1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người việt (qua khảo sát ở tỉnh bắc giang)

97 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 95,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở tỉnh Bắc Giang...36 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỂU HIỆN SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT Qua khảo sát một số

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TẠ THỊ THẢO

ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT (QUA KHẢO SÁT Ở TỈNH BẮC GIANG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TẠ THỊ THẢO

ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT (QUA KHẢO SÁT Ở TỈNH BẮC GIANG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Kim Oanh

Hà Nội - 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.Các số liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trungthực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trongbất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Tạ Thị Thảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, trước hết tôi xin trân trọng cảm ơnBan giám hiệu trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn –Đại học QuốcGia Hà Nội, Khoa Triết học và các thầy cô giáo đã đào tạo cho tôi có đượcngày hôm nay

Cảm ơn TS Trần Thị Kim Oanh, người thầy đầy tâm huyết trong suốtquá trình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cám ơn tới gia đình, người thân và bạn bècủa tôi, những người đã khích lệ, động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quátrình học và làm luận văn này

Kính chúc Ban giám hiệu nhà trường, các Thầy Cô giáo có nhiều sức khỏe, thành đạt và hạnh phúc

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm

2012

Tác giả luận văn

Tạ Thị Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT Ở TỈNH BẮC GIANG 12

1.1 Khái quát về Phật giáo 12

1.1.1 Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam 12

1.1.2 Tình hình Phật giáo ở tỉnh Bắc Giang 22

1.2 Vài nét về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt 28

1.2.1 Khái niệm, nguồn gốc và bản chất của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên .28

1.2.2 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở tỉnh Bắc Giang 36

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỂU HIỆN SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT (Qua khảo sát một số huyện ở tỉnh Bắc Giang) 44

2.1 Ảnh hưởng đến nhận thức của người Việt 44

2.1.1 Nhận thức của người Việt về thế giới 44

2.1.2 Nhận thức của người Việt về con người 49

2.2 Ảnh hưởng đến việc thực hành nghi lễ trong việc thờ cúng tổ tiên 60

2.2.1 Ảnh hưởng đến việc thực hành nghi lễ qua các ngày trong năm 60

2.2.2 Ảnh hưởng đến việc thực hành nghi lễ trong tang ma 68

2.3 Ý nghĩa sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở tỉnh Bắc Giang 79

KẾT LUẬN 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC 92

Trang 6

4

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước vàgiữ nước Qua hàng nghìn năm, tư tưởng Phật giáo đã du nhập, truyền bá vàảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân nước ta.Bắc Giang là một vùng đất cổ, Phật giáo đã du nhập vào vùng đất này từ rấtsớm và có những ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn hóa tinh thần củangười dân nơi đây, trong đó phải kể đến đó là những ảnh hưởng của Phật giáođến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt

Thờ cúng tổ tiên là một hiện tượng xã hội đã xuất hiện từ xa xưa tronglịch sử nhân loại và đã từng tồn tại ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.Cho đến nay, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên vẫn có vai trò khá quan trọng trongđời sống tinh thần của con người

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên chịu ảnh hưởng của một số tư tưởng tôngiáo trong đó có tư tưởng của Phật giáo Phật giáo ảnh hưởng rất lớn đến sựgiữ gìn và phát triển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, trước hết là quan niệm củaPhật giáo về cái chết, về kiếp luân hồi và nghiệp báo Trước khi Phật giáo dunhập, thờ cúng tổ tiên vừa là một đạo lý vừa là một tín ngưỡng của ngườiViệt Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là niềm tin của con người vào sự linh thiêngcủa tổ tiên, họ tin rằng dù tổ tiên đã đi vào cõi vĩnh hằng nhưng tổ tiên vẫn ởbên cạnh con cháu, phù hộ con cháu khi gặp khó khăn, vui mừng khi con cháugặp may mắn, và quở trách khi con cháu làm những điều sai trái Khi du nhậpvào nước ta, Phật giáo đã gạt bỏ phần triết lý xa xôi, khó hiểu, trở về với cuộcsống trần thế hàng ngày, kết hợp và ảnh hưởng đến tín ngưỡng thờ cúng tổtiên của người Việt, Phật giáo đã thấm sâu vào trong đời sống của dân chúng,tồn tại qua nhiều thế hệ, được đông đảo nhân dân Việt Nam hưởng ứng vàđón nhận

Trang 8

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở nước ta nói chung và ởtỉnh Bắc Giang nói riêng trong quá trình hình thành và phát triển đã góp phầntạo ra những giá trị đạo đức truyền thống đó là lòng hiếu thảo, nhân ái, tínhcộng đồng, tính cần cù, siêng năng, Đó là những giá trị hết sức quý báu cầnđược bảo lưu, kế thừa, nghiên cứu, khai thác và phát huy để phục vụ cho sựnghiệp xây dựng xã hội mới.

Thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng cổ truyền mang tính phổquát của người Việt Nó trở thành một tập tục truyền thống có vị trí hết sứcđặc biệt trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam Cùng với tiến trìnhlịch sử của dân tộc, nó là sự bồi lắng, kết tụ những giá trị đạo đức quý báu củacon người Việt Nam nói chung, người Việt ở tỉnh Bắc Giang nói riêng

Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống vật chất và tinhthần của người dân Bắc Giang ngày càng được nâng cao Tín ngưỡng thờcúng tổ tiên có cơ sở để tồn tại và phát triển mạnh mẽ, thể hiện đạo lý làmngười và những giá trị đạo đức của con người Mối quan hệ tương hỗ giữaPhật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã tạo nên sức mạnh hướng conngười sống có đạo lý, biết yêu thương nhau Sự bổ trợ giữa giáo lý Tứ Ân củaPhật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên góp phần làm cho tín ngưỡng thờcúng tổ tiên được hoàn thiện hơn, góp phần củng cố và duy trì ý thức nhớ vềcội nguồn

Dưới ảnh hưởng của Phật giáo, bên cạnh những mặt tích cực nêu trênthì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở tỉnh Bắc Giang còn một sốtồn tại như nghi lễ thờ cúng rườm rà, phô trương về địa vị, một số người dâncòn tin tưởng thái quá, đốt vàng mã, lễ bái cầu kỳ tốn kém…làm mất đi ýnghĩa của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Do vậy việc tìm hiểu những ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡngthờ cúng tổ tiên của người Việt là một việc làm cần thiết, lấy tín ngưỡng thờ

Trang 9

cúng tổ tiên của người Việt ở Bắc Giang làm đối tượng để khảo cứu, qua đó

để thấy rõ hơn những ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổtiên, để có thể phần nào giúp các cán bộ quản lý văn hóa, các cơ quan chứcnăng tiếp tục bảo tồn những giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiêncũng như có những biện pháp thích hợp trong việc quản lý tôn giáo, tínngưỡng Đó là những lý do cho thấy việc cần thiết của việc nghiên cứu đề tài

“Ảnh hưởng của Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt(qua khảo sát ở tỉnh Bắc Giang)”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở nước ta, vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những vấn đề đượccác nhà khoa học quan tâm Đã có rất nhiều tác giả dành nhiều thời gian nghiêncứu và đã có những công trình có ý nghĩa sâu sắc về vấn đề này:

Thứ nhất, nghiên cứu về Phật giáo và Phật giáo Việt Nam có các công trình tiêu biểu: Trần Thái Tông với bộ Khóa Hư Lục đã phân tích hành động

nối liền đời sống nhập thế với đời sống xuất thế, xã hội với thiên nhiên, nhânsinh với nghệ thuật bằng một dòng tâm linh khai triển cởi mở, ông đã phântích nguyên nhân của khổ đau là do con người bỏ mất cái tâm của mình, ôngđưa ra lý thuyết về sự sinh tồn của con người; Nguyễn Lang (2008) với cuốn

sách “Việt Nam Phật giáo sử luận”(3 tập); Trà Giang Tử (2000) với cuốn sách “Phật giáo Việt Nam”; Nguyễn Tài Thư (1989) với cuốn sách “Lịch sử Phật giáo Việt Nam”(2 tập); Nguyễn Duy Hinh (1999) với cuốn sách “Tư tưởng Phật giáo Việt Nam”

Tuy có cách tiếp cận và sự cảm nhận khác nhau nhưng các tác phẩmtrên đã khám phá rất cặn kẽ và rành mạch về Phật giáo thế giới cũng như Phậtgiáo ở Việt Nam – một thực thể tinh thần đã tồn tại hàng nghìn năm và khôngphải với tư cách một tôn giáo ngoại nhập, mà đã được bản địa hóa từ rất lâu

Trang 10

và vẫn thường xuyên được bản địa hóa để trở thành một phần tâm linh củadân tộc Việt Nam.

Thứ hai, nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có các công trình tiêu biểu: Tân Việt (1991) với cuốn sách “Phong tục cổ truyền Việt Nam: Tập văn cúng gia tiên”; Hồ Văn Khánh (2006) với cuốn sách “Tâm hồn, khởi nguồn của văn hóa tâm linh”; Toan Ánh (1991) với cuốn sách “phong tục Việt Nam (thờ cúng tổ tiên)”; Nguyễn Duy Hinh (2007) với cuốn sách “ Tâm linh Việt Nam”; Phan Kế Bính (1995) với cuốn sách “Việt Nam phong tục”

Những tác phẩm này đã nghiên cứu các vấn đề về phong tục, tập quánnói chung và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt nói riêng Phong tục,tập quán và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt được đề cập đến ởnhiều góc độ khác nhau đã khẳng định sự đa dạng và phong phú của nền vănhóa nước ta

Thứ ba, nghiên cứu về mối quan hệ các tôn giáo với tín ngưỡng Việt Nam có các công trình tiêu biểu: Trần Quốc Vượng (2003) với “ Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm”; Nguyễn Đăng Duy (1999) với cuốn sách “ Phật giáo với văn hóa Việt Nam”; Nguyễn Bá Hoàn (2007) với cuốn sách “ Phật giáo và cuộc sống: Chân dung và đối thoại”

Thứ tư, nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng ở tỉnh Bắc Giang: Sở văn hóa thể thao du lịch tỉnh Bắc Giang “Di sản văn hóa Bắc Giang”; Hoàng Thị Hoa, Giám đốc Sở văn hóa thể thao du lịch tỉnh Bắc Giang “Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở tỉnh Bắc Giang”

Những bài viết này đã đưa ra cái nhìn khái quát về tình hình Phật giáo

và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người dân tỉnh Bắc Giang

Ngoài những tác phẩm trên còn có các luận án tiến sĩ, thạc sĩ, các bàiviết trên các tạp chí như: Tạp chí nghiên cứu tôn giáo, tạp chí nghiên cứu con

Trang 11

người, tạp chí triết học…đã nghiên cứu về Phật giáo, về tín ngưỡng tổ tiêndưới nhiều góc độ khác nhau.

Tuy nhiên cho đến nay chưa có được những công trình nghiên cứuchuyên sâu và cụ thể về sự ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng

tổ tiên của người Việt dưới góc độ tôn giáo, triết học Vì vậy, qua việc khảosát ở một số huyện tại tỉnh Bắc Giang, tôi sẽ phát triển và làm sáng tỏ sự ảnhhưởng đó qua một số biểu hiện cụ thể: Nhận thức của người Việt, thực hànhnghi lễ…Qua đó, nêu lên ý nghĩa sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với tínngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu làm rõ sự ảnh hưởng của Phật giáo với tín ngưỡngthờ cúng tổ tiên của người Việt (qua khảo sát ở tỉnh Bắc Giang), trên cơ sở đónêu nên ý nghĩa của sự ảnh hưởng Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiêncủa người Việt

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

Một là làm rõ sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam và tình hình Phậtgiáo ở tỉnh Bắc Giang

Hai là phân tích một số nét cơ bản về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên củangười Việt ở tỉnh Bắc Giang

Ba là phân tích ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổtiên của người Việt (qua khảo sát ở tỉnh Bắc Giang) trên một số lĩnh vực:Nhận thức của người Việt; Việc thực hành nghi lễ thờ cúng…qua đó nêu lên

ý nghĩa của sự ảnh hưởng Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Trang 12

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Sự ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của ngườiViệt (người Kinh)

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu sự ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng thờcúng tổ tiên của người Việt (qua khảo sát ở tỉnh Bắc Giang, cụ thể là nghiêncứu, khảo sát ở huyện Tân Yên, Việt Yên và thành phố Bắc Giang Trong đótập trung khảo sát, nghiên cứu sâu ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡngthờ cúng tổ tiên của người Việt trong phạm vi gia đình, dòng họ), trên một sốbiểu hiện cụ thể như nhận thức của người Việt, thực hành nghi lễ thờ cúng tổtiên của người Việt

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận:

Luận văn được xây dựng trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ nghĩaMác-Lênin về tôn giáo; Quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, Nhànước về vấn đề tôn giáo nói chung,

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Để hoàn thành luận văn này người viết sử dụng các phương phápnghiên cứu chính: Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, điềndã…

6 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở phân tích sự ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt (Qua khảo sát ở tỉnh Bắc Giang), trên một số lĩnh vực biểu hiện như: Nhận thức của người Việt; Thực hành nghi lễ thờ cúng tronggia đình người Việt Luận văn nêu lên ý nghĩa của sự ảnh hưởng Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh

Trang 13

hưởng tiêu cực sự ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiêncủa người Việt.

7 Ý nghĩa của luận văn

Ý nghĩa lý luận: Qua việc khảo sát một số địa phương ở tỉnh BắcGiang, luận văn tìm hiểu và phân tích sự ảnh hưởng của Phật giáo đến tínngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt trên một số lĩnh vực biểu hiện cụ thểnhư: Nhận thức của người Việt; Thực hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên trong giađình

Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảocho công tác nghiên cứu và giảng dạy về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng,đồng thời luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định chính sáchđối với tôn giáo của Đảng và nhà nước

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 02 chương 05 tiết

Trang 14

NỘI DUNGCHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT Ở TỈNH BẮC

GIANG 1.1 Khái quát về Phật giáo.

1.1.1 Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam

Phật giáo hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ VI trước côngnguyên Phật giáo là tôn giáo của Ấn Độ, sau đó được truyền bá ra các quốcgia phương Đông hình thành nên những dòng Phật giáo khác nhau: Phật giáoViệt Nam, phật giáo Trung Quốc

Người sáng lập ra Phật giáo là thái tử Tất Đạt Đa, con vua Tịnh Phạn,người trị vì bộ tộc Sakya ở miền bắc Ấn Độ Người đời sau gọi Tất Đạt Đa làphật Thích Ca Mâu Ni Ông mất năm 483 trước CN, thọ 80 tuổi Đạo Phậtđược truyền ra ngoài biên giới rất sớm theo hai hướng chính: Một về phươngNam, hình thành nên phái Nam Tông (phật giáo Tiểu Thừa), một về phươngBắc, hình thành nên phái Bắc Tông (Phật giáo Đại Thừa) Tiểu Thừa hay ĐạiThừa được coi như những cỗ xe đưa chúng sinh đến nơi thanh tịnh, đến giảithoát, nhưng nếu Tiểu Thừa như “cỗ xe nhỏ”, ngụ ý chỉ chở một người thì ĐạiThừa như “cỗ xe lớn”, ngụ ý chở được nhiều người Tuy công năng của Phậtgiáo Tiểu Thừa và Phật giáo Đại Thừa có sự khác nhau nhưng cả hai phái đềutôn trọng những tư tưởng cơ bản của Phật Thích Ca Mâu Ni, nhất là những tưtưởng về thế giới quan và nhân sinh quan

a Thế giới quan Phật giáo:

● Thuyết vô thường

Vô thường tức là thường xuyên biến đổi Các sự vật hiện tượng trong

vũ trụ không đứng yên mà luôn chuyển động theo chu trình: Sinh, trụ, dị, diệt

Sự thay đổi này luôn tuân theo những quy luật nhất định

Trang 15

Vô thường là một tiến trình tự nhiên của mọi sự vật trong thế giới, vạnvật trong thế giới chỉ là dòng biến hoá vô thường, vô định không do một vịthần, một lực lượng siêu nhiên nào sáng tạo ra.

Thế giới và cả con người được cấu thành bởi sự liên hợp của hai yếu tốDanh và Sắc, Danh là yếu tố tinh thần, là cái tâm lý, không có hình chất màchỉ có tên gọi Sắc là yếu tố vật chất, là cái có thể cảm giác được Danh và sắchợp lại với nhau thành “ngũ uẩn”, ngũ uẩn tác động qua lại trong sự biến hoá

vô thường tạo nên vạn vật

● Thuyết vô ngã:

Vô ngã là không có cái ta, không có cái bản thể vĩnh hằng, bất biến

Vì thế giới là dòng biến ảo, vô thường không ngừng, không nghỉ nênkhông có cái “bản ngã” hay “cái tôi” và cũng chẳng có cái thực thể

Theo triết học Phật giáo, mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đều bị chiphối của luật nhân duyên “Duyên” là điều kiện, là cái khiến cho “nhân” sinh

ra thành “quả” Nhân nào thì quả ấy, cứ thế nối tiếp nhau vô cùng và vô tận

● Vô tạo giả

Đạo Phật cho rằng thế giới do các loại vật chất tạo thành Mọi sự vậttrong vũ trụ được Phật giáo gọi là vạn Pháp Phật giáo cho rằng vũ trụ tự nó,không do ai sinh ra, không ai có thể tiêu diệt Vũ trụ là không sinh, khôngdiệt, vô thủy, vô chung

b Nhân sinh quan Phật giáo:

Học thuyết nhân sinh quan Phật giáo gắn bó chặt chẽ và là hệ quả trựctiếp của những quan niệm về thế giới ở trên và sự tiếp thu tư tưởng luân, hồi,nghiệp báo của Upanisad

Mục đích cuối cùng và cũng là tư tưởng xuyên suốt toàn bộ nhân sinhquan phật giáo là tư tưởng “giải thoát” chúng sinh khỏi kiếp sống trầm luânđau khổ

Trang 16

● Học thuyết về Tứ diệu đế:

Một là Khổ đế: Khổ đế là định đề đầu tiên nói về những nỗi khổ củacon người Theo Phật giáo, trong cuộc sống có 8 nỗi khổ mà con người phảitrải qua Ngoài bốn nỗi khổ do sinh, lão, bệnh, tử gây ra, con người còn khổ

vì yêu thương nhau mà phải xa nhau (Thụ biệt ly), khổ vì oán ghét nhau màphải tụ hội với nhau (Oán tăng hội), khổ vì muốn mà không được (Sở cầu bấtđắc), khổ vì sự cảm thụ, sự tụ hội của ngũ uẩn (Thụ ngũ uẩn) Con người ởđâu, làm gì cũng khổ, đời là bể khổ

Hai là Tập đế: Tập đế đề cập đến nguyên nhân tạo ra những nỗi khổ củađời người Phật giáo cho rằng nguyên nhân của những nỗi khổ đau của conngười là do lòng tham, sân, si vô độ Con người muốn trường tồn mãi mãi,nhưng thực tại cứ luôn luôn thay đổi, biến hoá trong vòng sinh, lão, bệnh, tử.Không có gì là thực là của ta nhưng vì lòng tham lam, sân, si vô độ mà lầmtưởng là có ta và do ta nên con người cứ khát ái, tham dục, hành động đểchiếm đoạt nhằm thoả mãn những ham muốn, dục vọng đó Điều đó đã gâynên sự khổ ải, reo rắc nỗi đau thương cho con người, gây nên nghiệp báotrong đời người và đẩy con người vào trong bể khổ triền miên của cuộc đời

Ba là Diệt đế: Phật giáo khẳng định cái khổ có thể tiêu dịêt được, vòngluân hồi có thể chấm dứt được, chúng sinh có thể thoát khỏi nghiệp chướng,luân hồi, đạt tới cảnh Niết bàn

Bốn là Đạo đế: Trình bày con đường mà chúng sinh phải tuân theo đểdiệt khổ và giải thoát, con đường đó là trọng đạo mà đức Phật đã vạch ra đểphá vỡ sự mê muội, dứt bỏ cái vô minh, tăm tối để đạt được sự sáng tỏ, nhận

ra chân bản của vạn vật và muôn loài Con đường đó là tu luyện, suy tư,chiêm nghiệm nội tâm, thực nghiệm tâm linh theo 8 phương hướng chủ yếutheo Bát chính đạo: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp,Chính mệnh, Chính tịnh tiến, Chính niệm, Chính định

Trang 17

Ngoài 8 con đường trên, đạo Phật còn đề ra một số biện pháp rất cụ thểtrên con đường tu luyện, đó là phải thực hiện sáu phép tu (lục độ) và năm điềurăn (ngũ giới).

● Luật mười hai nhân duyên:

Vô minh : Là không sáng suốt, ngu tối nên thế giới là ảo, là giả mà cứ

cho là thật

Hành : là ý muốn thúc đẩy hành động tao tác.

Thức : là nhận thức, ý thức phân biệt cái tâm trong sáng cân bằng với

cái tâm ô nhiễm, mất cân bằng

Danh -sắc là sự thống nhất, kết hợp cái vật chất và tinh thần Đối với

các loại hữu hình thì sự phối hợp của Danh và Sắc sẽ sinh

Thụ là sự cảm thụ, sự nhận thức trước tác động của thế giới bên ngoài

Ái là sự yêu thích mà nảy sinh ham muốn dục vọng do cảm thụ thế giới

bên ngoài

Thủ là giữ lấy và chiếm lấy cái mà mình yêu thích.

Hữu là sự tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được.

Sinh là sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại.

Lão tử là già và chết vì có sự sinh thành.

Đó là 12 nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra cái vòng luẩnquẩn của nỗi khổ đau nhân loại

٭Thuyết nhân quả:

Khi lý giải về sự phát sinh, tồn tại và phát triển của vạn sự vạn vật (vạnpháp) trong vũ trụ Phật giáo cho rằng mọi vật đều có nguyên nhân sinh ra vàmất đi, sự vật này ra đời, tồn tại và phát triển được là do kết quả của cácnguyên nhân trước đó và đến lượt nó lại là nguyên nhân cho các sự vật khácsinh ra, tồn tại và hiện hữu trong vũ trụ này Theo đó thì mọi vật dù to lớn như

“mặt trăng và các vì tinh tú” hay nhỏ bé như “hạt cát hạt bụi”, dù vô hình hay

Trang 18

hữu hình thì đều có nguyên nhân sinh ra, tồn tại và mất đi Nói cách khác,toàn bộ thế giới này đều bị chi phối bởi luật nhân quả.

Quy luật nhân –quả diễn ra theo 2 quá trình cơ bản:

Nhân –quả nối tiếp nhau vô gián đoạn: Là nguyên nhân sinh ra kết quả,đồng thời quả lại trở thành nguyên nhân của một kết quả mới Qúa trình đódiễn ra liên tục không gián đoạn

Nhân –quả nối tiếp nhau vô tạp loạn: Nhân nào thì sinh ra quả ấy, “ác giả

ác báo” Ta gieo nhân lành thì được quả lành, còn ngược lại, gieo nhân ác thìgặt được quả ác

Thuyết nhân quả của đạo Phật là những tư tưởng bao hàm trong nó nhiềuyếu tố biện chứng sâu sắc, đồng thời cũng mang những giá trị thực tế cao trên

cơ sở những lý luận của thuyết nhân quả cho rằng vạn pháp, vạn vật trong vũtrụ đều có nguyên nhân sinh ra và mất đi

٭Thuyết luân hồi nghiệp báo:

Luân hồi dịch từ chữ Samsara trong tiếng Phạn Theo chữ Hán thì Luân

là bánh xe, hồi là xoay tròn Luân hồi là hình ảnh bánh xe xoay tròn Phật sửdụng hình ảnh này để chỉ sự lên xuống, xuất hiện của mỗi chúng sinh trongsáu cõi (lục đạo), khi đầu thai ở cõi này, khi ở cõi khác luôn luôn nối tiếp tửsinh, sinh tử không ngừng

Nghiệp (Karma) tức là hành động tạo ra sức mạnh thúc đẩy con người

có hành động mới và thúc ép con người nhận chịu hậu quả, ràng buộc conngười với hậu quả đó

Theo thuyết luân hồi nghiệp báo thì vạn vật trong vòng luân hồi sinh tử

đã gieo các “nhân” khác nhau, các giống vật đều có mỗi vật một nghiệp quảriêng, chúng thừa tự nghiệp của chúng, chúng có nghiệp làm tổ tiên gia tộc vàthượng đế Chính nghiệp báo ấy đã xếp đặt chúng vào tất cả mọi chủng loạithứ hạnh

Trang 19

Do luật luân hồi nghiệp báo bao trùm lên cả hiện tại, quá khứ và tươnglai cho nên người nào làm nên nghiệp thiện dù chỉ ở đời này thì cả ở đời này,đời sau, thậm chí đời sau nữa vẫn được hưởng quả thiện, được các phầnthưởng nơi thế gian như: phú quý, thọ, sang, minh Còn ngược lại kẻ nào gieonghiệp ác thì tất sẽ bị quả ác nghiệp báo.

Phật giáo vào nước ta qua đường giao lưu kinh tế giữa Việt Nam và Ấn

Độ vào khoảng thế kỷ II T.CN, trung tâm Phật giáo đầu tiên là Luy Lâu (BắcNinh) Nước ta là đất giao nhau của nhiều nền văn hoá, là một quốc gia giápbiển, một cửa ngõ để đi vào Trung Hoa, đồng thời chịu ảnh hưởng của vănminh Ấn Độ, Phật giáo vào nước ta trước hết bằng đường biển (còn gọi làđường gia vị) theo bước chân của các doanh nhân và các tăng sỹ Ấn Độ,ngoài ra Phật giáo còn du nhập vào nước ta bằng đường bộ Du nhập vàonước ta, Phật giáo đã dung hòa được với hệ tư tưởng và tín ngưỡng của dântộc, vì vậy nó nhanh chóng tìm được chỗ đứng và có những ảnh hưởng nhấtđịnh với đời sống văn hoá tinh thần của nước ta

Khi Phật giáo truyền vào nước ta, tín ngưỡng của người dân là đa thầngiáo, người dân thờ Thần Sấm, Thần cây, Thần Núi…do có giáo lý phù hợpvới đời sống của người dân nên đạo Phật nhanh chóng được tiếp nhận ThuyếtNhân quả trong đạo Phật phù hợp với quan niệm ông Trời trừng phạt kẻ ác,cứu giúp người lành Thuyết Luân hồi trong đạo Phật phù hợp với quan niệm

về sự tồn tại của linh hồn sau khi chết Sự tiếp nhận này không gây ra sự thayđổi đột ngột trong đời sống tinh thần của người dân nước ta, nó được ví như

“nước ngấm vào lòng đất”

Sang thế kỷ V-VI lại có thêm luồng Phật giáo Đại Thừa Bắc Tông từTrung Quốc tràn vào Vào thế kỷ thứ VI, nước ta đã là một quốc gia có sựphát triển hưng thịnh của Phật giáo

Trang 20

Từ Trung Hoa, có ba tông phái Phật giáo được truyền vào Việt Nam:Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Mật Tông Tuy nhiên khi truyền vào nước ta thìkhông có sự tách biệt rạch ròi mà là sự tổng hợp các tông phái cùng với tínngưỡng bản địa, vì vậy mà không có tông phái nào là thuần khiết.

Thiền Tông du nhập vào nước ta từ những thế kỷ đầu công nguyên.Thiền Tông lấy thiền định làm pháp tu (tu thiền: yên lặng mà suy nghĩ), chủtrương của Thiền Tông là không câu nệ vào sách vở mà chủ yếu dựa vào thiềnđịnh để giác ngộ Phật tính cho mình Thiền Tông quan niệm Phật tại tâm, Phật

có ở mọi nơi, giáo lý của Thiền Tông gần gũi với chúng sinh, làm cho conngười tin vào mình, tin vào công lao tu dưỡng để thành công trong việc tiếpcận chân lý, ngoài ra, Thiền Tông còn có một số yếu tố khác dễ thu hút nhiềungười theo như lấy việc phục vụ xã hội làm điều kiện tu hành, chấp nhận sựbần khổ và xem lao động cũng là cách tu chân chính Quan niệm như vậy đãlàm cho Thiền Tông dễ dàng đi sâu vào tầng lớp quần chúng lao động

Tịnh Độ Tông do nhà sư Tuệ Viễn sáng lập ở Trung Quốc vào cuối thế

kỷ IV Tông phái này chủ trương thờ Tam bảo (A Di Đà, Quan Thế Âm, ĐạiThế Chí) và niệm Phật, dựa vào Phật lực để giải thoát là chủ yếu, chủ trươngdựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài để cứu chúng sinh thoát khỏi đau khổ, đó làviệc hướng họ đến một cõi niết bàn cụ thể gọi là cõi Tịnh độ Đây là tông pháimang tính phổ quát, dân giã nên thu hút đông đảo tín đồ, tông phái này cónhững nét gần gũi với người dân lao động Với trình độ tư duy có hạn, ngườidân không thấu hiểu được sự cao siêu của giáo lý Phật giáo, bằng tấm lòngthành kính, họ mong được Phật chứng giám để phù hộ, che chở, giúp họ cóđược sức mạnh, niềm tin để có thể chiến thắng được những trở ngại trongcuộc sống

Mật Tông (Chân Ngôn Tông) do một số nhà sư Ấn Độ khai lập khoảngthế kỷ II sau Công Nguyên Mật Tông được hình thành trên nền tảng tư tưởng

Trang 21

của Phật giáo Đại Thừa, nhưng cách tổ chức, tu tập lại mang màu sắc của Ấn

Độ giáo có tính chất huyền bí, nặng về ẩn chú phù phép, lễ thức thờ phụngtương đối phức tạp Mật Tông đề cao vai trò của người xuất gia tu hành Phậtgiáo Mật Tông đáp ứng được nhu cầu tâm linh luôn đặt niềm tin vào sự chechở của thánh thần, cầu mong có những bùa phép để chế ngự ma quỷ, đem lạiyên bình cho cuộc sống của người dân nước ta lúc đó Đây là phái chủ trương

sử dụng những phép tu huyền bí để thu hút tín đồ và mau chóng hoà vào dòngtín ngưỡng dân gian với những truyền thống cầu đồng, dùng pháp thuật

Đến thời Lý Trần, Phật giáo Việt Nam phát triển tới mức cực thịnh Sang thời Lê, nhà nước lấy Nho giáo làm chủ đạo tinh thần nên Phậtgiáo dần suy giảm

Đầu thế kỷ XX, trước những biến động do sự giao lưu với phương Tâymang lại, phong trào chấn hưng Phật giáo được dấy lên làm cho Phật giáo trởthành tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất ở Việt Nam

Phật giáo Việt Nam là Phật giáo được bản địa hóa khi du nhập từ Ấn

Độ và Trung Quốc vào Việt Nam, Phật giáo Việt Nam mang những đặc điểmkhác biệt so với Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo của các nơi khác trên thếgiới Phật giáo là tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng nhất ở Việt Nam Theothống kê của Ban Tôn giáo chính phủ Việt Nam năm 2009, hiện có gần10triệu tín đồ Phật giáo, còn theo số liệu thống kê của Giáo hội Phật giáo ViệtNam, cả nước có gần 45 triệu tín đồ quy y tam bảo, có 839 đơn vị gia đìnhPhật tử và khoảng 44.498 tăng ni, hơn 14.775 tự, viện, tịnh xá, tịnh thất, niệmPhật đường

Phật giáo nước ta không rập khuôn theo con đường Phật giáo của cácnước Phật giáo nước ta không ham chuộng sự bay bổng hoặc thực tiễn tháiquá như Phật giáo Ấn Độ và cũng không duy lý, nặng tính thần bí, mê tín nhưPhật giáo Trung Quốc, Mông Cổ Phật giáo nước ta gắn liền với dân tộc, với

Trang 22

làng quê và thôn xóm Đó là tâm linh, tín ngưỡng của số đông các tầng lớptrong xã hội, không có sự phân biệt giàu nghèo, giai cấp thống trị hay bị trị,phật giáo nước ta chung sống hòa đồng với các đạo khác như đạo Nho, đạoLão và các hình thức tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam.

Phật giáo Ấn Độ và nhiều nước khác không chủ trương nhập thế mà làmột tôn giáo xuất thế Trong lịch sử phát triển Phật giáo Việt Nam cũng cóthời kỳ như vậy nhưng nhìn chung, Phật giáo nước ta là Phật giáo nhập thế.Phật giáo xuất thế nhấn mạnh “đời là bể khổ” và con đường thoát khỏi bể khổ

là tu tập kiên trì để đạt tới cõi Niết bàn không còn đau khổ và bất công Phậtgiáo Việt Nam nhấn mạnh nguyên nhân của nỗi khổ là do chính con người và

xã hội nên Phật giáo Việt Nam thường coi việc đạo chính là cuộc đời Conđường thoát khổ là con đường đấu tranh diệt ác, tu nhân tích đức thành ngườilương thiện và khuyến khích con người làm việc thiện dưới nhiều hình thứcphù hợp với hoàn cảnh của mỗi người

Phật giáo đến nước ta khi nền độc lập đang bị xâm phạm, nhân dân tađang sống khổ cực dưới ách thống trị của tầng lớp cầm quyền Trung Quốc.Trong hoàn cảnh đó, những quan niệm của Phật giáo như từ, bi, hỷ, xả hayhọc thuyết Tứ Ân (ân Tam bảo, ân cha mẹ, ân quốc gia xã hội, ân pháp giớichúng sinh) đã góp phần phát huy và nâng cao tinh thần yêu nước, truyềnthống nhân đạo của dân tộc ta Đây là cơ sở để Phật giáo kết hợp và ảnhhưởng đến truyền thống nước ta, trong đó phải kể đến những ảnh hưởng củaPhật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Trong giáo lý của Phật giáo khá gần gũi với tinh thần vị tha bao dung,yêu thương, đùm bọc nhau trong truyền thống của người Việt, ở gia đình phật

tử bàn thờ phật có thể đặt ngang hàng với bàn thờ tổ tiên hoặc thờ chung trênmột ban thờ Trong lời khấn tổ tiên, dường như người Việt khấn “Nam mô a

di đà Phật” 3 lần sau đó mới cầu đến các vị tổ tiên của mình Chính vì biết

Trang 23

uyển chuyển, dung hợp với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (phật giáo có ngày lễ

Vu lan xá tội cho những linh hồn tổ tiên được trở về và cả những vong hồnlang thang không người thờ cúng, lễ thức lại đơn giản) nên Phật giáo đãnhanh chóng chiếm được vị trí trong đời sống tâm linh của người Việt, nhưthách thức với thời gian, với lịch sử, phật giáo Việt Nam vẫn an nhiên đứng

đó Đã có biết bao tư tuởng và tôn giáo từ bên ngoài đưa vào nước ta nhưngPhật giáo xem ra càng lâu càng sâu gốc bền rễ

Triết lý nhân sinh của Phật giáo đã góp phần củng cố nội dung triết lýcủa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt, nó luôn nhắc nhở con ngườisống không phải chỉ vì mình mà còn phải vì người khác trong cộng đồng.Cộng đồng có ý nghĩa nhất đối với mỗi người là gia đình Trong gia đình cha

mẹ là người có công sinh thành giáo dưỡng Trong kinh pháp của Phật giáo đềcao Tứ ân: Ân tổ quốc, ân đồng bào, ân Phật pháp, ân cha mẹ Dù phật phápkhông hề nhắc đến việc thờ cúng tổ tiên nhưng thông qua việc thờ phật, niệmkinh, mỗi tín đồ phải luôn tưởng nhớ đến người sinh thành nuôi dưỡng mình

Không chỉ Phật giáo dung hợp và ảnh hưởng đến tín ngưỡng thờ cúng

tổ tiên để cùng tồn tại mà tín ngưỡng này cũng cần Phật giáo như một điểmtựa tinh thần có tính chất hệ thống lý luận cho các quan niệm tâm linh

Như vậy, khi Phật giáo truyền vào nước ta, tín ngưỡng của người Việt

là đa thần giáo, người dân thờ Thần Sấm, Thần cây, Thần Núi…do có giáo lýphù hợp với đời sống của người dân nên đạo Phật nhanh chóng được tiếpnhận, sự tiếp nhận này không làm cho đời sống tinh thần của người Việt thayđổi một cách đột ngột, người Việt thờ cúng đức Phật cũng như thờ các vị thầnbản địa Tất cả những tư tưởng chủ yếu về thế giới quan và nhân sinh quanPhật giáo nói trên, đặc biệt là quan niệm của Phật giáo về con người, về thếgiới, về luân hồi nghiệp báo…đã có ảnh hưởng lớn đến việc giữ gìn và pháttriển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt

Trang 24

1.1.2 Tình hình Phật giáo ở tỉnh Bắc Giang

Tỉnh Bắc Giang có hai tôn giáo chính là đạo Phật và đạo Công giáo,đây là hai tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân và được hoạt động theo quyđịnh của pháp luật, phân bố ở 195 xã, phường, thị trấn trong tỉnh

Theo tài liệu lịch sử để lại và qua việc điều tra khảo sát cụ thể các ngôichùa cổ ở Bắc Giang cho thấy, đến nay đã phát hiện ba dấu chân Phật trên đá,

mà theo tín ngưỡng đạo Phật đó là những biểu tượng Phật cổ xưa từ Ấn Độảnh hưởng đến Việt Nam Đó là dấu chân Phật ở chùa Am Vãi xã NamDương huyện Lục Ngạn, dấu chân Phật trên đá lớn ở chùa Yên Mã, xã BắcLũng và dấu chân Phật ở chùa Hang Non xã Khám Lạng, huyện Lục Nam.Các tài liệu này cho thấy, Phật giáo du nhập vào Bắc Giang khá sớm, khoảngtrước thế kỷ X và được tiếp nhận từng bước theo từng giai đoạn khác nhautrên cơ sở đó hình thành và tạo ra hai trung tâm phật giáo lớn là trung tâmphật giáo thời Trần (thế kỷ VIII), là chốn tổ đình Vĩnh Nghiêm (huyện YênDũng) thuộc trường phái Trúc Lâm (Yên Tử) và trung tâm Phật giáo thời Lê(thế kỷ XVIII), là chốn tổ Bổ Đà (huyện Việt Yên) thuộc phái Lâm Tế

Hai trung tâm Phật giáo này trong lịch sử đã hoạt động khá mạnh mẽ

để truyền bá đạo Phật vào trong đời sống xã hội

Phật giáo vào vùng đất Bắc Giang là Phật giáo Thiền Tông nhưngkhông thuần túy, nó có sự kết hợp các yếu tố của Tịnh Độ Tông, Mật Tông.Mặt khác, trong khi du nhập vào Bắc Giang, đạo Phật đã tiếp thu và kết hợpvới các yếu tố văn hóa dân gian, đạo giáo

٭ Phật giáo Bắc Giang thời Lý:

Qua sách Thiền Uyển tập anh, một tài liệu quý dùng để nghiên cứu cácphái Phật giáo thời Lý, được các thiền sư Phái Vô Ngôn Thông nối đời ghichép từ khá sớm để đến thời Trần được cố định văn bản Những ghi chép nàycho biết, đến thời Lý, Phật giáo ở Bắc Giang đã phát triển mạnh mẽ nên đã có

Trang 25

người trở thành đại sư của Phật giáo cả nước Điều này hoàn toàn phù hợp vớinhững dấu vết vật chất còn được tìm thấy ở các ngôi chùa lớn mà nay chỉ còn

là những phế tích ở trên các ngọn núi ở phía Bắc của dãy Yên Tử Đây cũng

là địa bàn vùng Lạng Châu –Động Giáp được nhắc đến trong sách Việt Sửlược với dòng họ Thân bốn đời làm phò mã cho vua nhà Lý Ngoài ra, cáccông chúa nhà Lý còn lên các chùa ở vùng Động Giáp tu hành, ngày nay cònđược thờ ở một số đền chùa: Chùa Hả, chùa Chể (huyện Lục Ngạn- BắcGiang)

٭ Phật giáo ở Bắc Giang thời Trần:

Trần Nhân Tông là ông vua hai lần lãnh đạo quân dân Đại Việt khángchiến chống quân xâm lược Nguyên Mông thắng lợi vào năm 1285 và năm

1288 Người đã lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và ra sức tổ chức giáohội Phật giáo Đại Việt Tại các chùa lớn như chùa Yên Tử (Quảng Ninh),chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) đã được ba vị tổ sư của Thiền phái kết hợp

an cư Vì vậy, thời gian này nhiều người dân trong cả nước hướng về Yên Tử

٭ Phật giáo ở Bắc Giang thời Lê:

Khi nhà Lê thành lập (thế kỷ XV), Nho giáo chiếm địa vị độc tôn và Phật giáo bị suy yếu, nhưng điều đó không có nghĩa Phật giáo bị đấy lùi hoàn

Trang 26

toàn Đức tin dân gian kết hợp với tín ngưỡng Phật giáo có từ trước tạo thành

áp lực khiến các ông vua Lê theo Nho giáo cũng không vượt qua được Năm

1434 có hạn hán, vua Lê Thái Tông đã phải sai quan ruớc Phật Pháp Vân từchùa Dâu về Thăng Long để làm lễ cầu mưa và cho dựng đàn chay ở ngayđiện Cần Chánh

Sau chiến tranh Trịnh –Mạc, Trịnh –Nguyễn, nhân dân đau khổ tìm đếnPhật giáo để được an ủi, các thế lực thống trị cũng muốn có chỗ dựa tinh thần,coi việc ủng hộ Phật giáo để củng cố thế lực dòng họ Phật giáo vì thế mà bắtđầu phát triển trở lại

Thế kỷ XVII – XVIII, nước ta bị chia làm hai miền là đàng trong vàđàng ngoài với sự hình thành hai tập đoàn thống trị là Trịnh – Nguyễn Phậtgiáo tiếp tục được phát triển Ở Bắc Giang, một số trung tâm Phật giáo lớnđược tu sửa, đặc biệt là sự ra đời của Trung tâm Phật giáo Bổ Đà (Việt Yên).Chùa Bổ Đà tọa lạc trên ngọn núi Bổ Đà (xã Tiên Lát –Việt Yên), dân gianthường gọi là chùa Bổ gắn liền với truyền thuyết ông Bổ cầu tự, dựng chùa.Chùa Bổ Đà là một trung tâm Phật giáo lớn của tỉnh Bắc Giang, thuộc trườngphái Trúc Lâm do Trần Nhân Tông lập ra ở Yên Tử, thuộc dòng Lâm Tế,nhưng có tính chất độc lập, sáng tạo của Phật giáo Việt Nam Ở chùa Bổ Đà,các vị tổ cho khắc nhiều bản kinh luật để phục vụ cho việc truyền bá đạo Phật.Chùa Bổ Đà còn là nơi đào tạo tăng đồ cho cả tỉnh, các bộ sách Kinh phật đãđược dịch từ chữ Hán Nôm sang chữ Quốc ngữ để phổ biến, truyền dạy Phậtgiáo cho các tăng ni về đây học tập

٭Phật giáo Bắc Giang thời Nguyễn:

Sau khi nhà Tây Sơn thất bại, Nguyễn Ánh lập nên triều Nguyễn, Phậtgiáo Việt Nam ở vào tình trạng đặc biệt Các ông vua triều Nguyễn có thái độkhác nhau với Phật giáo nên sự phát triển của Phật giáo có những bước thăngtrầm

Trang 27

Ở miền Bắc xa kinh đô Huế nên chùa chiền không được xây dựng ồ ạtnhư trước nhưng việc trùng tu các ngôi chùa vẫn được tiếp tục Văn bia các ngôichùa ở Bắc Giang đã phản ánh rõ thực tế này, tại các trung tâm Phật giáo lớn ở BắcGiang như Vĩnh Nghiêm, Bổ Đà vẫn tiếp tục được tu bổ, việc đào tạo các tăng ni

ở các trung tâm này không ngừng phát triển để duy trì chùa ở các địa phương

Thế kỷ XX, dưới sự thống trị của thực dân Pháp và sự tiếp xúc với vănhóa phương Tây, đã đem lại cho Phật giáo nước ta nhiều biến chuyển cả vềkiến trúc và tổ chức Phật giáo Tổng hội Phật giáo Bắc Kỳ được thành lập tạichùa Quán Sứ (Hà Nội) Bên tăng ni bầu ra ban trị sự và tôn sư chùa VĩnhNghiêm (Bắc Giang) làm Thiền gia giáo chủ

٭Phật giáo Bắc Giang hiện nay:

Năm 1997, sau khi tái lập tỉnh, Ban trị sự tỉnh hội Phật giáo tỉnh BắcGiang được thành lập, trụ sở đóng tại chùa Hà Vị (phường Trần Nguyên Hãn,Bắc Giang), có 4 Ban đại diện phật giáo huyện là: Việt Yên, Yên Dũng, HiệpHòa, thành phố Bắc Giang và 1 trường trung cấp Phật học Sinh hoạt đạo hàngtháng vào ngày mùng 1 và ngày 15 âm lịch Ngoài ra còn có những ngày lễtrọng là ngày Phật đản, tổ chức vào ngày 15 tháng 4 âm lịch, lễ Vu Lan báohiếu vào ngày 15 tháng 7 âm lịch

Số chức sắc Phật giáo hiện có 86 tăng ni trụ trì ở 63 chùa, gồm : 01 hòathượng, 02 ni trưởng, 01 thượng tọa, 03 ni sư, có 3.305 người tham gia Ban

hộ tự tại các địa phương, bao gồm những tín đồ phật tử tuổi từ 50 trở lên đãquy y và được giáo hội cấp chứng điệp Giúp việc trong chùa còn có Ban hộtịch, toàn tỉnh có 412 di tích mang đặc trưng về tôn giáo, xếp hạng và côngnhận là di tích được 134 cơ sở thờ tự [6; tr1]

Sau khi ban trị sự Phật giáo tỉnh và cơ sở được củng cố hoạt động củaGiáo hội Phật giáo tỉnh đi vào nề nếp Các lễ hội truyền thống như lễ Phật

Trang 28

Đản, lễ Vu Lan, các lễ hội truyền thống ở chốn tổ Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng),

Bổ Đà (Việt Yên) và ở nhiều chùa trong tỉnh đều được ban trị sự Phật giáotỉnh quan tâm, giúp đỡ, hướng dẫn chỉ đạo để các ngày lễ diễn ra đúng chínhsách, đúng pháp luật Các hoạt động khác cũng được ban trị sự Phật giáo tỉnhquan tâm:

Công tác từ thiện:

Tuy điều kiện của tăng ni Phật tử trong tỉnh còn nhiều khó khăn nhưngtăng ni vẫn tham gia ủng hộ nông dân nghèo, đồng bào lũ lụt, trẻ em mồ côi,giúp đỡ những người bất hạnh do di chứng chiến tranh để lại tiêu biểu nhưHòa thượng Bồ Đà Thích Quảng Luân, thầy Thích Thiện Văn

Công tác hướng dẫn cho nam nữ Phật tử:

Bắc Giang là tỉnh miền núi, thiên nhiên không ưu đãi nên cuộc sốngcủa tăng ni và nhân dân còn nhiều khó khăn Vì vậy, việc hảo tâm cúng Giàngcủa Phật tử rất ít, trình độ giáo lý của tín đồ Phật giáo còn hạn chế, việc giảnggiải giáo pháp cho tín đồ còn gặp nhiều khó khăn tuy vậy nhưng tăng nitrong tỉnh Bắc Giang vẫn tranh thủ thời gian để thuyết pháp cho tín đồ vàotừng buổi tối như chùa Bổ Đà, chùa Đức La nhân những ngày lễ hội lớn ChùaDền, chùa Hồng Phúc, chùa Đa Mai thì thuyết pháp theo lịch trình hàngtháng nhằm dạy cho tín đồ sống tốt đời đẹp đạo, hiểu rõ vô thường, giác ngộ

về đạo theo chính pháp Từ bỏ ngoại đạo, xa rời đồng bóng, cách ly thầy mo,

cô đồng để tham gia tích cực vào các phong trào mà Đảng và nhà nước đã đềra

Công tác tu bổ chùa cảnh:

Các chức sắc và Phật tử đã quan tâm xây dựng, tu sửa các chùa khangtrang sạch đẹp hơn, năm 1999 có 16 chùa được xây mới, các chùa khác đềuđược tu sửa

Công tác đào tạo:

Trang 29

Việc độ nhân xuất gia trao truyền Pháp giới cho các tăng ni Phật tử BắcGiang luôn được quan tâm Dù số lượng tăng ni còn ít, nhưng dưới sự chỉ đạocủa Trung ương giáo hội và các cấp chính quyền, tỉnh hội Phật giáo BắcGiang thống nhất cho tăng ni an cư kiết hạ ở hai nơi: Tại trung tâm Phật giáotỉnh và tại chốn tổ Bổ Đà Cả hai nơi an cư kiết hạ đều do Hòa thượng trưởngban làm đường chủ.

Khóa an cư ở trung tâm Phật giáo tỉnh có mở đàn giới: Tỷ kheo tăng, tỷkheo ni, Sadi tăng và sadi ni Tính đến hết năm 1999, tỉnh hội Phật giáo tỉnhBắc Giang đã tổ chức được 3 khóa an cư kiết hạ, tổ chức thụ giới và traotruyền giáo pháp cho 121 vị tăng ni trong tỉnh, giáo hội Phật giáo tỉnh đã chọn

5 tăng ni đi học trường cao cấp Phật học trung ương

Mặc dù mới được tái lập nhưng Hội Phật giáo tỉnh Bắc Giang đã hoạtđộng thống nhất trên địa bàn tỉnh nhằm phục vụ đời sống xã hội, xây dựngquê hương tốt đẹp, phát triển nền văn hóa dân tộc, góp phần vào việc chống tệnạn xã hội, mê tín dị đoan, lợi dụng tín ngưỡng Thực hiện tinh thần đoàn kết,hòa hợp, tạo điều kiện giúp đỡ, đào tạo tài năng lớp trẻ có trình độ, tri thứcphục vụ nhân dân và đồng bào Phật tử Đồng thời tham gia tích cực vào cácphong trào thi đua toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư,sống tốt đời, đẹp đạo, phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, tích cựctrong lao động sản xuất, phát triển kinh tế, thực hiện tốt chính sách của Đảng

và Nhà nước

Như vậy, Phật giáo đã du nhập vào tỉnh Bắc Giang từ rất sớm, Phật giáo

có ảnh hưởng rất lớn đến sự giữ gìn và phát triển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên củangười Việt, trước hết là quan niệm của Phật giáo về cái chết, kiếp luân hồi vànghiệp báo Ngay từ trước khi tiếp nhận Phật giáo, người Việt ở Bắc Giang đã cónhững tín ngưỡng riêng của mình Trải qua những hoàn cảnh lịch sử khắc nghiệt,tín ngưỡng ấy không phát triển thành tôn giáo được, song có

Trang 30

một sức sống dai dẳng trong tâm linh mọi người Có một mảng ngày nay vẫncòn rất được tôn trọng và dễ dàng nhận ra là đạo thờ Tổ tiên trong gia đình,sau mở ra thờ Thành hoàng ở đình làng, thờ anh hùng dân tộc hay Tổ chungcủa cả nước ở đền.

1.2 Vài nét về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt

1.2.1 Khái niệm, nguồn gốc và bản chất của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

٭Nguồn gốc người Việt:

Người Việt hay người Kinh là một dân tộc hình thành tại khu vực địa lý

mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam và miền Nam Trung Quốc Đây là dân tộcchính, chiếm khoảng 86,2% dân số nước ta và được gọi chính thức là dân tộcKinh để phân biệt với những dân tộc thiểu số tại Việt Nam Ngôn ngữ chínhngười Việt sử dụng là tiếng Việt theo nhóm Việt –Mường Người Kinh sinhsống trên khắp toàn thể nước ta nhưng tập trung nhất là ở các vùng đồng bằng

và thành thị trong nước Theo truyền thuyết dân tộc Kinh, những người Việtđầu tiên là con cháu của một thần rồng tên là Lạc Long Quân và một vị tiêntên là Âu Cơ Hai người lấy nhau và đẻ ra một bọc 100 trứng nở ra 100 ngườicon Những người sinh ra cùng một bọc được gọi là “cùng bọc” (hay đồngbào) và “đồng bào” là cách gọi của người Việt để nói rằng tất cả những ngườiViệt Nam đều có chung một nguồn gốc

Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Kinh ở nước ta códân số trên 73 triệu người, chiếm 85,7% dân số cả nước, cư trú tại tất cả cáctỉnh, thành phố ở nước ta Trong đời sống của người Việt, nền kinh tế mạnhnhất là nền nông nghiệp lúa nước Ngoài làm nông nghiệp, người Việt cònlàm một số nghề khác như chăn nuôi gia súc, làm thủ công ngoài các giá trịvật chất, người Việt có những giá trị tâm linh như việc thờ cúng tổ tiên, giỗ vàcác lễ hội

٭ Khái niệm tín ngưỡng:

Trang 31

Tín ngưỡng được biểu hiện bằng nhiều hình thức đa dạng và phongphú, vì vậy mà các nhà nghiên cứu đã có những nhận xét và phân tích dướinhững góc độ khác nhau:

Từ góc độ xã hội học, Durkhiem cho rằng tín ngưỡng là những trạngthái tư tưởng nằm ở các biểu tượng và được thể hiện thông qua các nghi lễ thờcúng Theo ông, tín ngưỡng “tô tem” của người nguyên thủy vừa là biểutượng của thần linh vừa là biểu tượng của cộng đồng xã hội, đây là tín ngưỡngphổ biến trong xã hội nguyên thủy

Từ góc độ dân tộc học, Wschmidt cho rằng tín ngưỡng chẳng qua làhình thức tôn giáo nguyên sơ, là niềm tin vào một vị chúa vĩ đại và vĩnh hằng,nhân từ và sáng tạo đang ngự trị trên trời Tín ngưỡng là hiện tượng phổ biến

có ở giai đoạn khởi đầu của mọi dân tộc

Từ góc độ triết học, các nhà triết học duy tâm khách quan như Platon,Hêghen đã xuất phát từ thực thể tinh thần như “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối”

để lý giải các hiện tượng lịch sử xã hội trong đó có tín ngưỡng Nhìn chung họcho rằng tín ngưỡng tôn giáo là sức mạnh thần bí thuộc tinh thần tồn tại vĩnhhằng, là nhân tố chủ yếu đem lại sinh khí cho con người

Các nhà triết học duy tâm chủ quan lại cho rằng, tín ngưỡng tôn giáo làthuộc tính vốn có trong ý thức của con người, tồn tại không phụ thuộc vàohiện thực khách quan

Như vậy, do hạn chế về mặt lịch sử nên những quan niệm về tínngưỡng của các nhà khoa học trên đây còn thiếu cơ sở khoa học Quan điểmduy tâm cho tín ngưỡng là hiện tượng thần bí, chỉ có thể cảm nhận mà không

lý giải được

Triết học mác xít đã có một bước đột phá khi xem xét, lý giải tínngưỡng tôn giáo từ những cơ sở thực tiễn của nó C.Mác, Ph Ăngghen khẳngđịnh: Tín ngưỡng là một yếu tố của đời sống xã hội, hơn nữa là sản phẩm của

Trang 32

lịch sử xã hội do con người sáng tạo ra Tín ngưỡng là một bộ phận của ý thức

xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội Tínngưỡng là niềm tin của con người vào sự tồn tại và sự cứu giúp của một thựcthể siêu nhiên nào đó được thể hiện thông qua hệ thống nghi lễ

Ở nước ta, một số nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra quan điểm của mình

về tín ngưỡng:

Đặng Nghiêm Vạn xem tín ngưỡng là một yếu tố chính của tôn giáo,quy định sức mạnh của tôn giáo với cộng đồng: “tín ngưỡng chỉ niềm tin tôngiáo Những thể loại tôn giáo tuy đơn giản về nội dung, nghi lễ nhưng mangtính cộng đồng”[76; tr23]

Nguyễn Đăng Duy lại cho rằng “tín ngưỡng là một cách từ thực tế cuộcsống cộng đồng con người ý thức về một dạng thần linh nào đó, rồi cộngđồng con người ấy tin theo tôn thờ lễ bái, cầu mong cho hiện thực cuộc sống,gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy”[24; tr22]

Như vậy, chúng ta có thể hiểu tín ngưỡng là một bộ phận của ý thức xãhội, là một yếu tố thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần, là hệ quả của các quan hệ

xã hội được hình thành trong quá trình lịch sử văn hóa, là sự biểu hiện niềmtin dưới dạng tâm lý xã hội vào cái thiêng liêng thông qua hệ thống lễ nghithờ cúng của con người và cộng đồng người trong xã hội

Có nhiều hình thức tín ngưỡng như: Tín ngưỡng thờ thần, tín ngưỡngthờ Mẫu, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên…trong đó tín ngưỡng thờ cúng tổ tiênđược coi là hình thức tín ngưỡng có sức sống bền bỉ và mạnh mẽ, có ảnhhưởng sâu rộng trong đời sống của người dân

٭Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là khái niệm mang nghĩa phổ quát thể hiệnđạo hiếu của con người và được hiểu theo nhiều cách khác nhau:

Trang 33

Có người gọi là tục thờ cúng tổ tiên, có người lại gọi là sự thờ cúng tổtiên, có người gọi là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Một số nhà nghiên cứu chorằng có thể gọi là đạo thờ cúng tổ tiên, nhưng đạo ở đây được hiểu là đạo lýlàm con, đạo làm người.

Tổ tiên là khái niệm dùng để chỉ những người có cùng huyết thống, đã

mất như kỵ, cụ, ông, bà, cha, mẹ là những người có công sinh thành và nuôidưỡng, có ảnh hưởng lớn đến đời sống vật chất và tinh thần của các thế hệ concháu

Tổ tiên trong xã hội nguyên thủy có nguồn gốc là tổ tiên trong tôtemgiáo của thị tộc Tổ tiên tôtem giáo trong thời kỳ thị tộc mẫu hệ là những vậttrong thiên nhiên được thần thánh hóa, được coi là tôtem (vật tổ) của thị tộc,

là các vật thiêng và các thần che chở của gia đình thị tộc Thời kỳ thị tộc phụ

hệ, tổ tiên là những người đứng đầu thị tộc đầy quyền uy Khi họ mất, thìnhững biểu tượng về họ là: Ý niệm về linh hồn người chết; tổ tiên tôtem; thầnche chở cho gia đình thị tộc Đó là những yếu tố chính tạo nên biểu tượng về

tổ tiên được thờ cúng

Tổ tiên trong xã hội có giai cấp được thể hiện đầy đủ hơn Họ thường lànhững người đàn ông giữ vị trí chủ gia đình, gia tộc, đã mất, có quyền thừa kế

và di chúc tài sản theo chế độ phụ quyền

Trong quá trình phát triển của lịch sử, khái niệm tổ tiên không còn chỉ

bó hẹp trong phạm vi truyền thống gia đình, họ tộc mà đã mở rộng ra phạm vicộng đồng, xã hội

Tổ tiên theo quan niệm của người Việt Nam trước hết là những người

có cùng huyết thống như: Cha, mẹ, ông bà, cụ, kị sau là những người cócông tạo dựng nên cuộc sống của cộng đồng như các vị thành Hoàng làng, cácnghệ tổ tổ tiên trong tín ngưỡng của người Việt còn là mẹ Âu Cơ, còn là VuaHùng, là người sinh ra các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam

Trang 34

Thờ cúng là hoạt động có ý thức của con người, là tổng thể phức hợp

những yếu tố: Ý thức về tổ tiên và lễ nghi thờ cúng trong không gian thờcúng

Thờ là yếu tố thuộc ý thức về tổ tiên, là tâm linh, tình cảm của con cháu

hướng về cội nguồn Thờ tổ tiên là sự thể hiện lòng thành kính, biết ơn, tưởngnhớ tổ tiên Đồng thời cũng là sự thể hiện niềm tin vào sự che chở, bảo hộ, trợgiúp của tổ tiên

Cúng là yếu tố mang tính lễ nghi, là sự thực hành một loạt các động tác

của người được quyền thờ cúng Đó là hoạt động dưới dạng hành lễ được quyđịnh do quan niệm, phong tục, tập quán của mỗi cộng đồng, dân tộc Nghi lễthờ cúng được thực hiện bởi người trưởng gia đình, dòng họ với các động tácdâng lễ vật, khấn, lễ trong không gian thờ cúng: Bàn thờ tại gia đình, nhà thờhọ

Thờ và cúng là hai yếu tố tác động qua lại, thống nhất với nhau trongtín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Như vậy, theo nghĩa hẹp, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là sự thờ cúngcha mẹ, ông bà, tổ tiên, những người có cùng huyết thống đã mất, có côngsinh thành, nuôi dưỡng con cháu

Theo nghĩa rộng, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên “không chỉ thờ nhữngngười có công sinh dưỡng đã khuất, nghĩa là những người có cùng huyếtthống mà thờ cả những người có công với cộng đồng, làng xã và đấtnước”[76; tr315]

Như vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được thể hiện ở 3 cấp độ: thờcúng trong gia đình, thờ cúng trong làng xã và thờ cúng của cả nước

Trước khi có sự du nhập của Phật giáo, nước ta đã có một cơ tầng vănhóa Đông Nam Á với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, phồn thực, vật linh giáo.Thờ cúng tổ tiên ở nước ta mang tính chất phổ biến, tồn tại ở nhiều vùng

Trang 35

miền, tộc người, giai tầng, và đã bén rễ, ăn sâu vào đời sống tinh thần củanhiều thế hệ người Việt Nam với những hình thức và mức độ khác nhau Tuynhiên, thực tế đã chứng minh và khẳng định rằng, đã là người Việt Nam, dù làngười có tôn giáo hay không tôn giáo thì hầu hết đều có tâm thức thờ cúng Tổtiên, thành kính gia tiên, tôn thờ những nhân vật lịch sử hay truyền thuyếtđược coi là có công với dân với nước.

٭Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một bộ phận của ý thức xã hội, nảy sinhtrên cơ sở kinh tế- xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội:

Thứ nhất, nguồn gốc xã hội của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Sự phân

hóa trong xã hội thị tộc phụ quyền dẫn tới việc đề cao vai trò của người đứngđầu gia đình – thị tộc là nguyên nhân trực tiếp mang tính xã hội của tínngưỡng thờ cúng tổ tiên Những người này, bằng uy tín của mình đã củng cố

và thiêng liêng hóa sự thờ cúng tổ tiên đã có manh nha trong thời kỳ thị tộcmẫu quyền Trong xã hội có giai cấp, sự áp bức bóc lột giai cấp, sự tù túng,hạn hẹp không có lối thoát hiện thực là nguyên nhân xã hội quan trọng làmnảy sinh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, trên cơ sở niềm tin vào sự cứu giúp của

tổ tiên

Thứ hai, nguồn gốc nhận thức của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Nhận

thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con người, là quá trìnhtạo thành tri thức trong bộ óc con người về hiện thực khách quan Nhờ cónhận thức, con người mới có ý thức về thế giới, ý thức về cơ bản là kết quảcủa quá trình nhận thức thế giới Con người có ý thức đầu tiên trong lịch sử làngười Homosapiens, cơ quan của tư duy là bộ não của họ đã khá phát triển.Quan niệm về cái chết và cuộc sống sau khi chết ở thế giới bên kia chứng tỏkhả năng trừu tượng hóa của họ Ý niệm về linh hồn người chết là một trongnhững yếu tố nằm trong những biểu tượng về tổ tiên Một yếu tố tư tưởng

Trang 36

khác có ảnh hưởng đến sự phát triển những biểu tượng về tổ tiên là hình ảnh

tổ tiên tôtem giáo, hình ảnh thần che chở cho gia đình, thị tộc,

Ăngghen chỉ rõ nguồn gốc nhận thức của tôn giáo, trong đó có tínngưỡng thờ cúng tổ tiên là: “ Tôn giáo sinh ra trong một thời đại hết sứcnguyên thủy, từ những khái niệm hết sức sai lầm, nguyên thủy của con người

về bản chất của chính họ và về giới tự nhiên bên ngoài, xung quanh họ”[11;tr445]

Thứ ba, nguồn gốc tâm lý của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Tín ngưỡng

thờ cúng tổ tiên được hình thành trên cơ sở niềm tin vào sự bất tử của linh hồn

tổ tiên, niềm tin này góp phần cân bằng trạng thái tâm lý, giải tỏa nỗi cô đơn,bất hạnh của con người trước cái chết Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn đượcbắt nguồn từ lòng hiếu thảo của con cháu, sự biết ơn các bậc đã sinh thành vànuôi nấng mình

Ở Việt Nam, trong khi hướng tới tương lai, con người không hề quên đi

ký ức lịch sử, ký ức gia đình, không hề đoạn tuyệt với “dòng giống” dù là ở phạm

vi cả tộc người hay phạm vi từng gia đình Cùng với thời gian, chữ Hiếu trongKhổng giáo cũng được nâng lên thành lý thuyết Dân gian Việt Nam từng có câu

“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn” để khẳng định điều đó Với

thờ cúng tổ tiên, chữ Hiếu không còn dừng lại ở lý thuyết mà trở thành nghi thứctập tục được truyền từ đời này qua đời khác Trong tín ngưỡng này, yếu tố đạo lý

và yếu tố tín ngưỡng quyện chặt không rời Xét riêng mặt đạo lý, có thể thấy thờcúng tổ tiên của người Việt Nam đã trở thành một cái gì máu thịt, dù môi trường

xã hội có thay đổi thế nào đi chăng nữa

٭ Bản chất của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là gì? Đã có rất nhiều ý kiến trả lời khác nhau cho câu hỏi này:

Trang 37

Theo Phan Kế Bính “cái tục phụng tổ tiên của ta rất là thành kính, ấycũng là một lòng bất vong bản, cũng là một việc nghĩa vụ của người”[8; tr25] Nhận xét này của ông có ngụ ý rằng thờ cúng tổ tiên là một phong tục thểhiện đạo lý của con cháu đối với tổ tiên, đó là lòng thành kính, là thái độ biết

ơn và là một nghĩa vụ người ta nên theo

Toan Ánh thì lại cho rằng: “Thờ phụng Tổ tiên không thể là một tôngiáo được vì không có giáo chủ cũng như không có giáo điều”, đây chỉ là mộthành động chứng tỏ lòng hiếu thảo của con cháu”[4; tr21] Tác giả NguyễnĐổng Chi thì phân vân “nó gần như một thứ tôn giáo” Một số ý kiến khác lạicho rằng thờ cúng Tổ tiên không phải là một tôn giáo, vì mục đích của nókhông phải là cứu cánh cho cái chết, mà là cầu mong cho hiện thực cuộc sống,

nó mang tính chất là một tín ngưỡng, với nội dung là thờ cúng và cầu mong

Tổ tiên ban tốt lành Và trong đó còn bao hàm một khía cạnh bản chất văn hoáViệt Nam là nhớ về cội nguồn

Nguyễn Tài Thư cho rằng, tục thờ cúng tổ tiên không thuần túy là tôngiáo, mà vừa là một tín ngưỡng vừa là một tập tục, là thái độ biết ơn các thế

hệ trước của mình

Đến tác giả Đặng Nghiêm Vạn thì lại ở một dạng khác, trong công trìnhnghiên cứu của mình, ông đã viết: “những tôn giáo như thờ cúng Tổ tiên tuyđơn giản về nội dung, nghi lễ và không được tổ chức thống nhất nhưng mangtính cộng đồng và có những thể chế quy định chặt chẽ, do vậy phải được xemnhư một tôn giáo chính thống của người Việt Nam”[76; tr205]

Mặc dù có những khác biệt trong cách tiếp cận tục thờ cúng tổ tiênnhưng các nhà nghiên cứu dường như đều thống nhất ở một điểm là đề caogiá trị nhân bản, đạo lý uống nước nhớ nguồn và gắn gia đình với đất nước.Bản chất tôn giáo của đạo thờ cúng tổ tiên thường chỉ được xem xét như mộtmối quan tâm thứ yếu

Trang 38

Như vậy, Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một bộ phận của ý thức xã hội,

là một loại hình tín ngưỡng dân gian được hình thành từ thời nguyên thủy vớiniềm tin thiêng liêng rằng, tổ tiên đã chết sẽ che chở, phù giúp cho con cháu,được thể hiện thông qua lễ nghi thờ phụng Nó là sự phản ánh hoang đườngquyền hành của người đứng đầu thị tộc phụ hệ, gia đình phụ quyền được duytrì và phát triển trong xã hội có giai cấp sau này, là sự biết ơn, tưởng nhớ vàtôn thờ những người có công sinh thành, tạo dựng, bảo vệ cuộc sống như kỵ,

cụ, ông bà, cha mẹ, tổ sư, tổ nghề

1.2.2 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở tỉnh Bắc Giang

Văn hóa phương Tây khác với văn hóa phương Đông ở nhiều điểm, ví

dụ như: Ở phương Tây không thờ cúng tổ tiên, không để bàn thờ tổ tiên trongnhà; Trong khi đó các dân tộc phương Đông đều có nhiều hình thức thờ cúng,tưởng nhớ đến người chết như người Ai Cập trong các ngôi mộ cổ, hay bànthờ Tổ tiên trong các dân tộc Á Đông như Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên

Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo, bao gồm những hìnhthức tín ngưỡng nguyên thủy còn tồn tại trong vùng đồng bào dân tộc thiểu

số, tín ngưỡng dân gian của người Việt, những tôn giáo với cơ cấu tổ chứchoàn chỉnh bao gồm cả tôn giáo ngoại nhập và tôn giáo nội sinh

Song độc đáo nhất ở Việt Nam, thờ cúng tổ tiên trở thành hệ thống và

có ý nghĩa riêng của nó, điều này có vai trò quan trọng với đời sống con ngườiViệt Nam Khởi đầu những ngôi mộ trong hang động ở vùng Trung du Bắc bộ

có những vật dụng đem theo cho người chết với sự tin tưởng người chết vẫnsống ở thế giới vĩnh hằng Con người, ông bà, tổ tiên mình có thể thành Tiên,thành thần, thành thánh, thành Phật chứ không phải người nhà trời mới linhthiêng

Chính vì vậy, người ta lập bàn thờ, nhà thờ họ một cách trang trọng,cũng nhiều nhà thờ họ đủ đồ thờ trang trọng như thờ Thần, thờ Thánh Và khi

Trang 39

cúng tế, người ta luôn cầu âm đức, tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu Khôngchỉ ngày giỗ, ngày Tết mà còn có những dịp trong đại của con người như đámcưới, đám ma hay khi gặp hoạn nạn, hay khi đi thi, làm ăn, đều khấn vái, kínhcáo Tổ tiên Việc hiện nay hầu hết các cặp cô dâu chú rể mới đều làm lễ vuquy hay nghinh hôn, trước bàn thờ gia tiên cũng là một điểm rất độc đáo củavăn hóa Việt Nam “ Bàn thờ trong gia đình của người Việt là một không giannhỏ bé nhưng chứa đựng những ý nghĩa văn hoá cực kỳ rộng lớn và có mộtsức mạnh tinh thần siêu trần thế”[61; tr50]

Bắc Giang là tỉnh miền núi, được tái lập năm 1997, có diện tích 3822

km2 với dân số 1563 nghìn người (2005), đứng thứ 33 về diện tích và thứ 15

về dân số trong 63 tỉnh, thành phố cả nước

Bắc Giang gồm 9 huyện và 1 thành phố, phía Bắc và Đông Bắc giápLạng Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp Thái Nguyên, Phía Nam giáp HảiDương, Bắc Ninh, Hà Nội, Phía đông giáp Quảng Ninh, khí hậu Bắc Giangcũng mang những đặc trưng chuyển tiếp, vừa có tính nhiệt đới nóng ẩm vừa

có tính chất á nhiệt đới, nhiệt độ trung bình hàng năm là 230C, lượng mưahàng năm là 1500mm-1700mm Bắc Giang nằm sâu trong đất liền nên nhữngcơn bão và áp thấp nhiệt đới từ biển đông chuyển vào đã bị núi rừng chặn bớtnên ít gây tác hại

Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có 26 dân tộc cùng sinh sống trong đóđông nhất là người Kinh, số người Kinh chiếm khoảng 88,1% dân số của toàntỉnh Theo truyền thống từ lâu đời ở Bắc Giang, người Kinh ở đây sống thànhlàng, nhiều làng hợp lại thành một xã, các làng thường được che chắn bằngcách trồng tre hoặc xây cổng kiên cố

Người Việt ở Bắc Giang sống bằng nghề trồng lúa nước, sản xuất đượcdựa trên khung tổ chức chính là gia đình nhỏ, phụ quyền, đòi hỏi tái sản xuấtsức lao động cao

Trang 40

Đời sống tín ngưỡng của người Việt ở Bắc Giang rất đa dạng và phongphú, ngay từ xa xưa, con người đã tôn thờ tất cả những sức mạnh vô hình hayhữu hình mà con người tin tưởng rằng những lực lượng ấy có thể giúp đỡhoặc làm hại con người như: Trời, đất, sấm sét, gió mưa…cùng với thời gian,khi xã hội dần phát triển, từ việc chưa giải thích được các hiện tượng sinh lãobệnh tử của con người, con người tin vào thần thánh ma quỷ đến việc hìnhthành các kiểu tôn giáo hiện đại, tôn giáo dân tộc và tôn giáo thế giới, đó làmột quá trình phát triển lâu dài và phức tạp, bên cạnh đó vẫn tồn tại nhữngdạng thức tín ngưỡng như: Tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ cúng tổtiên…

Con người đã cư trú tại triền sông Cầu, sông Thương, sông Lục Namcủa đất Bắc Giang từ lâu đời Những di vật thời đồng thau được phát hiện ởĐức La, núi Phượng Hoàng và tiêu biểu là di chỉ Đông Lâm (Hiệp Hòa) và dichỉ Gò Mụ (Bắc Lý) đã xác định ở Bắc Giang liên tục có sự định cư của ngườiViệt cổ Ở di chỉ Gò Mụ, một trống đồng đã được phát hiện, trống đồng Bắc

Lý với mặt hình tròn có hình mặt trời và bốn con cóc ngồi bốn góc là tượngtrưng cho tín ngưỡng nông nghiệp sơ khai Qua các hoa văn trên trống đồng

có thể biết người Việt ở Bắc Giang thời đồng thau đã thờ trời, đất và mặt trời,vật linh

Tín ngưỡng thờ thần là tín ngưỡng có sớm, xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu linh, các đối tượng tự nhiên, xã hội được nhóm theo một hệ thống và

tạo nên hệ thống các thần khác nhau Đó là các thần: Thần đất, thần núi, thầnsông, thần cây, thần đá…theo quan niệm xưa, mỗi thần cai quản một vùng vàphù trì cho vùng mình cai quản Con người sống ở dương gian đều có tráchnhiệm thờ cúng các thần và chịu sự bảo lãnh của các thần đó

Tín ngưỡng thờ các lực lượng tự nhiên khá phổ biến ở các địa phương củatỉnh Bắc Giang Tín ngưỡng này cũng là một hình thức tín ngưỡng sơ khai

Ngày đăng: 20/10/2020, 15:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1998), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Đồng Tháp
Năm: 1998
2. Toan Ánh (1997), Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam, quyển thượng, NxbTPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: NxbTPHCM
Năm: 1997
3. Toan Ánh (1991), Phong tục Việt Nam (thờ cúng tổ tiên), Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục Việt Nam (thờ cúng tổ tiên)
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1991
4. Ngô Bạch (2010), Vào chùa lễ Phật, nghi lễ và phong tục, Nxb Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vào chùa lễ Phật, nghi lễ và phong tục
Tác giả: Ngô Bạch
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2010
5. Nguyễn Thị Bảy (1997), Văn hóa Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc bộ, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc bộ
Tác giả: Nguyễn Thị Bảy
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1997
8. Phan Kế Bính (2004), Việt Nam phong tục, Nxb TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb TPHCM
Năm: 2004
9. Thiên Cẩm (2001), Yêu cầu tâm linh trong đời sống con người, Nguyệt san Công giáo và dân tộc, số 80, tr26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyệt san Công giáo và dân tộc
Tác giả: Thiên Cẩm
Năm: 2001
10. Minh Châu (2004), Truyện tích Vu Lan, Nxb TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện tích Vu Lan
Tác giả: Minh Châu
Nhà XB: Nxb TPHCM
Năm: 2004
11. C.Mac – Ph.Ăngghen (1995), Luận cương về Phoi ơ bắc, Toàn tập,Tập3, Nxb CTQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cương về Phoi ơ bắc, Toàn tập,Tập"3
Tác giả: C.Mac – Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb CTQG HN
Năm: 1995
12. Đoàn Trung Còn (2003), Triết lý nhà Phật, Nxb Tôn giáo 13. Minh Chi, Hà Thúc Minh (1995), Đại cương lịch sử triết học phương đông, Nxb TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý nhà Phật", Nxb Tôn giáo13. Minh Chi, Hà Thúc Minh (1995), "Đại cương lịch sử triết học phương đông
Tác giả: Đoàn Trung Còn (2003), Triết lý nhà Phật, Nxb Tôn giáo 13. Minh Chi, Hà Thúc Minh
Nhà XB: Nxb Tôn giáo13. Minh Chi
Năm: 1995
14. Minh Chi (2003), Truyền thống văn hóa và Phật giáo Việt Nam, NxbTôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống văn hóa và Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Minh Chi
Nhà XB: NxbTôn giáo
Năm: 2003
15. Nguyễn Đổng Chi (1978), Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông thôn Việt Nam trong lịch sử
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Năm: 1978
6. Ban dân vận tỉnh Bắc Giang, Báo cáo tháng 5-2009 Khác
7. Ban dân vận tỉnh Bắc Giang, Báo cáo tháng 4-2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w