TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN ---NGUYỄN DIỆP HÀ CÔNG TÁC PHỤC VỤ BẠN ĐỌC KHIẾM THỊ TẠI THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN
-NGUYỄN DIỆP HÀ
CÔNG TÁC PHỤC VỤ BẠN ĐỌC KHIẾM THỊ
TẠI THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH THÔNG TIN – THƯ VIỆN
HỆ ĐÀO TẠO: CHÍNH QUY KHOÁ HỌC: QH – 2005 – X NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS VŨ VĂN NHẬT
HÀ NỘI, 2009
Trang 2Hà Nội, tháng 5 năm 2009
Người nghiên cứuNguyễn Diệp Hà
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu Khoá luận này do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Văn Nhật cùng những người
đã nêu trong lời cảm ơn
Những thông tin trong công trình mà tôi đã nghiên cứu là sát với thực
tế, thực hiện đúng các nguyên tắc của nghiên cứu khoa học và chưa từng được công bố bởi ai khác bằng bất cứ hình thức phổ biến nào
Hà Nội, Tháng 5 năm 2009
Người nghiên cứuNguyễn Diệp Hà
Trang 4TVHN: Thƣ viện Hà Nội (47 Bà Triệu)
* Ghi chú: Cụm từ “Thƣ viện Hà Nội” nêu trong Khóa luận chỉ dùng cho
Thƣ viện Hà Nội cơ sở 1 tại 47 Bà Triệu, không bao gồm Thƣ viện Tỉnh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Mục đích và Nhiệm vụ nghiên cứu
3 Tình hình nghiên cứu của đề tài
4 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu của đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn
7 Cấu trúc Khóa luận
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Thư viện Hà Nội 1.2 Chức năng và nhiệm vụ
1.2.1 Chức năng
1.2.2 Nhiệm vụ
1.3 Cơ cấu tổ chức
1.4 Cán bộ thư viện
1.5 Vốn tài liệu
1.6 Cơ sở vật chất kỹ thuật
1.7 Kết quả công tác
1.7.1 Công tác phục vụ bạn đọc
1.7.2 Công tác bổ sung - biên mục
1.7.3 Công tác tuyên truyền giới thiệu sách báo
1.7.4 Công tác địa chí 1.7.5 Công tác xây dựng và phát triển mạng lưới thư viện cơ sở
Trang 6CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỤC VỤ BẠN ĐỌC
KHIẾM THỊ TẠI THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 24
2.1 Đặc điểm của người khiếm thị tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng 24
2.2 Nhu cầu tin và tình hình tiếp cận thông tin của người khiếm thị 25
2.3 Tình hình đáp ứng nhu cầu tin cho người khiếm thị 27
2.3.1 Tình hình đáp ứng nhu cầu tin cho người khiếm thị trên thế giới 27
2.3.2 Tình hình đáp ứng nhu cầu tin cho người khiếm thị tại Việt Nam nói chung và tại Hà Nội nói riêng 30
2.4 Cơ cấu nguồn lực thông tin phục vụ người khiếm thị tại Thư viện Hà Nội 38
2.4.1 Nguồn lực thông tin truyền thống 39
2.4.2 Nguồn lực thông tin điện tử 43
2.5 Hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật, ngân sách phục vụ bạn đọc khiếm thị 46 2.6 Công tác phục vụ bạn đọc 51
2.6.1 Phục vụ tại Thư viện 51
2.6.2 Phục vụ lưu động 52
2.6.3 Tổ chức giới thiệu sách 52
2.7 Các hoạt động phát triển Thư viện dành cho người khiếm thị tại Thư viện Hà Nội 53
CHƯƠNG 3: MỘT VÀI NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BẠN ĐỌC KHIẾM THỊ TẠI THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 55
3.1 Kết quả đạt được 55
3.2 Những mặt tồn tại 56
3.3 Một vài kiến nghị 57
KẾT LUẬN 59 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cộng đồng người khiếm thị (viết tắt: NKT) nước ta hiện nay chiếm tỷ lệtrên 1% dân số Họ đều là những người thiệt thòi về thể chất, mất đi giác quanquý giá nhất, NKT gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, trong việc thu nhậnthông tin, nhưng không ít trong số họ đã cống hiến sức mình làm giàu đẹp chođất nước Nhằm giảm bớt khó khăn, bù đắp thiệt thòi cho họ, việc chăm lo mọimặt, đặc biệt là đời sống văn hóa, tinh thần cho NKT, đảm bảo quyền và sự bìnhđẳng trong cống hiến và hưởng thụ các dịch vụ văn hóa công - trong đó có lĩnhvực sách báo và thư viện - luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Tại Điều 6
khoản 4 Pháp lệnh Thư viện đã khẳng định: “Người khiếm thị được tạo điều kiện
sử dụng tài liệu thư viện bằng chữ nổi hoặc các vật mang tin đặc biệt” Tại Điều
2 khoản 4 Nghị định số 72/2002/NĐ-CP ngày 06/08/2002 của Chính phủ Quyđịnh chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện đã cụ thể trách nhiệm của các thư viện
công cộng: “Thư viện công cộng có trách nhiệm phối hợp với Hội Người mù xây dựng bộ phận sách báo bằng chữ nổi và các dạng tài liệu đặc biệt khác phục vụ cho người khiếm thị”.
Hiện nay, việc đáp ứng nhu cầu tiếp thu thông tin, kiến thức của NKT cònrất hạn chế NKT ở Việt Nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng đang rất cần sựgiúp đỡ, hỗ trợ để họ được tiếp cận với các nguồn sách báo, thông tin, kiến thứcphục vụ, nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần cho bản thân, góp ích cho giađình và xã hội Việc truyền bá tri thức cho những NKT là điều cần thiết và cầnđược quan tâm đúng đắn của các cơ quan thông tin - thư viện, đặc biệt làTVTPHN - Thư viện Thủ đô
Chính vì vậy, với tinh thần cầu thị và những đòi hỏi cấp bách được đặt racho NKT, tôi lựa chọn đề tài “Công tác phục vụ bạn đọc khiếm thị tại Thư việnThành phố Hà Nội” làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp của mình
Trang 82. Mục đích và Nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Góp phần giúp người khiếm thị được quan tâm thỏa đáng hơn trong việctiếp nhận thông tin, kiến thức Qua đó góp phần giúp hoạt động thư viện dànhcho NKT tại Thư viện Hà Nội cũng như các thư viện công cộng hiệu quả hơn
và được biết đến nhiều hơn
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Phản ánh rõ được thực trạng phục vụ bạn đọc khiếm thị của Thư viện HàNội Qua đó đề xuất những ý tưởng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phục
vụ bạn đọc khiếm thị tại Thư viện Hà Nội
3. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Các đề tài chuyên ngành Thông tin - Thư viện về đối tượng NKT còn khámới mẻ Trong những năm gần đây, có rất nhiều đề tài Khóa luận của Sinh viênKhoa Thông tin - Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân vănnghiên cứu về TVHN như:
- Tìm hiểu ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động Thông tin - Thư
viện tại Thư viện Hà Nội - Khóa luận Tốt nghiệp của Lê Thị Thanh Nhàn.
Sinh viên K43 Chính quy, 2002.
- Tìm hiểu ngôn ngữ tìn tin áp dụng tại Thư viện Hà Nội Khóa luận Tốt
nghiệp của Ngô Thị Nguyệt Minh, K44 Chính quy, 2003.
- Nghiên cứu công tác tuyên truyền giới thiệu sách tại Thư viện Hà Nội, Khóa
luận Tốt nghiệp của Nguyễn Thị Hảo, K45 Chính quy, 2004.
- Tăng cường nguồn lực thông tin tại Thư viện Hà Nội Khóa luận Tốt nghiệp
của Nguyễn Thị Bình, K45 Chính quy, 2004.
Trang 9- Phát triển vốn tài liệu địa chí tại Thư viện Hà Nội Khóa luận Tốt nghiệp của
Nguyễn Thị Huyền, K45 Chính quy, 2004.
- Tìm hiểu vốn tài liệu văn bia tại Thư viện Hà Nội Khóa luận Tốt nghiệp của
Nguyễn Văn Dũng K45 Chính quy, 2004.
- Tìm hiểu vốn Thư tịch cổ tại Thư viện Hà Nội Khóa luận Tốt nghiệp của Vũ
Thị Thủy, K46 Chính quy, 2005.
- Tổ chức vốn tài liệu ở thư viện Hà Nội Khóa luận Tốt nghiệp của Khoa
Thanh Ngọc, K46 Chính quy, 2005.
- Tìm hiểu các sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện của Thư viện Hà Nội.
Khóa luận Tốt nghiệp của Đỗ Thu Huyền, K46 Chính quy, 2005.
- Tìm hiểu nhu cầu tin và đảm bảo thông tin tại Thư viện Hà Nội Khóa luận
Tốt nghiệp của Hồ Thị Thúy Chinh, K48 Chính quy, 2007.
v.v
Nghiên cứu có liên quan đến bạn đọc khiếm thị trong 6 năm trở lại đây chỉ
có duy nhất một đề tài : “Tìm hiểu hoạt động của một số phòng đọc sách tiêu biểu dành cho người khiếm thị ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Min”, Báo cáo
khoa học của Nguyễn Thị Đào., K44 Chính Quy 2003.
Với những thay đổi về phạm vi địa lý cũng nhƣ hiện trạng thực tế, tôikhẳng định đề tài “Công tác phục vụ bạn đọc khiếm thị tại Thƣ viện Thành phố
Hà Nội” là đề tài mới, trong nhiều năm trở lại đây vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu
4. Đối tƣợng và Phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài
Công tác phục vụ bạn đọc khiếm thị tại Thƣ viện Thành phố Hà Nội
Trang 10* Phạm vi về không gian
Thư viện Thành phố Hà Nội , bao gồm:
- Thư viện Hà Nội 47 Bà Triệu - Hà Nội
- Thư viện Hà Nội cơ sở 2 - Số 02 Đường Quang Trung - Hà Đông -
* Phạm vi về thời gian:
- Thư viện Hà Nội từ năm 2005 đến nay
Thư viện Hà Nội cơ sở 2 từ năm 2008 đến nay
5. Phương pháp nghiên cứu
v.v
Trang 11* Phương pháp cụ thể
- Xử lý phân tích - tổng hợp tài liệu
- Điều tra Xã hội học (phỏng vấn trực tiếp, quan sát…)
- Đóng góp vào giá trị nhân đạo, tuyên truyền, giới thiệu nhiều hơn
về hoạt động phục vụ sách báo cho người khiếm thị
Trang 127. Cấu trúc Khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Mục lục vàPhụ lục, Khóa luận gồm 3 chương:
- CHƯƠNG I: Giới thiệu khái quát về Thư viện Thành phố Hà Nội
- CHƯƠNG II: Thực trạng công tác phục vụ bạn đọc khiếm thị tại Thư viện Thành phố Hà Nội
- CHƯƠNG III: Một số giải pháp nâng cao chất lượng phục vụ
bạn đọc khiếm thị tại Thư viện Thành phố Hà Nội.
Trang 13CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Thư viện Hà Nội
Thư viện Hà Nội (viết tắt: TVHN) được thành lập ngày 15/10/1956 vớitên gọi ban đầu “Phòng đọc sách nhân dân” Thư viện đã qua nhiều lần thay đổiđịa điểm (nhà Thuỷ Toạ, Lò Đúc, Mai Dịch, Văn Miếu - Quốc Tử Giám) Từtháng 1/1959 Thư viện chính thức đóng tại 47 Bà Triệu và mang tên “Thư việnnhân dân Hà Nội”, nay là Thư viện Hà Nội
- Tên hành chính:
Thư viện Thủ đô Hà Nội
- Tên giao dịch quốc tế:
Hanoi Capital Library
- Website:
http://www.thuvienhanoi.org.vn
Ảnh: Thư viện Hà Nội trước năm 2005
Ngày 10/10/2005, TVHN khởi công xây dựng mới trên 1.347m2 của trụ sở
cũ, trụ sở mới của TVHN được đầu tư xây dựng hiện đại, gồm 8 tầng nổi và 1tầng hầm, cao trình 29,7m, diện tích sàn 6.161m2 với hệ thống trang thiết bịđồng bộ, phụ trợ tốt cho hoạt động phục vụ người đọc Công trình được xâydựng trong 3 năm (10/10/2005 – 10/10/2008) với tống vốn đầu tư 44 tỷ đồng
Số lượng cán bộ trong những ngày đẩu mới thành lập chỉ có 04 người, vớivốn sách vài ngàn cuốn được chuyển từ kháng chiến về, ngoài ra là một số báo,tạp chí Cơ sở vật chất của Thư viện còn nghèo nàn Cán bộ của Thư viện đã tìmmọi cách khắc phục khó khăn để từng bước đưa Thư viện thành phố đi lên
Trang 14Ảnh: Thư viện Hà Nội từ tháng 10/2008
Trong hoàn cảnh hoà bình vừa lập lại, một nửa đất nước bước vào giaiđoạn phục hồi kinh tế, Thư viện đã tập trung sách báo phục vụ nhân dân Thủ đô,đồng thời chú trọng phát triển mạng lưới các thư viện cơ sở, từ một Thư việnThành phố sau này phát triển thêm 12 thư viện quận, huyện phục vụ nhân dânnội và ngoại thành
Để ghi nhận những đóng góp đáng kể của Thư viện, Đảng, Nhà nước đãtrao tặng cho TVHN 03 Huân chương Lao động và Huân chương Độc lập hạngBa
Từ ngày 01/08/2008, Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, sáp nhập tỉnh
Hà Tây và một phần địa phận các tỉnh lân cận nên hoạt động của các tổ chứchành chính của Hà Nội, trong đó có Thư viện Hà Nội cũng thay đổi, mở rộng
Trang 15Tháng 2/2009, Thƣ viện tỉnh Hà Tây (thành lập năm 1957) chính thức sáp nhập vào Thƣ viện Hà Nội, đổi tên gọi là “Thƣ viện Hà Nội Cơ sở 2” Tên hành
chính chung của 2 cơ sở là “Thƣ viện Thành phố Hà Nội”
Ảnh: Thư viện Hà Nội cơ sở 2 (tháng 5/2009)
TVHN đã tổ chức tốt mọi hoạt động tại Cơ sở 2 – Số 2 Quang Trung, HàĐông và luân chuyển sách xuống 79 tủ sách cơ sở
Hiện hai cơ sở đã và đang hoạt động vừa mang tính độc lập vừa phát huy thế mạnh tổng lực, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ đặt ra cho Thƣ viện Thủ đô
Trang 161.2 Chức năng và nhiệm vụ
1.2.1 Chức năng
TVTPHN là Trung tâm Văn hóa - Khoa học - Giáo dục quan trọng củaThủ đô, có chức năng tàng trữ, luân chuyển sách báo kể cả các loại sách, báo, tàiliệu do địa phương xuất bản… đến với cộng đồng Thư viện phục vụ rộng rãimọi đối tượng bạn đọc, bao gồm: người lao động, người cao tuổi, thanh niên,thiếu nhi, học sinh, sinh viên, cán bộ quản lý, người khuyết tật, những ngườinghiên cứu khoa học kỹ thuật v…v Vì vậy, TVTPHN vừa là một Thư viện khoahọc tổng hợp, vừa có chức năng nghiên cứu và hướng dẫn nghiệp vụ thư viện cơ
sở, duy trì và phát triển văn hóa đọc trong nhân dân
1.2.2 Nhiệm vụ
Thư viện Thành phố Hà Nội có nhiệm vụ sau
- Hoàn thành tốt vai trò là trung tâm nghiên cứu và hướng dẫnphương pháp hoạt động của hệ thống thư viện, tủ sách và phongtrào đọc sách của quần chúng, đề xuất phương hướng nội dung,
kế hoạch tổ chức và hoạt động của từng loại hình thư viện, tủ sáchđối với từng loại người đọc
- Bảo quản và bổ sung các loại sách báo cũ và mới xuất bản ở trongnước và sách báo bằng tiếng nước ngoài phù hợp với đặc điểm vàphương hướng phát triển kinh tế, văn hóa của địa phương phục
vụ yêu cầu công tác nghiên cứu, góp phần nâng cao kiên thức vănhoá cho quần chúng
- Tổ chức việc tuyên truyền giới thiệu sách báo với bạn đọc
Trang 17- Tổ chức đọc sách tại chỗ và luân chuyển cho mượn sách báo rộngrãi trong quần chúng bảo vệ, bảo quản kho sách báo, tài sản củathư viện.
- Hướng dẫn nghiệp vụ cho thư viện quận, huyện, thị xã và các ngành
- Hiện nay, Thư viện được giao thêm nhiệm vụ mới là nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thư viện
- Phòng Thông tin - Thư mục - Địa chí
- Phòng Nghiệp vụ - Phong trào cơ sở
Trang 18Thạc sĩ Thông tin - Thư viện: 02 người
Cử nhân Thông tin - Thư viện: 20 người
- Tài liệu địa chí: 16.505 bản
- CSDL: 8 CSDL với 210.000 biểu ghi
Thư viện đang lưu trữ một kho tàng thư tịch khá đồ sộ của Thủ đô vànhân loại; có phòng tra cứu địa chí về Thăng Long – Hà Nội Trong kho sách cóvài ngàn bản tư liệu Hán – Nôm, các loại sách ngoại văn, các bản đồ cổ, ảnh HàNội xưa và nay rất quý hiếm
Trang 19* Thư viện Hà Nội cơ sở 2
237.196 tài liệu và 198.010 bản báo, tạp chí trong đó:
- Sách Tiếng Việt: 200.133 bản
- Sách ngoại văn: 6.135 bản; 270 đĩa CD
- Sách Thiếu nhi: 23.928 bản; 6 đầu báo và khoảng 2000 cuốn sách ngoại văn
Tài liệu địa chí: 4.825 bản
CSDL: TVHN2 sử dụng đồng thời 2 hệ quản trị CSDL là Ilib và ISIS DOS có 5 CSDL với 41.342 biểu ghi, trong đó:
+ Hệ quản trị trên Ilib: CSDL sách đọc, sách mượn, tài liệu tra cứu và tài liệu địa chí Tổng số 39.812 biểu ghi
+ Hệ quản trị ISIS DOS: CSDL sách Thiếu nhi: 1.530 biểu ghi
Hiện Thư viện đang nhập về 60 máy tính phục vụ Phòng đa phương tiện,phục vụ tra cứu CSDL, tìm tin theo nhu cầu bạn đọc
TVHN hiện có 07 máy in, 03 máy photocopy
Trang 20* Thƣ viện Hà Nội cơ sở 2
Mở thêm phòng đọc tự chọn (tầng 5), tạo điều kiện cho bạn đọc tiếp cận tra tìm tài liệu
Từ ngày 01/04/2009, Thƣ viện tăng thời gian phục vụ bạn đọc liêntục từ 08:00 đến 19:30 từ thứ 2 đến thứ7
+ Lƣợt bạn đọc : 161.467
+ Lƣợt sách báo : 747.500
+ Cấp và đổi thẻ các loại: 11.100 thẻ(số liệu năm 2008)
04 tháng đầu năm 2009, cấp mới: 1.410 thẻ
Trang 21* Thư viện Hà Nội cơ sở 2
+ Lượt bạn đọc: 7.774
+ Lượt sách báo: 19.145
+ Tổng số thẻ: 2.100
thẻ (Số liệu quý I - 2009)
04 tháng đầu năm 2009: cấp m ới 779 thẻ
1.7.2 Công tác bổ sung - biên mục
* Thư viện Hà Nội
- Bổ sung sách mới: 27.034 cuốn (trong năm 2008)
- Báo Tiếng Việt: 229 tên báo, tạp chí (tính đến tháng 4 năm 2009)
- Báo Ngoại văn : 30 tên báo
Hoàn thành 1 tỷ đồng kinh phí bổ sung sách báo năm 2008 (Sách chương trình mục tiêu năm 2008 là 3.084 cuốn = 100 triệu đồng)
* Thư viện Hà Nội cơ sở 2
- Bổ sung sách mới 2.898 đầu sách với 12.163 cuốn (trong năm 2008)
- Báo Tiếng Việt: 234 tên báo, tạp chí
- Báo Ngoại văn: 01 tên báo (Vietnam News)
Hoàn thành bổ sung 12.163 bản sách; 13.945 bản báo và 2.467 bản Tạp chí
Trang 221.7.3 Công tác tuyên truyền giới thiệu sách báo
Thư viện đã triển khai các hoạt động nhằm đưa sách báo đến đông đảo bạn đọc và giúp bạn đọc nắm bắt thông tin, tìm đến các tài liệu sách báo như:
- Tổ chức các phòng đọc chuyên đề tại các cơ sỏ , địa phương trực thuộc
- Phối hợp các nhà xuất bản, Đại sứ quán, trường học v…v tổ chức tuyên
truyền giới thiệu sách báo mới hoặc sách báo chào mừng các ngày kỷ niệm của đất nước và Hà Nội
- Tổ chức các buổi tọa đàm, câu lạc bộ Thơ, kể chuyện lịch sử v.v, Tạođiều kiện đẻ độc giả giao lưu với các tác giả, tìm hiểu các tác phẩm tiêu biểu vàcác tác phẩm mới
1.7.4 Công tác địa chí
- Biên soạn thư mục chuyên đề
- Hồi cố kho sách Hán – Nôm, tài liệu Hương ước, khoán ước của các làng thuộc tỉnh Hà Nội (1920 – 1942) và tỉnh Hà Tây
- Phục vụ tra cứu về Hà Nội, tỉnh Hà Tây (cũ)
1.7.5 Công tác xây dựng và phát triển mạng lưới thư viện cơ sở
Thư viện định kỳ tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ thư viện
cơ sở Quận, Huyện, đồng thời mở các buổi thảo luận, trau dồi kỹ năng nghiệp
vụ, hỗ trợ trang thiết bị và xử lý nghiệp vụ cho các thư viện cơ sở
Ngoài ra Thư viện đã và đang tổ chức xây dựng mới một số Thư viện cơ
sở, tủ sách địa phương ở các cấp xã phường
Trang 23* Thư viện Hà Nội cơ sở 2
+ Thư viện, tủ sách văn hóa cơ sở: 435
+ Điểm Bưu điện, Văn hóa xã: 258
+ Tủ sách pháp luật: 325
+ Tủ sách trường học: 694Phục vụ 565.000 lượt bạn đọc, 1.576.000 lượt sách báo (Trong năm 2008)
Hơn nửa thể kỷ qua, TVHN đã phục vụ thông tin, sách báo cho hàng triệungười và đã trở thành địa chỉ văn hoá quen thuộc của mọi người dân Thủ đô.Với những hình thức hoạt động phong phú đa dạng, TVHN đã phục vụ đắc lựccông tác nghiên cứu, học tập, sản xuất, kinh doanh và nâng cao dân trí Sau khisáp nhập, TVTPHN cố gắng phát huy sức mạnh của hai thư viện Cùng sự đầu
tư, quan tâm của các cấp lãnh đạo nỗ lực của toàn thể Ban lãnh đạo và cán bộthư viện, TVTPHN đang từng bước hiện đại hóa, nâng cao chất lượng hoạtđộng, phục vụ, xứng tầm với Thư viện của Thủ đô ngàn năm văn hiến
Trang 24CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỤC VỤ BẠN ĐỌC KHIẾM THỊ TẠI
Mức sống của NKT còn rất thấp Những NKT có khả năng sống và trangtrải chi phí sinh hoạt tự lập là khoảng 50% Số hộ nghèo có NKT trên toàn quốc
là 29%, Cuộc sống của NKT gặp rất nhiều khó khăn, không có việc làm ổn địnhhoặc thu nhập thấp Với chức năng chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần chohội viên và người mù trong cả nước, HNM Việt Nam (thành lập ngày17/04/1969) đã tổ chức các lớp dạy chữ, dạy nghề, thành lập nhiều cơ sở sảnxuất Chương trình vay vốn từ quỹ quốc gia phát triển việc làm đã tạo điều kiện
Trang 25cho hàng chục nghìn hội viên có việc làm và thu nhập ổn định hơn, góp phần xóađói giảm nghèo.
Phần lớn NKT có trình độ văn hóa thấp so với mặt bằng xã hội, nhất làkhu vực nông thôn Vấn đề giáo dục, đào tạo, dạy nghề cho NKT là khâu quantrọng nhất để tạo điều kiện cho họ hòa nhập với cộng đồng Hàng vạn Hội viênHNM đã được Hội tổ chức học chữ Braille để nâng cao trình độ, hòa nhập xãhội Cho đến nay đã có hàng ngàn thanh thiếu niên mù trong cả nước được họctập hòa nhập tại các trường phổ thông công lập hoặc trường phổ thông đặc biệt
Tại Hà Nội, số lượng NKT là trên 10.000 người., số hộ nghèo 10 - 15%.(trên thực tế tỷ lệ người nghèo là NKT còn cao hơn, đó là thành phần nhữngNKT chưa có sổ hộ nghèo) Nghề ngjiệp chủ yếu của họ là làm kinh tế gia đìnhbằng chăn nuôi, trồng trọt là chủ yếu (60%); Xoa bóp: 100 người; Làm thủ công(tăm chổi, đan lát); cho thuê nhà v.v Hơn 100 sinh viên mù đã và đang theo họctại các trường Đại học, Cao đẳng Trình độ văn hóa, giáo dục của NKT tại HàNội ngày càng cao cùng với điều kiện và nhu cầu học tập của họ Trong đó: Tốtnghiệp phổ thông: 25 - 30%; khoảng 40 người có trình độ đại học
2.2 Nhu cầu tin và tình hình tiếp cận thông tin của người khiếm thị
Cùng với sự phát triển về đời sống vật chất, tinh thần, nhu cầu được đọcsách nói riêng cũng như hưởng thụ sản phẩm văn hóa nói chung của NKT ngàycàng cao, phong phú và đa dạng Là “một xã hội thu nhỏ”, NKT cũng có nhunâng cao tri thức như bao đối tượng khác Hiện nay, nhu cầu đọc của NKT chủyếu tập trung vào sách văn học, các vấn đề xã hội, Khoa học thường thức, Khoahọc phát triển kinh tế, khuyến nông, sức khỏe v.v…
Sách báo chữ Braille, băng cassette, đĩa CD đã trở thành những ấn phẩm
Trang 26mặt Nhờ được trang bị kiến thức về tin học, rất đông cán bộ, hội viên người mù
đã sử dụng thành thạo vi tính, truy cập mạng Internet, khai thác được thông tin,sách báo truyền tải trên mạng Tuy nhiên do mất đi giác quan quan trọng nhấtnên NKT bị hạn chế nhiều trong việc tiếp cận các phương tiện thông tin, cáckiến thức được truyền tải qua sách báo bình thường Ở Việt Nam, phần lớn NKTsinh sống cùng với gia đình, song gặp rất nhiêu khó khăn trong đi lại vì ở ViệtNam chưa có cơ sở hạ tầng và thiết kế giao thông đặc biệt dành cho ngườikhuyết tật để họ có thể ra ngoài mà không cần đến sự giúp đỡ của người nhà Vìvậy, việc tiếp cận thông tin của NKT chủ yếu qua đài, Tivi hoặc nghe sách báo
do người khác đọc v.v Để đáp ứng nhu cầu văn hóa, họ phải tự thân tìm đến,tiếp cận với các nguồn tin, nguồn kiến thức hoặc thông qua các hoạt động vănhóa: câu lạc bộ văn nghệ, tủ sách, tham gia các sinh hoạt văn hóa chủ yếu tạiThành hội và do Thành Hội Người Mù tổ chức tại các Quận Hội Tại đây, NKT
có thể tra cứu sách chữ nổi theo danh bạ chữ nổi; nghe sách nói; nghe đọc sách
và buổi tọa đàm về tác giả - tác phẩm v.v
Hiện nay sách tại phòng đọc của Hội Người Mù Hà Nội tập trung vàomảng văn học; các vấn đề xã hội; khoa học thường thức Nhưng nhìn chung,nhiệm vụ trọng tâm của Thành hội và Quân hội vẫn là tập trung giải quyết vấn đềđời sống cho hội viên Vì vậy, điều kiện tiếp nhận văn hóa của NKT chưa đápứng được nhu cầu văn hóa của họ Thêm vào đó, một bộ phận NKT đang ở trình
độ tri thức cao (sinh viên; các nhà khoa học…) cũng đang thiếu rất nhiều tài liệunghiên cứu khoa học như lịch sử, triết học, tin học v.v ) Với những tiến bộ củakhoa học kỹ thuật, hơn lúc nào hết, nhu cầu đọc và tra cứu tài liệu trên mạngInternet và băng, đĩa là rất cần thiết đối với NKT, nhất là những bạn trẻ để không
bị lạc hậu về thông tin, về kiến thức khoa học - xã hội trong nước và trên thếgiới, qua đó giúp người khiếm thị vượt qua mọi rào cản, vươn lên làm chủ cuộcsống NKT rất cần những phương tiện truyền tải phù hợp (sách báo chữ Braille;
Trang 27máy trợ thị; đĩa, máy đọc đĩa CD; băng, đài cassette…) Việc nâng cao chấtlượng bồi dưỡng giáo dục, phổ biến kiến thức và văn hóa cho NKT đòi hỏi sựchung tay giúp đỡ của toàn xã hội.
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, NKT là nhóm người thiếu điều kiệntruy cập thông tin cần thiết cho việc học tập và đời sống của họ Họ có nhu cầuđọc sách và thông tin như người bình thường; họ cũng có nhu cầu học suốt đời,nhu cầu giải trí cũng như đóng góp cho xã hội
Trên địa bàn Hà Nội, có hơn 600.000 người khiếm thị có nhu cầu thườngxuyên đọc sách báo, trên 100 người có khả năng truy cập Internet, cho thấy mộtlượng cầu không nhỏ với công tác thư viện phục vụ NKT
2.3 Tình hình đáp ứng nhu cầu tin cho người khiếm thị
2.3.1 Tình hình đáp ứng nhu cầu tin cho người khiếm thị trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới có 161 triệu người mù và khiếm thị một phần.Lượng sách trên thế giới hiện nay xuất bản để phục vụ NKT dưới các định dạngchữ nổi Braille, chữ in cỡ lớn, âm thanh kỹ thuật tương tự hoặc âm thanh kỹthuật số… rất hạn chế Trên thế giới, chỉ có khoảng 5% tài liệu dạng in đượcchuyển dạng phù hợp cho nhu cầu NKT Tình trạng này diễn ra trên toàn thếgiới, từ các nước nghèo nhất đến các nước giàu nhất
Thư viện phục vụ NKT là tổ chức duy nhất, không chỉ cung cấp các dịch vụthông tin và thư viện mà còn chịu trách nhiệm xuất bản sách dưới định dạng phùhợp với NKT Nếu không có hoạt động này, các thư viện sẽ không có sách lưu trữ,
vì ở hầu hết các nước thị trường thương mại sách cho NKT rất hạn chế Trước đây,các thư viện như vậy có xu hướng tập trung chủ yếu cho nhu cầu của
Trang 28NKT, do đó khi bộ phận này của thư viện ra đời, đã được đặt tên là “Thư việnphục vụ người khiếm thị”.
Với xu hướng tăng lên hàng năm, nhiều thư viện phục vụ NKT đã nhận thứcđược rằng, các kỹ năng và sự phục vụ của họ đã phát huy tác dụng đối với đốitượng độc giả đặc biệt này Trong một số trường hợp, thực tế này được phản ánhthông qua các tên gọi như: Dịch vụ thư viện quốc gia cho NKT và khuyết tật
ở Mỹ; Thư viện chữ nổi Braille và sách kể chuyện (TPB) (Thụy Điển) Thực tếcho thấy, các thư viện phục vụ NKT đã nhận thức được giá trị thông qua việc
mở rộng phạm vi phục vụ
Các thư viện phục vụ NKT chia sẻ nhận thức chung với các ưu tiên củaIFLA, bao gồm:
- Ủng hộ vai trò của các thư viện trong xã hội;
- Thúc đẩy tri thức, phong trào đọc sách và học tập suốt đời;
- Cung cấp sự tiếp cận không hạn chế với các nguồn thông tin;
- Cân bằng quyền sở hữu trí tuệ của các tác giả với nhu cầu của người đọc;
- Thúc đẩy việc chia sẻ nguồn lực thông tin;
- Phát triển chuyên ngành thư viện;
- Thúc đẩy việc xây dựng các tiêu chuẩn, hướng dẫn và thực hành;
- Đưa các thư viện tham gia thị trường công nghệ
Có rất nhiều lý do cho vấn đề thiếu điều kiện truy cập thông tin, tuy nhiên
có 02 vấn đề mà các thư viện công cộng có thể giúp đỡ họ trong việc tăngcường khả năng truy cập thông tin là:
- Làm cho nguồn lực của thư viện dễ dàng truy cập với mọi người
Trang 29- Tập huấn và cung cấp các thiết bị chuyên dụng cho NKT trong việc truy cập thông tin.
Hiện nay, có nhiều cơ hội mở ra cho việc cung cấp thông tin cho NKT,đồng thời với việc cung cấp thông tin cho người bình thường thông qua mạngthông tin Internet Cơ hội là như vậy, song thực tế lại khác Kết quả khảo sát do
Uỷ ban về quyền của người khuyết tật Anh thực hiện năm 2004 cho thấy, 81%website trên thế giới hiện nay thậm chí không đáp ứng các tiêu chuẩn truy cập cơbản Những người không có khả năng đọc sách đang bị tụt hậu đối với thế giớitrong lĩnh vực tiếp cận máy tính
Đi kèm với các công nghệ hỗ trợ là giá thành của máy tính, giá thành củamáy tính tại Việt Nam tuy không cao so với mặt bằng chung của thế giới nhưngchưa phù hợp điều kiện kinh tế của đại đa số NKT Để sử dụng máy tính, họkhông thể đến các điểm Internet công cộng một mình như người bình thường.Các tổ chức, trung tâm cho NKT đang cố gắng bổ sung thêm chương trình đọcsách trên máy tình và chia sẻ nội bộ hoặc qua Internet Tuy nhiên giá thành chocác phần mềm hỗ trợ NKT trên máy tính còn thiếu và giá cao Giải pháp mãnguồn mở có thể giúp làm giảm giá thành, công nghệ mã nguồn mở chưa thực
sự được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực này
Với các công nghệ mới và rẻ hơn, mô hình sao chép truyền thống có thểđược thay thế bằng mô hình mới, nhờ đó, bất kỳ cuốn sách nào cũng có thể đượcxuất bản và phát hành dưới dạng định dạng phù hợp với nhu cầu của độc giả Kếtquả là có thể đáp ứng 100% nhu cầu của độc giả, không phụ thuộc vào số lượngsách được chuyển đổi Tuy nhiên, việc thực hiện đầy đủ ý tưởng này còn đang ởphía trước, ngay cả đối với các nước công nghiệp phát triển Chi phí chuyển đổicác ấn phẩm in sang định dạng khác còn quá cao, bất chấp sự tiến bộ của khoa học
và công nghệ Một rào cản khác là bản quyền tác giả trong chia sẻ nguồn tin cũng
Trang 30các nước trên thế giới hiện nay, các nhà xuất bản còn tỏ ra lưỡng lự trong việc
uỷ thác sách cho các thư viện phục vụ NKT
Theo Hội Người Mù Hoàng gia Anh (RNIB), hiện vẫn còn 95% sách vẫnchưa được chuyển sang dạng chữ nổi để phục vụ cho các độc giả khiếm thị.John Gobber- người đứng đầu uỷ ban phụ trách các sản phẩm và sách báo xuấtbản của RNIB cho biết: “Rất nhiều người bị tước bỏ quyền được đọc chỉ vì họ
là NKT Hầu hết các nhà xuất bản không nhận thức được rằng những NKT cũngmuốn được đọc sách” Ông cũng cho rằng các nhà xuất bản cũng như chính phủphải chia sẻ trách nhiệm trong việc cải thiện tình trạng này
Tại Mỹ, công ty truyền thông và xuất bản dành cho trẻ em Scholastic cũngkết hợp với National Braille Press - một tổ chức phi lợi nhuận trong việc xuấtbản các tác phẩm chữ nổi Braille để phát hành phiên bản chữ nổi của các cuốnsách văn học nổi tiếng thế giới
2.3.2 Tình hình đáp ứng nhu cầu tin cho người khiếm thị tại Việt Nam
nói chung và tại Hà Nội nói riêng
Theo thống kê của Bộ Lao động và Thương binh xã hội, có hơn 900.000người (chiếm 1,2% dân số) có khuyết tật về mắt, bao gồm 600.000 người mùhoàn toàn
Những năm gần đây, ở Việt Nam, các hoạt động phục vụ cho NKT trongcác thư viện công cộng đã có nhiều thay đổi Năm 1998, từ nguồn vốn Chươngtrình Mục tiêu Quốc gia về văn hoá đã xây dựng thí điểm 2 phòng đọc sách choNKT ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Các kênh thông tin đến với NKT là: sáchchữ Braille, băng ghi âm, đĩa CD, radio, thông tin tuyên truyền thông qua cácCâu lạc bộ (CLB) và sinh hoạt HNM các cấp Tạp chí “Đời Mới” với 03 loại
Trang 31hình: chữ Braille, băng ghi âm và chữ Việt là cơ quan ngôn luận của Trung ươngHội được xuất bản thường kỳ Hình thức sinh hoạt CLB thường được tổ chứcđịnh kỳ tại các HNM Quận, Huyện Nội dung sinh hoạt gồm: thời sự, chính sáchtổng hợp, CLB dân số và gia đình, CLB thơ v.v Đây là kênh thông tin quantrong và gần gũi với NKT.
Ở một số thư viện tỉnh, thành cũng lần lượt xuất hiện các hình thức phục
vụ như Hải Phòng, Đà Nẵng, Hà Tây, Phú Thọ, Quảng Ngãi, Hải Dương, ThanhHoá Đến nay đã có hơn một nửa các thư viện tỉnh, thành phố tổ chức phòngđọc cho NKT Một số Tỉnh Hội, Thành Hội Người mù đã có các thông tin nội bộnhư:
- Hà Nội: tạp chí “Tri thức và đời sống” bằng băng cassette ra hàng tháng
- Nam Định: báo băng “Đời mới” ra hàng quý
- Thành phố Hồ Chí Minh: Bản tin chữ Braille ra mỗi năm 1 kỳĐài
PT-TH Hải Phòng phối hợp Thành Hội Người mù Hải Phòng thực hiệnchương trình phát thanh “Vòng tay ánh sáng” vào Chủ nhật
v.v
Hầu hết các cấp Hội đều có thư viện và tủ sách, cung cấp tài liệu học tập
và thông tin quan trọng cho hội viên Hàng năm Trung ương Hội in từ 2 -3 đầusách trang bị cho các thư viện và tủ sách của các hội cơ sở Những NKT đãđược đọc, được nghe sách về nghề nghiệp, kiến thức cơ bản về pháp luật, xãhội, văn học v.v… Tiêu biểu như năm 2007 đã sản xuất tác phẩm “Nâng cao đạođức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân” của Hồ Chí Minh bằng chữ nổihưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm việc theo tấm gươngd dạo đức HồChí Minh” cho NKT