1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng mô hình hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình có trẻ tự kỷ trên địa bản huyện gia lâm, thành phố hà nội

25 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 57,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biếtcủa chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thốngthứ bậc các nhu cầu.. 3.Văn hóa: Bất cứ hệ thống nào cũng đều mang nét

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ TRANG

 NG HNHH TR TR T KỶV GI ĐNH TR T ỶTR NĐỊ NHU ỆNGI Â

TH NH HỐH NỘI

(Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm hỗ trợ hòa nhập Gia Lâm)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: ông tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Vân Anh

Hà Nội, 2015

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu Các nghiên cứu trên thế giới Các nghiên cứu ở Việt Nam

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

4 Câu hỏi nghiên cứu

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

6 Giả thuyết nghiên cứu

7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

8 hương pháp nghiên cứu

hương pháp phỏng vấn sâu:

hương pháp thảo luận nhóm tập trung

hương pháp ông tác xã hội với cá nhân

9 Phạm vi nghiên cứu

Trang 3

HƯƠNG 1: Ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ TH C TIỄN

1 Một số lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu

1.1 Lý thuyết nhu cầu xã hội

Thuyết nhu cầu được nhà khoa học Maslow xây dựng vào khoảng năm

1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con ngườicần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh

và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biếtcủa chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thốngthứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn

cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người tư thấp đến cao

Nhu cầu sinh lý:

Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ănuống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục Là nhu cầu cơ bản nhất,nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu nhữngnhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Đặc biệt là với trẻ em vìchúng phụ thuộc rất nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy đủ các nhu cầu

cơ bản này Ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tớimức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽkhông thể tiến thêm nữa

Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh:

An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợicho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người

Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người Để sinh tồncon người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn Nhu cầu antoàn nếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hànhbình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được Do đó chúng ta

Trang 4

có thể hiểu vì sao những người phạm pháp và vi phạm các quy tắc bị mọi ngườicăm ghét vì đã xâm phạm vào nhu cầu an toàn của người khác.

Những nhu cầu được thừa nhận (tình yêu và sự chấp nhận):

Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội vàđược người khác thừa nhận Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của conngười đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn đượchòa nhập, trung thành giữa con người với nhau Nội dung của nhu cầu này phongphú, tế nhị, phức tạp hơn Bao gồm các vấn đề tâm lý như: Được dư luận xã hộithừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập,tình thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này.Lòng thương, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung lý lưởng mà nhu cầu vềquan hệ và được thừa nhận luôn theo đuổi Nó thể hiện tầm quan trọng của tìnhcảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại

Nhu cầu được tôn trọng:

Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: Lòng tự trọng và được ngườikhác tôn trọng

Nhu cầu phát huy bản ngã

1.2 Lý thuyết hệ thống – sinh thái

Hệ thống sinh thái gồm hai ý tưởng: Môi trường sinh thái của cá nhân khi

cá nhân đó đang cố gắng để thích nghi với môi trường xung quanh; hệ thống khinhìn vào mối tương quan của những bộ phận khác nhau Cá nhân gắn chặt vớigia đình, gia đình với cộng đồng, có những cá nhân rất mạnh có thể lay chuyển

cả một hệ thống lớn Hành vi con người rất phức tạp, không có một yếu tố nàoduy nhất giải thích về hành vi con người Chúng ta phải cố gắng kết hợp các lýthuyết về cá nhân, gia đình, nhóm, xã hội và lý thuyết về thế giới để hiểu về conngười theo hệ thống sinh thái Gia đình có ranh giới, chúng ta cũng có ranh giới,bất cứ hệ thống nào cũng có ranh giới, chúng ta nghĩ đến sự tương tác trong hệthống để hiểu con người Ví dụ để hiểu một người nào đó, chúng ta phải hiểu thế

Trang 5

giới rộng hơn, phải hiểu gia đình người đó, nhóm bạn cũng làm việc, cộng đồng

mà bạn đó đang tương tác Hệ thống sinh thái của mỗi cá nhân đều độc đáo

Thông thường trong hệ thống có 4 thành tố1.Hành vi: có khi gọi là năng lượng mang tính tâm lý (thức ăn là nănglượng, sự nâng đỡ về tình cảm là năng lượng ), hành vi là cách sử dụng nănglượng của mình, ví dụ tôi đang trình bày Nếu không có nhập năng lượng mới, hệthống sẽ chết dần, mọi hệ thống đều phải mở ra để tiếp nhận năng lượng mới.Mọi hệ thống đều thay đổi, luôn luôn có lực bên ngoài trong một hệ thống, luôn

có những năng lượng những năng lượng này đẩy kéo lấn nhau

2.Cấu trúc (kết cấu): Bất cứ hệ thống nào cũng có một bộ phận hay hệthống bộ phận như trong cơ thể con người có nhiều hệ thống cơ cấu cũng cónghĩa là những ranh giới, nếu nghiên cứu về gia đình trước tiên phải biết vềthành phần trong gia đình, những thành phần đó không bắt buộc là những gì hiệnhữu mà có thể là những thành phần về tâm lý

3.Văn hóa: Bất cứ hệ thống nào cũng đều mang nét văn hóa riêng của nó.Văn hóa gia đình rất quan trọng để định hình một cá nhân, chúng ta không thểhiểu hết văn hoá gia đình đã ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào Văn hóa tácđộng đến hành vi, suy nghĩ, lối sống của mỗi người chúng ta

4 Diễn biến của hệ thống: Bất cứ một hệ thống nào cũng thay đổi theothời gian nhưng bất kỳ trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ được trạng thái tương đối

ổn định Không có một cơ cấu nào tồn tại như vậy mãi

Với đề tài liên quan đến trẻ tự và gia đình trẻ tự kỷ thì lý thuyết hệ thống

đã chỉ ra cho nhà nghiên cứu ranh giới các vấn đề cần nghiên cứu Ví dụ khinghiên cứu đánh giá vấn đề của trẻ tự kỷ thì nhà nghiên cứu phải đặt trẻ trongmột hệ thống từ đó phân tích xem hệ thống đó tác động như thế nào đến trẻ.Không những thế ngay cả gia đình có trẻ tự kỷ cũng là một hệ thống thu nhỏ,trong hệ thống này có nhiều mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Chính vì vậy

lý thuyết hệ thống giống như cơ sở lý luận vô cùng quan trọng trong đề tài

Trang 6

Bên cạnh đó khi đánh giá các mô hình hỗ trợ trẻ tự kỷ thì lý thuyết hệthống lại có ý nghĩa quan trọng vì mỗi mô hình hỗ trợ trẻ tự kỷ là một hệ thống.Việc đánh giá mô hình điều hiển nhiên sẽ đánh giá các chương trình dịch vụ mà

mô hình cung cấp cũng như những nguồn lực hay dịch vụ mà mô hình đó kết nốinhằm trợ giúp cho đối tượng (trẻ tự kỷ)

1.3 Lý thuyết gắn bó

Lý thuyết gắn bó:Lý thuyết gắn bó xuất phát từ Bowlby(1982), ông là

người quan tâm đến mặt tập tính học trên hành vi con người Bowlby cho rằngkhi được đặt trong môi trường không có sự giúp đỡ, trẻ nhũ nhi có khả năng đápứng cao để duy trì sự tiếp xúc gần gũi với người chăm sóc đầu đời, bằng cáchgắn bó với người chăm sóc, trẻ nhỏ đảm bảo được an toàn, thức ăn và cuối cùng

là sống còn Vì thế mục đích được xác định của gắn bó là để duy trì sự gần gũivới người chăm sóc Hành vi của trẻ được tổ chức xung quanh mục tiêu này vàđược thiết kế nhằm để làm gia tăng khả năng có thể xảy ra để mối quan hệ vớingười chăm sóc sẽ là một mối quan hệ khoẻ mạnh Hệ thống gắn bó được hoạthoá bởi sự khó chịu dưới dạng các nhu cầu bên trong như là đói hay các yếu tốgây stress bên ngoài như sự nguy hiểm

Các giai đoạn gắn bó:

Sự phát triển của gắn bó theo sau hàng loạt các giai đoạn có thể xác địnhđược trong 3 năm đầu đời Trẻ sơ sinh định hướng được và đáp ứng với ngườikhác Khoảng 2 tuần tuổi, trẻ ưa thích giọng nói của con người hơn những âmthanh khác, khoảng 4 tuần tuổi trẻ thích giọng nói của mẹ hơn giọng nói củangười khác Vào tháng thứ 2, giao tiếp mắt được thiết lập và tiền tố của gắn bóđược thấy khi trẻ hướng về phía người chăm sóc và báo hiệu các nhu cầu của trẻ.Trong giai đoạn kế tiếp, từ 3-6 tháng tuổi, trẻ bắt đầu biểu lộ và gợi lên sự vuithích trong tương tác con người thông qua nụ cười xã hội Trong thực tế, ngườilớn thực hiện nhiều trò khôi hài để gợi lên nụ cười như thế, điều này cho thấyhành vi này có giá trị và đáp ứng như thế nào trong cuộc sống, nó đảm bảokhông chỉ một sự gắn bó khoẻ mạnh hình thành mà còn là sự tương tác qua lại

Trang 7

Giữa 6-9 tháng, trẻ gia tăng khả năng phân biệt được người chăm sóc trẻ vànhững người lớn khác và dành phần thưởng cho người đặc biệt này bằng “nụcười ưu ái” Cả hai vấn đề lo âu chia cách và lo âu người lạ là tín hiệu cho thấyrằng trẻ có ý thức rằng người chăm sóc trẻ có một chức năng và giá trị độc nhất.

Từ 12-24 tháng tuổi, bò và bước đi cho phép trẻ điều chỉnh được sự gần gũi hoặckhoảng cách xa đối với người chăm sóc Tìm kiếm gần gũi, cũng được xem như

là hành vi có nền tảng an toàn, lúc đó trẻ quay về phía người chăm sóc để đượcthoải mái, trợ giúp, và đơn giản là để “ nạp thêm năng lượng cảm xúc” Khoảng

3 tuổi, mục tiêu của gắn bó được mở rộng ra ngoài sự an toàn và dễ chịu của trẻ

và trở nên có tính qua lại hơn Trong những năm tuổi mẫu giáo, gắn bó đượchướng về phía thành lập một mối liên hệ đối tác có hướng đến mục tiêu, trong sựcộng tác này nhu cầu và cảm xúc của cả hai bên tham gia vào mối liên hệ đượcxem xét đến

Các kiểu gắn bó:

Gắn bó an toàn: Trẻ có gắn bó an toàn có hướng khám phá môi trường

một cách tự do và tương tác tốt với người lạ khi có sự hiện diện của người chămsóc Trẻ có thể bị khó chịu bởi chia cách và nếu có, trẻ sẽ phản đối và giới hạnlại việc khám phá môi trường khi người chăm sóc vắng mặt Trong lúc gặp mặtlại, trẻ đón chào người chăm sóc một cách tích cực và tìm kiếm tiếp xúc vớingười này và sẵn sàng được dỗ dành, trẻ cũng có thể quay lại chơi sau một lúcđược tái nạp năng lượng cảm xúc Hành vi của người chăm sóc được ghi nhậnbởi sự nhạy bén với nhu cầu của trẻ Đặc biệt là người chăm sóc đọc được các tínhiệu của trẻ một cách chính xác và đáp ứng một cách nhanh chóng, phù hợp vàvới một cảm xúc tích cực

Gắn bó tránh né không an toàn:

Trong gắn bó tránh né, trẻ dường như độc lập một cách sớm hơn bìnhthường Trẻ dường như không dựa vào người chăm sóc để có được sự an toànkhi người chăm sóc hiện diện , trẻ khám phá căn phòng rất độc lập và đáp ứngvới người chăm sóc và người lạ như nhau Trẻ đáp ứng rất ít đối với sự vắng mặt

Trang 8

của người chăm sóc, đôi khi trẻ thậm chí không nhìn theo khi người chăm sóc rờikhỏi Trong lúc gặp mặt lại, những trẻ này tránh né sự gần gũi với người chămsóc, trẻ có thể quay đi, tránh giao tiếp mắt, và phớt lờ người chăm sóc Mặc dầutrẻ có vẻ thờ ơ nhưng khi đo lường các chỉ số sinh lý cho thấy trẻ thực ra có khóchịu Hành vi của người chăm sóc được ghi nhận bằng sự xa cách và thiếu vắng

sự dỗ dành đi kèm với khó chịu và giận dữ trong khi gần gũi Người ta cho rằng

né tránh là sự cố gắng của trẻ để đối mặt với nhu cầu của cha mẹ muốn cách xabằng cách trẻ giữ đáp ứng thấp và kềm chế biểu lộ cảm xúc mà nó có thể gây ra

sự từ chối của cha mẹ

Gắn bó chống đối không an toàn:

Ngược lại với trẻ né tránh, trẻ có gắn bó chống đối ( cũng được gọi là haichiều) bị bận rộn với người chăm sóc, trẻ có khuynh hướng bám dính vào và bị ứcchế từ việc khám phá căn phòng hoặc từ việc tương tác với người lạ ngay cả khi cómặt của người chăm sóc Trẻ dễ bị khó chịu khi chia cách, nhưng khi gặp mặt lại,trẻ cố gắng chống đối một cách giận dữ khi gần gũi và không dễ dỗ dành Trẻ đápứng với mẹ bằng kiểu tìm kiếm gần gũi hai chiều và từ chối Ví dụ, trẻ có thể đòihỏi được bế ẵm rồi sau đó đẩy người chăm sóc ra xa một cách giận dữ hoặc trẻ cóthể bám vào người chăm sóc nhưng lại ưỡn cong người ra ngoài và từ chối chấpnhận sự chăm sóc của mẹ Hành vi của người chăm sóc được ghi nhận bằng khảnăng không thể dự đoán được, đôi khi người chăm sóc gần gũi quá mức và lúc khácthì lại không liên quan với trẻ hay khó chịu Chống đối được xem như là những cốgắng của trẻ nhằm để có được sự chú ý của người chăm sóc, trong khi đó giận dữ lạiđến từ việc ấm ức về chăm sóc không tương hợp

Gắn bó rối loạn tổ chức không an toàn:

Loại này mới được thêm vào sau này Trẻ bị rối loạn tổ chức hoạt độngtheo một cách thức không tương hợp hay khác lạ Những trẻ này có thể có mộtbiểu lộ ngạc nhiên hay đi lang thang xung quanh không có mục đích hay sợ hãi

và hai chiều trong sự hiện diện của người chăm sóc, không biết là trẻ tiếp cận với

Trang 9

người chăm sóc để được dễ chịu hay tránh né để được an toàn Nếu trẻ tìm kiếm

sự gần gũi, trẻ làm như thế theo cách thức bóp méo như là tiếp cận với ngườichăm sóc ở phía sau hay bất thình lình lạnh lung và nhìn chằm chằm vào khoảngkhông Không giống như trẻ nhỏ có gắn bó né tránh và chống đối, những trẻ nàydường như không phát triển một chiến lược ổn định để tiếp xúc với người chămsóc Khoảng 5% trẻ trong dân số bình thường có biểu lộ kiểu gắn bó này

Hành vi của người chăm sóc được ghi nhận bằng cách sử dụng những tínhiệu nhầm lẫn như là dang tay ra trong khi lùi lại , người ta cũng quan sát thấy ởnhững người chăm sóc này đối xử theo cách thức khác lạ và sợ hãi Vì thế, gắn

bó rối loạn tổ chức cho thấy một một sự sụp đổ về chiến lược hệ thống trong việcđối diện với môi trường đe doạ và không tiên đoán được

Với những nội dung căn bản của lý thuyết giúp nhà nghiên đánh giá đượctầm quan trọng của mối quan hệ gắn bó giữa trẻ và gia đình đặc biệt là mối quan hệ

mẹ - con từ đó có thể lý giải các hành vi của trẻ cũng như tư vấn cho gia đình xâydựng thiết lập mối quan hệ “gắn bó” với trẻ là rất quan trọng Từ mối quan hệ tronggia đình, người thân có thể giúp trẻ tự kỷ phát triển các mối quan hệ khác

1.4 ý Thuyết phân tâm

Đại diện của cách tiếp cận này là Sigmund Freud (1856 – 1939), ngườisang lập ra lý thuyết phân tâm học vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX

Theo ông, nhân cách con người được xây dựng qua sự tương tác phức hợpgiữa các xung năng với những kinh nghiệm thời niên thiếu của họ Hành vi củacon người là kết quả của cách nuôi dạy, đối xử của bố mẹ khi họ còn ở thời tuổinhỏ đặc biệt trong 5 năm đầu tiên của cuộc đời Trong lý thuyết của ông, conngười tiếp tục thỏa mãn những mong muốn của họ theo cách mà họ tương tácvới người khác trong quá khứ hay cách mà họ thỏa mãn những mong muốn củamình thời thơ ấu

Những vấn đề quan trọng được đề cập tới trong lý thuyết của SigmundFreud đó là bản năng, vô thức, cấu trúc nhân cách, cơ chế tự vệ

Trang 10

* Bản năng

* Cấu trúc nhân cách

* Cơ chế tự vệ.

* Quá trình phát triển nhân cách

* Các kỹ thuật can thiệp.

Nhờ lý thuyết phân mà nhà nghiên cứu có thể hiểu được những vấn đềtâm lý thể hiện qua trạng thái cảm xúc, hành vi của cha mẹ, người thân cũngnhư cộng đồng xung quanh có tác động đến trẻ tự kỷ Nhờ trị liệu phân tâm sẽgiúp cải thiện bầu không khí gia đình, giúp mọi người thấu hiểu thực tại và chấpnhận thực tại tốt hơn, mọi người sẽ vui vẻ hơn trong giao tiếp và chăm sóc trẻ.Điều này giúp trẻ tự kỷ cải thiện tình huống giao tiếp và hình thành sự tiếp xúcqua lại Khuyến khích trẻ hợp tác trong mọi hoạt động sinh hoạt của gia đình,nhà trường và xã hội; từ đó, tình trạng tự kỷ của trẻ được cải thiện dần dần

2 Một số khái niệm định nghĩa liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1 Thực trạng địa bàn nghiên cứu

2 Thực trạng chăm sóc trẻ tự kỷ tại gia đình

2.1 Cơ cấu xã hội của cha mẹ trẻ tự kỷ 2.1.1 Cơ cấu ngành nghề của cha/ mẹ trẻ tự kỷ 2.1.2 Độ tuổi của bố mẹ

2.1.3 Trình độ học vấn của bố mẹ 2.1.4 Tình trạng hôn nhân

2.2 Nhận thận thức của phụ huynh về tự kỷ

HƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG XÂY D NG MÔ HÌNH CAN

THIỆP TẠI NHÀ CHO TR T KỶ

Trang 11

1 Tên mô hình: “Mô hình can thiệp tại gia đình có sự tham gia người thân”

2 Các hoạt động của mô hình

2.2.1 Hoạt động hỗ trợ trị liệu tại gia đình cho trẻ

Như trên đã phân tích một trong những hạn chế chung của các mô hìnhhiện nay đặc biệt là mô hình can thiệp tập trung chuyên biệt là việc không phânloại trẻ theo đặc tính cá nhân để có chương trình can thiệp riêng phù hợp chotừng trẻ Khi trẻ đến các trung tâm chuyên biệt được phân theo nhóm lớp theo độtuổi hoặc có chung biểu hiện vì số lượng trẻ rất đông nên đặc tính cá nhân trẻ sẽ

ít được chú ý Theo nguyên tắc nếu mô hình đi theo hướng chuyên biệt thì nêntập trung vào một loại tật riêng để có thể đáp ứng được những nhu cầu đặc biệtriêng cho loại tật đó Ví dụ đã có những mô hình dành riêng cho trẻ khiếm thính,trẻ khiếm thị, trẻ khuyết tật vận động Tuy nhiên theo kết quả điều tra được thì

mô hình can thiệp chuyên biệt cho trẻ tự kỷ tại một số cơ sở lớn như Trung tâmSao Mai, Trung tâm Nắng Mai thì đối tượng can thiệp không chỉ dành riêng chotrẻ tự kỷ mà ở nhiều dạng tật khác nhau Theo số liệu tại trung tâm Nắng Mai thìchỉ có 40% trẻ đang theo học được chẩn đoán tự kỷ, còn lại 25% là trẻ chậm nói,10% là trẻ chậm phát triển, 25% là những trẻ ở dạng khác nhau như: tăng độnggiảm chú ý, khiếm thị, down, Còn tại Trung tâm Sao Mai thì 39% được chẩnđoán tự kỷ, 25% là trẻ chậm phát triển, 20 % là trẻ chậm nói, còn lại là các trẻ ởcác dạng tật khác Do các trẻ được can thiệp tập trung với số lượng lớn nên cáctrẻ sẽ được phân chia theo nhóm lớp để can thiệp Việc cho trẻ học nhóm đểtương tác xã hội là hết sức cần thiết tuy nhiên việc can thiệp theo nhóm sẽ khóđánh giá toàn diện vấn đề trên từng trẻ Với mỗi trẻ tự kỷ sẽ có những vấn đềkhác nhau nên không thể đánh đồng và gộp chung chương trình can thiệp Bêncạnh đó việc can thiệp cho trẻ mất rất nhiều thời gian nhưng can thiệp tập trungthời gian sẽ bị hao hụt vào các hoạt động chung nhiều hơn, không chú tâm vàođiểm yếu của trẻ hay điều riêng biệt của từng trẻ

Trang 12

Việc can thiệp tại gia đình điều đầu tiên là trẻ sẽ được can thiệp riêng dựatrên đặc tính cá nhân của nhờ có sự tham gia của gia đình vấn đề của trẻ sẽ đượcđánh giá toàn diện chính xác hơn Trẻ được can thiệp trị liệu cá nhân theo đúngnghĩa Có phụ huynh đã từng cho con theo học tại mô hình can thiệp tập trung

chuyên biệt chia sẻ: “Tôi thấy trung tâm nào có trẻ vào nhập học cũng nhận không phân biệt cháu bị tự kỷ hay bị chậm phát triển Mấy chỗ tôi tìm cho con tôi theo học đều như vậy vào đấy thấy các cháu đủ kiểu khác nhau Tôi không biết được họ tổ chức cho các cháu học thế nào với nhiều cháu có những tật khác nhau như vậy Tôi nghĩ họ chỉ trông nom cho bố mẹ yên tâm đi làm chứ thực chất chẳng biết trị liệu gì.” Chị Nguyễn Thanh B 32 tuổi xã Đa Tốn Huyện Gia

Lâm, có con đang can thiệp tại nhà

Với mô hình can thiệp ngay tại nhà có sự tham gia của những người thântrong thì lớp học được tổ chức ngay tại nhà gồm trẻ, anh chị em, bố mẹ hoặc ông

bà Điều này, sẽ tạo cho trẻ cảm giác an toàn từ đó tạo điều kiện thuận lợi choquá trình can thiệp Các nguồn lực từ gia đình trẻ đặc biệt là bố mẹ sẽ được khaithác triệt để vào quá trình can thiệp cho trẻ Can thiệp tại gia đình khiến cha mẹ

bị lôi cuốn một cách tích cực vào quá trình can thiệp, nhờ đó, họ phát hiện đượckhả năng và tiềm năng của bản thân Không những vậy khi trẻ học tại nhà giúpông bà, anh chị em ruột của trẻ có thái độ và hành vi đúng mức với các vấn đềcủa trẻ, đảm bảo gia đình: ông bà, chú bác, cô dì… sẽ tham gia mạng lưới và hệthống, cùng phối hợp đối phó với các khó khăn của trẻ đồng thời làm nhẹ gánhnặng cho gia đình thông qua các hoạt động trợ giúp gia đình, chăm sóc trẻ và cácphương tiện khác (vật chất, dụng cụ thích ứng, cải tạo nhà cửa…) Với mô hìnhchuyên biệt hiện nay đã vô tình đã giảm nhẹ vài trò, sự tham gia của người thântrong công cuộc can thiệp hỗ trợ trẻ tự kỷ hòa nhập cộng đồng Những ngườithân của trẻ tự kỷ đặc biệt là cha mẹ trẻ rất cần được hướng dẫn một cách cókhoa học về cách thức dạy trẻ tại nhà Nhiều nước trên thế giới mô hình canthiệp tại nhà được các phụ huynh tin tưởng lựa chọn Phụ huynh sẽ mời các giáoviên chuyên biệt về tại nhà để phối hợp cùng gia đình can thiệp cho trẻ Can

Ngày đăng: 20/10/2020, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w