyễn Trãi nữa Vì vậy, một thời gian sau, ông lui về ở ẩn ở Côn

Sơn ở ẩn Cuộc sống của Nguyễn Trãi ở đó nghèo túng cực khổ

Sau khi Lê Thái Tổ chết, Lê Thái Tông mời Nguyễn Trãi ra làm quan,giữ chức Tả Gián nghị đại phu ở Môn hạ sảnh

Năm 1437, Lê Thái Tông giao cho hoạn quan Lương Đãng cùng hànhkhiển Nguyễn Trãi trông nom công việc làm xe loan, làm nhạc cụ, dạy nhạc.Một người có tài kinh bang tế thế, giỏi chăm dân, trị nước như Nguyễn Trãi

mà chỉ để làm như vậy thật uổng công sức, nhưng Nguyễn Trãi vẫn vui lòngnhận Ông tranh thủ thời cơ để nói về nguyên lí của nhạc và khuyên vua phải

lo cho đời sống của nhân dân

Trang 34

Trong thời gian này, Nguyễn Trãi có bất đồng với Lương Đãng nênông xin thôi, và về tạm nghỉ ở Côn Sơn Hơn mười năm làm quan, NguyễnTrãi tuy phải gánh chịu nhiều bất công nhưng ông kiên trì đấu tranh cho lítưởng của mình.

Năm 1438, vua Lê Thái Tông lại ra chiếu mời ông ra làm quan vớichức cũ và coi việc quân và dân ở hai đạo Đông Bắc

Năm 1439, vừa tuổi sáu mươi, ông cáo quan, Lê Thái Tông muốn giữông không cho ông về hưu, nhưng bọn hoạn quan, gian thần không muốn ôngcan thiệp vào việc triều chính Lê Thái Tông trao cho ông làm đề cử chùa TưPhúc ở Côn Sơn

Năm 1442, Nguyễn Trãi với danh nghĩa là Hàn Lâm Viện thừa chỉkiêm Quốc Tử giám ra chủ trì kỳ thi tiến sĩ, và đã lấy Nguyễn Trực đỗ trạngnguyên Ngày 19, tháng 9, năm 1442, vụ án Lệ chi viên xảy ra, Nguyễn Trãi

và Nguyễn Thị Lộ cùng các con chịu họa chu di tam tộc Sau này, vua LêThánh Tông đã rửa oan cho Nguyễn Trãi và hết lòng ca ngợi con người và sự

nghiệp của ông “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo”.

Về sự nghiệp văn chương: Nguyễn Trãi viết nhiều, nhưng sau vụ ánthảm án Trại vải, nhiều tác phẩm của ông bị bè lũ triều thần thiêu hủy Naycòn lại những tác phẩm tiêu biểu sau:

- Băng hồ di sự lục (1428)

- Bình ngô đại cáo (1428)

- Văn bia Vĩnh lăng (1433)

- Dư địa chí (1435) là tác phẩm địa lí xưa nhất Việt Nam, có 54 đoạnvăn ngắn gọn, xúc tích, Nguyễn Trãi đã tổng kết khái quát về địa lí… là cơ sở cho

kế hoạch xây dựng đất nước thời Lê

Trang 35

Đáng giá chung về sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trãi, chúng ta

có thể nhất trí với khẳng định rằng: “Văn chương của tiên sinh tinh vi, thâmthúy, rộng rãi, chính đáng, cứng rắn, là tự tiên sinh rèn luyện và phát huyđược Tiên sinh vốn không có ý đức chuốt văn chương, nhưng một khi lời nóithổ lộ đều sáng sủa, đẹp đẽ, mạnh mẽ, dồi dào không có cái gì có thể che lấpđược…Những lời nói đó có thể làm bài học dạy cho đời bấy giờ và lưu truyềnmãi mãi đời sau” [17; 266] “… Một nhà chính trị, một nhà chiến lược thiêntài, một nhà ngoại giao lão luyện, và đồng thời cũng là một học giả uyên bác,một nhà văn và một nhà thơ lỗi lạc; một đời sống lộng lẫy và… một kết cụcquá tàn nhẫn Đó là vận mệnh của Nguyễn Trãi Nhưng Nguyễn Trãi cũng làmột con người mà sự nghiệp, tên tuổi đã vượt qua tất cả sự bất công của “vậnmệnh” để sống mãi một đời sống huy hoàng trong lịch sử nước nhà, trong tâmhồn biết ơn của mọi thế hệ ngày sau” [25; 20]

1.3.2 Tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và “Quốc âm thi tập”

* “Quân trung từ mệnh tập” được viết năm 1423, gồm các thư từ viết

cho tướng lĩnh quân Minh hoặc cho bọn ngụy quân, vừa là biểu cầu phong, hoặcbài dụ gửi tướng sỹ ta ở Thanh Hóa, Nghệ An để khen thưởng vì có công đánh

giặc Theo Ức Trai di tập, Quân trung từ mệnh tập có tất cả 42 bài Đến năm1961,

trong Quân trung từ mệnh tập do Nhà xuất bản Sử học xuất bản có them 4 bài doông Phan Duy Tiếp và Đinh Gia Khánh sưu tầm

Trong thời gian gần đây, ông Trần Văn Giáp phát hiện thêm 30 bài

Trang 36

Như vậy, những văn kiện tìm thấy đã đưa số bài trong Quân trung từ mệnh tập thành 69 bài, gồm

2 Thư cho tổng binh cùng quan phủ vệ Thanh Hóa

6 Lại thư trả lời Phương Chính

8 Lại thư trả lời Phương Chính

9 Thư trả lời bọn tổng binh Vương Thông thái giám Sơn Thọ

12 Thư cho Hình nội quan cùng bọn Đả Trung và Lương Nhữ Hốt

13 Lại thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt

14 Lại thư trả lời Vương Thông

15 Lại thư gửi cho Vương Thông Sơn Thọ

… 69 Chiếu về việc làm bài “Hậu tự huấn” để răn bảo thái tử

* “Quốc âm thi tập” là một tập thơ chữ Nôm, gồm 254 bài chia làm ba

phần lớn

*Phần Vô đề gồm

Trang 38

vô vi của Đạo gia Tập thơ cũng là bức tranh sống động về sự mâu thuẫntrong tư tưởng của Nguyễn Trãi.

Tiểu kết chương 1: Nguyễn Trãi được sinh ra và lớn lên trong hoàn

cảnh xã hội đầy những biến động phức tạp: sự suy thoái của nhà Trần, sự đảochính của nhà Hồ, sự xâm lược của nhà Minh, và sự đấu tranh giành độc lậpcủa nghĩa quân Lam Sơn, cộng với một truyền thống gia đình tốt đẹp và tàinăng bẩm sinh và việc tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng Nho – Phật – Đạo

đã tạo lên một cốt cách của Nguyễn Trãi mang tầm vóc của thời đại, trở thànhmột nhà tư tưởng – chính trị - văn hóa … lớn của dân tộc, được mọi thế hệbiết đến Thế giới quan của ông không chỉ là việc chỉ ra mối quan hệ đơnthuần giữa trời – con người – vạn vật, mà thông qua đó là những lời răn vềchữ “thời”, về những chuẩn mực đạo đức, là yêu cầu trách nhiệm của nhà cầmquyền, quan lại, và của những con người với nhau, để xây dựng một nhà hộitốt đẹp như thời kỳ vua Nghiêu, Thuấn Đây chính là nỗi niềm đau đáu trongtấm lòng trung với nước, hiếu với dân của Nguyễn Trãi

Trang 39

Chương 2: MỘT SỐ NỘI DUNG TRONG THẾ GIỚI QUAN CỦA NGUYỄN TRÃI QUA TÁC PHẨM “QUÂN TRUNG TỪ MỆNH

TẬP” VÀ “QUỐC ÂM THI TẬP”

2.1 Quan niệm của Nguyễn Trãi về thế giới

2.1.1 Quan niệm của Nguyễn Trãi về tự nhiên

Nguyễn Trãi xuất thân từ một nhà Nho, tư tưởng về tự nhiên của ôngchịu ảnh hưởng nhiều từ Nho giáo

Theo quan niệm của người Trung Hoa thượng cổ, vũ trụ lúc đầu là cõihỗn mang, mờ tịt Trong cái hỗn mang ấy có cái “lý” gọi là “thái cực” – chứahai mặt tiềm ẩn, đối lập, liên hệ với nhau là âm – dương Sự tương tác, chuyểnhóa giữa âm – dương gọi là đạo biến hóa của trời đất Âm – dương tạo rathanh khí và trọng khí Thanh khí làm trời, trọng khí làm đất, sự điều hòa giữa

âm – dương, trời đất sẽ sinh ra vạn vật, tùy theo độ đậm nhạt của thanh khí vàtrọng khí mà làm quỷ, làm người hay làm vật

Trong quan niệm của người Trung Hoa cổ đại, thế giới được xếp ngôithứ gồm trời, quỷ thần, người và vạn vật, trong đó trời không phải là đấngsáng tạo ra vũ trụ mà chỉ giữ ngôi cao nhất trong vũ trụ

Dưới ảnh hưởng của người Trung Hoa cổ đại, Khổng Tử cho rằng vạnvật đều có chung nguồn gốc, và vận động không ngừng theo “đạo” của nó

Khổng Tử rất tin ở trời Ông coi trời như một quan tòa công minh,cầm cân nảy mực Trời quyết định sự thành bại của cuộc đời con người Vìvậy, Khổng Tử khuyên con người phải phục tùng ý chí đó Ông coi việc hiểubiết mệnh trời như một điều kiện trở thành con người lý tưởng và gọi đó làthiên mệnh Trong Luận ngữ, Khổng Tử viết “Đắc tội với trời không thể cầuvào đâu được” Ông khuyên “người quân tử có ba điều sợ: sợ mệnh trời, sợbậc đại nhân, sợ lời thánh nhân” [11; 314]

Trang 40

Dưới ảnh hưởng của Nho giáo, tự nhiên được Nguyễn Trãi gọi bằngcác tên khác nhau: Trời (Thiên), Trời đất (Thiên địa), sông núi, cỏ cây, muônthú… Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng về tự nhiên của Nguyễn Trãi được ôngphản ánh qua các khái niệm: Thiên địa, càn khôn, thiên đạo, thiên lý, thiên cơ,

âm dương… và cả các khái niệm huyền bí: mệnh trời, ý trời, số… mà theonhận xét của Nguyễn Tài Thư cho rằng: Các khái niệm lẽ trời, vận trời, lòngngười …sức người, sức mình thì trước đó đã có, nhưng trình bày chúng trongquan hệ gắn bó hữu cơ và giải thích một cách phù hợp với thực tế thì NguyễnTrãi là người đầu tiên Sự giải thích của ông vừa có lợi ích cho hành động,vừa có tác dụng chống thái độ tùy tiện, chủ quan duy ý chí cũng như chống cảchủ nghĩa duy tâm mệnh trời thần bí

Về vai trò của trời đất, Nguyễn Trãi khẳng định trời đất rất linh

thiêng “Tôi cùng các ngài ngày trước đã có lời giao ước với nhau, trên có trời

đất quỷ thần tưởng đã chứng giám” [33; 122], luôn luôn vận động và biến hóakhông ngừng Trong thư gửi cho các tướng giặc là Đả Trung, Lương NhưHốt, Vương Thông Ông viết “Vả lại vận trời tuần hoàn đi rồi lại lại, từ xưađến nay bao giờ cũng thế” [33; 122] Nguyễn Trãi nhấn mạnh vai trò sản sinh

ra con người và muôn vật “Trời đất sinh muôn vật” “ơn tạo hóa của trời

đất”[33; 102].

Bên cạnh đó, trời đất còn có đức hiếu sinh, có nhân cách, có tình cảm,giống như tình cảm của cha mẹ đối với con cái.“Thành thực yêu vật là lòng trờiđất, thành thực yêu con là lòng cha mẹ Nếu yêu vật không thành thực thì cơ sinhhóa có lúc đình, yêu con không thành thực thì niềm từ ái có khi thiếu Vì thế nêntrời đất đối với muôn vật, cha mẹ đối với con cái chẳng qua chỉ vì một chữ

“thành” mà thôi” [33; 127] “Xua mạng người vào trong đám dáo mác, ta sợ rằng

lòng hiếu sinh của thượng đế tất không để làm cho như thế đâu” [33; 152] Quan

niệm này của Nguyễn Trãi tuy ảnh hưởng bởi yếu tố tôn giáo, song mang lậptrường dân tộc và nhân dân Ông khẳng định sự chuyển

Ngày đăng: 20/10/2020, 15:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ giáo dục và đào tạo (2011), Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
2. Bộ giáo dục và đào tạo (1988), Giáo trình Triết học Mác – Lênin, NXB Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác – Lênin
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1988
3. Nguyễn Văn Bình (1998), “Nhân cách nhà Nho trong con người Nguyễn Trãi”, Tạp chí Triết học ,số 4 (104), tr. 28 – 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân cách nhà Nho trong con người Nguyễn Trãi
Tác giả: Nguyễn Văn Bình
Năm: 1998
4. Nguyễn Thanh Bình (2007), Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam, từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX, Nxb Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết chính trị - xã hội của Nhogiáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam, từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷXIX
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2007
5. Nguyễn Bá Cường (2013), Con người trong tư tưởng Nguyễn Trãi, Tạp chí Triết học, số 7 (266), tr. 61 – 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người trong tư tưởng Nguyễn Trãi
Tác giả: Nguyễn Bá Cường
Năm: 2013
6. Nguyễn Bá Cường (2013), Quan niệm về tự nhiên trong tư tưởng của Nguyễn Trãi, Tạp chí Khoa học xã hội tp Hồ Chí Minh, số 9 (181), tr. 6- 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về tự nhiên trong tư tưởng củaNguyễn Trãi
Tác giả: Nguyễn Bá Cường
Năm: 2013
7. Hoàng Văn Cảnh (2001), “Về ảnh hưởng của Phật giáo đối với tư tưởng Nguyễn Trãi (qua một số bài thơ chữ Hán và chữ Nôm”, Tạp chí Triết học, số 7 (125) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về ảnh hưởng của Phật giáo đối với tưtưởng Nguyễn Trãi (qua một số bài thơ chữ Hán và chữ Nôm”
Tác giả: Hoàng Văn Cảnh
Năm: 2001
8. Doãn Chính, Nguyễn Sinh Kế (2004), “Về quá trình Nho giáo du nhập vào Việt Nam”, Tạp chí Triết học, số 9 (160), tr. 31 – 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về quá trình Nho giáo du nhập vào Việt Nam”
Tác giả: Doãn Chính, Nguyễn Sinh Kế
Năm: 2004
9. Võ Xuân Đàn (1996), Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử ViệtNam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt"Nam
Tác giả: Võ Xuân Đàn
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1996
10. Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp (1982), Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc vĩ đại nhà văn hóa kiệt xuất, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc vĩ đại nhà văn hóa kiệt xuất
Tác giả: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
11. Chu Hy (Đoàn Trung Còn dịch) (1950), Luận ngữ, NXB Trí Đức, SàiGòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận ngữ
Tác giả: Chu Hy (Đoàn Trung Còn dịch)
Nhà XB: NXB Trí Đức
Năm: 1950
12. Chu Hy (Đoàn Trung Còn dịch) (1950), Mạnh Tử, NXB Trí Đức, SàiGòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạnh Tử
Tác giả: Chu Hy (Đoàn Trung Còn dịch)
Nhà XB: NXB Trí Đức
Năm: 1950
13. Hồ Sỹ Hiệp (1997), Nguyễn Trãi, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nguyễn Trãi
Tác giả: Hồ Sỹ Hiệp
Nhà XB: Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
14. HV quốc gia Hồ Chí Minh, Viện KHCT (2000); Tập bài giảng chính trị học, NXB CT QG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng chính trị học
Nhà XB: NXB CT QG
15. Nguyễn Hùng Hậu (2010), Đại cương triết học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2010
16. Nguyễn Duy Hinh (2008), Mấy đặc điểm của Phật giáo Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy đặc điểm của Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Năm: 2008
17. Trần Đình Hượu (2000), Nguyễn Trãi và Nho giáo, Nguyễn Trãi và văn hóa Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi và Nho giáo, Nguyễn Trãi và văn hóa Việt Nam trung cận đại
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
18. Kỉ niệm sáu trăm năm sinh Nguyễn Trãi (1980), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỉ niệm sáu trăm năm sinh Nguyễn Trãi
Tác giả: Kỉ niệm sáu trăm năm sinh Nguyễn Trãi
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1980
19. Vũ Khiêu (1995), Nho giáo và gia đình, NXb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và gia đình
Tác giả: Vũ Khiêu
Năm: 1995
20. Ngô Sỹ Liên (2004), Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Nxb Văn hóa –Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư, tập I
Tác giả: Ngô Sỹ Liên
Nhà XB: Nxb Văn hóa –Thông tin
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w