- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nhu cầu tin và các hình thức, biệnpháp bảo đảm thông tin cho người dùng tin của Thư viện Thành phố Hà Nội từ năm 2000 đến nay.. Chương 1ĐẶC ĐIỂM HOẠT Đ
Trang 1MỞ ĐẦU
Thủ đô Hà Nội là đô thị hàng đầu, là trái tim thân yêu của đất nước ViệtNam, là một thành phố lớn, một vùng đồng bằng trù phú nổi tiếng lâu đời, HàNội xứng đáng là trung tâm chính trị, văn hoá, kinh tế, khoa học và giáo dụccủa cả nước
Hà Nội là thành phố có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trình độ dân trícao và có nhu cầu hưởng thụ văn hoá lớn Hà Nội tập trung rất nhiều cáctrường đại học, cao đẳng với hàng trăm nghìn giảng viên và sinh viên ngoài racòn có hơn 300 trường phổ thông với hơn 90.000 học sinh Hà Nội là nơi córất nhiều các nhà xuất bản, các cơ quan báo chí, các trung tâm khoa học lớn,các thư viện lớn Hà Nội còn là nơi ở và làm việc của các cơ quan trung ương,các bộ các ngành, các viện nghiên cứu Người dân Thủ đô có truyền thốnghiếu học, ham tìm hiểu, ham đọc sách báo Là thành phố công nghiệp, ngườilao động cần phải đọc, phải học để có kỹ thuật làm chủ máy móc, làm chủ quátrình lao động sản xuất Hà Nội là thành phố đông dân có tỷ lệ cư dân đi họccao hầu như 100% trẻ em đến tuổi đi học đều đến trường vì thế nhu cầu vềsách báo, nhu cầu đọc rất cao
Những nét đặc thù trên của Thủ đô đã góp phần tác động rất lớn tới nhucầu đọc của bạn đọc ở Hà Nội
Là một trong những Thư viện hàng đầu ở Thủ đô, Thư viện Thành phố
Hà Nội đã góp phần không nhỏ trong việc đáp ứng nhu cầu đọc của bạn đọcthành phố và ngày một hoàn thiện hơn trong công tác phục vụ bạn đọc Ngàynay để Thư viện trở nên thân thiện, hướng tới gần bạn đọc nhất, các thư việnkhông chỉ phục vụ một chiều mà còn phục vụ bạn đọc theo nhu cầu của họ.Bởi một nguồn lực thông tin dồi dào mà không phổ biến đúng đối tượng thì
Trang 2hiệu quả sẽ không cao Do đó bất kỳ một cơ quan thông tin thư viện nào muốnphục vụ tốt, có hiệu quả thì đều phải hiểu rõ nhu cầu thông tin của đối tượngmình phục vụ Vì vậy, việc tìm hiểu nhu cầu tin của bạn đọc đối với thư viện
là hết sức cần thiết Đây là tiền đề quan trọng để nâng cao chất lượng phục vụbạn đọc của Thư viện
Công tác tìm hiểu nhu cầu tin của người dùng tin có ý nghĩa rất quantrọng bởi mục đích cuối cùng của một cơ quan thông tin thư viện là đáp ứngtối đa, đầy đủ, chính xác, kịp thời, phù hợp nhu cầu của người dùng tin Vì thế
em đã chọn đề tài “ Tìm hiểu nhu cầu tin và việc đảm bảo thông tin tại
Thư viện Thành phố Hà Nội” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình Với
mong muốn qua nghiên cứu có thể hiểu sâu sắc hơn về nhu cầu tin ngày càng
đa dạng hơn của bạn đọc qua đó vận dụng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp đãđược tiếp thu trong quá trình học tập về chuyên ngành thông tin - thư viện vàohoạt động thực tế để có thể cống hiến một cách tốt nhất cho đất nước sau này
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở khảo sát nhu cầu tin và việc đảmbảo thông tin để đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao khả năng đáp ứng nhucầu tin ở Thư viện Thành phố Hà Nội
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu những đặc điểm hoạt động thông tin và nhu cầu tin tại Thư viện Thành phố Hà Nội
+ Khảo sát thực trạng nhu cầu tin và khả năng đảm bảo thông tin tại Thư viện Thành phố Hà Nội
+ Đề xuất các giải pháp nâng cao khả năng đảm bảo thông tin tại Thư viện Thành phố Hà Nội
Trang 3- Việc nghiên cứu nhu cầu tin và đảm bảo thông tin tại Thư viện Thànhphố Hà Nội hiện nay chưa được đề cập tới trong các khoá luận và cũng chưa
có một luận văn, luận án, công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu toàndiện về vấn đề này Vì vậy đây là một đề tài rất mới và cần thiết để nghiêncứu, tìm hiểu bởi bất cứ một Thư viện nào cũng cần nghiên cứu nhu cầu tincủa bạn đọc tại Thư viện của mình để có thể phục vụ bạn đọc một cách nhanh chóng, chính xác, đầy đủ, kịp thời
- Đối tượng nghiên cứu: Là nhu cầu tin và việc đảm bảo thông tin cho người dùng tin
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nhu cầu tin và các hình thức, biệnpháp bảo đảm thông tin cho người dùng tin của Thư viện Thành phố Hà Nội
từ năm 2000 đến nay
- Cơ sở phương pháp luận của đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Phân tích tổng hợp tài liệu
+ Phương pháp điều tra xã hội học (phỏng vấn và lập phiếu điều tra)
+ Phương pháp phân tích kết quả điều tra, khảo sát thực tiễn
+ Phương pháp thống kê so sách đối chiếu
+ Phương pháp mô hình hoá
- Góp phần làm phong phú thêm lý luận về nhu cầu tin và phục vụ người dùng tin
- Góp phần nâng cao chất lượng hoạt động thông tin ở Thư viện Thành phố Hà Nội
Trang 4- Là tài liệu tham khảo cho những người làm công tác Thông tin - Thư viện tại Việt Nam.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụlục, bố cục của khoá luận bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Đặc điểm hoạt động thông tin và người dùng tin tại Thư
viện Thành phố Hà Nội
- Chương 2: Thực trạng nhu cầu tin và khả năng đảm bảo thông tin
tại Thư viện Thành phố Hà Nội
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao khả năng đảm bảo thông tin
tại Thư viện Thành phố Hà Nội
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài với thời gian ngắn cộng vớitrình độ khả năng có hạn của một sinh viên, dù đã rất cố gắng song chắc chắnkhông tránh khỏi những hạn chế về trình độ kiến thức và kinh nghiệm thựctiễn Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp và chỉ giáo của các thầy côgiáo, các cán bộ thư viện, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và những ngườiquan tâm tới đề tài để khoá luận được hoàn chỉnh và mang tính thực tiễn caohơn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Thông tin - Thư việntrường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, cảm ơn các cán bộ thưviện tại Thư viện Thành phố Hà Nội, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình củaThầy giáo - Tiến sỹ Chu Ngọc Lâm (Giám đốc Thư viện Thành phố Hà Nội)
đã giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này
Trang 5Chương 1
ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN VÀ NGƯỜI DÙNG TIN TẠI
THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI THƯ VIỆN HÀ NỘI TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN
1.1.1 Giới thiệu khái quát về Thư viện Hà Nội
Thư viện Thành phố Hà Nội là một Thư viện lớn đầu ngành của hệthống Thư viện thủ đô Thư viện được thành lập vào ngày 15/10/1956 với cáitên ban đầu là “Phòng đọc sách nhân dân Hà Nội” với địa chỉ không ổn định.Năm 1959 Thư viện chính thức chuyển về số 47 Bà Triệu với tên “Thư việnnhân dân Hà Nội”, và hiện nay là Thư viện Thành phố Hà Nội
Trong hoàn cảnh hoà bình vừa lập lại, miền bắc bước vào thời kỳ phụchồi kinh tế, khắc phục tàn tích chiến tranh, thực hiện kế hoạch năm năm lầnthứ nhất với mục tiêu “ đẩy mạnh sản xuất, tiến quân vào khoa học kỹ thuật,công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, coi đó là cơ sở vững chắc cho cuộc đấutranh thống nhất nước nhà” Hoà chung với không khí công cuộc xây dựng xãhội chủ nghĩa ở miền bắc, Thư viện Hà Nội đã hướng mọi hoạt động của mình
về cơ sở xây dựng các tủ sách ở các quận huyện ngoại thành đưa hàng vạncuốn sách xuống các huyện tổ chức các túi sách, ba lô sách lưu động đưaxuống các đơn vị bộ đội, các xí nghiệp động viên quần chúng sẵn sàng chiếnđấu và sản xuất phục vụ chiến tranh
Đến năm 1973, phòng Thông tin - Thư mục địa chí của Thư viện HàNội được thành lập và tổ chức hoạt động với mục đích phục vụ bạn đọc tìmhiểu nghiên cứu về Thủ đô Có thể nói đây là quyết định hết sức đúng đắn của
Trang 6Thư viện Hà Nội, nó đánh dấu một bước ngoặt một bước phát triển mới củahoạt động Thư viện Thủ đô.
Năm 1975, khi đất nước hoàn toàn giải phóng, nam bắc thu về một mối,toàn dân phấn khởi bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước Được sự quantâm của thành uỷ, UBND, Hội đồng nhân dân, Sở văn hoá Thông tin Hà Nội,Thư viện Hà Nội từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất, bổ sung thêm đội ngũcán bộ có trình độ cao, tăng cường vốn tài liệu, đồng thời phát huy tốt côngtác phục vụ bạn đọc thông qua một số hình thức tuyên truyền giới thiệu sách.Từng bước nâng cao chất lượng phục vụ bạn đọc, phát triển toàn diện các hoạtđộng của mình cả về mặt chất và lượng nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng caocủa bạn đọc
Sau hơn 50 năm hoạt động, Thư viện đã góp phần đáng kể vào sựnghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ thủ đô cũng như “nâng cao dân trí, đàotạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Vì thế Thư viện Hà Nội đã vinh dự đượcĐảng và Nhà nước tặng thưởng 3 huân chương Lao động (1991, 1996, 2001),
và Huân chương Độc lập hạng ba (2006), được Thủ tướng Chính phủ tặngBằng khen ba năm liền (1977, 1978, 1979) Được bộ Văn hoá thông tin vàUBND thành phố tặng 5 cờ thi đua xuất sắc dẫn đầu (1997, 2000, 2002, 2004,2005) và nhiều bằng khen
Thư viện Thành phố Hà Nội qua nửa thế kỷ xây dựng và phát triển đãkhông ngừng lớn mạnh xứng đáng là một địa chỉ văn hoá quen thuộc và đángtin cậy của bạn đọc Thủ đô và cả nước Cũng như các cơ quan Thông tin -Thư viện khác, Thư viện Hà Nội có chức năng và nhiệm vụ đặc thù của mình
1.1.1.1 Chức năng của Thư viện Hà Nội
- Là trung tâm thu thập, tàng trữ, luân chuyển các loại hình sách báo tài liệu về tất cả mọi lĩnh vực phục vụ bạn đọc Thủ đô
Trang 7- Là trung tâm nghiên cứu địa chí về Thủ đô Đây là công tác đặc thùcủa Thư viện.Thư viện thu thập, lưu trữ, bảo quản và phục vụ bạn đọc các tàiliệu địa chí có liên quan đến Hà Nội từ nhiều nguồn khác nhau.
- Là trung tâm thông tin thư mục của Thủ đô
- Thư viện biên soạn và phổ biến các loại thư mục, nhất là thư mụcđịa chí nhằm phục vụ tích cực các nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu về Thủ đô vàphục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của Thủ đô
- Là trung tâm hướng dẫn nghiệp vụ cho các Thư viện cơ sở trên địabàn Hà Nội Thư viện kiểm tra thường xuyên và mở lớp tập huấn bồi dưỡngnghiệp vụ, nâng cao trình độ cán bộ Thư viện cơ sở trên địa bàn nhằm đẩymạnh phong trào đọc sách của nhân dân địa phương
1.1.1.2 Nhiệm vụ của Thư viện Hà Nội
- Thư viện Hà Nội có nhiệm vụ thoả mãn tối đa nhu cầu đọc sách,nghiên cứu, giải trí của đông đảo bạn đọc Thủ đô Cung cấp cho cán bộ lãnhđạo nhà nước, các nhà nghiên cứu, sản xuất và nhân dân Thủ đô những thànhtựu khoa học tiến bộ của nhân loại
- Với tư cách là trung tâm thông tin - văn hoá - giáo dục có chất lượngnhất ngoài nhà trường, Thư viện không chỉ phục vụ nhu cầu đọc mà cònhướng dẫn họ đọc những tài liệu bổ ích, có giá trị, đồng thời loại bỏ nhữngnhu cầu đọc sách không lành mạnh
- Tiến hành thu thập xử lý, phân loại lưu trữ các di sản văn hoá thànhvăn, các loại bản đồ, bản nhạc, tài liệu nghe nhìn và các dạng tài liệu khác.Bảo quản và bổ sung các loại hình sách báo cũ và mới xuất bản trong nước vàngoài nước, phù hợp với đặc điểm và phương pháp phát triển kinh tế, văn hoácủa địa phương, phục vụ nhu cầu nghiên cứu, góp phần nâng cao kiến thứcvăn hoá cho quần chúng
Trang 8- Không ngừng phổ biến, tuyên truyền các thành tựu khoa học côngnghệ Luân chuyển sách báo, thường xuyên tiến hành soạn thảo các thư mục
Hiện tại Thư viện Hà Nội được cơ cấu như sau: Ban giám đốc, Hội
đồng chuyên môn, và 5 phòng là Bổ sung – biên mục, phòng phục vụ bạn
đọc, phòng nghiệp vụ phong trào cơ sở, phòng thông tin - thư mục - địa chí,
P Đọc thiếunhi
Trang 9- Còn lại là trung cấp và lao động phổ thông
Đội ngũ cán bộ nhân viên trong Thư viện đều là những người cần cù vàtâm huyết với nghề.Thư viện thường xuyên chú trọng đến việc nâng cao trình
độ tay nghề cho các cán bộ như : cho đi học lớp đào tạo về cao học Thông tin
- Thư viện, cử đi học lớp đào tạo tiếng Anh, tin học…
1.1.1.4 Vốn tài liệu của Thư viện
Thư viện có khoảng hơn 33 vạn cuốn sách, 502 loại báo và tạp chítrong và ngoài nước (có 320 loại tiếng Việt, 48 loại ngoại văn, 18 loại tạp chí
du lịch, 24 loại bản tin) Trong đó có 17.000 cuốn sách tiếng Anh, 3.114 cuốnsách tiếng Pháp, 2.036 tài liệu tiếng Slavơ, hơn 15.000 tài liệu địa chí Hà Nội(gồm tài liệu Hán nôm, Văn bia, Hương ước, Thần phả, Thần tích, Luận vănkhoa học, ảnh, Bản đồ Hà Nội qua các thời đại…) Mảng tài liệu địa chí nhiềunhất là tiếng Việt 3.905 cuốn có các tài liệu đặc biệt quý hiếm như:
- Văn bia Hà Nội: 3.000 bản
Trang 10Hàng năm Thư viện Hà Nội bổ sung trung bình từ 6.000 - 8.000 cuốn sách với khoảng 1.500 tên sách khác nhau:
- Sách khoa học kỹ thuật cơ bản và sách khoa học đại chúng chiếm:
20%
- Sách văn học nghệ thuật chiếm: 30%
- Sách thiếu niên nhi đồng chiếm: 15%
- Sách chính trị cổ điển, sách viết về các vị lãnh tụ trong nước và thế giới, sách tổng loại chiếm: 25 - 30%
- Ngoài ra còn có sách y học, thể thao và các loại sách khácTài liệu đặc biệt có:
- Sách chữ nổi: 2000 cuốn
- Băng casette, đĩa CD: 589 băng, đĩa
- Là một Thư viện lớn của Thủ đô, do vậy Thư viện luôn quan tâmđầu tư phát triển vốn tài liệu của mình Nguồn tư liệu của Thư viện thườngxuyên được bổ sung làm mới để phục vụ bạn đọc dưới nhiều hình thức, đồngthời chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng bộ máy tra cứu truyềnthống và hiện đại với 7 cơ sở dữ liệu và 120.000 biểu ghi Liên kết phối hợpchặt chẽ với các cơ quan thông tin thư viện, các ban ngành, các tổ chức kinh
tế - văn hoá - xã hội, tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chia sẻnguồn lực thông tin, nâng cao hiệu quả hoạt động Thư viện cả về quy mô vàchất lượng
1.1.1.5 Cơ sở vật chất của Thư viện Hà Nội
Trước đây, Thư viện có diện tích sử dụng gần 2.500m2 bao gồm 3 toànhà:
+ Kho, phòng đọc mượn sách thiếu nhi: 2 tầng 400m2
+ Kho và phòng mượn sách người lớn: 3 tầng 540m2
+ Kho và phòng đọc sách người lớn: 3 tầng 360m2
Trang 11- Hệ thống các phòng đọc của Thư viện:
+ Phòng đọc chung dành cho bạn đọc có 350 chỗ
+ Phòng đọc báo và tạp chí có 50 chỗ
+ Phòng đọc sách ngoại văn và sách tra cứu có 40 chỗ ngồi
+ Phòng đọc sách báo thiếu nhi có 80 chỗ ngồi
+ Phòng đọc các tư liệu địa chí có 10 chỗ ngồi
+ Phòng đọc sách báo Pháp văn thiếu nhi
+ Phòng phục vụ người khiếm thị
- Thư viện còn có các thiết bị máy móc
như: + Máy hút bụi
+ Máy điều hoà nhiệt độ
+ Hệ thống tự động phòng chống hoả hoạn của từng kho sách
+ Các thiết bị về ánh sáng
+ Quạt thông gió
Thư viện có 16 máy vi tính phục vụ cho việc lưu trữ các cơ sở dữ liệu
sử dụng phần mềm ISIS for WINDOW Thư viện còn trang bị 4 máy in, trong
đó có 3 máy in lazer và một máy in kim phục vụ cho việc in văn bản, in phích,nhập worsheet, xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu Có 8 máy điện thoại, 2máy phôtôcopy phục vụ sao in tài liệu cho bạn đọc có nhu cầu Ngoài ra Thưviện còn có các thiết bị phục vụ nhu cầu giải trí như: tivi, cassette…
Trụ sở của Thư viện Hà Nội tại 47 Bà Triệu đang được xây dựng lại vớiquy mô 9 tầng có tổng diện tích sử dụng là 8.000m2 sàn, với mức đầu tư là 50
tỷ đồng VN Trụ sở mới sẽ được hoàn thành vào tháng 4 năm 2008 Cùng vớiviệc đầu tư xây dựng trụ sở là một dự án công nghệ thông tin với mức đầu tư
10 tỷ đồng VN
Trang 12Hiện tại, Thư viện Hà Nội đang hoạt động tạm thời tại khu Di tíchThành Cổ, 19 phố Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội Đây là khu vựcthuộc Bộ quốc phòng trước đây nên nhiều người dân chưa được biết tới.Khuôn viên Thành Cổ rộng lớn, yên tĩnh, gắn với lịch sử 1000 năm ThăngLong, nhưng diện tích dành cho Thư viện Hà Nội không nhiều nên Thư việnchỉ tổ chức được 6 phòng phục vụ bạn đọc Đó là các phòng báo - tạp chí,phòng đọc, phòng mượn người lớn, phòng đọc - mượn thiếu nhi, phòng khiếmthị, phòng đọc địa chí.
1.1.2 Đặc điểm hoạt động thông tin của Thư viện Hà Nội trong thời
kỳ hội nhập và phát triển
Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện định hướng phát triển văn hoá doĐại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đề ra là phát huy bản sắc vănhoá dân tộc, bảo tồn tôn tạo các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể làm nềntảng cho sự giao lưu văn hoá với bên ngoài Thư viện đã có nhiều đổi mớitrong hoạt động thông tin nhằm quán triệt nhiệm vụ của Đảng và Nhà nướcgiao phó, đồng thời theo kịp sự phát triển và hội nhập của đất nước trong giaiđoạn hiện nay
- Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày nayđược áp dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vựcthông tin - thư viện
- Tìm tin bằng phương pháp truyền thống về cơ bản là phương phápchủ yếu trong các thư viện khi mà phương pháp tìm tin hiện đại chưa triểnkhai rộng rãi
- Song cùng với quá trình phát triển của Thư viện cũng như thời đạibùng nổ thông tin, việc tra cứu truyền thống không còn phù hợp hay nói mộtcách khác tốc độ tìm kiếm chậm hơn so với tìm trên máy tính vừa nhanh vừa
dễ thao tác
Trang 13- Nhu cầu tin của bạn đọc cũng thay đổi họ không chỉ khai thác thôngtin trên dạng giấy nữa mà còn có nhu cầu khai thác thông tin trên mạng máytính, chỉ cần ngồi nhà cũng có thể tra cứu tài liệu một cách dễ dàng
- Xu hướng người dùng tin sử dụng máy tính để tra tìm tài liệu rấtphổ biến đòi hỏi thư viện cũng phải đổi mới theo để hội nhập với thời đại.Trong thời đại mới Thư viện Hà Nội cũng có những thay đổi tích cực, ứngdụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào hoạt động thông tin thư viện
- Thư viện đang sử dụng phần mềm CDS/ISIS for window cải tiến cónhiều tính năng hơn có thể quản lý bạn đọc, quản lý vốn tài liệu, bổ sung, xử
- Để phục vụ bạn đọc trong thời kỳ mới một cách tốt nhất, Thư viện
đã tiến hành đa dạng hoá các hình thức phục vụ bạn đọc:
+ Tổ chức phục vụ bạn đọc tại chỗ, mượn về nhà, luân chuyển sách xuống
cơ sở qua thành viên tình nguyện, phục vụ tại nhà các đối tượng chính sách,người tàn tật, khiếm thị, phục vụ qua mạng thông tin, phục vụ qua thư mục
+ Tăng thời gian phục vụ bạn đọc: phục vụ liên tục từ 8h sáng đến 19h30’ tối và phục vụ cả ngày thứ bảy
+ Phục vụ mọi đối tượng bạn đọc từ các nhà quản lý, nghiên cứu khoahọc, đến thanh thiếu nhi, người cao tuổi, người khuyết tật…
Trang 14+ Nhiều sản phẩm và dịch vụ mới : khai thác thông tin trên internet,bản tin điện tử, thông tin chọn lọc, thư mục chuyên đề, thư mục trích báo tạpchí.
- Đổi mới hình thức và đa dạng hoá các nội dung tuyên truyền sáchmới, tuyên truyền sách chuyên đề, tuyên truyền sách thiếu nhi (ứng dụng côngnghệ thông tin, thi trắc nghiệm…) Để nâng cao tính hấp dẫn và hiệu quả củacông tác tuyên truyền giới thiệu sách
- Tích cực xây dựng các dự án khả thi để phát triển sự nghiệp thư việnThủ đô như : Xây dựng bộ sưu tập di sản thư tịch Thăng Long - Hà Nội, xâydựng thư viện điện tử, phát triển hệ thống thư viện thủ đô trong giai đoạncông nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Thư viện Thành phố Hà Nội với những hoạt động thông tin trong thời
kỳ hội nhập và phát triển cũng đã có những bước chuyển mình tích cực để hoàmình vào xu thế chung của thời đại, của xã hội Thư viện hiện nay đang xâydựng trụ sở mới tại số 47 Bà Triệu với kinh phí đầu tư trên 50 tỷ đồng Đây sẽ
là một công trình văn hoá khang trang để có thể phục vụ bạn đọc một cách tốtnhất Cùng với trụ sở mới Thư viện cũng có dự án xây dựng thư viện điện tử
mở ra một tương lai, bộ mặt mới cho Thư viện của Thủ đô Trong năm 2007Thư viện đặt cho mình một chương trình hoạt động cụ thể:
- Tiếp tục củng cố, sáng tạo đổi mới các hình thức hoạt động tại thư viện trung tâm
- Tăng cường các biện pháp bảo quản và phát triển vốn tài liệu củathư viện đảm bảo cả về chất lượng và số lượng để triển khai hoạt động tại trụ
sở mới vào năm 2008
- Tiếp tục cải cách các thủ tục cấp thẻ cho bạn đọc, đa dạng hoá cácsản phẩm, dịch vụ thông tin - thư viện, không ngừng đổi mới các hình thức
Trang 15hoạt động, phương thức phục vụ bạn đọc để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thư viện
- Tăng cường phối hợp với quận, huyện, các nhà trường, các cơ quanlàm tốt công tác tuyên truyền giới thiệu sách báo phục vụ nhiệm vụ chính trị,thu hút đông đảo nhân dân đến với thư viện
- Biên soạn 25 bộ thư mục chuyên đề
- Cập nhật thông tin cho trang Web Thư viện Hà Nội
- Tích cực luân chuyển sách báo xuống cơ sở, phối hợp với quận,huyện duy trì, củng cố phát triển thư viện quận huyện và cơ sở Giúp đỡ cácđịa phương xây dựng các thư viện, tủ sách mới
- Tổ chức tập huấn kiến thức nghiệp vụ mới cho cán bộ thư viện trungtâm, thư viện quận huyện về biên mục MARC 21, áp dụng khung phân loạithập phân DEWEY
- Chú trọng công tác sưu tầm thu thập tài liệu về địa chí Hà Nội đáp ứng các nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu về 1000 năm Thăng Long - Hà Nội
- Hoàn thiện các văn bản pháp quy về tổ chức và hoạt động của hệthống Thư viện Thủ đô trình Uỷ ban nhân dân Thành phố ban hành, tạo hànhlang pháp lý cho Thư viện Thành phố, các thư viện quận huyện và cơ sở pháttriển mạnh mẽ
- Xây dựng và đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với dự án Thư viện
hiện đại tại trụ sở mới 47 Bà Triệu
- Phấn đấu xây dựng Thư viện Hà Nội trở thành thư viên kiểu mẫu ở
Trang 17Với thành phần bạn đọc đa dạng cùng với sự tăng trưởng kinh tế, phát triển vềvăn hoá, sự tăng nhanh và phong phú của các xuất bản phẩm, việc đẩy mạnhcông tác tuyên truyền và giới thiệu sách báo trên các phương tiện thông tin đạichúng đã tạo điều kiện cho nhu cầu đọc tăng lên nhanh chóng Qua số lượngthống kê của Thư viện Hà Nội những năm gần đây đã thể hiện rõ điều này.
Trang 18K48 - Th«ng tin - Th- viÖn 16
Tr-êng §HKHXH&NV
Trang 19- Nhóm bạn đọc là học sinh, sinh viên
- Nhóm bạn đọc là người cao tuổi, lao động, khiếm thị
Thư viện Hà Nội là một trong những trung tâm văn hoá, thông tin đầungành của Thủ đô nên đối tượng bạn đọc đến Thư viện rất đông đảo và thuộcmọi thành phần trong xã hội chính vì vậy mà nhu cầu tin của họ cũng trở nênrất phong phú, đa dạng, yêu cầu cao và có phần phức tạp Vì vậy ta phải hiểu
rõ nhu cầu tin của đối tượng mà mình phục vụ
Trang 20Để nghiên cứu các đặc điểm của từng đối tượng người dùng tin ta phải trả lời những câu hỏi:
- Họ là ai?
- Bao nhiêu tuổi?
- Trình độ văn hoá?
- Thuộc khu vực nào?
- Thường sử dụng loại tài liệu gì?
- Thường sử dụng tài liệu bằng ngôn ngữ gì?
- Sách tra cứu mà họ thường sử dụng?
- Họ đánh giá thế nào về chất lượng phục vụ thông tin ở Thư viện Hà
1.2.2 Nhóm bạn đọc trí thức.
- Bao gồm các cán bộ quản lý, lãnh đạo, các nhà nghiên cứu, các giáo
sư, tiến sỹ, các cán bộ giảng dạy tại các trường đại học cao đẳng, giáo viên,
kỹ sư, bác sỹ, các phóng viên báo chí, các văn nghệ sỹ…
Trang 21- Nhóm bạn đọc tri thức chiếm 25% tổng số bạn đọc của Thư viện Thành phố Hà Nội.
- Về tính chất thông tin: Cần những thông tin định hướng chiến lược,
dự báo chung (thông tin ở tầm vĩ mô), ưu tiên sự tổng hợp về tài liệu, vềnhững vấn đề, đề tài cụ thể Họ không chỉ cần những tài liệu mới xuất bản mà
cả những tài liệu cũ đặc biệt là tài liệu địa chí
- Về hình thức thông tin: chủ yếu ở dạng văn bản
- Nguồn gốc thông tin: trong và ngoài nước
- Nhóm bạn đọc này thường không ổn định Họ đến Thư viện nhiềuhay ít tuỳ thuộc vào số đề tài mà họ nghiên cứu cần tới nhiều tài liệu hay ít tàiliệu tham khảo Ngoài ra còn có một số nhà nghiên cứu người nước ngoài đếnđọc tài liệu về Hà Nội tìm hiểu về phong tục tập quán, truyền thống đấu tranhanh dũng của người Hà Nội
1.2.3 Nhóm bạn đọc là học sinh, sinh viên
- Nhóm bạn đọc là sinh viên đông đảo nhất chiếm 65% tổng số bạnđọc của Thư viện Hà Nội Họ là sinh viên của các trường đại học, cao đẳngtrong thành phố Hà Nội với các chuyên ngành khác nhau nên nhu cầu tin của
họ rất đa dạng Họ cần tài liệu về nhiều lĩnh vực khác nhau như: Khoa học tựnhiên, khoa học xã hội, công nghệ, nghệ thuật… để đáp ứng nhu cầu nâng caokiến thức học tập trong nhà trường
- Nhóm bạn đọc là học sinh chiếm 6% gồm các em học sinh phổthông trong thành phố Nhu cầu đọc của nhóm này khá đơn giản và ổn định.Các em chủ yếu đọc là sách văn học nghệ thuật, sách khoa học thường thức đểkhám phá những điều mới lạ, để hiểu biết cuộc sống; Các sách viết về các tấmgương anh hùng liệt sỹ, các danh nhân, người tốt việc tốt, truyện cười, truyệntranh, truyện khoa học viễn tưởng…
1.2.4 Nhóm bạn đọc là người cao tuổi, lao động, khiếm thị
Trang 22- Bao gồm các cán bộ hưu trí, công nhân, nông dân, tiểu thương, cưdân sống trong địa bàn Thành phố, người khiếm thị đến Thư viện để giải trí,nghỉ ngơi, khám phá, tìm hiểu, nâng cao tri thức trong mọi lĩnh vực đời sống.
- Nhóm bạn đọc này chiếm số lượng là 4%, nhu cầu đọc sách củanhóm này là khá phong phú nhưng không chuyên sâu Nhu cầu chủ yếu vềcác lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, sản xuất kinh doanh, bảo vệ sức khoẻ,văn học nghệ thuật…Một số bạn đọc lại say mê những cuốn sách thường thứchàng ngày như hướng dẫn giữ gìn sắc đẹp, nghệ thuật cắm hoa, nấu ăn, cácbiện pháp chăm sóc giáo dục con cái, giữ gìn hạnh phúc gia đình Nhìn chungnhu cầu đọc của nhóm này là khá ổn định
Trang 23Chương 2
THỰC TRẠNG NHU CẦU TIN VÀ KHẢ NĂNG ĐẢM BẢO
THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 NHU CẦU TIN
2.1.1. Khái niệm nhu cầu tin
- Nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con người (cá nhân, nhóm, xãhội) đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt độngsống của con người
- Nhu cầu tin có thể chia làm 3 giai đoạn chủ yếu trong một vòng đời của con người:
+ Nhu cầu tin ở tuổi chưa đến trường: là sự khởi đầu của giao tiếp với môi trường xung quanh
+ Nhu cầu tin trong quá trình đào tạo (phổ thông, đại học và sau đại học) + Nhu cầu tin trong quá trình làm việc
- Trong thông tin học người ta chia nhu cầu tin thành 3 nhóm chủyếu:
+ Nhu cầu tin cá nhân
+ Nhu cầu tin tập thể (của một nhóm xã hội)
+ Nhu cầu tin của cộng đồng xã hội
Nhu cầu tin cá nhân là sự phản ánh một phần cụ thể của nhu cầu tin tậpthể và nhu cầu tin của cộng đồng xã hội, nhu cầu tin của tập thể và của cộngđồng xã hội không tồn tại bên ngoài hoặc bên cạnh nhu cầu tin cá nhân, đồngthời không được coi chúng là tổng cộng máy móc của các nhu cầu thông tin
cá nhân
- Mỗi quốc gia, dân tộc ở những thời điểm lịch sử cụ thể có nhu cầutin khác nhau hay nói cách khác nhu cầu tin luôn luôn thay đổi theo sự phát
Trang 24triển của xã hội, trình độ phát triển của khoa học công nghệ, văn minh, văn hoá, lối sống và truyền thống dân tộc
- Qua sự phân tích trên, chúng ta thấy: Nhu cầu tin là loại nhu cầutinh thần đặc biệt mang tính khách quan không phụ thuộc vào ý thức chủ quancủa con người và là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
- Các hệ thống thông tin xã hội nói chung, đặc biệt là hệ thống thôngtin khoa học công nghệ phải có trách nhiệm làm thoả mãn nhu cầu tin của xãhội vừa là mục tiêu, là động lực thúc đẩy sự phát triển, cung cấp các thông tin
mà xã hội có nhu cầu chứ không được đưa ra thị trường những thông có sẵncủa hệ thống mà xã hội không cần (thông tin bị lỗi thời, thông tin thiếu chínhxác)
sở thích tin có thể xảy ra hai tình huống:
+ Nhu cầu tin hoàn toàn trùng khớp với sở thích tin (nhu cầu tin và sở thích tin là một)
+ Nhu cầu tin không trùng khớp với sở thích tin (sở thích tin chỉ biểu đạt một phần nhu cầu tin)
Trang 25- Như vậy nếu con người có sở thích tin thì có nghĩa rằng con người
có nhu cầu tin nhưng nếu con người có nhu cầu tin thì chưa chắc con người
đó có sở thích tin
- Đây là một kết luận có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan phục vụthông tin bằng mọi hình thức, bằng mọi phương pháp khoa học, các cơ quanthông tin - thư viện phải khơi dậy tiềm năng nhu cầu tin của mỗi cá nhân, tậpthể và của cộng đồng xã hội, phải biến nhu cầu tin thành sở thích tin nói cáchkhác các cơ quan thông tin - thư viện phải nắm được các sở thích tin củangười dùng tin nói chung và làm thoả mãn được yêu cầu của họ tức là đã làmthoả mãn nhu cầu tin
2.1.3. Yêu cầu tin
- Yêu cầu tin là sự thể hiện bằng lời hoặc bằng văn bản một phầnnhu
cầu tin của người dùng tin đối với hệ thống thông tin nào đó tại một thời điểmnhất định
- Trong công tác phục vụ thông tin, chu trình “Nhu cầu tin - yêu cầu tin” xảy ra hai trường hợp:
+ Nhu cầu tin hoàn toàn trùng khớp với yêu cầu tin (người dùng tin có khả năng diễn đạt đầy đủ nhu cầu tin trong yêu cầu tin)
+ Yêu cầu tin chỉ phản ánh được một phần (phụ thuộc vào yếu tố chủquan, người dùng tin không có khả năng diễn đạt hết nhu cầu tin của mình).Trong trường hợp này người dùng tin phải có sự hỗ trợ đắc lực của các cán bộthông tin thì họ mới diễn đạt đầy đủ nhu cầu tin của mình trong yêu cầu tin
Chu trình “Nhu cầu tin - yêu cầu tin” bao gồm 3 quá trình liên hoàn có quan hệ hữu cơ với nhau:
+ Quá trình “nhu cầu tin - sở thích tin”
+ Quá trình “sở thích tin - yêu cầu tin”
+ Quá trình “yêu cầu tin - nhu cầu tin”
Trang 26Nhu cầu tin
Sở thích tin Yêu cầu tin
Sơ đồ chu trình “nhu cầu tin - yêu cầu tin”
2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tin của người dùng tin.
Cũng như các loại nhu cầu khác nhu cầu tin cũng chịu sự tác động nhiều yếu tố khác nhau bao gồm các yếu tố chủ quan và khách quan
2.1.4.1. Yếu tố chuyên môn nghề nghiệp.
- Thông tin tồn tại nhằm mục đích phục vụ nhu cầu tin của xã hội haynói một cách khác thông tin tồn tại phát triển được là do nhu cầu tin của xãhội Mỗi ngành nghề đều có nhu cầu tin khác nhau, trong xã hội hiện đại căn
cứ vào nền sản xuất xã hội, người ta chia thành 5 nhóm lĩnh vực hoạt động:
+ Quản lý tổng hợp (quản lý chiến lược, sách lược và tác nghiệp)
+ Nghiên cứu khoa học (nghiên cứu triển khai)
+ Thiết kế chế tạo (chế tạo sản phẩm sản xuất và tiêu dùng) +
Giáo dục đào tạo (đào tạo con người cho xã hội tương lai)
+ Sản xuất kinh doanh - dịch vụ (trực tiếp sản xuất kinh doanh dịch vụ)
- Mỗi nhóm ngành nghề có vai trò và chức năng khác nhau, tạo ranhững sản phẩm khác nhau, cần những lĩnh vực tri thức và thông tin khácnhau chính vì vậy nhu cầu tin cũng phụ thuộc vào từng ngành nghề khácnhau
2.1.4.2. Yếu tố cá nhân
Trang 27Mỗi con người có trình độ hiểu biết, trình độ học vấn khác nhau vì vậy
mà lượng thông tin, lĩnh vực tri thức họ cần là khác nhau chính vì vậy mà nhucầu tin của họ cũng khác nhau hay nói một cách khác là nhu cầu tin phải phụthuộc vào yếu tố cá nhân
2.1.4.3. Yếu tố xã hội
Như Mác đã nói “ Con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội”,con người tồn tại trong xã hội phụ thuộc vào các mối quan hệ xã hội khácnhau và ở mỗi mối quan hệ con người lại cần những thông tin khác nhau, cónhững nhu cầu khác nhau Vì vậy mà nhu cầu tin chịu sự tác động từ yếu tố xãhội
2.1.4.4. Các yếu tố tâm lý
Yếu tố tâm lý có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc tới người dùng tin bởimỗi cá nhân đều có đời sống nội tâm khác nhau do đó nhu cầu tin của họ cũngkhác nhau mặc dù có thể sống trong cùng một thời điểm lịch sử, thậm chí làcùng trong một đất nước, một gia đình
2.1.4.5. Các yếu tố khác
Ngoài ra nhu cầu tin còn chịu tác động từ các yếu tố khác với nhữngmức độ khác nhau như: tự nhiên, kinh tế, văn hoá, môi trường, lịch sử, tậptục, hệ thống chính trị Trong các yếu tố này hệ tư tưởng, chính trị, trình độphát triển kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu tin Chúng có vai tròđịnh hướng cho sự phát triển của nhu cầu tin theo hướng chính đảng của giaicấp cầm quyền của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, thời đại
2.1.5. Ý nghĩa
2.1.5.1. Ý nghĩa của việc nắm bắt nhu cầu tin của người dùng tin
Hệ thống thông tin muốn đạt được hiệu quả kinh tế và khoa học thìphải nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin thuộc mọi tầng lớp xã hộikhác nhau vì nó mang lại những ý nghĩa sau:
Trang 28- Giúp chúng ta tạo ra một nguồn tin phù hợp với từng loại người dùng tin, từng mức độ người dùng tin.
- Tổ chức xây dựng các sản phẩm dịch vụ, dịch vụ thông tin, thiết kếcác hệ thống thông tin và xây dựng các công cụ thông tin tương ứng đảm bảocho các hệ thống thông tin đạt hiệu quả
- Thiết kế các mối quan hệ thông tin
- Xây dựng chương trình đào tạo người dùng tin đảm bảo cho họ cónhững kiến thức sâu, rộng về thông tin, sử dụng thành thạo các phương tiệnhiện đại
2.1.5.2 Ý nghĩa của sự phù hợp và thích hợp trong việc đáp ứng nhu cầu tin
- Sự thích hợp thông tin là sự tương hợp một cách kết quả giữa nội dung thông báo tin và yêu cầu thông tin
- Mẫu tìm và biểu thức tìm phải trùng hợp hoàn toàn
- Sự phù hợp thông tin: là sự phù hợp giữa nội dung thông báo tin và
sở thích thông tin
- Trong lĩnh vực đáp ứng thông tin nếu nắm bắt được mối quan hệgiữa phù hợp và thích hợp sẽ giúp cho các nhà thông tin bổ sung đầy đủ cácnguồn thông tin khác nhau để đáp ứng cho mọi yêu cầu của người dùng tin
- Qua đó các nhà thông tin phải nghiên cứu kỹ toàn diện, sâu sắc tất cả các nguồn tin hiện có trong vốn tài liệu của mình để đáp ứng yêu cầu thông tin
- Nếu chúng ta đảm bảo hai yêu cầu trên thì ta sẽ nâng cao hiệu quảkinh tế của cơ quan thông tin, thông qua việc nghiên cứu đó ta có thể định rađược chiến lược và sách lược cho việc phục vụ người dùng tin
Trang 29Yªu cÇu tin
Sơ đồ mối quan hệ giữa phù hợp và thích hợp
ỨNG THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN HÀ NỘI
Với đối tượng người dùng tin đông đảo và đa dạng cùng với nhu cầutin phong phú đòi hỏi Thư viện phải nắm bắt được nhu cầu tin của họ và tổchức đáp ứng nhu cầu tin sao cho nhanh chóng, chính xác, hiệu quả nhất Vìvậy các cơ quan thông tin cần phải hiểu rõ nhu cầu tin của người dùng tin màmình phục vụ
Chúng tôi đã tiến hành điều tra nghiên cứu nhu cầu tin của 100 bạn đọcgồm các nhóm đối tượng sau:
Trang 30Bảng 1: Các đối tượng người dùng tin
Như vậy phân theo nhóm sẽ là:
- Nhóm bạn đọc trí thức là: 30 người chiếm 30%
- Nhóm bạn đọc là học sinh, sinh viên là: 60 người chiếm 60%
- Nhóm bạn đọc là người cao tuổi, lao động, khiếm thị là: 10 người chiếm 10%
Trang 31Hỡnh 1: Biểu đồ cỏc nhúm đối tượng người dựng tin
Nhóm bạn độc làhọc sinh viên
Nhóm bạn đọc trí
thức
2.2.1. Kết quả phõn tớch phiếu điều tra.
Sau đõy chỳng tụi xin đưa ra kết quả nghiờn cứu nhu cầu tin của 100
phiếu điều tra được phỏt cho bạn đọc và thu được như sau:
Trang 32Bảng 4: Nhu cầu sử dụng các sản phẩm dịch vụ thông tin - thư viện của
người dùng tin tại Thư viện Thành phố Hà Nội.
Tài liệu nghe nhìn
Tài liệu ngoại văn
Thư mục giới thiệu sách mới
Thư mục chuyên đề
Tạp chí tóm tắt tổng thuật
Thông tin chuyên đề
Trang 34Loại ngôn ngữ
AnhNgaĐứcHán nômPhápTrungViệtNgôn ngữ khác
Hình thức phục vụ
Đọc tại chỗ
Mượn về nhà
Sao chụp tài liệu
Tra cứu thông tin
Trang 36Bảng 7: Nhu cầu sử dụng phương tiện tra cứu hiện đại
Nhu cầu sử dụng
2.2.1.1. Nhu cầu tin của nhóm bạn đọc trí thức
-Về thời gian người dùng tin dành cho đọc sách và nghiên cứu tài liệu:
Do đặc điểm của nhóm bạn đọc trí thức là những người có trình độ họcvấn cao hoạt động chủ yếu của họ là nghiên cứu, quản lý, giảng dạy nên thờigian họ dành cho việc đọc sách và nghiên cứu tài liệu là khá lớn Thời gian là
từ 10 - 20% chiếm 40%, từ 20 - 30% là 34.3% đặc biệt >30% là 25%
Do nhu cầu tính chất công việc khác nhau nên họ dành khá nhiều thời giancho việc đọc sách tại Thư viện bởi đặc thù của công việc nhóm này là cần rấtnhiều tài liệu bậc 1, bậc 2, tài liệu gốc… Điều này cho thấy sách báo là công cụkhông thể thiếu của những nhà trí thức trong hoạt động khoa học của họ
- Về nội dung nhu cầu đọc tại Thư viện Hà Nội:
Nhu cầu đọc lớn nhất tại Thư viện Hà Nội của nhóm bạn đọc tri thức là sách xã hội chính trị (35%), sách văn học nghệ thuật (40%) Sách tâm lý và
Trang 37sách kinh tế cũng dành được khá nhiều sự quan tâm của nhóm bạn đọc này tỷ
lệ đọc là 33,3% Nhu cầu đọc sách khoa học chưa cao 27.8% điều này chothấy bạn đọc hướng nhu cầu vào đọc sách khoa học ở các thư viện chuyênngành khác ở Hà Nội như: Viện thông tin khoa học xã hội, Thư viện Khoahọc kỹ thuật, Thư viện Quốc gia…
- Về nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ thông tin của người dùng tin tạiThư viện Hà Nội:
Đối với bạn đọc tri thức các sản phẩm mà họ sử dụng chủ yếu là: sách,báo tạp chí, tài liệu tham khảo tra cứu, tài liệu dịch, tài liệu nghe nhìn do tínhchất công việc của họ chủ yếu là nghiên cứu học tập là chính
- Về ngôn ngữ người dùng tin sử dụng:
Ngôn ngữ được nhóm bạn đọc này thường sử dụng chủ yếu là: tiếngViệt, tiếng Anh, Pháp, Trung, Đức Do họ có kiến thức sâu rộng, có trình độhiểu biết và am hiểu nhiều ngôn ngữ nên để có kết quả nghiên cứu tốt nhất họkhông chỉ sử dụng những tài liệu dịch trong nước mà họ còn sử dụng cả tàiliệu bằng tiếng nước ngoài nhằm mục đích cuối cùng là có công trình nghiêncứu hoàn thiện đầy đủ nhất
- Về hình thức phục vụ hay sử dụng:
Đối với nhóm đối tượng này họ sử dụng hầu hết tất cả các loại hìnhphục vụ ở Thư viện sao cho đạt hiệu quả tối đa yêu cầu tìm tin của mình trong
đó có hình thức tra cứu thông tin (40%) và sao chụp tài liệu (25%) là khá cao
- Về nhu cầu sử dụng phương tiện tra cứu hiện đại và nhu cầu hướng dẫn tìm tin:
Tuyệt đại đa số người dùng tin ở nhóm này cho rằng sử dụng bộ máytra cứu hiện đại sẽ thuận tiện hơn (20 người trên 30 người sử dụng) Con sốnày chứng minh một điều họ thường xuyên đến Thư viện và sử dụng hình
Trang 38thức tra cứu này nên đã quen, tra cứu đơn giản, dễ dàng thậm chí cả những yêu cầu tin phức tạp.
Họ có thể sử dụng bộ máy tra cứu dễ dàng nên không có nhiều nhu cầu cần hướng dẫn tra cứu tìm tin
* Nhận xét đặc điểm nhu cầu tin của nhóm bạn đọc trí thức:
- Qua điều tra cho thấy họ là đối tượng bạn đọc tích cực của Thư viện,nhu cầu tin của họ khá đa dạng do mức độ đề tài nghiên cứu và nhu cầu thamkhảo tài liệu của bản thân để trau dồi kiến thức làm giàu thêm, phong phúthêm hệ kiến thức của mình Vì vậy nhu cầu tham khảo tài liệu ở mọi lĩnh vực
là rất lớn Điều này tác động đến quá trình tổ chức và hoạt động của thư việnsao cho đạt hiệu quả, thoả mãn nhu cầu tin, nâng cao chất lượng phục vụ cónhư vậy Thư viện mới thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình
- Mục tiêu của nhóm người dùng tin này là nghiên cứu giải quyếtnhững vấn đề về Khoa học tự nhiên, Khoa học kỹ thuật và Khoa học xã hội.Thông thường người nghiên cứu có dạng đề tài cụ thể do đó việc sử dụngthông tin để thường xuyên cập nhật kiến thức để thu được các thông tin làhoạt động không thể thiếu
- Để tiến hành các công tác nghiên cứu họ cần những tri thức, thông tinchuyên đề về lĩnh vực mà họ quan tâm Thực tế cho thấy tài liệu mà họ cầnchủ yếu là tài liệu gốc, các thông tin mới nhất mà họ đang nghiên cứu Về thờigian họ có khá nhiều thời gian nên khả năng đảm bảo thông tin cho họ chủđộng hơn Nhóm bạn đọc này thường quan tâm trước hết là tính đầy đủ củathông tin, nghĩa là họ muốn nghiên cứu đến toàn bộ tài liệu có liên quan đến
đề tài mà họ nghiên cứu Đối tượng người dùng tin này cần tài liệu gốc, tự xử
lý và rút ra thông tin cần thiết họ đòi hỏi chiều sâu của thông tin
Trang 39- Nhu cầu thông tin của họ nhiều khi không cụ thể mang tính chấtchung khó diễn đạt thành yêu cầu Họ muốn biết tất cả những gì đã đượcnghiên cứu và chưa được nghiên cứu để tham khảo đồng thời để chủ độngtiến hành và phát triển đề tài nghiên cứu.
- Bởi vậy việc phục vụ nhóm bạn đọc này trước hết phải đảm bảo tính đầy
đủ, kịp thời mà họ quan tâm, tiếp đó là cung cấp tài liệu gốc Quá trình phục vụthông tin cho nhóm bạn đọc trí thức thường được chia làm 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: trước khi họ bắt đầu nghiên cứu cung cấp các thư mục
chuyên đề, đồng thời đảm bảo cho họ tài liệu mà họ cần
+ Giai đoạn 2: khi họ đang tiến hành nghiên cứu, phục vụ thông
tin
theo chế độ phân phối có chọn lọc, cập nhật cho họ những thông tin mới nhất+ Giai đoạn 3: trước khi kết thúc công trình, đề tài nghiên cứu, cung
cấp các thông tin dữ kiện, số liệu, chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật…
- Đây chính là nhóm đối tượng sử dụng thông tin phong phú và đadạng, có nhu cầu sử dụng nhiều loại hình tài liệu, các mạng thông tin, các cơ
sở dữ liệu rất thường xuyên
- Đối với nhóm đối tượng trí thức việc sử dụng thông tin để bồi dưỡngkiến thức, tăng hàm lượng thông tin khoa học là một hoạt động không thểthiếu , đây cũng là đội ngũ đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy sựnghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
2.2.1.2. Nhu cầu tin của nhóm bạn đọc học sinh, sinh viên.
- Về thời gian người dùng tin dành cho việc đọc sách và nghiên cứu tài liệu:
Thời gian dành cho việc đọc sách và nghiên cứu tài liệu của nhóm này
là khá cao chủ yếu là từ khoảng 10 - 20% (52%) và khoảng 20 - 30% (57.1%)
Do họ phải thường xuyên đến thư viện để học tập, giải trí và tìm hiểu, tiếpcận, tiếp thu những tri thức mới