1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong thơ ca việt nam giai đoạn 1930 1945

188 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 188
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và nếu phải đi đến việc khép lại một cách cơ bản vấn đề biểu tượng, chúng tôi nghĩ cần nhắc tới quan điểm của Tzvetan Todorov, nhà phê bình học người Bulgaria, khi nói đến trạng thái “ng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM ĐỨC CƯỜNG

NHỮNG BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT

TIÊU BIỂU TRONG THƠ CA VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 1930 - 1945

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Trần Khánh Thành

Hà Nội - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung trong Luận án “Những biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945” là công

trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Khánh Thành

Những số liệu, kết quả, trích dẫn trong luận án đều trung thực, rõ ràng, có nguồn gốc đầy đủ và chưa được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Phạm Đức Cường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc tới PGS.TS Trần Khánh Thành - người hướng dẫn khoa học tận tình và tâm huyết - người Thầy đáng kính đã luôn động viên, ủng hộ em trong quá trình học tập và thực hiện luận án này

Em xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học trong Hội đồng chấm luận án; trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo của Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã quan tâm, tạo điều kiện tốt nhất cho em trong quá trình học tập và hoàn thành luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các đồng nghiệp, các bạn sinh viên Trường Đại học Hải Phòng - nơi tôi đang công tác - đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành việc học tập

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, người thân đã luôn quan tâm, động viên, ủng hộ để tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Phạm Đức Cường

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Nghiên cứu biểu tượng từ góc nhìn lý thuyết

1.2.1 Lịch sử nghiên cứu biểu tượng trên thế giới qua các công

trình được biết đến ở Việt Nam

1.2.2 Lịch sử nghiên cứu biểu tượng, biểu tượng nghệ thuật ở

Việt Nam

Tiểu kết chương 1

Chương 2 NGUỒN GỐC SINH THÀNH CÁC BIỂU TƯỢNG

TRONG THƠ CA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945

2.1 Kiến tạo biểu tượng từ mẫu gốc và mở rộng biên độ tượng trưng

2.2 Thực tế thời đại - nguồn gốc đầu tiên của biểu tượng

2.3 Chủ nghĩa lãng mạn, Chủ nghĩa tượng trưng, Chủ nghĩa siêu

thực và ảnh hưởng tới thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

Trang 6

2.4 Từ thơ ca yêu nước đến thơ ca cách mạng

2.4.1 Tiếp nối truyền thống thơ ca dân tộc

2.4.2 Thơ ca Cách mạng ra đời trong thực tiễn đấu tranh cách mạng

2.5 Quan điểm nghệ thuật của thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930-1945

2.5.1 Quan điểm nghệ thuật của thơ ca lãng mạn

2.5.2 Quan điểm nghệ thuật của thơ ca Cách mạng

Tiểu kết chương 2

Chương 3 BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU TRONG

THƠ MỚI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1932 - 1945

3.1 Biểu tượng về không gian - vật thể

3.1.1 Biểu tượng trăng

3.1.2 Biểu tượng vườn

3.1.3 Biểu tượng cánh bướm

3.2 Biểu tượng về thế giới tâm linh

3.2.1 Biểu tượng âm phủ - địa ngục

3.2.2 Biểu tượng hồn - linh hồn

3.2.3 Biểu tượng máu

3.2.4 Biểu tượng giấc mộng

3.3 Biểu tượng về sự vận động của thời gian

3.3.1 Biểu tượng mùa xuân

3.3.2 Biểu tượng mùa thu

Tiểu kết chương 3

Chương 4 BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU TRONG

THƠ CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Biểu tượng xuất hiện từ lâu trong đời sống văn hóa của các dân tộc

và nhân loại, là một trong những ngôn ngữ cơ bản của con người, tồn tại trong hiện thực và cả trong những giấc mơ Leskie Alvin White, nhà nhân học Hoa

Kỳ, cha đẻ của Thuyết Tiến hóa mới, đã đưa ra nhận định một cách xác tín

rằng “đơn vị cơ bản” của văn hóa là biểu tượng và nó là hạt nhân của di truyền xã hội Và thực tế cho thấy, thông qua những lý thuyết mang tính chất tương đối hệ thống cùng với kinh nghiệm cá nhân, chúng ta đang dần buộc mình phải ghi nhận biểu tượng chính là đơn vị cơ bản của mọi hành vi ứng xử

và văn minh của nhân loại

Nhà triết học Đức Ernst Cassier đã đưa ra định nghĩa về con người như một “động vật sản xuất ra các hình thái biểu tượng”, thậm chí ông còn đưa ra một đề xuất táo bạo và có căn cứ rằng “chúng ta nên định nghĩa con người như là động vật biểu tượng” Biểu tượng được con người sử dụng như một phương tiện thông tin và giao tiếp tư tưởng tình cảm chứa đầy tính thẩm mĩ Không chỉ vậy, có thể coi biểu tượng là một dạng “đặc sản tinh thần” của văn hóa mỗi dân tộc, mỗi thời đại, mỗi tập thể và mỗi cá nhân Ở một góc độ nhất định, biểu tượng chính là nét khác biệt, độc đáo khi so sánh giữa các nền văn hóa trên thế giới với nhau

1.2 Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu biểu tượng nói chung,

biểu tượng nghệ thuật nói riêng đã được quan tâm và đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận Trong hướng nghiên cứu văn học từ văn hóa nói chung - một bộ phận không thể tách rời khỏi văn hóa thì giải mã biểu tượng là một trong những khâu quan trọng Biểu tượng là loại mã văn hóa mà nếu muốn tìm hiểu một nền văn học, chúng ta không thể bỏ qua Hiểu được các ý nghĩa của biểu

Trang 9

tượng chính là hiểu được cơ bản hệ giá trị văn hóa của cả một dân tộc, một thời đại sản sinh ra nó Với khả năng “gợi cảm đến bất tận”, biểu tượng được biết đến như một sinh thể có khả năng mở rộng, biến đổi hoặc tái sinh các lớp nghĩa theo thời gian, hoàn cảnh Chính vì thế, việc nghiên cứu biểu tượng ở một giai đoạn, một thời kì văn học hay một thời đại nào đó sẽ là nền tảng để chúng ta thấu hiểu một cách sâu sắc và căn bản một tác giả, hay văn hóa của một dân tộc Khu biệt lại ở một phạm vi hẹp, biểu tượng ở trong thơ chính là những hình ảnh cụ thể nhưng giàu cảm xúc, tính “gợi cảm thẩm mĩ” và điều quan trọng là nó có khả năng biến hóa linh hoạt cùng với khả năng chứa đựng nhiều tầng, nhiều lớp ý nghĩa sâu xa mà “bề mặt ngôn từ” không thể hiện hết Xây dựng ít hay nhiều, thậm chí là cả một hệ thống biểu tượng trong sáng tác của mình được coi là một phương thức để nghệ sĩ phản ánh cuộc sống và thể hiện cá tính, tài năng sáng tạo của mình trong thơ Chính các biểu tượng làm cho tác phẩm trở nên lung linh, huyền ảo, khơi gợi trí tưởng tượng, tò mò khám phá của người đọc Việc xây dựng các biểu tượng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố nền tảng là quan niệm và thị hiếu thẩm mĩ của mỗi dân tộc, mỗi thời đại trong những hoàn cảnh nhất định

1.3 Thế giới biểu tượng trong văn học Việt Nam nói chung và thơ ca

Việt Nam nói riêng là một lĩnh vực vô cùng rộng lớn, hấp dẫn, là mảnh đất nghiên cứu màu mỡ mà trong nhiều năm qua chúng ta mới đang trong quá trình tìm hiểu, khám phá Biểu tượng nghệ thuật vừa mang tính phổ quát vừa mang dấu ấn riêng của từng dân tộc, từng thời đại, từng tập thể và mỗi cá nhân Thơ ca lưu giữ và làm sống lại những biểu tượng, những giá trị văn hóa thông qua các biểu tượng ngôn từ Nó chuyên chở mã văn hóa qua tiến trình văn học dân tộc và đi qua mỗi thời đại, nó lại được bổ sung những nội dung mới, nét nghĩa mới, nhiều khi trở thành yếu tố thể hiện phong cách thời đại hoặc phong cách cá nhân

Trang 10

Thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930-1945 ra đời và tồn tại trong một thời điểm được cho là cuộc hội tụ lần thứ nhất của nhiều chiều văn hóa, tư tưởng

cũ mới, Đông - Tây, cùng với sự hòa trộn của các ý thức hệ xã hội khác nhau Cần phải khẳng định rằng, thơ ca giai đoạn này chứa đựng và kết tinh nhiều giá trị nội dung, tư tưởng nghệ thuật đặc sắc, tiêu biểu và có nhiều đóng góp quan trọng vào quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam Trong đó, có sự xuất hiện của những biểu tượng, hệ biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu, mang giá trị thẩm mĩ và giá trị tư tưởng cao

Chính vì thế, chúng tôi chọn Những biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 làm đề tài luận án với hy vọng

góp phần làm rõ đặc điểm tư duy nghệ thuật, thi pháp và thành tựu của các khuynh hướng thơ Việt Nam trong giai đoạn này, dưới góc độ tiếp cận biểu tượng nghệ thuật

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong phạm vi luận án, chúng tôi tập trung khảo sát, phân tích các biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930-1945 (cụ thể

là Phong trào Thơ mới 1932 - 1945 và thơ ca Cách mạng 1930 - 1945)

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án tiếp cận các tác phẩm thơ ca tiêu biểu chứa đựng biểu tượng hoặc hệ thống những biểu tượng nghệ thuật được sáng tác trong giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945 Do khối lượng các tác phẩm khảo sát khá đồ sộ vì chặng đường thơ diễn ra trong một khoảng thời gian dài nên chúng tôi xin được tiếp cận các tác phẩm tiêu biểu của một số tác giả tiêu biểu với phong cách độc đáo, có tính đại diện, có tầm ảnh hưởng lớn đến dòng chảy thơ ca Việt Nam trong giai đoạn này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 11

Nghiên cứu một cách hệ thống, tương đối toàn diện những biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong thơ Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945; phân tích, đánh giá quan niệm thẩm mĩ, đặc điểm tư duy nghệ thuật của cả một thời đại sáng tác nói chung, của các nhà thơ nói riêng; chỉ ra vai trò của hệ thống biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong việc góp phần làm nên phong cách độc đáo của đội ngũ tác giả trong một chặng đường sôi động, nhiều thành tựu của thơ

ca Việt Nam; từ đó, đánh giá toàn diện, sâu sắc tư duy nghệ thuật và đặc điểm thi pháp của các khuynh hướng thơ ca trong giai đoạn này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan về lý thuyết biểu tượng và tình hình nghiên cứu biểu tượng nghệ thuật trong thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

- Lý giải nguồn gốc sinh thành các biểu tượng và hệ biểu tượng tiêu biểu trong thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

- Khảo sát, phân loại, phân tích, đánh giá hệ thống biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong Phong trào Thơ mới (1932 - 1945) và thơ ca Cách mạng giai đoạn 1930 - 1945

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống

Trên cơ sở coi một tác phẩm hay toàn bộ sáng tác của một nhà thơ trong giai đoạn 1930 - 1945 là một hệ thống bao gồm các khuynh hướng nghệ thuật khác nhau, bị chi phối bởi quan niệm thẩm mỹ và đặc trưng thi pháp, việc sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống sẽ giúp chúng ta đánh giá được đầy đủ giá trị và ý nghĩa của các biểu tượng nghệ thuật trong giai đoạn này

4.2 Phương pháp thống kê

Trong quá trình thực hiện luận án, để đi đến những kết luận có cơ sở khoa học, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê tần số xuất hiện của các biểu tượng trong các bài thơ, tập thơ của các tác giả trong phạm vi nghiên cứu Từ

đó, tiến hành phân loại, đánh giá, phân tích và giải mã giá trị thẩm mĩ các biểu tượng nghệ thuật trong thơ

Trang 12

4.3 Phương pháp so sánh

Biểu tượng không tồn tại biệt lập và đóng kín, ngược lại, biểu tượng luôn có sự vận động và mở rộng nghĩa, do đó, cần phải tìm hiểu biểu tượng trong mối quan hệ đa dạng và đa chiều Nhất là, biểu tượng cần được so sánh, đối chiếu giữa các tác giả, các giai đoạn, các trào lưu, các lĩnh vực, các nền văn học, các nền văn hóa; trong đó chú ý nhiều hơn đến sự giao thoa giữa văn hóa phương Tây và phương Đông

4.4 Phương pháp lịch sử - xã hội

Với tư cách là một hiện tượng lịch sử, nên biểu tượng cũng như biểu tượng nghệ thuật gắn liền với cơ chế ngôn ngữ, đặc điểm tâm lý, quan niệm thẩm mĩ của dân tộc và thời đại Đặt biểu tượng nghệ thuật trong hệ quy chiếu

là hoàn cảnh lịch sử, xã hội phát sinh biểu tượng là một công việc có thể đưa đến cách nhìn toàn diện và khoa học Đồng thời, cũng thuận lợi hơn trong việc so sánh, đối chiếu biểu tượng trong hệ quy chiếu lịch sử, xã hội

4.5 Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Biểu tượng là đối tượng quan tâm của nhiều ngành khoa học, nhất là trong những năm gần đây Do đó khi nghiên cứu biểu tượng nói chung và biểu tượng nghệ thuật nói riêng cần có sự nghiên cứu, đối sánh, hỗ trợ thông tin từ các ngành khoa học có liên quan, tiêu biểu như Tâm lý học, Kí hiệu học, Phân tâm học, Ngôn ngữ học, Văn hóa học, Xã hội học,…

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là công trình khoa học đầu tiên đặt ra và nghiên cứu một cách

hệ thống và tương đối đầy đủ về hệ thống biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 (cụ thể bao gồm Thơ mới và thơ Cách mạng) Qua đây, chúng ta sẽ có cái nhìn khách quan, toàn diện và thấu đáo hơn về diện mạo, quá trình đổi mới và đặc điểm sáng tạo nghệ thuật của thơ Việt Nam trong giai đoạn này; đồng thời, thấy được những đóng góp to lớn của các nhà thơ trong nền thơ ca dân tộc

Trang 13

Công trình này có thể là tài liệu nghiên cứu, giảng dạy, học tập phần thơ ca lãng mạn, thơ ca cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 cho giảng viên, sinh viên ở các trường đại học; cho giáo viên, học sinh ở các trường phổ thông trung học Đồng thời, cũng có thể là nguồn tham khảo hữu ích cho giới nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học hiện đại khi tìm hiểu, đánh giá, phân tích về thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

6 Cấu trúc luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung Luận án bao gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Nguồn gốc sinh thành các biểu tượng trong thơ ca Việt

Nam giai đoạn 1930 - 1945

Chương 3: Biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong Phong trào Thơ mới

Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945

Chương 4: Biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong thơ Cách mạng Việt

Nam giai đoạn 1930 - 1945

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Nghiên cứu biểu tượng từ góc nhìn lý thuyết

1.1.1 Khái lược về biểu tượng

Biểu tượng (symbol) là ngôn ngữ cơ bản, với ý nghĩa vừa rộng lớn nhất vừa cô đọng nhất của một nền văn hóa Thậm chí, ở trong những phạm vi nhất định, có thể coi nó là dấu hiệu nhận biết và phân biệt các nền văn hóa khác nhau trên thế giới Trên nhận thức nền tảng là biểu tượng có mặt xung quanh chúng ta, phôi thai và hình thành ngay từ thuở hồng hoang lịch sử loài người, mỗi một nền văn hóa trên thế giới này đều là sự tổng hòa của các hệ thống biểu tượng Biểu tượng song hành cùng quá trình hình thành và phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc Jean Chevalier và Alain Gheerbrant, tác giả của

Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới đã nhận xét rằng: “Nói chúng ta sống

trong một thế giới biểu tượng thì vẫn còn chưa đủ, phải nói một thế giới biểu tượng sống trong chúng ta” [12, XIV]

Thế giới biểu tượng được tạo nên bởi trí tưởng tượng phong phú của con người Có thể hiểu đặc điểm chủ yếu, căn bản của biểu tượng là khi nó xuất hiện lập tức tự động gợi ra một hoặc nhiều ý nghĩa, ý tưởng nào đó lớn hơn sự hiện hữu của nó, được giới hạn phạm vi trong cộng đồng văn hóa chấp nhận sự tương quan đó, trong điều kiện lịch sử, xã hội nhất định Claude Levy-Strauss coi mọi nền văn hóa “đều có thể xem như một tập hợp các hệ thống biểu tượng trong đó xếp ở hàng đầu là ngôn ngữ, các quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật khoa học, tôn giáo” [20, 106]

Với mục đích có thể đi từ nhận thức đến tư duy và truyền đạt cho nhau bức tranh về thế giới ý niệm nằm trong bộ não, với khả năng biểu trưng hóa bằng sự liên tưởng, tượng tượng phong phú, con người đã sáng tạo ra một thế

Trang 15

giới biểu tượng, thậm chí là một “rừng biểu tượng” Có thể hiểu cách khác là thế giới ý niệm là cái có trước và được hiện thực hóa thành thế giới biểu tượng Khi đó, có thể thấy biểu tượng chính là vật mang tính chất trung gian, thay thế, cầu nối giữa thế giới ý niệm và thế giới vật chất bằng cách đưa cái

vô hình, bất khả tri trở thành cái hữu hình, khả tri Cấu trúc của một biểu tượng bao gồm cả ba cái: cái thực (thực tại), cái tưởng tượng (ý niệm), cái tượng trưng (biểu tượng)

Iuri Mikhailovich Lotman, nhà kí hiệu học văn hóa Nga khi phân tích, đánh giá các yếu tố trong hệ thống kí hiệu đã thừa nhận biểu tượng là một

trong những từ có nhiều nghĩa nhất Các tác giả cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới đã khẳng định chắc chắn rằng: “Không cách gì định nghĩa được

một biểu tượng Tự bản chất của nó, nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập

hợp các thái cực lại trong một khái niệm Nó giống như một mũi tên bay mà không bay, đứng im mà biến ảo, hiển nhiên mà lại không sao nắm bắt được”

[12, XIV] Còn theo cách nói của Georges Gurvitch, nhà xã hội học người Nga thì quả thật là quá khó cho chúng ta để có thể hiểu hết các tầng lớp ý nghĩa của biểu tượng, nó vừa sáng rõ lại vừa ẩn đi, trốn tránh khi chúng ta cố tình tìm hiểu nó

Biểu tượng, theo cách hiểu khởi nguyên, là một vật (có thể là kim loại, mảnh gỗ, vật trang trí) được cắt làm đôi, sau đó được giao cho các bên có liên quan giữ lấy Sau này, chính vật này sẽ làm dấu hiệu để họ nhận biết lại những thông tin đã trao đổi, giao ước, thề hẹn với nhau Ở người Hy Lạp thời

cổ đại, biểu tượng còn là những dấu hiệu để cha mẹ nhận ra khi con cái bị lưu lạc… Một đặc điểm khái quát nhất là mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu

bị đập vỡ; ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong cái vừa là gãy vỡ vừa là nối kết những phần của nó đã bị vỡ ra Lịch sử của biểu tượng xác nhận rằng mọi vật đều có thể mang giá trị biểu tượng, dù là vật tự nhiên (đá, kim loại, cây

Trang 16

cối, hoa, quả, thú nuôi,…) hay là trừu tượng (hình hình học, con số, nhịp điệu,

ý tưởng, )

Pierre Emmanuel đưa ra luận giải rằng, ta có thể hiểu “mọi vật” ở đây không chỉ là những sinh thể, vật thực hiện hữu mà còn có thể hiểu đó là một khuynh hướng, một giấc mơ, một ám ảnh nhận thức, một hệ ý thức,… Biểu tượng “hình thành một vế rõ ràng có thể nắm bắt được, gắn liền với vế khác, không nắm bắt được” [12, XXIV] Còn theo Sigmund Freud, người đặt nền móng cho thuyết Phân tâm học thì “biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra, niềm ham muốn hay các xung đột” [12, XXIV] Ông cho rằng biểu tượng chính mà mối liên kết chặt chẽ giữa một hành vi, một tư tưởng với những ý nghĩa tiềm ẩn mà chúng gợi ra Sẽ có ít nhất là hai phần ý nghĩa (nghĩa là có thể nhiều hơn, không có căn cứ để giới hạn) được gợi ra, thế chỗ phần đã hiện hữu Khi đó, chúng ta có mối quan hệ được gọi là biểu tượng Sigmund Freud cũng như nhiều nhà phân tâm học khác, coi cái được biểu trưng bao giờ cũng là vô thức Có thể nói đến nhận định của Sándor Ferenczi, một cộng sự thân cận của S Freud khi cho rằng không phải mọi so sánh đều được coi là biểu tượng mà chỉ xuất hiện biểu tượng khi trong so sánh, vế thứ nhất bị dồn nén vào vô thức

Còn đối với Carl Gustav Jung, một học trò xuất sắc của S Freud, thì cho rằng biểu tượng không thể hiểu là những dấu hiệu đơn giản, mà cũng không phải là một phúng dụ đơn thuần, nó được dùng để thể hiện cái bản chất của sự vật trong trạng thái mơ hồ, nghi ngờ hoặc là một dạng của tâm linh (bao gồm của ý thức và vô thức) Theo quan điểm của ông, cũng như Georges Gurvitch, biểu tượng là thứ rất khó nắm bắt, vì bản thân nó không cắt nghĩa

và tất cả ý nghĩa gợi ra từ nó đều rất mơ hồ, mà không thể diễn đạt thỏa đáng trong khuôn khổ nào cả Không theo quan điểm của S Freud khi đã coi biểu tượng là một dạng “ngụy trang” cho cái gì đó khác, mà C Jung cho rằng, biểu

Trang 17

tượng là một sản phẩm của tự nhiên Sự chuyển vượt từ cái đã biết sang cái chưa biết, cái hiển hiện sang cái chưa biểu lộ chính là giá trị của biểu tượng

Và nếu như đến một lúc nào đó, cái phần giấu kín, chưa biểu lộ của biểu tượng mà hết đi, nghĩa là biểu tượng sẽ “chết” (chữ dùng của Jung) và chỉ còn mang ý nghĩa lịch sử Biểu tượng chỉ sống khi nó tràn đầy ý nghĩa và còn phải

có nhiệm vụ khơi gợi nên sự sống khác, giàu ý nghĩa hơn chính bản thân nó

R.de Becker đã nghiên cứu và ví biểu tượng với một khối tinh thể phục nguyên lại theo cách khác nhau nguồn sáng tùy theo từng mặt tinh thể tiếp nhận ánh sáng Ông coi biểu tượng như là một thể sống, một con người đang trong dạng chuyển động và biến đổi không ngừng Khi chúng ta nắm bắt biểu tượng như là đối tượng suy ngẫm, thì cũng tức là ta đang nhìn ngắm chính cái quỹ đạo ta sắp lần theo, ta nắm bắt cái hướng vận động đang lôi kéo con người ta đi tới

Micera Eliade coi biểu tượng là một phạm trù siêu nghiệm của sự cao siêu, của cái siêu phàm, cái vô tận, cần phải được tiếp nhận bằng cả trí tuệ lẫn tâm hồn Còn Lausberg đã định nghĩa về biểu tượng là: “Phép chuyển nghĩa, theo đó người ta thay thế bằng tên của một đồ vật, tên của một ký hiệu mà việc sử dụng đã chọn lựa để gọi tên” [16, 453]

Và nếu phải đi đến việc khép lại một cách cơ bản vấn đề biểu tượng, chúng tôi nghĩ cần nhắc tới quan điểm của Tzvetan Todorov, nhà phê bình học người Bulgaria, khi nói đến trạng thái “ngưng kết” của biểu tượng - nghĩa

là trong biểu tượng có một, và chỉ cần một cái biểu đạt nhưng đã giúp chúng

ta nhận thức ra nhiều cái được biểu đạt, và thực tế là nó dồi dào hơn nhiều so với cái biểu đạt

1.1.2 Một số quan niệm về biểu tượng

Trong nghiên cứu nghệ thuật hiện đại đã có nhiều hướng tiếp cận khác nhau về vấn đề biểu tượng như: Tâm lý học, Phân tâm học, Ngôn ngữ học,

Trang 18

Văn hóa học, Kí hiệu học, Tôn giáo học… Mỗi hướng tiếp cận đều có những

cơ sở lý thuyết nền tảng và đạt được những kết quả nhất định khi nghiên cứu biểu tượng Tuy nhiên thực tế cho thấy hướng tiếp cận Văn hóa học và Kí hiệu học trong nghiên cứu nghệ thuật là được chú ý và quan tâm hơn cả Bên cạnh việc phác thảo vài nét về các hướng tiếp cận chủ yếu, theo hướng triển khai của luận án, chúng tôi sẽ phân tích kĩ hơn về sự tiếp cận biểu tượng dưới góc nhìn văn học

1.1.2.1 Biểu tượng dưới góc nhìn kí hiệu học

Từ những năm đầu của thế kỷ XX, Charles Peirce và Ferdinand de Saussure đã đặt cơ sở cho kí hiệu học như là khoa học về kí hiệu và các chức năng quan trọng của nó trong đời sống xã hội Ngành nghiên cứu mối quan hệ giữa vật là biểu tượng với giá trị mà biểu tượng bao hàm cũng như đời sống của các kí hiệu được F De Saussure gọi là Kí hiệu học (Semiology)

Charler Sanders Peirce, triết gia người Hoa Kỳ đã cho rằng chúng ta chỉ

có thể nghiên cứu hoạt động tinh thần của con người thông qua những “khách thể đối ứng” bên ngoài Xuất phát từ việc những khách thể này có tính chất thay thế, đại diện cho hoạt động tư duy của con người nên nó mang tính chất

kí hiệu

Còn theo cách luận giải của Ronanl Barthes, nhà kí hiệu học người Pháp, thì “thế giới biểu tượng” đồng nhất với khái niệm “thế giới siêu kí hiệu” Biểu tượng là những kí hiệu với hai mặt biểu hiện: cái biểu đạt (CBĐ) là hình thức hàm nghĩa và cái được biểu đạt (CĐBĐ) là nội dung hàm nghĩa Tuy nhiên, cần hiểu là cái biểu đạt lại là một “kí hiệu biểu thị”, nên chúng ta có nhận thức “hệ thống trong hệ thống” (hay còn gọi là “hệ thống kép” - được gọi với cái tên là

“siêu hệ thống”) Đây chính là hệ thống biểu tượng Như vậy, cấu trúc cơ bản của hệ thống biểu tượng gồm có: phần “hiển ngôn” và phần “mật ngôn” (tạo nên hệ thống “ý nghĩa của ý nghĩa”) Thế giới biểu tượng vì thế có thể được coi

là thế giới của ý nghĩa

Trang 19

Chính C Jung, trước khi đi vào phân tích bản chất của giấc mơ, cũng

đã nhấn mạnh lại về sự khác biệt giữa một kí hiệu và một biểu tượng Ông cho rằng “Kí hiệu không bao giờ nói hết những ý nghĩa của ý niệm ghi lại bằng kí hiệu ấy còn biểu tượng thì gợi đến một nội dung to lớn hơn ý nghĩa hiển nhiên và trực tiếp của biểu tượng” [47, 67] Jung đã thật sự cho rằng biểu tượng là một cái gì vừa có yếu tố tất nhiên, vừa có yếu tố ngẫu nhiên

Theo Từ điển bách khoa Laroussse (Pháp) thì một trong các ý nghĩa

của kí hiệu là “Đơn vị ngôn ngữ học được tạo thành bởi sự kết hợp giữa cái

biểu đạt và cái được biểu đạt” Từ điển bách khoa Microsoft Encarta Encyclopedia (Hoa Kỳ) thì định nghĩa về kí hiệu là “Một dấu hiệu, một biểu

trưng hay một biểu tượng được dùng để biểu thị một sự vật hay để phân biệt cái sự vật mà ký hiệu đó được gán cho nó” [18, 102]

Từ góc độ phân tích của các nhà kí hiệu học, chúng ta có thể khái quát

và đưa ra sơ đồ tạo nghĩa của biểu tượng như sau:

(Cái biểu đạt)

Nội dung sự hàm nghĩa (Ký hiệu ẩn dụ - Mật ngôn) (Cái được biểu đạt)

Ký hiệu học hàm nghĩa (Ký hiệu hàm nghĩa)

Dựa trên sơ đồ này, chúng ta có thể thấy biểu tượng là hình tượng được hiểu ở góc độ kí hiệu, nhưng không phải hoặc không thể là một kí hiệu đơn nghĩa mà phải là một kí hiệu hàm nghĩa Phạm trù biểu tượng nhằm chỉ đến

Trang 20

cái phần mà hình tượng (kí hiệu hiển ngôn) vượt lên chính nó để diễn đạt những ý nghĩa trừu tượng khác (kí hiệu mật ngôn) Mặc dù có sự tương tác với hình tượng, song có thể khẳng định là không phải hình tượng nào cũng đồng nhất với biểu tượng và không phải hình tượng nào cũng có thể trở thành biểu tượng Có thể phân định một cách đơn giản nhất, hình tượng là một “kí hiệu thông thường”, trong khi biểu tượng là một “siêu kí hiệu” Hình tượng và

sự đa nghĩa là hai cực gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời nhau của một biểu tượng Bởi lẽ, tách khỏi hình tượng thì ý nghĩa sẽ mất tính biểu hiện, mà tách khỏi ý nghĩa thì hình tượng sẽ bị phân rã thành hình tượng thông thường (hình ảnh - image) và không còn là biểu tượng nữa Do vậy, hình tượng muốn trở thành biểu tượng thì không thể dừng lại ở tính đơn nghĩa, mà phải trở thành

đa nghĩa Nếu không, nó cũng chỉ là một hình tượng nghèo nàn về nội dung biểu hiện cũng như không có giá trị thẩm mĩ đặc sắc, không thể gây ấn tượng với chủ thể tiếp nhận, và thậm chí là sẽ mai một theo thời gian một cách nhanh chóng, vào một thời điểm phù hợp

Nếu dùng tư duy logic và nỗ lực của lý trí, chắc chắn chúng ta không thể hiểu được nghĩa của các biểu tượng Giải mã được biểu tượng đòi hỏi nhiều kĩ năng, trong đó cần nhất là sự liên tưởng và kinh nghiệm sống của chủ thể tiếp nhận biểu tượng Đó có thể coi là sự khác biệt lớn nhất và căn bản nhất giữa hình tượng và biểu tượng Vì hình tượng chỉ có tính chất đơn nghĩa, đại diện cho một đối tượng cụ thể, duy nhất, không thể thay thế bằng cái khác Ví dụ như: hình tượng “Bác Hồ” trong thơ kháng chiến chống Mỹ, được cụ thể hóa bằng chính hình ảnh của Bác Hồ, không thể thay thế Còn biểu tượng thì mang tính đa nghĩa, nó bao hàm nhiều hơn cái nghĩa mà người ta đã gán cho nó từ ban đầu (ít nhất là từ hai nghĩa trở lên) Ví dụ như biểu tượng “Mặt trời” trong thơ Tố Hữu, gợi lên trong chúng ta về lãnh tụ anh minh, về mặt trời chân lý, về cách mạng sáng soi, về tương lai tươi sáng của dân tộc Biểu tượng có tính chất

Trang 21

khả biến, không ngừng đƣợc trau dồi và bổ sung thêm chiều sâu của ý nghĩa (thông qua thực tế cuộc sống, quá trình tiếp nhận, quan niệm thẩm mĩ của từng thời đại và quan trọng là thông qua tƣ duy, quan điểm thẩm mĩ của tập thể và từng cá nhân tác giả sáng tác) Nếu chúng ta ép buộc giải thích biểu tƣợng bằng lối đơn nghĩa, nghĩa là biểu tƣợng sẽ biến mất

Trong khi đó, nhà nghiên cứu Hoàng Trinh trong công trình Từ kí hiệu học đến thi pháp học (1997) chuyển dịch thuật ngữ symbole là biểu trƣng

Theo cách kiến giải của ông thì biểu trƣng có phạm vi tồn tại rất rộng lớn, đa dạng trong mọi nền văn hóa trên thế giới cũng nhƣ nền văn hóa của dân tộc Việt Nam Ông cho rằng các kí hiệu (trừ những chỉ hiệu hay dấu hiệu của thiên nhiên) thì đều có thể đƣợc coi là những biểu trƣng Ngôn ngữ, với tƣ cách là một hệ thống những tín hiệu (kí hiệu) đồng thời cũng là những biểu trƣng Tác giả Hoàng Trinh nhận định rằng “mỗi sự vật ký hiệu và biểu trƣng đều có hai tƣ cách và do đó có hai cơ chế, hai ý nghĩa, hai tác dụng” và “biểu trƣng đƣợc hiểu là một loại kí hiệu mang tính chất hình thể từ ngữ cũng nhƣ

ẩn dụ, hoán dụ, phúng dụ” [16, 455]

1.1.2.2 Biểu tượng dưới góc nhìn tâm lí học

Các soạn giả trong cuốn Từ điển tiếng Việt (2011) đã nêu lên ba nét nghĩa của biểu tƣợng Nét nghĩa đầu tiên là hình ảnh tượng trưng; nét nghĩa thứ hai là hình thức nhận thức cao hơn cảm giác cho ta hình ảnh của sự vật còn lại trong đâu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt;

và nét nghĩa thứ ba là kí hiệu bằng hình ảnh đồ họa trên máy tính [87, 66-67]

Hai nét nghĩa đầu tiên có liên quan đến biểu tƣợng trong văn học sẽ đƣợc sử dụng để phân tích trong luận án

Ở nét nghĩa thứ nhất, chúng ta có thể hiểu biểu tƣợng là một hình ảnh tƣợng trƣng, từ một sự vật cụ thể, hình ảnh cụ thể gợi ra một khái niệm trừu tƣợng nào đó khác nó Ở nét nghĩa thứ hai, chính khởi nguồn từ lý luận nhận

Trang 22

thức của tâm lý học Marxist, khi đã chỉ ra rằng, biểu tượng là hình thức cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính trực quan (nhưng mới dừng ở cấp độ thấp) Có hai hình thức tư duy, đó là tư duy khái niệm và tư duy hình tượng

Tư duy khái niệm phản ánh việc con người cảm nhận thế giới thực tại và dùng khái niệm để suy nghĩ, hoạt động, phán đoán trong thế giới vô hình, bất khả tri Còn trong tư duy hình tượng thì biểu tượng ở một cấp độ cao hơn hẳn, đó

là biểu tượng của tưởng tượng Như vậy, biểu tượng dưới góc nhìn của tâm lý học là hình ảnh mới được xây dựng từ những biểu tượng của trí nhớ, nó là biểu tượng của biểu tượng (biểu tượng kép)

Từ luận điểm trên có thể hiểu biểu tượng chính là khâu liên kết các giai đoạn nhận thức của con người (từ cảm giác trực quan tới tư duy trừu tượng) Biểu tượng, cùng các cấp độ nhận thức ban đầu là cảm giác và tri giác đã tạo

ra những tiền đề cơ sở cho giai đoạn nhận thức lý tính - một quá trình biện chứng, tích cực, sáng tạo, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi từ

tư duy trừu tượng đến thực tiễn Biểu tượng giúp chúng ta nhận thức rõ hơn, sâu sắc hơn bản chất của sự vật, hiện tượng và những vấn đề thuộc về quy luật phát triển của sự vật

Như trên đã phân tích, S Freud đã dùng thuật ngữ symbole (biểu tượng) để chỉ các sản phẩm của vô thức cá nhân “diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra niềm ham muốn hay các xung đột” [12, XXIV] Tuy nhiên, do S Freud thường nhấn mạnh tính chất bản năng, vô thức nên đã lược bỏ chiều tác động ngược lại của ý thức và khái niệm symbole theo cách dùng của ông gần nghĩa với symtome (triệu chứng) hơn là symbole (biểu tượng)

Trên bình diện tâm lí học, ta có thể phân thành hai loại biểu tượng, đó

là biểu tượng trực quan và biểu tượng phi trực quan Cả hai khái niệm này đều

là biểu tượng nằm ở cấp độ nhận thức Muốn trở thành biểu tượng thực sự của

Trang 23

văn chương nghệ thuật thì biểu tượng từ nhận thức này phải được chuyển hóa, phải được sáng tạo thành cái biểu đạt mới, phải chuyển hóa từ trực quan sang phi trực quan Và cần lưu ý rằng sự chuyển hóa không phải như hình ảnh bất

kì, ngẫu nhiên được lưu giữ trong trí óc mà là sự chuyển hóa tổng hợp tất cả những hình ảnh thu nhận được, biến cái ngẫu nhiên, cái cá biệt thành cái bản chất, cái tất yếu của đối tượng, để tạo thành tính chất phi trực quan, phi vật thể Có như thế mới biểu tượng mới trở thành biểu tượng của văn hóa, biểu tượng của văn học nghệ thuật Dưới góc độ tâm lý học, khi muốn tiếp cận biểu tượng và giải thích, xem xét ý nghĩa của nó, chúng ta bắt buộc phải “xét xem biểu tượng liên hệ đến một kinh nghiệm hoàn toàn cá nhân hay người ta tạo ra nó nhân một giấc mơ, nhân một trường hợp đặc biệt có vận dụng cái hiểu biết của một ý thức tập thể” [47, 139]

Lucien Lévy-Bruhl, nhà triết học, nhà xã hội học xuất sắc người Pháp,

trong công trình Kinh nghiệm thần bí và các biểu tượng ở người nguyên thủy

(1938) đã nhận định về góc độ nhận thức của biểu tượng: “Bản chất của những biểu tượng là một trong những điểm, trong đó nét khác biệt đó lộ rõ Biểu tượng, đối với chúng ta, bao giờ cũng kéo theo một ý nghĩ về một mối quan hệ mà đầu óc nắm bắt được giữa biểu tượng và cái gì đó mà nó tượng trưng hoặc gợi ra, rằng mối quan hệ đó được xác lập một cách khách quan và

có thể quan sát thấy, hoặc là nó là mối quan hệ được áp đặt và dựa vào một quy ước” [5, 223] Ví như khi nói đến biểu tượng của cái chết, tang tóc, ở phương Tây thường là màu đen, ở phương Đông thường là màu trắng Hay ở một số dân tộc lấy con sư tử, con đại bàng làm biểu tượng cho sức mạnh của mình - không phải là sự võ đoán mà là những biểu tượng có tính tự nhiên

Cũng cần phải nói đến tưởng tượng với tư cách là một quá trình tâm lý, một giai đoạn nhận thức lý tính phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới dựa trên cơ sở

Trang 24

những hình ảnh, những biểu tượng đã có Tưởng tượng được coi là một khả năng, một cách thức để chúng ta nhận thức thế giới Đây là một trong những yếu tố then chốt liên quan đến quá trình sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn

mà chúng tôi sẽ trình bày ở những phần sau

1.1.2.3 Biểu tượng dưới góc nhìn phân tâm học

Biểu tượng được coi là vấn đề cốt lõi, trung tâm của lý thuyết Phân tâm học, thậm chí có thể coi là ngôn ngữ chính của Phân tâm học, được khởi xướng từ Sigmund Freud và phát triển gần như hoàn hảo đến Carl Gustav Jung Từ việc lý giải về những giấc mơ, những xung đột giới tính, những ham muốn, mẫu gốc, bản ngã,… đều được phân tâm học lý giải từ ngôn ngữ biểu tượng và quá trình biểu tượng hóa Việc lý giải các biểu tượng, các hệ kí hiệu trong phân tâm học luôn gắn liền với việc lý giải các giấc mơ của con người Theo đó, giấc mơ không phải ngẫu nhiên mà có, mà giấc mơ chính là quá trình liên lạc với tư tưởng và những vấn đề mà ta ý thức được

Sigmund Freud là người đầu tiên chỉ ra sự hình thành biểu tượng liên quan đến hoạt động của tiềm thức Ông nhiều lần đồng nhất việc khám phá các hình ảnh trong giấc mơ với việc khảo luận các biểu tượng và cho rằng chiêm bao diễn đạt bằng biểu tượng Qua nghiên cứu hàng loạt giấc mơ, ông khẳng định rằng, cái quan trọng nhất, cái đáng được xem xét nhất, đó là vấn

đề về biểu tượng - hệ kí hiệu của giấc mơ Năm 1900, Sigmund Freud cho

phát hành cuốn sách Die traumdeutung (Giải thích giấc mơ), tác phẩm được

coi là đặt nền tảng cho Phân tâm học, được Hermann Beland đánh giá là “làm rung chuyển nền văn hóa của chúng ta và làm thay đổi bức tranh của chúng ta

về con người” [30, 277] Biểu tượng (trong phân tâm học của S Freud) là sự thay thế của cái biểu đạt này bằng cái biểu đạt khác mà ở đó cái biểu đạt luôn vắng mặt, cái biểu đạt xuất hiện như cái kí hiệu ám chỉ Sự vắng mặt của cái biểu đạt có thể liên quan đến cơ chế kiểm duyệt của văn hóa, xã hội, đến cơ

Trang 25

chế tâm lí đặc thù của mỗi cá nhân Tuy nhiên, như S Freud đã từng tuyên bố, thì “Phần lớn những biểu tượng trong giấc mơ là biểu tượng tính dục” [93,

82] Theo cách hiểu của Anthony Storr trong công trình Dẫn luận về Freud

(1989), biểu tượng được S Freud xem là chủ yếu phục vụ chức năng che giấu hoặc khiến cho những khía cạnh cơ thể học của tính dục trở nên dễ chấp nhận hơn Nói một cách khác, “các biểu tượng Freud” là những đối tượng xuất hiện trong giấc mơ tượng trưng cho bộ phận sinh dục

Trong khi đó, Carl Gustav Jung nói về kinh nghiệm của mình về những giấc mơ như sau: “Giấc mơ là một hiện tượng bình thường của con người, biểu tượng xuất hiện trong giấc mơ rất đa dạng và đặc sắc dưới dạng các giả cảnh; qua nhiều năm chiêm nghiệm, tôi đi đến kết luận rằng, giấc mơ chính là nguồn gốc để ta tìm hiểu biểu tượng… Giấc mơ là lĩnh vực thăm dò dễ dàng nhất và thường thường người nào muốn nghiên cứu khả năng tạo biểu tượng của con người cũng dễ dàng đến nhất” [47, 25] Vì vậy, theo C Jung, muốn tìm hiểu biểu tượng thì giấc mơ là tài liệu chính yếu nhất, vì giấc mơ là tiếng nói đặc thù của tiềm thức, vô thức; thăm dò tiềm thức chính là thăm dò giấc

mơ Giải mã được giá trị biểu đạt của biểu tượng trong giấc mơ chính là giải

mã được những uẩn khúc, ám ảnh trong tư duy con người Tuy nhiên, C Jung cũng đồng thời cho rằng biểu tượng không chỉ xuất hiện trong những giấc mơ

mà còn xuất hiện trong mọi hình thái biểu hiện tâm linh Khi đó, chúng ta có thể nhận thấy những suy nghĩ, cảm xúc, hành động và thậm chí là những tình huống mang tính biểu tượng Ở góc độ này, ông cho rằng cấu tạo của biểu tượng chính là từ những đồ vật vô tri hợp tác với tiềm thức

Khi nghiên cứu về nhận thức, tâm lý trong thế giới tâm linh của con người, Mabel Beggs - người đồng sáng lập Hiệp hội Ánh Sáng (Foundation of Light) ở Ithaca, New York vào năm 1974 - đã đưa ra khái niệm “những giấc

mơ biểu tượng” Trong giấc mơ đó, chúng ta đang cố gắng giao tiếp, liên lạc

Trang 26

với “nhân cách ngoại bản ngã” (outer-self personality) là điều gì đó mà cá nhân không nhận biết được về bản thân cần sự quan tâm chú ý (vô thức) Thí

dụ, trong giấc mơ, những chiếc xe hơi sẽ tượng trưng cho thể xác hoặc vật chất Như vậy, cũng giống như các tiếp cận của S Freud và C Jung, từ quan điểm của Mabel, giấc mơ và những biểu tượng xuất hiện trong giấc mơ đã chứa đựng những ý nghĩa được ẩn giấu, là một phần tinh thần của con người

1.1.2.4 Biểu tượng dưới góc nhìn văn hóa học

Từ điển văn hóa bách khoa (2011) đã chỉ ra rằng biểu tượng không

phải là một kí hiệu thông thường mà là một loại kí hiệu đặc biệt, thể hiện nội dung thực tế của một điều nào đó và có mối liên hệ tâm lý với tồn tại mà nó biểu trưng Văn hóa được thể hiện thông qua thế giới các dạng biểu tượng Và trong quá trình sống, các dạng biểu tượng đó lại truyền lại từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, thậm chí, là từ dân tộc này sang dân tộc khác Tuy nhiên, cần chú là, các dạng biểu tượng chỉ là bề mặt ngoài của văn hóa chứ không phải là toàn bộ nội hàm của nó Các biểu tượng trở thành biểu hiện của văn hóa không phải tự thân nó có thể, mà phải thông qua tính chủ động, sáng tạo không ngừng của con người - chủ thể của những biểu tượng Nếu không vậy, thế giới biểu tượng sẽ biến thành lớp vật thể vô hồn, không sức sống và không hề có giá trị Nếu chúng ta đồng nhất văn hóa và xác định khái niệm văn hóa với thế giới biểu tượng thì có thể là một sai lầm

Trong tác phẩm Bản chất của văn hóa, các tác giả David Hicks, Margazet và A Gwynne đã so sánh một cách ví von rằng: “Trong tất cả mọi xã hội, biểu tượng là chiếc xe quan trọng để chuyển tải văn hóa Hoặc là dưới hình thức ngôn ngữ, hành động hoặc là vật thể” [16, 456] Con người thể hiện

những ý nghĩ và tình cảm của mình nhờ các kí hiệu, nhưng văn hóa lại được thể hiện không đơn giản trong những kí hiệu mà là trong các biểu tượng Khái niệm biểu tượng chiếm một vị trí đặc biệt trong văn hóa học, là một cách thức

Trang 27

quan trọng để giải mã văn hóa Phải hiểu biểu tượng không phải là một kí hiệu thông thường, mà đó là một loại siêu kí hiệu, hoàn toàn đặc biệt Chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản theo công thức này: kí hiệu đơn giản -> thế giới vật thể, trực quan (hình ảnh, khái niệm); biểu tượng (siêu kí hiệu) -> thế giới phi vật thể, phi trực quan (ý niệm)

Thông qua các biểu tượng, ý thức của chúng ta thấy được “chốn thiêng liêng” của văn hóa là các ý niệm vốn sống trong chốn sâu thẳm vô thức của tâm hồn; nó gắn bó với mọi người theo một kiểu cảm nhận thống nhất đối với thế giới và bản thân mình Đồng thời, biểu tượng không chỉ đơn giản là “biểu thị” ý niệm mà còn mang trong mình đầy đủ sức mạnh hữu hiệu của nó Những cách hiểu về biểu tượng như vậy đã nhất quán và phát triển từ Hegel đến Jung và Spengler

Xét về nguồn gốc, đương nhiên là các biểu tượng không xuất phát đầu tiên từ chất liệu ngôn từ cũng không phải từ các chất liệu trực quan ban đầu của biểu tượng mà là các vật thể, hành động, trạng thái cụ thể… nhưng có khả năng biểu đạt một ý nghĩa rộng hơn chính bản thân nội dung trực tiếp của hình thức cảm quan cụ thể ấy

Với tư cách là một kí hiệu đặc biệt, một siêu kí hiệu, biểu tượng văn hóa là những thực thể vật chất và tinh thần trong đời sống nhân loại, nhưng vấn đề cơ bản nằm ở chỗ, biểu tượng văn hóa luôn biểu thị những ý nghĩa rộng lớn chính những hình thức cụ thể, trực quan của nó Biểu tượng văn hóa tồn tại trên tất cả các bình diện của xã hội, bao gồm những biểu tượng vật thể

và phi vật thể Đó là những nghi lễ, sự kiêng kị, thần linh, kiến trúc, văn học,… Biểu tượng văn hóa, theo C Jung, là những biểu tượng dùng để chỉ chân lý vĩnh cửu Những biểu tượng này đã có quá trình thay đổi liên tục theo thời gian, môi trường sống và sau này trở thành những hình ảnh, biểu tượng tập thể được các xã hội văn minh chấp nhận và sử dụng Máu, âm phủ, địa

Trang 28

ngục, linh hồn, thiên đường, lửa, nước, dòng sông, mặt trăng, mặt trời, ngôi sao, ngọn cờ, vườn,… đều là những biểu tượng chung trong đời sống văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới Đồng thời với sự giao thoa giữa các nền văn hóa trong quá trình sinh sống của loài người cũng chính là quá trình giao thoa, chuyển hóa, sản sinh và sàng lọc những biểu tượng hoặc hệ biểu tượng mới

Jean Chevalier và Alain Gheerbrant khi biên soạn công trình Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới chắc hẳn cũng coi đây là một trong những tiêu chí

quan trọng để lựa chọn những biểu tượng chung cho toàn nhân loại

Dựa vào năng lực “tượng trưng hóa” của con người và xem biểu tượng

như là một hình thái biểu hiện ngôn ngữ đặc trưng của văn hóa, Toàn thư quốc tế về phát triển văn hóa (International Thesaurus on Culture Development) của UNESCO đã đưa ra định nghĩa văn hóa như sau: “Văn hóa

là tập hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định thế ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ thành một cộng đồng riêng biệt” [16, 489] Từ định nghĩa này, biểu tượng có thể được

coi là một dạng thức ký hiệu - ngôn ngữ văn hóa

Các soạn giả của cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (2014) cũng đã chỉ ra

rằng quá trình tạo nghĩa của mỗi biểu tượng thường có lịch sử hàng vạn năm, gắn liền với quá trình hình thành quan niệm về thế giới của con người cổ xưa

“… Cho nên, thần thoại, truyền thuyết, ca dao, truyện cổ tích, văn học trung đại là những cái kho biểu tượng khổng lồ” [39, 25] Chỉ xét riêng trong văn hóa Việt Nam (khu biệt ở lĩnh vực văn học) cũng đã thấy sự đa dạng và phong phú của hệ thống biểu tượng

1.1.2.5 Biểu tượng dưới góc nhìn văn học

Trong các tác phẩm lý luận, phê bình văn học ở Việt Nam cũng như trên thế giới, vấn đề biểu tượng đã được đề cập khá nhiều với những khía cạnh khác nhau và quan điểm tiếp cận cũng khác nhau

Trang 29

Chúng ta hàng ngày cũng sống với các biểu tượng, sử dụng các biểu tượng cả khi thức và ngay cả trong những giấc mơ Là một thuật ngữ có xuất

xứ từ tiếng Pháp (symbole), khi dịch sang tiếng Việt, nhiều dịch giả, nhà nghiên cứu đã dịch là biểu tượng, tượng trưng hoặc biểu trưng Mặc dù vậy, nhưng cách hiểu symbole là biểu tượng vẫn được chấp nhận rộng rãi và được

sử dụng trong nghiên cứu, phê bình nhiều hơn cả

Những phân tích phía trên đã chỉ thấy rõ sự phức tạp và đa dạng trong khái niệm, cách hiểu về biểu tượng Thậm chí, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa đạt được sự đồng thuận trong cách hiểu và sử dụng Trong lịch sử, mỗi ngành, mỗi trường phái, khuynh hướng đều có những kiến giải riêng về biểu tượng Và ngày nay, mỗi ngành khoa học đều sử dụng tới thuật ngữ biểu tượng và đều có cách tiếp cận, khai thác khái niệm này một cách khác nhau, với tư duy khác nhau Xét riêng trong khía cạnh văn học, chúng ta cần chú ý đến ý kiến của Raymond Firth khi cho rằng chính tính chất đa nghĩa và trừu tượng, mơ hồ của biểu tượng đã khiến cho việc tiếp cận, giải mã các biểu tượng xuất hiện trong tác phẩm văn học nói chung, thơ ca nói riêng mà một vấn đề khó khăn, thậm chí đôi khi rơi vào thế bế tắc, tranh luận liên miên

Thực tế cho thấy, nếu chỉ một lĩnh vực phê bình văn học sẽ rất khó để giải quyết hết được những đặc tính mơ hồ, trừu tượng và đa nghĩa của biểu tượng Đó là lý do tại sao, khi giải mã biểu tượng trong văn học chúng ta lại cần có một cái nhìn bao quát, tổng thể, liên ngành, như: phân tâm học, tâm lí học, xã hội học, văn hóa học,… Nói riêng trong văn học, biểu tượng được xem xét chủ yếu là ở góc độ khái quát, tượng trưng

Trên cơ sở những kết quả của lý luận văn học Marxist, trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (2014), các soạn giả đã đưa ra định nghĩ về biểu tượng

như sau: “Trong nghĩa rộng, biểu tượng thể hiện “đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng văn học nghệ thuật” [39, 23] Chúng ta đều biết rằng,

Trang 30

văn học nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù Văn học phản ánh hiện thực khách quan theo phương thức, nguyên tắc riêng có Phương tiện phản ánh đời sống của văn học nghệ thuật chính là các hình tượng nghệ thuật, vừa cụ thể vừa ước lệ Và các soạn giả đưa ra kết luận: “Bằng hình tượng, nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng” [39, 23]

Còn trong Từ điển ngữ văn dùng cho học sinh, sinh viên (2011), các

soạn giả đưa ra cách hiểu về biểu tượng là: “Một kiểu hình tượng nghệ thuật trong sáng tạo văn học phản ánh hiện thực bằng cách tái hiện lại cuộc sống trên cơ sở quan sát, so sánh, đối chiếu những nét tương đồng và dị biệt giữa các sự vật, hiện tượng, phát hiện những đặc trưng tiêu biểu, bản chất của chúng rồi tiến hành khái quát hóa, điển hình hóa theo một triết lí, một quan điểm thẩm mĩ riêng của nhà văn, nhờ đó gợi ra được hình ảnh người thật, việc thật trong óc người đọc” [131, 24]

Từ những định nghĩa trên, khái niệm biểu tượng có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Nghĩa rộng, khái niệm biểu tượng được hiểu như tính ước

lệ trong văn học nghệ thuật Nghĩa hẹp, biểu tượng cùng với ẩn dụ, hoán dụ hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt, là một phương thức chuyển mã lời nói, sang những ý nghĩa sâu sắc, có khả năng thể hiện quan niệm, tư tưởng hay triết lý sâu xa về cuộc sống

Từ điển thuật ngữ văn học (2014) đồng thời cũng đưa ra những phương

diện khác của biểu tượng, là những đặc điểm của biểu tượng Đó là quá trình tạo nghĩa từ lịch sử cổ xưa (cổ mẫu), sự bổ sung, mở rộng nghĩa (tính linh hoạt của biểu tượng), sự ảnh hưởng và chi phối của thời đại sản sinh biểu tượng, cá tính sáng tạo, quan niệm thẩm mĩ của thời đại, của mỗi nhà văn

Các ý kiến do các nhà soạn giả đưa ra trong Từ điển thuật ngữ văn học, về cơ

bản đã khái quát được một cách khá toàn diện các khía cạnh của biểu tượng

Trang 31

Như vậy, ở góc độ văn học, có thể hiểu biểu tượng là một dạng hàm nghĩa, là một hình ảnh tượng trưng, chuyển tải thông điệp hoặc những ý nghĩa sâu xa về cuộc sống, về con người thông qua những hình ảnh, sự vật cụ thể phản ánh trong tác phẩm

1.1.3 Đặc trưng của biểu tượng

Biểu tượng là một thực thể gồm hai mặt: một là, mặt tồn tại cảm tính trong hiện thực khách quan (cái biểu trưng); hai là, mặt có ý nghĩa có mối quan hệ nội tại (cái được biểu trưng) Từ đây, chúng ta có thể xác định được những đặc trưng cơ bản của biểu tượng - là những vấn đề cốt yếu để đi đến tiếp cận biểu tượng nghệ thuật trong phạm vi nghiên cứu của luận án, cụ thể như sau:

Một là, mối quan hệ giữa cái biểu trưng và cái được biểu trưng (hay mặt hình thức cảm tính và mặt ý nghĩa) của biểu tượng “mang tính lý do, tính tất yếu”, giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt luôn tồn tại mối quan hệ về bản chất Chính mối quan hệ này là điểm phân biệt biểu tượng với các tín hiệu quy ước thuần túy J Chevaillier cũng đã chỉ ra rằng, trong khi dấu hiệu là một quy ước tùy tiện, cái biểu đạt và cái được biểu đạt hầu như không ăn nhập với nhau, thì ngược lại, biểu tượng là một quy ước có tổ chức, cái biểu đạt và cái được biểu đạt có mối liên hệ chặt chẽ, cộng sinh với nhau Chính trí tưởng tượng sẽ làm cho biểu tượng thể hiện đúng chức năng, sức mạnh tiềm tàng của nó trong nhận thức của con người Biểu tượng luôn lớn hơn những cái ý nghĩa ban đầu mà người ta gán cho sự vật, hình ảnh Nó luôn năng động, biến ảo và khơi gợi những lớp ý nghĩa mới Hay nói một cách khác, nội hàm

và ngoại diên của biểu tượng hoàn toàn không đồng nhất

Hai là, biểu tượng luôn mang tính đa trị trong mối quan hệ giữa hai mặt của biểu tượng (trong khi dấu hiệu, kí hiệu thông thường luôn mang tính đơn trị) Tỉ lệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt ở các kí hiệu, dấu hiệu đơn

Trang 32

thuần là 1:1, thì ở biểu tượng, tỉ lệ này sẽ là 1>1 Cũng như đã dẫn ý của Tzvetan Todorov ở phần trên, ở biểu tượng có một sự ngưng kết, mà ở đó, cái được biểu đạt luôn luôn dồi dào, phong phú hơn các biểu đạt Nhà thần thoại học Creuzer cũng đã chỉ ra tính không đồng nhất, không thích hợp giữa nội dung và hình thức của biểu tượng, theo đó, nội dung của biểu tượng luôn “ứ tràn”, rộng lớn hơn rất nhiều lần so với hình thức mà biểu tượng đang mang

Ba là, biểu tượng có tính biến đổi và sản sinh Đây cũng là một những chức năng của biểu tượng mà Jean Chevalier và Alain Gheerbrant đã chỉ ra

trong cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới Và tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa, trong Luận án tiến sĩ Sự phát triển ý nghĩa của hệ Biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam (2005) đã nhận định ở một góc độ khác, đó

là biểu tượng còn có tính sản sinh: sản sinh ra các hình tượng nghệ thuật Con đường sản sinh của biểu tượng nghệ thuật là đi từ mẫu gốc (hay còn gọi với khái niệm khác là nguyên mẫu, nguyên hình huyền thoại, siêu mẫu) Quá trình tồn tại, sinh trưởng trong môi trường văn hóa, qua thời gian, với khả năng linh hoạt và mở rộng nghĩa, mỗi mẫu gốc lại có thể sản sinh ra nhiều biểu tượng văn hóa khác nhau Điều này thể hiện rõ nét trong các lễ nghi, phong tục Còn trong lĩnh vực văn học nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng, một mẫu gốc (biểu tượng gốc) sẽ sản sinh ra nhiều biến thể loại hình Ví dụ như từ biểu tượng gốc là “bầu trời”, khi đi vào tác phẩm thơ văn có thể sản sinh ra các biến thể như: cầu vồng, trăng, mây, sao, mặt trời, ánh sáng,…; từ biểu tượng gốc là “con thuyền” sẽ sản sinh ra các biến thể loại hình như: tàu, đò, mái chèo, cánh buồm; từ biểu tượng gốc là “ngọn cờ” sẽ sản sinh ra các biến thể như: cờ độc lập, cờ búa liềm, cờ tranh đấu, cờ chỉ huy, sao vàng năm cánh,…;

từ biểu tượng gốc là “vườn” sẽ sản sinh ra các biến thế như: vườn xuân, vườn trần, vườn yêu,… Trong loại hình nghệ thuật ngôn từ, biểu tượng bắt buộc phải rời ra đời sống nguyên khởi của nó (ý nghĩa ban sơ, ban đầu) để khoác

Trang 33

lấy cái vỏ âm thanh ngôn ngữ Vì vậy con đường cảm thụ, phân tích, giải mã biểu tượng trong tác phẩm văn học sẽ phải đi từ những cái cụ thể như ngôn từ, các thủ pháp nghệ thuật,… để tìm ra cái hàm ẩn đằng sau những biểu tượng ngôn từ Đó là một trong những điều luôn thú vị và hấp dẫn, bởi xuất phát từ đặc tính của biểu tượng: “mãi mãi gợi cảm đến bất tận: mỗi người thấy ở đấy cái mà năng lực thị giác của mình có thể nhận ra, thiếu sự thâm thúy, thì sẽ

chẳng nhận ra được gì cả” [12, XXVI]

Như vậy từ những đặc trưng cơ bản của biểu tượng ta thấy rằng giải mã biểu tượng chính là con đường tiếp cận những giá trị đích thực của một tác phẩm văn học và quá trình sáng tạo của nhà văn

1.1.4 Biểu tượng nghệ thuật trong thơ

Trong thơ ca, với tư cách là một loại biểu tượng nghệ thuật đặc thù, biểu tượng được xây dựng bằng ngôn từ (bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết) Biểu tượng nghệ thuật trong thơ vừa mang những nét đặc điểm chung của biểu tượng lại vừa mang những nét đặc điểm riêng biệt mà chỉ trong thơ

ca mới có (theo sự quy định của thể loại), là cái phân biệt với các loại hình nghệ thuật khác như điêu khắc, hội họa, âm nhạc,… Ngay từ văn học dân gian, biểu tượng nghệ thuật đã xuất hiện, thông qua những hình ảnh ẩn dụ, ước lệ được cộng đồng chấp nhận và sử dụng thường xuyên, rộng rãi, thể hiện

rõ đặc điểm tư duy, thẩm mĩ từng thời đại, thời kì mà nó xuất hiện Đến khi dòng văn học viết ra đời, biểu tượng có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để thực hiện chức năng và sức mạnh của mình Các nhà văn, nhà thơ đã sử dụng biểu tượng như một phương tiện nghệ thuật đặc thù, đắc lực để chuyển tải những quan niệm, tư tưởng của mình đến với người tiếp nhận cũng như cộng đồng

xã hội Đồng thời, sử dụng biểu tượng cũng là cách thức để các tác giả thể hiện tài năng, cá tính của mình trong sáng tạo nghệ thuật

Trang 34

Biểu tượng nghệ thuật trong thơ có thể xuất hiện theo nhiều cách thức khác nhau, tùy theo quan điểm, thị hiếu của từng tác giả Đó có thể là một từ, một cụm từ, một câu hay là cả một văn bản, có thể là một sáng tác trọn vẹn hay cả một chuỗi văn bản,… Thông qua sự hiển ngôn, chủ thể tiếp nhận với

tư duy thẩm mĩ, khả năng thẩm thấu, khám phá sẽ tìm thấy những nét nghĩa khác nhau của biểu tượng thông qua tính hàm súc, đa nghĩa của nó Như C.G Jung cũng đã nói đại ý rằng, biểu tượng là thứ mà chúng ta tưởng rằng đã quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày nhưng vẫn chứa đựng những điều gì

đó mơ hồ, chưa biết hoặc che dấu đối với mỗi chúng ta, đòi hỏi chúng ta phải

nỗ lực tìm kiếm Còn Anthony Storr, trong công trình Dẫn luận về Freud

(1989) đã cho rằng: “Thơ ca là một kiểu bày tỏ của con người, trong đó biểu tượng và ẩn dụ đóng một vai trò chủ động” [93, 81] Và cũng theo ông, một biểu tượng có thể được định nghĩa như bất kỳ thứ gì đại diện cho điều gì đó, hoặc mang chức năng miêu tả

Như trên đã phân tích, biểu tượng là một thuật ngữ hàm nghĩa, đa nghĩa, bao gồm nghĩa rộng và nghĩa hẹp Nếu hiểu theo nghĩa rộng, chúng ta cần hiểu tác phẩm văn học như là một biểu tượng, qua đó, thể hiện ý đồ, thông điệp của tác giả muốn gửi gắm khi sáng tác nó Còn nếu hiểu theo nghĩa hẹp, theo công thức 1>1, biểu tượng luôn có sức biểu hiện lớn hơn rất nhiều so với hình tượng nghệ thuật mà tác giả đã sử dụng trong sáng tác của mình Sử dụng biểu tượng là một thủ pháp nghệ thuật đặc biệt mà qua đó, tác giả gửi gắm ý đồ sáng tạo Do đó, việc đi sâu vào tìm tòi, khám phá, giải mã các biểu tượng hiển hiện trong các tác phẩm văn học góp phần giúp độc giả thấy được những nét giá trị riêng biệt, độc đáo của tác phẩm cũng như thấy được tài năng, sáng tạo của tác giả

Biểu tượng trong thơ vô cùng phong phú và đa dạng, bởi trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhà thơ đều muốn khẳng định cái tôi cá nhân

Trang 35

theo cá tính riêng, độc đáo của mình Ví như trong thơ ca dân gian, những biểu tượng được xây dựng trên cơ sở những hình ảnh khách quan từ thiên nhiên, cuộc sống lao động sinh hoạt hằng ngày của nhân dân lao động; đồng thời, qua thực tế tồn tại, nó lại được tập thể nhân dân lao động tham gia sáng tạo, bổ sung, mở rộng thêm nhiều trường ý nghĩa mới Trong giai đoạn này, biểu tượng hầu như không có dấu ấn cá nhân, bởi phần lớn nó gắn liền với dấu ấn tập thể, cộng đồng đã sản sinh và lưu truyền nó Đây cũng là một điều hiển nhiên, một đặc điểm nổi bật của văn hóa dân gian (folklore)

Một vấn đề đặt ra khi nghiên cứu về biểu tượng trong thơ, đó là chúng ta không thể bỏ qua yếu tố truyền thống (truyền thống của dân tộc, truyền thống của giai cấp, truyền thống của tập thể,…) Biểu tượng bắt rễ, uống nước nguồn

từ thời đại mà nó phôi thai, hình thành, cũng như văn học bắt nguồn từ cuộc sống Không thể tách rời biểu tượng ra khỏi thời đại sinh ra nó, bởi đó sẽ là một cách tiếp cận phiến diện, không thể tìm thấy đúng bản chất của biểu tượng Và

từ nguồn cội đó, trong thơ ca, biểu tượng - với khả năng linh hoạt, tính động của nó - cùng với tài năng sáng tạo các nhà thơ, sẽ luôn luôn hướng tới sự cách tân, đổi mới, không ngừng được bồi đắp thêm nhiều nét nghĩa mới, phù hợp với nhận thức ngày càng đa dạng, tinh tế và phong phú của con người

Biểu tượng sẽ có giá trị hơn khi vừa đánh thức những quan niệm, cảm xúc truyền thống từ ngàn đời của dân tộc trong lòng độc giả vừa khơi gợi về những điều mới mẻ, hấp dẫn Tuy nhiên, nhiều lúc dấu ấn cá nhân quá mạnh

mẽ, quá đậm khiến cho biểu tượng trở nên khó hiểu, khó khám phá đối với một số đối tượng tiếp nhận (có thể nhận thấy điều này qua một số tác giả trong phong trào Thơ mới) Thơ là sản phẩm của xã hội được cá thể hóa cao

độ và mỗi nhà thơ là một thế giới nghệ thuật khác nhau không trộn lẫn Cách

tư duy, quan sát và đánh giá thế giới xung quanh của mỗi nhà thơ khác nhau nên cách sử dụng từ ngữ, lựa chọn hình ảnh để làm biểu tượng cũng khác nhau Và khi đó biểu tượng cũng mang những nét nghĩa không giống nhau

Trang 36

Biểu tượng trong thơ thông thường có thể được xây dựng theo hai cách Một là, nhà văn, nhà thơ lựa chọn một chi tiết, hình ảnh và sắp xếp sao cho chi tiết, hình ảnh đó chi phối, quán xuyến, ảnh hưởng đến các chi tiết khác và toàn bộ tác phẩm; chi tiết, hình ảnh được lựa chọn trở thành trung tâm của những mối quan hệ; khám phá, lí giải chi tiết, hình ảnh trung tâm đó sẽ nắm bắt được ý nghĩa biểu tượng của chính nó Hai là, việc tác giả dùng lặp đi, lặp lại của một hình ảnh, hình tượng đa nghĩa trong một hoặc nhiều tác phẩm của mình cũng là một cách tạo thành biểu tượng nghệ thuật

Biểu tượng trong thơ hiện đại Việt Nam không còn là một vấn đề mới

mẻ nữa Bởi việc sử dụng biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm để chuyển tải thông điệp tư tưởng nhà văn từ lâu đã trở nên quen thuộc Từ ca dao dân ca truyền thống đến thơ ca thời trung đại, sau này là phong trào Thơ mới hay thơ

ca Cách mạng, chúng ta dễ dàng nhận thấy hệ thống các biểu tượng phong phú trong các sáng tác của các tác giả đã ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử văn học dân tộc Phát hiện, khám phá và phân tích giá trị của các biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm là một cách hữu hiệu để nhận ra phong cách độc đáo, nét sáng tạo riêng có của từng cá nhân nhà thơ Các tác giả tiêu biểu của phong trào Thơ mới như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Bích Khê, Lưu Trọng Lư, đều xây dựng trong các sáng tác của mình những hệ thống biểu tượng rất phong phú và đa dạng Không chỉ xuất hiện như một phương tiện đắc lực trong sáng tác của các nhà Thơ mới, biểu tượng còn xuất hiện khá dày đặc trong sáng tác của các tác giả thơ cách mạng thời kì này như Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Sóng Hồng, Trần Huy Liệu, Đặng Xuân Thiều, Phan Trọng Bình, Hiểu được giá trị biểu tượng của nhà thơ dùng trong tác phẩm của mình thì có thể nói đã hiểu gần như tận cùng tư duy và nỗi lòng nhà thơ ấy Họ sống và trải nghiệm, vui hay buồn, hi vọng hay thất vọng,… tất cả đều có thể đã được dồn nén, cô đọng trong những biểu tượng

Trang 37

mà họ xây dựng và gửi gắm qua ngôn từ Biểu tượng trở thành cầu nối giữa cá nhân nhà thơ và cộng đồng, giữa hiện thực và ước mơ, giữa chiêm nghiệm và cuộc sống Xét rộng hơn trong phạm vi thơ hiện đại Việt Nam, các biểu tượng gắn với cuộc sống, tính cách của từng tác giả, thể hiện phong cách cá nhân độc đáo

1.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Lịch sử nghiên cứu biểu tượng trên thế giới qua các công trình được biết đến ở Việt Nam

Theo cách luận giải của các tác giả Jean Chevalier và Alain Gheerbrant

trong cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, biểu tượng ra đời ngay từ khi

thế giới loài người hình thành Sơ khai, nó chính là các dấu hiệu, là cách thức

để loài người liên lạc với nhau một cách dễ dàng hơn Tuy nhiên, để nhận thức rõ ràng về biểu tượng thì phải là kết quả của một chặng đường dài phát triển tư duy, văn hóa của con người

Platon, nhà triết học cổ đại Hy Lạp, đã đề cập đến khái niệm “thần thoại bậc hai” khi nói về kết cấu của thần thoại triết lý Ông cho rằng, thần thoại triết

lý không đơn thuần là sự phản ánh thụ động, đơn chiều, mà nó phản ánh chủ động, đa chiều Đây có lẽ là một quan niệm sơ khai nhất về biểu tượng

Aristotle, học trò xuất sắc của Platon, khi đề cập đến mối quan hệ giữa chữ viết - lời nói - ý nghĩa đã xem ý nghĩa được thay thế bằng vật tương đương là hình ảnh, quan hệ giữa ý nghĩa và hình ảnh đó có tình ước lệ và đa dạng Cách tiếp cận này của Aristotle có thể hiểu là đang đề cập đến một trong những bản chất của biểu tượng

Nhà thần học Augustinus, trong các tác phẩm của mình được sáng tác trong giai đoạn 397 - 428 đã đề cập đến một khái niệm gọi là “siêu kí hiệu” Theo đó, kí hiệu này không chỉ yên vị, đơn nghĩa, mà nó có khả năng chuyển nghĩa, biểu đạt cho điều tiếp theo ngoài bản thân nó Nhà thần học cho rằng,

Trang 38

lời của con người chỉ là công cụ biểu đạt lại lời của Chúa mà thôi Vì Chúa là thực thế duy nhất trong thế giới không biểu đạt cái khác

Trong chủ nghĩa lãng mạn Đức (được hình thành ở Tây Âu sau cách mạng tư sản Pháp 1789), vai trò của biểu tượng đã được đề cập đến một cách

rộng rãi và qui mô hơn Biểu tượng và huyền thoại của các dân tộc thời cổ, nói riêng của người Hy Lạp (1810) là một công trình nhiều tập của F Kseiser,

có thể được coi là một đóng góp rất quan trọng trong việc hình thành lý thuyết

về biểu tượng Trong công trình này, F Kseiser đã đưa ra sự phân loại biểu tượng thành: biểu tượng thần bí (chủ yếu là từ tư duy của người nguyên thủy đối với thế giới tự nhiên, tín ngưỡng và tôn giáo) và biểu tượng thông thường

Bên cạnh đó, trong các công trình và hướng nghiên cứu khác, nhà triết học duy tâm người Đức F.W.J Shelling đưa ra quan điểm đối lập biểu tượng với phúng dụ J.W Goethe, nhà văn, nhà thơ, nhà họa sĩ lỗi lạc người Đức cũng nhận thấy tính mơ hồ, đa tầng bậc nghĩa và thật khó khăn để phân chia ý nghĩa của biểu tượng

Việc nhận thức và nghiên cứu biểu tượng có vẻ như tiến triển mạnh mẽ hơn vào những năm đầu thế kỷ XX với những tên tuổi nổi tiếng như Ernst Cassier (khuynh hướng nhân triết học), Sigmund Freud, Carl Gustav Jung (khuynh hướng phân tâm học) Trong đó, Ernst Cassier đã cung cấp cho khái niệm biểu tượng một cách hiểu rất rộng lớn Ông xem con người là động vật biểu tượng, và những thứ đã tồn tại trong thế giới loài người như ngôn ngữ, nghệ thuật, tôn giáo thì đều được coi là những hình thức biểu tượng

Các đại diện tiêu biểu của trường phái phân tâm học là Sigmund Freud, Carl Gustav Jung lại xem xét và tiếp cận biểu tượng dưới góc độ là hiện tượng của tâm thần, là ngôn ngữ trong các giấc mơ Nhiều công trình đã dịch các tác phẩm của S Freud và C Jung, đưa đến cho chúng ta một góc nhìn khá toàn diện về vấn đề phân tâm học nói chung và biểu tượng trong góc nhìn phân

Trang 39

tâm học nói riêng Tiêu biểu như Man and His Symbols (Con người và biểu tượng), Essai d’exploration de l’inconscient (Nỗ lực khám phá vô thức), Die Traumdeutung (Giải thích giấc mơ),…

Aleksei Fedorovich Losev, nhà triết học nổi tiếng người Nga có nhiều công trình khoa học liên quan đến vấn đề biểu tượng Có thể đến một số công

trình như: Logic của biểu tượng (1972), Sơ khảo về chủ nghĩa biểu tượng và huyền thoại cổ đại (1930), Vấn đề biểu tượng trong nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa (1995), Kí hiệu, biểu tượng, thần thoại (1982),… Losev đã nhất định

phân biệt biểu tượng với các dạng tu từ khác (ở đây là hai loại gần nhất là phúng dụ và ẩn dụ)

Đáng chú ý là các công trình của nhà lí luận văn học, văn hóa, triết học

Pháp Tzvetan Todorov là: Các lý thuyết biểu tượng (1977), Chủ nghĩa biểu tượng và sự diễn giải (1978), Chủ nghĩa tượng trưng và diễn giải (Symbolisme

et interprétation, 1978), Lí thuyết tượng trưng (Théories du symbole, 1985)

Tz Todorov cho rằng cách hiểu về biểu tượng liên quan đến sự diễn giải, bởi

vì cùng một kí hiệu ở thời đại này, dân tộc này coi là biểu tượng, nhưng ở thời đại, dân tộc khác lại không thấy như thế

Năm 1969, Jean Chevalier và Alain Gheerbrant xuất hiện nổi bật với công

trình Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới Đây là công trình nghiên cứu được

soạn thảo công phu bởi hai tác giả trên với sự cộng tác của nhiều chuyên gia Pháp và các nước khác; chỉnh lý, bổ sung năm 1982 và tái bản rất nhiều lần (tái bản 13 lần kể từ năm 1969 đến năm 1992) Cùng với việc trình bày, phân tích những ý kiến, nhận định của các học giả về vấn đề biểu tượng một sâu sắc và độc đáo, các tác giả cuốn từ điển đã đưa ra hệ thống các biểu tượng văn hóa như: các huyền thoại, chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình, màu sắc, con số,… bao quát được hầu hết khu vực văn hóa trên thế giới liên quan đến các phương diện dân tộc học, xã hội học, tâm lý học, thần thoại học, tôn giáo học,…

Trang 40

Trần Đình Sử dịch từ bản tiếng Nga cuốn sách của tác giả Iu Lotman:

Biểu tượng trong hệ thống văn hóa (1992) Theo đó, biểu tượng xuất hiện như

là một máy tích điện của tất cả các nguyên tắc của tính kí hiệu và đồng thời vượt ra ngoài giới hạn của tính kí hiệu Nó là cầu nối giữa các phạm vi khác nhau của cái biểu nghĩa cũng như giữa tính thực tại kí hiệu học và ngoài kí hiệu học Trên mức độ như nhau nó cũng là cái trung gian giữa tính đồng đại của văn bản và ký ức của văn hoá Vai trò của nó là vai trò của máy tích điện

kí hiệu học

Một trong số những tài liệu có giá trị khi đề cập đến vấn đề biểu tượng

đó chính là cuốn Biểu tượng - Chung và Riêng (Symbol - Public and Private)

của Raymond Firth do Đinh Hồng Hải dịch; từ đó, Đinh Hồng Hải đã dịch ra

thành các bài viết rất có ý nghĩa khoa học: Các biểu tượng trong nghệ thuật, Khám phá các biểu tượng trong văn học, Các biểu tượng trong tôn giáo, Nghiên cứu văn hóa từ góc nhìn nhân học biểu tượng, Quan điểm của các nhà nhân học về sử dụng biểu tượng Qua đó, có thể thấy rõ một điều là,

chính tính chất đa nghĩa, trừu tượng, mơ hồ của biểu tượng khiến cho việc tiếp cận nó ở góc độ văn học nói riêng là vô cùng khó khăn Vấn đề giải mã biểu tượng trong văn học, vì thế cần có cái nhìn tổng thể, bao quát, liên quan đến những ngành học khác, gần nhất là văn hóa học, kí hiệu học, tâm lí học, phân tâm học,…

1.2.2 Lịch sử nghiên cứu biểu tượng, biểu tượng nghệ thuật ở Việt Nam

Ở nước ta, việc nghiên cứu biểu tượng còn lẻ tẻ, nhất là nghiên cứu lý thuyết Đồng thời với điều này là xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc và bản chất của biểu tượng Tất nhiên, chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy là các công trình nghiên cứu này có thể xếp lại thành những nhóm theo cách tiếp cận biểu tượng Chúng tôi đã tiến hành khảo sát các công trình và một số bài báo nghiên cứu về biểu tượng nói chung, biểu tượng văn học nói riêng và có thể đi đến một số khái lược cơ bản như sau:

Ngày đăng: 20/10/2020, 14:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristotle (Nhiều tác giả dịch) (2007), Nghệ thuật thi ca, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Aristotle (Nhiều tác giả dịch)
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2007
2. Trần Hoài Anh (2017), Đi tìm ẩn ngữ văn chương, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm ẩn ngữ văn chương
Tác giả: Trần Hoài Anh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2017
3. Melanie Barnum (Thế Anh dịch) (2017), Cuốn sách về các biểu tượng tâm linh, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuốn sách về các biểu tượng tâm linh
Tác giả: Melanie Barnum (Thế Anh dịch)
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2017
4. Gillian Butler & Freda McManus (Thái An dịch) (2016), Dẫn luận về tâm lý học, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận về tâm lý học
Tác giả: Gillian Butler & Freda McManus (Thái An dịch)
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2016
5. Lévy-Bruhl (Ngô Bình Lâm dịch) (2018), Kinh nghiệm thần bí và biểu tượng ở người nguyên thủy, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm thần bí và biểu tượng ở người nguyên thủy
Tác giả: Lévy-Bruhl (Ngô Bình Lâm dịch)
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2018
6. Tim Bayne (Nguyễn Tiến Văn dịch) (2016), Dẫn luận về tư duy, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận về tư duy
Tác giả: Tim Bayne (Nguyễn Tiến Văn dịch)
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2016
7. Luc. Bennoist (Hoàng Mai Anh dịch) (2006), Dấu hiệu, biểu trưng và thần thoại, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu hiệu, biểu trưng và thần thoại
Tác giả: Luc. Bennoist (Hoàng Mai Anh dịch)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2006
8. Georges Batailie (Ngân Xuyên dịch) (2006), Văn học và cái ác, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và cái ác
Tác giả: Georges Batailie (Ngân Xuyên dịch)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2006
9. Nguyễn Bao (tuyển chọn) (1987), Tuyển tập Tế Hanh, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Tế Hanh
Tác giả: Nguyễn Bao (tuyển chọn)
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1987
10. Trần Lê Bảo (2011), Giải mã văn học từ mã văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải mã văn học từ mã văn hóa
Tác giả: Trần Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
11. Lê Huy Bắc (2019), Ký hiệu và liên ký hiệu, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký hiệu và liên ký hiệu
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2019
12. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (Nhiều người dịch) (2015), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (Nhiều người dịch)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2015
13. Laurie Conrad (Quốc Dũng, Thanh Thủy dịch) (2014), Gặp gỡ trong mơ, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gặp gỡ trong mơ
Tác giả: Laurie Conrad (Quốc Dũng, Thanh Thủy dịch)
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2014
14. Jean - Noel Christine (Thân Thị Mận dịch) (2018), Khai tâm về phân tâm học, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai tâm về phân tâm học
Tác giả: Jean - Noel Christine (Thân Thị Mận dịch)
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2018
15. Nguyễn Duy Cần (2007), Văn minh Đông Phương và Tây Phương, Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn minh Đông Phương và Tây Phương
Tác giả: Nguyễn Duy Cần
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2007
16. Lê Nguyên Cẩn (2014), Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
17. Bùi Hạnh Cẩn (1995), Nguyễn Bính và tôi, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính và tôi
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1995
18. Nguyễn Văn Dân (2006), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2006
19. P.J. Durand (Lê Thành dịch) (2012), Biểu tượng và ý nghĩa của các loài thú trong Thánh Kinh, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng và ý nghĩa của các loài thú trong Thánh Kinh
Tác giả: P.J. Durand (Lê Thành dịch)
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
137. Wallace Fowlie (1990), Poem and Symbol: A Brief History of French Symbolism, nguồn: https://www.amazon.fr/Poem-Symbol-History-French-Symbolism/dp/027100696X Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w