Số lượng từ vựng tiếng Việt có thêm hàng loạt các yếu tố Hán như: tâm, minh, đức, thiên, tự do…Khi du nhập vào tiếng Việt chúng vẫn giữ nguyên ý nghĩa chỉ khác cách đọc, thay đổi vị trí
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
*****
HOÀNG THIỀU HOA
TÌM HIỂU THÀNH TỐ THUẦN VIỆT VÀ HÁN VIỆT TRONG THÀNH NGỮ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
*****
HOÀNG THIỀU HOA
TÌM HIỂU THÀNH TỐ THUẦN VIỆT VÀ HÁN VIỆT TRONG THÀNH NGỮ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số học viên : NQ5352 (Trung Quốc)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Chính
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này đã được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS TS Nguyễn Văn Chính Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy, cảm ơn Thầy đã dành nhiều thời gian để chỉ bảo tận tình, hướng dẫn cách làm và đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn một cách thuận lợi
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy, các Cô trong KhoaNgôn Ngữ học, Trường Đại học khoa học xã hội & Nhân văn (Đại Học Quốc Gia Hà Nội) đã tận tâm dạy dỗ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn tại Việt Nam
Nhân đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè
đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và viết luận văn
Xin chân thành cảm ơn
Tác giả luận văn
Hoàng Thiều Hoa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
0.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
0.2 Đối tượng nghiên cứu 3
0.3 Mục đích và nội dung nghiên cứu 4
0.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
0.5 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
0.6 Cấu trúc của luận văn 5
NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 1.1.Quan niệm về từ thuần Việt và Hán -Việt 6
1.1.1 Từ thuần Việt 6
1.1.2 Từ Hán-Việt 9
1.2 Quan niệm về thành ngữ và cách phân biệt tạm thời giữa thành ngữ với các đơn vị khác (Từ ghép, tục ngữ, quán ngữ, cách ngôn, cụm từ tự do) 12
1.2.1 Quan niệm về thành ngữ 12
1.2.1.1 Quan niệm về thành ngữ của các học giả Trung Quốc 13
1.2.1.2 Quan niệm của các nhà Việt ngữ học về thành ngữ 16
1.2.2 Phân biệt thành ngữ với các kiểu loại đơn vị khác 17
1.2.2.1 Phân biệt thành ngữ và từ ghép 17
Trang 51.2.2.3 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ 21
1.2.2.4 Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do 21
1.3.Tiểu kết chương I 28
CHƯƠNG II TÌNH HÌNH SỬ DỤNG YẾU TỐ THUẦN VIỆT VÀ HÁN - VIỆT TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT 2.1 Tình hình sử dụng yếu tố Hán - Việt trong thành ngữ tiếng Việt 29
2.1.1 Yếu tố Hán Việt được giữ nguyên dạng 30
2.1.2 Yếu tố Hán - Việt được dịch trực tiếp và sử dụng như thành ngữ thuần Việt 34
2.1.3 Yếu tố Hán Việt được Nôm hoá để phù hợp với văn hoá ngôn ngữ của người Việt 36
2.1.4 Thay đổi từ ngữ vị trí trong thành ngữ gốc Hán 37
2.1.5 Tăng thêm từ thuần Việt hoặc giản lược yếu tố Hán Việt khi sử dụng thành ngữ Hán Việt 39
2.2 Tình hình sử dụng yếu tố thuần Việt trong thành ngữ tiếng Việt 41
2.2.1 Yếu tố thuần Việt trong thành ngữ tiếng Việt 41
2.2.2 Cấu tạo của thành ngữ mang ngữ thuần Việt 43
2.3.Tiểu kết chương II 47 CHƯƠNG III THỬ SO SÁNH THÀNH NGỮ THUẦN VIỆT VỚI
THÀNH NGỮ HÁN - VIỆT VỀ GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ
THUẬT
Trang 63.1 So sánh giá trị nghệ thuật giữa thành ngữ thuần Việt và thành ngữ sử
dụng yếu tố Hán - Việt 48
3.1.1 Sự giống và khác nhau về kết cấu 48
3.1.2 Sự giống và khác nhau về thanh vận 50
3.1.3 Sự giống và khác nhau về nghệ thuật so sánh 50
3.1.4 Nghệ thuật phác họa hình tượng 51
3.2 So sánh về giá trị nội dung của thành ngữ thuần Việt và thành ngữ có yếu tố Hán - Việt 3.2.1 Khái quát giá trị nội dung của các thành ngữ thuần Việt 52
3.2.2 Khái quát giá trị nội dung của thành ngữ tiếng Việt có yếu tố Hán Việt 58
3.3 Tiểu kết chương III 64
KẾT LUẬN 65
Trang 7MỞ ĐẦU 0.1 Tính cấp thiết của đề tài
Tiếng Việt hay gọi là Việt ngữ, là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh)
và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85%dân cư Việt Nam, cùng với gần ba triệu người Việt hải ngoại Mặc dù, trongvốn từ vựng tiếng Việt có một số lượng khá lớn có nguồn gốc từ tiếng Hánđược người Việt vay mượn để sử dụng trong quá trình tiếp xúc văn hoá Vềmặt văn tự, trước đây người Việt dùng chữ Hán để ghi lại ngôn ngữ của mình,song hành với việc vay mượn và sử dụng chữ Hán (Hán tự), người Việt cònsáng tạo ra loại chữ Nôm của riêng mình Chữ nôm là loại hình chữ viết dongười Việt sáng tạo dựa trên chữ Hán của người Trung Quốc Tiếng Việt ảnhhưởng rất nhiều từ tiếng Hán, trong quá trình phát triển đã du nhập thêm những
từ Hán cổ như “đầu, gan, ghế, ông, bà, cậu…, từ đó hình thành nên hệ thống từHán - Việt trong tiếng Việt bằng cách đọc các chữ Hán theo ngữ âm hiện cócủa tiếng Việt Số lượng từ vựng tiếng Việt có thêm hàng loạt các yếu tố Hán
như: tâm, minh, đức, thiên, tự do…Khi du nhập vào tiếng Việt chúng vẫn giữ
nguyên ý nghĩa chỉ khác cách đọc, thay đổi vị trí các yếu tố cấu tạo từ chẳnghạn như “nhiệt náo” thành “náo nhiệt”, “thích phóng” thành “phóng thích”…hoặc được sử dụng dưới dạng rút gọn như “thừa trần” thành “trần” (trong trầnnhà), “lạc hoa sinh” thành “lạc” (trong “củ lạc”, còn gọi là đậu
Trang 8phộng)… Hay đổi khác nghĩa hoàn toàn như “phương phi” trong tiếng Hán cónghĩa là “hoa cỏ thơm tho” thì trong tiếng Việt có nghĩa là béo tốt Đặc biệt làcác yếu tố Hán Việt được sử dụng để tạo tên những từ ngữ đặc trưng chỉ cótrong tiếng Việt, không có trong tiếng Hán như là các từ “sĩ diện”, “phi công”(dùng hai yếu tố Hán -Việt) hay “bao gồm”, “sống động” (một yếu tố Hán kếthợp với một yếu tố thuần Việt Nói chung tỉ lệ vay mượn tiếng Hán trong tiếngViệt rất lớn (khoảng trên 70%) nhưng đại đa số các yếu tố đó đều đã được Việthoá cho phù hợp với bản sắc tiếng Việt và với nhận thức của người Việt Dovậy tiếng Việt trải qua một quá trình vay mượn lâu dài đã vừa làm giàu chomình lại vừa giữ được bản sắc riêng trước ảnh hưởng của văn hoá Hán Việclợi dụng được những thành tựu ngôn ngữ trong tiếng Hán để tự cải tiến mình,hoàn thiện mình rõ ràng là một đặc điểm độc đáo mà tiếng Việt có được Nóiđến quá trình vay mượn, thường người ta thường chú ý nhiều đến các yếu tốvay mượn mà đôi khi xao lãng, ít quan tâm đến các yếu tố gốc, trong trườnghợp tiếng Việt thì đó là các yếu tố thuần Việt.
Cùng với sự phát triển của xã hội, văn hóa và ngôn ngữ có liên hệ chặtchẽ, không thể tách rời Ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở văn hóa và vănhóa chứa đựng trong ngôn ngữ Chính vì vậy người ta đã nói rằng ngôn ngữ làkết tinh của văn hóa dân tộc, nhờ ngôn ngữ và văn tự mà văn hoá được lưutruyền Văn hóa và ngôn ngữ luôn nương nhờ vào nhau để tồn tại và phát triển
Trang 9Mỗi vùng đất do điều kiện tự nhiên khác nhau tạo nên một cách lối sống
và tư tuy văn hóa khác nhau Những yếu tố này, do vậy, góp phần hình thànhnền văn hóa riêng của từng vùng đất Cho nên, mỗi nền văn hóa có nét đặc sắcriêng thể hiên đặc trưng cho mỗi dân tộc Tính độc đáo, cái “hồn cốt” văn hoákhông chỉ thể hiện thông qua các từ trong vốn từ vựng mà bên cạnh đó cònchứa đựng trong một loại đơn vị khá đặc biệt đó là thành ngữ
Đối với người Việt và người Trung Quốc, thành ngữ không phải là loạiđơn vị từ vựng chỉ được những người “có chữ” sử dụng trong các tác phẩm vănhọc nghệ thuật mà còn được đại đa số quần chúng, những người “bình dân”dùng trong mọi lĩnh vực giao tiếp của đờì sống thường nhật, tính cô đọng vềmặt ngữ nghĩa, uyển chuyển trong sử dụng khiến cho thành ngữ có giá trị ứngdụng rất lớn
Việc tìm hiểu thành ngữ, cụ thể là tìm hiểu sâu việc sử dụng các yếu tốthuần Việt và Hán - Việt trong thành ngữ Việt Nam sẽ giúp chúng ta hiểu toàndiện hơn về kho tàng thành ngữ trong tiếng Việt, từ đó có cái nhìn sâu sắc hơn
về văn hoá Việt Nam, hiểu đúng và nắm bắt được những cái ý nhị trong ngữnghĩa mà thành ngữ tiếng Việt biểu đạt
0.2 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi vào tìm hiểu các yếu tố thuần Việt và Hán - Việt trong thànhngữ tiếng Việt Đối tượng mà luận văn hướng đến chính là cố gắng mô tả một
số đặc điểm của hai loại yếu tố khác nguồn gốc này Tiến thêm một
Trang 10bước, chúng tôi sẽ gắng chỉ ra vai trò, vị trí của từng loại yếu tố trong việc làmnên bản sắc của thành ngữ tiếng Việt Và để làm được điều đó, luận văn sẽtừng bước thống kê, nhận diện rồi phân tích mô tả các loại yếu tố cấu thànhthành ngữ tiếng Việt trên một số phương diện.
0.3 Mục đích và nội dung nghiên cứu
Như đã xác định trong nhan đề luận văn, luận văn của chúng tôi có mụcđích khảo cứu các yếu tố Hán - Việt và thuần Việt trong kho tàng thành ngữtiếng Việt từ đó thấy rõ hơn diện mạo của loại đơn vị từ vựng này về các mặthình thức cấu tạo, cách thức cấu tạo Tiến thêm một bước chúng tôi sẽ tìm hiểu
về cách thức pha trộn các yếu tố Hán - Việt với yếu tố thuần Việt trong mộtthành ngữ như thế nào
0.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về khoa học: Nhận diện lại các yếu tố gốc Hán, thuần Việt trong hệthống từ vựng tiếng Việt nói chung, trong thành ngữ tiếng Việt nói riêng Hiểu
rõ thêm về cách quan niệm về thành ngữ của các nhà ngôn ngữ học TrungQuốc, Việt Nam Giúp người nước ngoài nhận biết về lịch sử và nguồn gốc cácyếu tố cấu thành thành ngữ Việt Nam
- Về thực tiễn: Giúp cho học viên nước ngoài học tốt tiếng Việt và hiểubiết sâu sắc hơn về ngôn ngữ, văn hoá Việt Nam Giải quyết tốt một số vấn đề
về thành ngữ tiếng Việt sẽ giúp cho công tác dịch thuật các tác phẩm văn họcnghệ thuật cũng như các văn bản thuộc các lĩnh vực khác một cách thiết thực
Trang 110.5 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng trong luận văn này được lựa chọn trongcuốn “ Từ điển thành ngữ - tục ngữ Việt Hán” do Nguyễn Văn Khang biênsoạn, NXB Văn hoá Sài Gòn 2008 Sở dĩ chúng tôi chọn cuốn này để khảocứu là vì: đây là một cuốn từ điển mới xuất bản (2008) và tác giả cuốn sách làmột nhà ngôn ngữ học có vốn Hán học khá uyên bác Số lượng thành ngữ Hán(được người Việt chấp nhận và sử dụng) trong cuốn này theo chúng tôi lànhiều hơn các cuốn khác Dù vậy, luận văn cũng tham khảo và sử dụng một sốthành ngữ được chúng tôi tham khảo từ các nguồn khác Chúng tôi coi đây làmột việc dĩ nhiên trong khoa học bởi nguồn tư liệu càng dồi dào thì tính chínhxác và độ thuyết phục khoa học sẽ càng cao
Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn chủ yếu sử dụng phương phápthống kê, phân tích và miêu tả
0.6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chương với nộidung chính như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận liên quan đến luận văn
Chương 2 Tình hình sử dụng yếu tố thuần Việt và Hán Việt trong
thành ngữ tiếng Việt
Chương 3 Thử so sánh thành ngữ thuần Việt và thành ngữ sử dụng yếu
tố Hán Việt về giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật
Trang 12CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN
1.1.Quan niệm về từ thuần Việt và Hán -Việt
1.1.1 Từ thuần Việt.
Khái niệm từ thuần Việt thực ra không phải là một khái niệm dễ nhậnbiết và đến nay cũng chưa phải đã có sự thống nhất trong quan niệm của cácnhà ngôn ngữ học Từ thuần Việt, theo Nguyễn Văn Tu là các từ vốn có từ lâuđời làm thành vốn từ vựng cơ bản riêng của tiếng Việt Ví dụ: cha, mẹ, mưa,nắng, bếp, vườn, mặt trời, đẹp, xấu Ông cho rằng, từ thuần Việt như chúng
ta thấy ngày nay chính là kết quả của sự Việt hoá các yếu tố từ vựng bắt nguồn
từ nhiều ngôn ngữ họ hàng khác Ông viết:
“Những từ thuần Việt là những từ được dân tộc ta dùng từ thượng cổ đếnnay Những từ thuần Việt có quan hệ đến vốn từ vựng cơ bản của nhiều ngônngữ Đông Nam Á như: tiếng Thái, tiếng Môn – Khơ – me v.v ” (Nguyễn Văn
Tu [14,187],
Có cùng quan điểm với Nguyễn văn Tu, Phan Ngọc cũng khẳng định:
“khi nói đến thuật ngữ thuần Việt, một người không quen với ngôn ngữ họchiện đại có thể tưởng đâu rằng đó là những từ do chính bản thân người Việt tạo
ra, không vay mượn ở đâu hết Sự thực thì khái niệm từ Việt, từ Nga, từ
Trang 13Anh đều không phải là những khái niệm lịch sử mà chỉ dựa trên hình thức câu trả lời đối với tiếng Việt là hết sức đơn giản; bất kỳ từ nào đơn tiết cũng là
từ thuần Việt” (Phan Ngọc [16, 114] Tiến xa hơn một bước, Phan Ngọc lấythái độ của người Việt làm tiêu chuẩn đầu để nhận diện đâu là thuần Việt, đâu
là ngoại lai Ông viết:
“Bất kỳ từ láy âm nào cũng được xem là thuần Việt không kể nguồn gốc;
Những từ như lặc lè, lập là, long tong mặc dầu là gốc Pháp cũng được người
Việt Nam xem là từ thuần Việt” (Phan Ngọc [17, 116] Tương tự như hai họcgiả trên, Nguyễn Thiện Giáp, trong các công trình của mình quan niệm:
“Ngoài những từ có thể xác định chắc chắn là tiếng Việt tiếp nhận của tiếngHán và các ngôn ngữ Ấn, Âu, tất cả các từ còn lại đều được gọi là các từ thuầnViệt Những từ được gọi là thuần Việt thường trùng với bộ phận từ vựng gốccủa tiếng Việt, chúng biểu thị những sự vật, hiện tượng cơ bản nhất, chắc chắnphải tồn tại từ rất lâu” (Nguyễn Thiện Giáp [11, 269] Rõ ràng, ngoài những từ
có thể xác định chắc chắn đó là gốc Hán hoặc Ấn – Âu thì ông nhất loạt coivốn từ vựng còn lại trong tiếng Việt đều là từ thuần Việt cả bất kẻ chúng cógốc từ ngôn ngữ nào
Nguyễn Như Ý, không gọi thẳng là từ thuần Việt mà gọi đó là từ gốc.Ông viết: “Từ gốc: Từ vốn có trong thành phần từ vựng ban đầu của một ngônngữ, nằm trong vốn từ cơ bản của một ngôn ngữ, đối lập với từ vay
Trang 14mượn,; còn gọi là từ bản ngữ, từ chính gốc, từ thuần” (Nguyễn Như Ý [4;896].
Theo Trần Trí Dõi: Lớp từ thuần Việt là cốt lõi của từ vựng tiếng Việt
Nó làm chỗ dựa và có vai trò điều khiển, chi phối sự hoạt động của mọi lớp từkhác Nếu coi từ thuần Việt là kết quả của quá trình tiếp xúc, tác động lâu dàigiữa các ngôn ngữ Nam Á và Tày-Thái thì các từ này hình thành nên một lớp
từ vựng cơ bản và lâu đời nhất trong tiếng Việt, có thể chia ra như sau:
Những từ tương ứng với tiếng Mường như: đuôi, móng, mồm, sừng ;
cô gái, đàn ông, vợ, chồng ; cây, củ, cơm, mả ; bí, cỏ, chuối, hành , bướm,cáo, cầy, chuột ; bẩn, cay, chậm, dài ; ăn, bơi, cấy, chạy
Những từ tương ứng với các tiếng Tày-Thái như: bánh, bóc, buộc,
đường, gọt, ngắt, ngọn, rẫy, vắng
Những từ tương ứng với các tiếng Việt-Mường và Tày-Thái như: bão,
bể, dao, gạo, ngà voi, sống
Những từ tương ứng với nhóm Việt-Mường và Bru ở tây Quảng Bình:bụng, bốc, bớt, củi, đêm, mặt trăng, mặt trời, núi, rắn, chuột
Những từ tương ứng với nhóm Việt-Mường và Môn-Khơme ở TâyNguyên: dốc, đèo, khói, mây, mưa, rừng, sấm ; da, đầu gối, mỡ, người, óc,tim, thịt ; bố, bọn, mày, mẹ, nó ; bếp, cày, chổi, cuốc, ruộng ; bịt, bóp, bú,bưng, cắn, cắt, đứng, gãi, hét, lắc, mặc, nghĩ, ngồi, phá, quăng, ôm, rụng, tát,
về, xé
Trang 15Những từ tương ứng với nhóm Việt-Mường và các ngôn ngữ Khơme nói chung: một, hai, ba, bốn, năm ; con, cháu, mọi, người; đất, đá,gió, lửa ; cằm, chân, cổ, lưng ; bay, cắt, đẻ, kẹp, liếc ; ao, cá, chim, lá ;cong, già, mới, ngát.
Môn-Các ví dụ trên đây chứng tỏ rằng cội rễ của từ vựng tiếng Việt hết sứcphức tạp Chúng gồm nhiều nguồn đan xen, chồng chéo, thậm chí phủ lấp lênnhau Nghiên cứu chúng sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc khảocứu nguồn gốc tiếng Việt nói chung Quan điểm trên của Trần Trí Dõi rõ ràng
là rất thống nhất với các cách quan niệm của các tác giả Nguyễn Văn Tu, PhanNgọc, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Như Ý nhưng ông đi vào chi tiết hơn, cụthể hơn Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ cách quan niệm này và muốn nhấn mạnhhơn vào cái tiêu chí “thái độ của người Việt”, bởi vì, thật khó để chúng ta phânbiệt được thế nào là một từ thuần Việt nếu không dựa vào cảm quan của ngườibản ngữ Trên thực tế, xử lý tư liệu sẽ có một số trường hợp mà nếu xét mộtcách nghiêm ngặt thì đó là từ ngoại lai (gốc Hán chẳng hạn) nhưng trong quátrình sử dụng chúng đã trở nên gần gũi với người Việt, được người Việt coi nhưyếu tố gốc, yếu tố thuần Việt
1.1.2 Từ Hán-Việt
Sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán bắt đầu khi nhà Hán của TrungQuốc đô hộ Việt Nam Quá trình tiếp xúc lâu dài giữa hai ngôn ngữ này đã dẫnđến kết quả là tiếng Việt du nhập một khối lượng rất lớn từ ngữ gốc Hán
Trang 16Hiện tượng này diễn ra với các mức độ khác nhau qua các thời kỳ Giai đoạnđầu sự tiếp xúc vay mượn còn mang tính chất lẻ tẻ, rời rạc, chủ yếu thông quacon đường tiếp xúc khẩu ngữ giữa người Việt và người Hán Đến đời Đường,tiếng Việt mới có sự tiếp nhận các từ ngữ Hán một cách có hệ thống qua conđường sách vở Các từ ngữ gốc Hán này chủ yếu được đọc theo ngữ âm đờiĐường tuân thủ nguyên tắc ngữ âm tiếng Việt gọi là âm Hán-Việt Ví dụ:phiền, phòng, trà, trảm, chủ Các từ ngữ gốc Hán nhưng không đọc theo âmHán-Việt như: Các từ được du nhập vào tiếng Việt trước đời Đường, cũng gọi
là âm Hán cổ (tương ứng với các âm Hán-Việt trên là buồn, buồng, chè, chém,chúa ) Ngoài ra cũng cần kể đến những từ xuất phát từ các phương ngữTrung Quốc khác nhau (như tiếng Quảng Đông, tiếng Triều Châu ) được dunhập thông qua đường khẩu ngữ như: ca la thầu, mì chính, xì dầu, bánh pía,sương sáo, lẩu
Vấn đề nguồn gốc từ, đặc biệt là từ Hán - Việt vốn đã được các nhà Việtngữ học chú ý từ lâu Theo một số học giả thì từ Hán Việt được định nghĩa như
sau: “từ Hán Việt đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối
của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt; còn gọi là từ
Việt gốc Hán Ví dụ: Chính phủ, quốc gia, giang sơn, nhân dân, tổ quốc, xã tắc (Cao Xuân Hạo- Hoàng Dũng [2, 360] Theo Bùi Đức Tịnh: “Có thể định
nghĩa một cách giản dị rằng tiếng Hán Việt là những từ tiếng Hán phát âm theo
lối Việt Ban đầu đó là những chữ Hán mà khi học trong sách
Trang 17Trung Hoa, các nhà trí thức ta đọc trại đi theo giọng Việt”; “ Những tiếngTrung Hoa học được, tổ tiên ta nói trại đi Sự biến hoá các tiếng Hán theo âmhưởng Việt Nam ấy đã diễn ra bằng hai cách nói trại của dân chúng (dân hoá)
và cách nói trại của các nhà trí thức (nho hoá)
Những tiếng do các nhà trí thức nói trại sẽ được gọi là tiếng HánViệt”.
(Bùi Đức Tịnh [1, 10]
Cũng theo Bùi đức Tịnh thì: “Tiếng Hán Việt có hai đặc tính.
1 Về chính tả, giữa âm và thinh có một sự liên quan trực tiếp
Ví dụ: Các tiếng hán Việt khởi đầu bằng một nguyên âm chỉ có thể
có các dấu sắc, hỏi, hay không dấu; những tiếng khởi đầu bằng một phụ âm (l,
m, n, ng, ngh, nh) chẳng hạn chỉ có dấu ngã hay dấu nặng
- ẩn, ổn, uỷ, ỷ, ảnh
- Lễ, mẫu, nỗ, ngũ, nghĩa, nhã
2 Về vị trí tương đối của các tiếng dùng chung, tiếng chỉ định đứng
trước tiếng được chỉ định
Các nhà ngôn ngữ học gọi đó là ngữ pháp đặt ngược Ví dụ:
- Hắc y “hắc” chỉ định, làm cho rõ nghĩa tiếng “y”
sinh trùng:
“kí” chỉ
Trang 19ra đời sau khi ta đã mượn toàn bộ hệ thống từ gốc Hán Nhưng hai thứ đềugiống nhau ở một điểm là chúng đi sâu vào sinh hoạt của quần chúng Chínhchúng đã biến đổi các dạng của từ Hán mượn có thể không được dùng nhưnhững từ Hán Việt hoá vẫn tồn tại” (Nguyễn Văn Tu [14,228].
Nguyễn Thiện Giáp, đưa ra một cách nhìn nghiêm ngặt hơn về từ HánViệt Ông viết: “Chỉ được phép coi là từ Việt gốc Hán những từ Hán nào thực
sự nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ
âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp của tiếng Việt” Như vậy, theo sự hình dung củachúng tôi, từ gốc Hán trong tiếng Việt sẽ gồm hai bộ phận chính:
a Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm hán Việt, gọi tắt là từ Hán Việt;
b Các từ ngữ gốc Hán không đọc theo âm Hán Việt
Cả hai bộ phận trên đây đều có những đặc điểm riêng khác với các từ Hán đọc theo âm Hán Việt” (Nguyễn Thiện Giáp [11, 276] Cũng bàn về từ Hán Việt, nhóm tác giả cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” quan niệm: “Từ Hán Việt là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn hai, mà người Việt đã đọc âm chuẩn của chúng theo hệ thống ngữ âm của mình” [7, 254]
1.2 Quan niệm về thành ngữ và cách phân biệt tạm thời giữa thành ngữ với các đơn vị khác (Từ ghép, tục ngữ, quán ngữ, cách ngôn, cụm từ tự do)
Trang 201.2.1 Quan niệm về thành ngữ
1.2.1.1 Quan niệm về thành ngữ của các học giả Trung Quốc
Theo thư tịch Trung Quốc, trước khi dùng thuật ngữ “thành ngữ” thì
người Trung quốc dùng hai chữ thành ngôn để chỉ khái niệm này Vi Trường
Phúc, trong luận văn “Đặc điểm của các thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm trongtiếng Hán (có sự đối chiếu với tiếng việt)” của mình đã viết “Theo Từ DiệuDân thì trước khi hai chữ thành ngữ xuất hiện người ta thường gặp khái niệm
“thành ngôn” Hai chữ này có sớm nhất trong, Kinh dịch, Tả truyện, Li Tao và
một số thư tịch cổ khác” (tr 7) Vi Trường Phúc, cũng trích theo Từ Diệu Dâncho rằng “thực ra từ thời Nguyên, Minh đã có một số sách sử dụng hai chữthành ngữ, còn trước đó, ở đời Tống chưa thấy xuất hiện khái niệm này vàthường gọi những câu nói của người xưa là “cổ ngữ”, “thường ngữ”
Trong các từ điển Trung Quốc, thành ngữ thường được định nghĩa như sau:
Từ điển Từ Nguyên (1915) đưa ra một quan niệm rất rộng về thành ngữ.
Từ điển này coi “thành ngữ là cổ ngữ, phàm những gì lưu hành trong xã hội,
có thể dẫn để biểu thị ý nghĩa của mình đều là thành ngữ” Tương tự như vậy,
từ điển Từ Hải (1936) cũng coi “những cổ ngữ mà được người nay dẫn dụng
gọi là thành ngữ Thành ngữ có nguồn gốc hoặc từ kinh truyện, hoặc từ ngạnngữ ca dao, được xã hội quen biết, được người dân hay dùng quen nghe” Ở
lần xuất bản mới đây (tháng 9 năm 1979), định nghĩa thành ngữ của Từ Hải có
sự thay đổi chút ít, theo đó: Thành ngữ là những từ tổ cố định được quen
Trang 21dùng Thành ngữ trong tiếng Hán thường được cấu tạo dưới dạng tứ tự (bốnchữ) một số thành ngữ có thể lý giải qua từng yếu tố cấu tạo của nó, một sốthành ngữ phải biết được nguồn gốc mới hiểu được ý nghĩa của chúng.
Cũng xuất hiện vào thập kỷ 70 của thế kỷ trước, Mã Quốc Phàm chorằng thành ngữ là những từ tổ cố định được nhân dân quen dùng, có tính lịch
sử và tính dân tộc Về mặt hình thức cấu tạo, thành ngữ Hán dạng thành ngữbốn âm tiết phổ biến nhất Ra đời cùng kì nhưng tác giả Sử Thức có quan niệm
về thành ngữ một cách đa diện hơn, ông chú ý đến không chỉu mặt hình thứckết cấu mà còn chú ý đến cả mặt ngữ nghĩa, chức năng của thành ngữ nữa.Theo ông, thành ngữ là những từ tổ định hình, được mọi người quen dùng xưanay, có tính ước định, thường có hình thức kết cấu và thành phần cấu thành cốđịnh, có hàm nghĩa đặc biệt, không thể chỉ nhìn vào mặt chữ mà đoán nghĩa,chức năng của chúng trong câu tương đương với một từ
Sang thập kỷ 80 (TK.XX) quan niệm về thành ngữ của các nhà Hán ngữ
học lại tiến thêm một bước Hồ Dục Thụ, trong Hán ngữ hiện đại cho rằng
thành ngữ là một loại từ tổ cố định, tính chất của nó gần với quán ngữ, thườngđược sử dụng như một đơn vị với ý nghĩa hoàn chỉnh Ông phân biệt thành ngữvới những đơn vị ngôn ngữ khác, cụ thể: so với quán ngữ thì thành ngữ có tính
ổn định hơn Thông thường, thành ngữ có kết cấu chặt chẽ, không thể tuỳ ýthay đổi thành phần, cũng không giống như quán ngữ có thể tách rời hoặc chenvào một số thành phần khác Thành ngữ cũng khong giống
Trang 22với các danh ngữ cố định danh ngữ cố định tuy cũng không thể tuỳ tiện táchrời hoặc thay đổi thành phần nhưng không phải có sẵn.
Phần lớn thành ngữ đều có tính điển hình, có cơ sở vững chắc trong tậpquán xã hội, nhưng chúng khác với một số từ ghép mang tính điển cố Thànhngữ tuy có kết cấu chặt chẽ nhưng trong thực tế sử dụng vẫn chỉ được xem nhưmột vật ngang giá với từ, bởi chúng vẫn chưa có được sự cố kết của một từ màvẫn còn dáng dấp của một loại từ tổ cố định
Gần đây, khoảng những năm 90 của thế kỷ trước khi xuất bản Thành
ngữ cửu chương, hai tác giả Nhi Bảo Nguyên và Nhiêu Bằng Từ đưa ra cách
hiểu về thành ngữ như sau: Thành ngữ là những từ tổ cố định, đượcv mọingười lâu nay quen dùng, có ý nghĩa hoàn chỉnh, kết cấu ổn định, hình thứcngắn gọn, được sử dụng như một chỉnh thể Với các tác giả này, thành ngữphải là các đơn vị có tính quen dùng về mặt lịch sử, có tính hoàn chỉnh về mặtkết cấu, ngắn gọn về mặt hình thức và là một khối khi sử dụng Tiến xa hơn họphân biệt thành ngữ với cụm từ tự do khi cho rằng, về mặt nội dung, cụm từ tự
do chỉ là sự cộng lại đơn thuần của các ý nghĩa từng thành tố, thứ hai, về hìnhthức cấu tạo, cụm từ tự do là những tổ hợp có tính lâm thời, lỏng lẻo
Tóm lại, theo các nhà Hán ngữ học thì thành ngữ, đến nay được quanniệm là một loại “ngữ” đích thực, nó có các đặc trưng để phân biệt với các loạingữ khác cũng như các loại đơn vị ngôn ngữ khác (cụm từ tự do chẳng hạn)
Về mặt sử dụng, thành ngữ có cương vị tương đương một từ
Trang 23Nói chung, các bước tiến trong quan niệm về thành ngữ về cơ bản có sựtương đồng giữa các nhà Hán ngữ học và Việt ngữ học, đó là việc từng bướctìm tòi, vận dụng các tiêu chí khoa học để tách được thành ngữ ra khỏi các đơn
vị tương cận và xác định cho nó một cương vị độc lập
1.2.1.2 Quan niệm của các nhà Việt ngữ học về thành ngữ
Muốn hiểu rõ thế nào là thành ngữ, cách phổ biến là người ta phân biệt
nó với các loại đơn vị khác: thứ nhất là phân biệt thành ngữ với từ ghép; thứhai là phân biệt thành ngữ với những kiểu cụm từ cố định khác như tục ngữ,quán ngữ, đặc ngữ, cách ngôn; và thứ ba là phân biệt thành ngữ với cụm từ tựdo Khi nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt, giới Việt ngữ học đã đưa ra một
số định nghĩa như sau:
“Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lậpđến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoànchỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra.Những thành ngữ này có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có Nghĩacủa chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từnguyên học” (Nguyễn văn Tu [15, 185] Nguyễn Thiện Giáp, trong Từ vựnghọc tiếng Việt thì định nghĩa ngắn gọn: “Thành ngữ là những cụm từ vừa cótính hoàn chỉnh về nghĩa vừa có tính gợi cảm” (tr 77) Trong “Kể chuyệnthành ngữ, tục ngữ” Hoàng Văn Hành xác định “Theo cách hiểu thông thường,thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái - cấu
Trang 24trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếpthường ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ” (tr 25) Như Ý thì cho rằng: Thànhngữ là “cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thànhmộtchỉnh thể định danh có ý nghĩa chung, khác tổng số ý nghĩa của các thành
tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đenvà hoạt động như một từ riêng biệttrong câu” (tr 36) Tóm lại, thành ngữ thường được nhận dạng với hai tiêu chí(hình thức tổ chức và nội dung ) cụ thể:
“đơn vị định danh bậc hai” và là loại ý nghĩa có tính “biểu trưng hoá”
Trang 25cao độ Phân tích của Nguyễn Văn Khang khi viết lời bạt cuốn “Thành ngữ
học tiếng Việt” của cố GS Hoàng Văn Hành [4],về đặc trưng ngữ nghĩa củathành ngữ là hoàn toàn xác đáng: “Tính hoàn chỉnh về nghĩa của thành ngữđược ông lý giải từ góc độ nghĩa định danh “Song, khác với các đơn vị địnhdanh bình thường, thành ngữ là loại các đơn vị định danh bậc hai” Với cáchnhìn này ông cho rằng thành ngữ là đơn vị từ vựng có lượng nghĩa đôi và hainghĩa này gần như song song tồn tại: nghĩa đen là cơ sở là gốc, nghĩa bóng haynghĩa phái sinh là nghĩa được sử dụng trong hành chức, là nghĩa hình thànhqua quá trình biểu trưng hoá biểu trưng hoá về nghĩa của thành ngữ, theo ông,thể hiện dưới hai hình thức: hình thức so sánh (ẩn dụ hoá) và hình thức ẩn dụ(so sánh ngầm)” (tr 11, 12 - Lời bạt của NVK)
1.2.2.2 Phân biệt thành ngữ với quán ngữ
Đối chiếu với quán ngữ thì sự khác nhau giữa hai loại đơn vị này khóphân biệt hơn bởi lẽ, chúng đều là cụm từ cố định, đều được cấu tạo từ một sốlượng khá lớn các đơn vị âm tiết, mối quan hệ giữa các thành tố của hai loạiđơn vị này cũng phức tạp hơn mối quan hệ giữa các đơn vị của từ ghép, chúngcũng có điểm giống nhau về chức năng tạo câu
Dù vậy, các nhà Việt ngữ học cũng đã phân biệt thành công hai loại đơn
vị này trên cơ sở xem xét các đặc điểm về: Mức độ cố định trong cấu trúc hìnhthức, tính hoàn chỉnh, bóng bẩy về nghĩa Theo đó, Nguyễn Văn Tu cho rằng:
“Quán ngữ là những cụm từ rất gần với cụm từ tự do nhưng tương đối
Trang 26ổn định về cấu trúc, được quen dùng mà các từ tạo ra chúng còn giữ tính độclập, có khi một từ trong đó có thể thay thế bằng một từ khác Nghĩa của cụm từđược thể hiện qua nghĩa đen hay nghĩa bóng của những từ, thành tố của chúng”(tr 182).
Một trong những người bỏ khá nhiều công sức trong việc tìm cách phânbiệt những loại đơn vị ngôn ngữ có nhiều điểm tương cận là Đỗ Hữu châu.Theo ông, trong tiếng Việt có một loại đơn vị gọi là ngữ cố định Ngữ cố địnhkhác với từ ghép và khác cụm từ tự do Đó là các cụm từ nhưng đã cố định hoácho nên cũng có tính chất chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc, có tính xã hội giống như
từ Các ngữ cố định tương đương vớìăt về chức năng tạo câu, tương đương vớicụm từ về mặt ngữ nghĩa Ông cũng cho rằng, do sự cố định hoá, do tính chặtchẽ mà các ngữ cố định ít hay nhiều đều có tính thành ngữ Tiến hành phânloại ngữ cố định, Đỗ Hữu Châu cho rằng, có thể tách những ngữ trung gian vớicụm từ tự do thành một loại gọi là quán ngữ, những trường hợp còn lại, tức lànhững trường hợp trung gian giữa từ phức và các ngữ cố định thực sự được gọi
là thành ngữ
Nguyễn Thiện Giáp trong công trình của mình cũng tách cái gọi là
“ngữ” ra làm 4 loại: 1) Ngữ định danh, 2) Thành ngữ, 3) Ngữ láy âm 4) Quánngữ Theo đó, “ngữ định danh là những cụm từ biểu thị các sự vật, hiện tượnghay khái niệm nào đó của thực tế, bao gồm cả những từ thường được gọi là từ
ghép như: xe đạp, xe máy và những cụm từ thường được gọi là ngữ cố định
Trang 27như: máy hơi nước, phương nằm ngang” “Thành ngữ là những cụm từ vừa có
tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm”; “Thành ngữ khác với ngữ địnhdanhở cả mặt nội dung và cấu trúc cú pháp”; “Về mặt nội dung, ngữ định danh
là tên gọi thuần tuý của sự vật còn thành ngữ là tên gọi gợi cảm của hiện tượngnào đó; ý nghĩa của thành ngữ luôn có tính cụ thể, không có khả năng diễn đạtđồng thời quan hệ và chủng loại, không có cả diện chung lẫn diện riêng của ýnghĩa nhưngữ định danh, và thành ngữ chỉ hình thành ở những phạm vi mà sựphản ánh đòi hỏi cần có sự bình giá và biểu cảm” trong khi đó, Ông (NguyễnThiện Giáp) cho “ngữ láy âm là những đơn vị đợc hình thành do có sự lặp lạihoàn toàn hay lặp lại có sự kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có
Chúng vừa hài hoà về ngữ âm, vừa có sự gợi tả, ví dụ: tim tím mơn mởn, láu
táu, lẻ tẻ Đây là laọi đơn vị trung gian giữa ngữ định danh và thành ngữ”.
Nguyễn Thiện Giáp nhận diện quán ngữ là “những cụm từ được dùng lặp đilặp lại trong các loại văn bản liên kết, đưa đẩy, rào đón hoặc nhấn mạnh nội
dung cần diễn đạt nào đó, ví dụ: của đáng tội, nói khí vô phép, nước non gì Đây là đơn vị trung gian giữa cụm từ tự do và cụm từ cố định” (sdd tr 77, 78).
Với Nguyễn Thiện Giáp, quán ngữ là loại ngữ được sử dụng với chức năngchính là đưa đẩy, rào đón, liên kết hoặc nhấn mạnh ý trong các loại ngôn bản.Chính điều này đã làm cho nó có cương vị là một lớp từ khác với thành ngữ
Trang 281.2.2.3 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ
Đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng thành ngữ và tục ngữkhác nhau ở những điểm sau đây:
- Về cương vị trong hệ thống ngôn ngữ: thành ngữ thuộc về
cấp độ từ trong khi tục ngữ thuộc cấp độ cao hơn (cấp độ câu)
- Về nội dung ngữ nghĩa: Thành ngữ có chức năng định danh còntục ngữ được cho là có chức năng thông báo, phản ánh quy luật, nêu kinh nghiệm về sản xuất đời sống xã hội
Thực ra, sự khác biệt mà các nhà nghiên cứu hướng vào khai thác cũngchưa hẳn đã giúp chúng ta một ranh giới rạch ròi giữa hai loại đơn vị này Lý
do là bởi đây là những đơn vị hai mặt, đơn vị ngôn ngữ - văn hoá Một kết cấunào đó, tuỳ hoàn cảnh, tuỳ mục đích, thái dộ ứng xử của người sử dụng mà nó
sẽ được nhận diện như là thành ngữ hay là tục ngữ Về vấn đề này, một lần nữachúng tôi muốn nhấn mạnh lại, chính thái độ của người xử dụng đôi khi lại lànhân tố quyết định cương vị của một loại tổ hợp nào đó (ở đây là thành ngữ vàtục ngữ) Tính chất hai mặt của thành ngữ, tục ngữ cũng đã được Nguyễn CôngĐức tìm hiểu, khai thác trong luận án tiến sĩ của ông Chúng tôi xin được phépchia sẻ quan điểm của tác giả
1.2.2.4 Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do
Điểm khác biệt đầu tiên thường được các nhà Việt ngữ học nhận diện đó
là tính khác biệt về cấp độ của hai loại đơn vị này Trong khi thành ngữ
Trang 29nằm ở cấp độ ngữ (có cương vị giống từ) thì cụm từ tự do thuộc bình diện nóinăng, bình diện thuộc về những đơn vị không cố định và có thể tháo lắp dễdàng Tính khác biệt về cấp độ khiến cho thành ngữ khác với cụm từ tự do ởmặt quan hệ giữa các thành tố trong nội bộ mỗi laọi “Tính phi cú pháp củathành ngữ được bộc lộ rõ nhất ở tính đối xứng của các thành tố” (tr 86.Nguyễn Thiện Giáp, sdd) Đó cung còn được gọi là: tính không bình thường về
cú pháp” (tr 22 Hoàng Văn Hành, Kể chuyện thành ngữ tục ngữ) Về nội dungngữ nghĩa, thành ngữ là đơn vị có sẵn của ngôn ngữ nên có tính hoàn chỉnh vềnghĩa (điều này cụm từ tự do không có) Nghĩa của thành ngữ luôn tồn tạingoài chuõi lời nói nên có tính ổn định cao Ngược lại, nghĩa của các cụm từ tự
do chỉ là sự tổng hợp nhất thời từ các yếu tố cấu thành mà thôi
Tóm lại, chúng ta có thể nhận diện về thành ngữ như sau:
(1) Thành ngữ (một dạng cụm từ cố định) là đơn vị có sẵn, hiển nhiên,thường tồn tại dưới dạng cụm từ (phần lớn không tạo thành câu hoàn chỉnh vềmặt ngữ pháp);
(2) Thành ngữ là loại đơn vị có cấu trúc cố định, rất khó/không thế tuỳtiện thay thế và sửa đổi thêm bớt về mặt ngôn từ (trừ một số rất ít thành ngữđang trên đường cố định hoá)
(3) Thành ngữ luôn có nghĩa bóng bẩy, biểu cảm Nghĩa của thành ngữ
là sự tổng hoà nghĩa của các thành tố cấu thành và mang tính biểu trưng
Trang 30Ngoài ra có thể nói thành ngữ là những cụm từ chứa đựng sắc thái bìnhgiá, cảm xúc nhất định, hoặc là kính trọng, tán thành; hoặc là chê bai khinh rẻ;hoặc là ái ngại, xót thương… Nó không đơn thuần là hình thức tư tuy bênngoài Nó mô tả cách tư duy trừu tượng một cách ngắn gọn nhất trong nhậnthức Mỗi dân tộc có cách nhận thức và sắp xếp, mô tả thế giới khác nhau từ đótạo nên những độc đáo, những nét riêng mang tính dân tộc trong cách tư duycủa mình Về mặt sử dụng, bởi thành ngữ vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa
có tính gợi cảm Nó không chỉ được nhân dân vận dụng trong đời sống giaotiếp , trong suy nghĩ hằng ngày của họ mà còn được các nhà văn vận dụng để
mô tả, thể hiện tâm lý nhân vật trong tác phẩm của họ
Giống như các từ trong ngôn ngữ, thành ngữ là những đơn vị có sẵn,xuất hiện dần dần từ nhiều nguồn, vào thời điểm khác nhau và được sử dụngrộng rãi, tự nhiên trong đời sống xã hội Các kết quả nghiên cứu đã xác nhậnđược rằng các yếu tố tạo nên thành ngữ vốn thường là những từ ngữ độc lậpnhưng khi đi vào tạo thành ngữ chúng đã có một bước chuyển về “cơ chế”
Mặt khác quan hệ giữa các yếu tố trong thành ngữ, xét về cú pháp, ngữ
âm (âm vận) và ngữ nghĩa nói chung là rõ ràng, có quy luật Song cũng có khánhiều trường hợp, các yếu tố cấu tạo thành ngữ kết hợp với nhau mà khôngtheo quy luật nào mà theo lối nói tắt, nói gộp hoặc theo một cách kết hợp, cách
so sánh lạ, dẫn đến xác định xuất xứ của nó trở nên khó khăn Ngoài ra, việctồn tại các biến thể thành ngữ biểu đạt cùng một ý nghĩa hay
Trang 31biểu đạt các ý nghĩa, các sắc thái nghĩa khác nhau khiến ta khó xác định nguồngốc của nó từ đó cũng rất khó khăn trong lí giải nội dung thành ngữ Nhưngqua cấu trúc và quy luật ngữ nghĩa, đa phần thành ngữ sẽ được chúng ta xácđịnh,nhận diện và phân biệt Những con đường hình thành hệ thống thành ngữcủa tiếng Việt có thể hình dung như sau:
Sử dụng thành ngữ tiếng nước ngoài dưới các hình thức khác nhau.Trong tiếng Việt, thành ngữ vay mượn nước ngoài chủ yếu là các thành ngữgốc Hán được đọc theo âm Hán Việt Những thành ngữ này khi du nhập vàotiếng Việt có thể được giữ nguyên hình thái - ngữ nghĩa, dịch từng chữ (hoặcmột phần hoặc tất cả các yếu tố), hoặc dịch nghĩa chung của thành ngữ, có thayđổi trật tự các yếu tố cấu tạo Thành ngữ vay mượn được sử dụng trong hìnhthức nguyên dạng chiếm tỉ lệ khá lớn so với toàn bộ thành ngữ gốc Hán trongtiếng Việt Theo thống kê, trong số 3567 đơn vị được xác định là thành ngữchúng tôi thống kê được trong “Từ điển thành ngữ - Tục ngữ Việt Hán” có
1182 thành ngữ gốc Hán (giữ nguyên dạng) và 346 thành ngữ có chứa cả cácyếu tố thuần Việt và các yếu tố gốc Hán, chiếm 42,8% (1182+346/3567) ,trong 42,8 % này số thành ngữ gốc Hán nguyên dạng chiếm 70,8% (1182-346/1182), số thành ngữ pha trộn cả hai nguồn gốc Hán và Việt chiếm 29,2%(346/1182) Hầu hết các thành ngữ gốc Hán đều được mượn từ tiếng Hán Bạchthoại Một số thành ngữ vẫn còn giữ nguyên âm Quảng Đông ví dụ như “xập
xí xập ngầu”
Trang 32Thành ngữ gốc Hán mượn nguyên dạng chủ yếu dùng trong văn viết vàmang tính chất sách vở rõ rệt Chúng ta cũng có thể tìm thấy các thành ngữ nàytrong các tác phẩm văn học cổ, trong văn phong chính luận Bởi ngôn ngữ vàvăn hoá Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng từ tư tưởng Nho giáo Trung Quốc Ví
dụ như trong các áng văn thơ cổ thường nói “dân vĩ thực vi tiên”
câu này nguyên bản của nó là “&& & ,, ” Thành ngữ mượn Hán được dùngtrong hình thức dịch ra tiếng Việt, giữ nguyên bộ phận còn lại và cấu trúc thànhngữ gốc
Ngoài thành ngữ gốc Hán, trong tiếng Việt còn có một số thành ngữmượn từ các nước khác trên thế giới có sự ảnh hưởng văn hoá đến Việt Namnhư: Anh, Pháp, Nga…
Bộ phận chủ yếu của hệ thống thành ngữ tiếng Việt là những đơn vịđược cấu tạo từ chất liệu Việt ngữ theo ba con đường sau đây:
1 Định danh hoá các tổ hợp từ tự do
2 Tạo thành ngữ mới theo mẫu của thành ngữ đã có trước
3 Liên kết các thành ngữ có nguồn gốc khác nhau tạo thành mộtthành ngữ mới
Trong số các phương thức trên, phương thức biến tổ hợp tự do thànhthành ngữ và phương thức loại suy theo mẫu có sẵn giữ vai trò quan trọnghàng đầu
Trang 33Như phía trên đã đề cập đến, thành ngữ Hán Việt chiếm tỉ lệ khá lớntrong hệ thống thành ngữ Việt Nam Thành ngữ Hán Việt dùng để chỉ nhữngkết cấu ngôn ngữ rất ổn định, phổ thông, cô đọng về mặt ngữ nghĩa thịnh hànhtrong tiếng Trung Quốc, được du nhập vào Việt Nam và sử dụng rộng rãi từxưa đến nay Thành ngữ Hán Việt rất đa dạng nhưng thường gồm bốn chữ, nămchữ hoặc tám chữ, trong đó tỷ lệ các thành ngữ bốn chữ chiếm số lượng lớnđến 75-80% Kết cấu thành ngữ thường theo dạng biền ngẫu, đăng đối dễ dàngnhận thấy trong các thành ngữ bốn chữ hoặc tám chữ, ví dụ như:
Công thành danh toại: Công thành /Danh toại
Đại sự hoá tiểu, tiểu sự hoá vô: Đại sự / tiểu sự
Còn dạng năm chữ thì hai chữ Hán đầu và hai chữ Hán cuối là hai vế đốixứng qua một chữ ở giữa, ví dụ:
Đại ngư cật tiểu ngư: Đại ngư <cật> tiểu ngư
Rất nhiều thành ngữ sử dụng các điển cố văn học, là các tích truyện xưa
có giá trị giáo dục và ý nghĩa lịch sử sâu sắc Chẳng hạn: Lục lâm hảo hán: chỉngười anh hùng trong dân gian, hoặc bọn cướp trộm tụ tập thành bầy Theotruyện xưa thời Vương Mãng, những kẻ nổi dậy chống lại triều đình tụ họpnhau ỏ núi Lục Lâm
Cũng không hiếm khi thành ngữ Hán Việt được dịch nghĩa để trở thànhthành ngữ Việt, hoặc thành ngữ Hán Việt ngẫu nhiên trùng nghĩa với một thànhngữ do người Việt sáng tạo Trường hợp chuyển hóa từ thành ngữ Hán
Trang 34Việt sang thành ngữ thuần Việt thường gặp đối với những thành ngữ sử dụngthường xuyên trong tiếng Việt, nhưng nếu để nguyên gốc sẽ rất khó hiểu, trúctrắc về mặt ngôn từ, chẳng hạn:
Cung kính bất như tòng Cung kính không bằng tuân
Thủy trung lao nguyệt Mò trăng đáy nước
Tri kỉ tri bỉ Biết mình biết ta
Đại ngư cật tiểu ngư Cá lớn nuốt cá bé
Một số thành ngữ gốc Hán có hai ba biến thể nhưng khi được người Việt
du nhập thì sự lựa chọn đã được người Việt thiên về những thành ngữ có tínhphổ biến hơn (tần suất sử dụng cao hơn, dẫn đến cảm giác quen thuộc hơn),chẳng hạn:
Thành ngữ Hán Việt ít Thành ngữ Hán Việt
được sử dụng thường xuyên sử dụng
Vạn cổ lưu phương Vạn cổ lưu danh
Nhập tình nhập lý Hợp tình hợp lý
Tác uy tác phúc Tác oai tác quái
Khi được chuyển hóa sang thành ngữ Hán Việt, nhiều thành ngữ gốcHán đã có sự chuyển hóa vị trí một số chữ Hán hoặc thay một chữ Hán kháccho phù hợp với tiếng Việt hơn, chẳng hạn:
Trang 35Một số thành ngữ Hán Việt được Việt hóa có nghĩa tương đương, ví dụ:
Thành ngữ Hán Việt nguyên Thành ngữ Hán Việt đã thay đổi chữ bản
Dĩ độc trị độc
Văn dĩ tải đạo
Lấy độc trị độcVăn để tải đạo
1.3 Tiểu kết
Việc tìm hiểu nguồn gốc các yếu tố cấu tạo nên thành ngữ tiếng Việt(yếu tố thuần Việt và yếu tố Hán Việt) giúp chúng tôi hiểu sâu sắc thấu đáonguồn gốc cũng như cách cấu tạo của thành ngữ tiếng Việt nói riêng, của tiếngViệt nói chung Từ đó có cơ sở khoa học hiểu sâu hơn cơ chế hoạt động củamỗi loại thành tố trong các tiểu loại thành ngữ mà chúng tham gia
Thành ngữ là một loại đơn vị từ vựng có kết cấu chặt chẽ ổn định, vàhoàn chỉnh về mặt ý nghĩa Thành ngữ được hình thành trong một quá trình lâudài, do thói quen của người bản ngữ
Trang 36CHƯƠNG II TÌNH HÌNH SỬ DỤNG YẾU TỐ THUẦN VIỆT VÀ HÁN - VIỆT
TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT
2.1 Tình hình sử dụng yếu tố Hán - Việt trong thành ngữ tiếng Việt
Trong thành ngữ tiếng Việt bên cạnh những thành ngữ thuần Việt còn cómột số lượng không nhỏ thành ngữ gốc Hán được người Việt du nhập vào vàđọc theo âm Hán - Việt gọi là thành ngữ Hán - Việt, bên cạnh đó là nhữngthành ngữ có sử dụng yếu tố Hán - Việt Những thành ngữ Hán - Việt khi dunhập vào tiếng Việt có thể được giữ nguyên hình thái, ngữ nghĩa, hoặc dịch sátnghĩa theo từng chữ hoặc dịch nghĩa chung chung của thành ngữ hoặc thay đổitrật tự các yếu tố cấu tạo…
Thành ngữ sử dụng yếu tố Hán - Việt thường được phân chia làm hailoại (1)Một là loại có gốc Hán (2)Loại do người Việt tạo lập từ chữ Hán (Hán
- Việt Việt tạo) Loại có gốc Hán thường được giữ nguyên âm đọc Hán - Việt,
về cấu trúc, âm tiết đều không thay đổi Loại do người Việt tạo lập từ chữ Hán
có thể thay đổi, đảo vị trí, hay thay đổi đối tượng để phù hợp với cấu trúc ngônngữ cũng như các đặc điểm văn hoá xã hội của người Việt
2.1.1 Yếu tố Hán Việt được giữ nguyên dạng
Theo bảng thống kê mà chúng tôi có được, các thành ngữ mượn tiếngHán mà giữ nguyên dạng tiếng Hán, chiếm khoảng 33,1% (1182/3566 đơn vị
Trang 37thành ngữ) Thành ngữ gốc Hán mượn nguyên dạng đa số dùng trong văn viết
và mang tính chất sách vở rõ rệt, chúng ta có thể tìm thấy các thành ngữ nàytrong các tác phẩm văn học, văn phong chính luận, Cách lập ngôn của các tríthức hoặc những người ít nhiều có vốn nho học
Thành ngữ tiếng Hán Âm đọc Hán Việt
Trang 38,,,, Sinh li tử biệt
Những thành ngữ trên giữ lại nguyên vẹn gốc Hán, bao gồm cả từ ngữ,
số lượng, ngữ nghĩa của thành ngữ đều không thay đổi Những thành ngữ nàytuy được cấu tạo bằng những yếu tố Hán Việt, nhưng chúng rất gần gũi vàmang sắc thái biểu cảm rõ ràng, phù hợp với thói quen, với tâm lý của ngườiViệt Đặc biệt chúng ta thấy trong đa phần các thành ngữ các yếu tố cấu thànhchúng tuy là yếu tố Hán nhưng đã được sử dụng rất phổ biến trong giao tiếphàng ngày Nói một cách cụ thể hơn, khi nhìn vào một thành ngữ Hán - Việt
“nguyên dạng” không khó để chúng ta nhận thấy các yếu tố cấu tạo nên chúngđều là các từ Hán - Việt được dùng phổ biến trong Việt ngữ Ví dụ như thànhngữ “Bình an vô sự” có nghĩa bình an, theo thói quen của người Việt khôngcần thay đổi hay biến hoá thành ngữ mà thành ngữ này giữ nguyên vẫn phùhợp và biểu đạt được nội dung truyền tải đến người nghe Hai yếu tố Hán - Việt
“bình an” và “vô sự” là hai từ Hán - Việt trong kho từ vựng Việt ngữ Tronggiao tiếp hàng ngày chúng ta thường xuyên được nghe các câu: “Chúcông/bà/anh/chị lên đường bình an”; “Tôi mong sao cuộc sống của mình
được bình an”; hoặc: “Mọi người đều bị phê bình còn nó thì vô sự” Rõ ràng,