Quán triệt tư tưởng đó, hệ thống 12 thư viện quận, huyện trên địa bànThành phố Hà Nội đã tổ chức nhiều hoạt động cung cấp và tuyên truyền giớithiệu tài liệu, hệ thống thư viện quận, huyệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH THÔNG TIN –THƯ VIỆN Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: QH–2005–X
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS TRẦN THỊ QUÝ
HÀ NỘI, 2009
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc em xin gửi tới Cô giáo,
PGS TS Trần Thị Quý, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành Khóa luận.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô trong khoa Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã tận tình chỉ bảo, dạy dỗ em trong suốt 4 năm học tập tại Trường.
Em xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám đốc và các anh, chị đang công tác tại Thư viện Thành Phố Hà Nội, đặc biệt là cán bộ phòng “Phong trào và nghiệp vụ cơ sở” cũng như các cán bộ đang trực tiếp làm việc tại các thư viện quận, huyện Thành phố Hà Nội đã cung cấp cho em những thông tin sát với thực tế nhất giúp em hoàn thành tốt Khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè – những người luôn bên em, động viên và khuyến khích để em có thể hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp và đạt được kết quả như ngày hôm nay.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2009
Sinh viên
Tô Thị Thúy Hằng K50 Thông tin – Thư viện
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Khóa luận “Nâng cao hiệu quả hoạt động thư viện quận, huyện Thủ đô Hà Nội đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do chính tác giả viết dưới sự hướng dẫn của PGS TS Trần Thị Quý Mọi số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực Tôi xin cam đoan: Các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ
rõ nguồn gốc Tôi xin chịu mọi trách nhiệm đối với Khóa luận của mình.
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2009
Tác giả
Tô Thị Thúy Hằng
Trang 4BẢNG TỪ VIẾT TẮT Tiếng Việt
STT Từ viết tắt Nghĩa của từ
Tiếng Anh
STT Từ viết tắt Nghĩa của từ
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
2.1 Mục đích nghiên cứu 10
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
3 Tình hình nghiên cứu đề tài 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 4.1 Đối tượng nghiên cứu 12
4.2 Phạm vi nghiên cứu 12
5 Phương pháp nghiên cứu 12
5.1 Phương pháp luận 12
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 12
6 Đóng góp về mặt thực tiễn và lí luận của khóa luận 13
6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận 13
6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn 13
7 Bố cục khóa luận 13
NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1: THƯ VIỆN THÀNH PHỐ VỚI HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN QUẬN, HUYỆN THỦ ĐÔ HÀ NỘI 14
1.1 Quá trình hình thành và phát triển Thư viện Hà Nội 14
1.2 Chức năng – Nhiệm vụ của Thư viện Hà Nội 15
1.2.1 Chức năng 15
1.2.2 Nhiệm vụ 16
1.3 Đặc điểm hoạt động thông tin của Thư viện Hà Nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển 18
Trang 61.4 Vai trò của Thư viện Hà Nội đối với hệ thống thư viện cơ sở 22
1.5 Thư viện quận, huyện của Thủ đô Hà Nội 23
1.5.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ thư viện quận, huyện 23
1.5.2 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin 25
1.5.3 Vai trò thư viện quận, huyện đối với sự phát triển của Thủ đô Hà Nội 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN QUẬN, HUYỆN THỦ ĐÔ HÀ NỘI 30
2.1 Đặc điểm vốn tài liệu 31
2.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị của thư viện 32
2.3 Đặc điểm cơ cấu tổ chức - Đội ngũ cán bộ 34
2.3.1 Cơ cấu tổ chức 34
2.3.2 Đội ngũ cán bộ 36
2.4 Hoạt động bổ sung vốn tài liệu 37
2.4.1 Diện bổ sung 38
2.4.2 Kinh phí bổ sung 39
2.4.3 Nguồn bổ sung 40
2.5 Hoạt động xử lý tài liệu 40
2.5.1 Xử lý hình thức tài liệu 42
2.5.2 Xử lý nội dung tài liệu 45
2.6 Công tác tổ chức và bảo quản vốn tài liệu 49
2.6.1 Công tác tổ chức vốn tài liệu 49
2.6.2 Công tác bảo quản vốn tài liệu 53
2.7 Công tác phục vụ người dùng tin 54
2.7.1 Đọc tại chỗ 55
2.7.2 Mượn về nhà 55
2.7.3 Tuyên truyền giới thiệu tài liệu 55
2.7.4 Phục vụ bên ngoài thư viện 59
2.8 Ứng dụng công nghệ thông tin 60
Trang 72.9 Thư viện quận, huyện với việc phát triển mạng lưới thư viện, tủ
sách cơ sở 61
ĐÁNH GIÁ CHUNG 63
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN QUẬN, HUYỆN THỦ ĐÔ HÀ NỘI 64
3.1 Một số nhận xét về tổ chức hoạt động của thư viện quận, huyện Thủ đô Hà Nội 64
3.1.1 Điểm mạnh 64
3.1.2 Điểm yếu 65
3.1.3 Nguyên nhân 66
3.2 Định hướng phát triển thư viện quận, huyện Thủ đô Hà Nội………59
3.3 Kiến nghị và giải pháp 71
3.3.1 Nhóm giải pháp về tổ chức và cơ sở vật chất 71
3.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin … 65
3.3.3 Nhóm giải pháp về chuyên môn 73
3.3.4 Kiến nghị đối với Thư viện Hà Nội 75
3.3.5 Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước, quản lý chuyên môn thực thi các chính sách mới của Nhà nước đối với thư viện 67
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ những năm 50, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên qui mô thếgiới đã gây ra hiện tượng “bùng nổ thông tin” Các số liệu thống kê cho thấy,
số lượng thông tin lưu hành trong xã hội, trong đó có các thông tin khoa họccông nghệ tăng theo cấp số nhân: cứ sau chu kỳ 10-15 năm, lượng thông tintăng lên gấp hai lần Cùng với sự “bùng nổ thông tin”, các nước công nghiệphóa phát triển đang chuyển biến từ một xã hội văn minh công nghiệp sangmột xã hội “văn minh hậu công nghiệp” mà thực chất là “xã hội thông tin”.Một xã hội thông tin theo quan điểm của các nhà khoa học thì đó là “xã hội
mà ở đó nó diễn ra không chỉ quá trình chuyển dịch từ sản xuất sang dịch vụ,
mà còn là sự thay đổi từ một xã hội sản xuất vật phẩm sang một xã hội sảnxuất thông tin hoặc tri thức”
Thuật ngữ Tri thức ngày càng được nhiều người nhiều giới nhắc đến
Chúng ta thường nghe nói đến Kinh tế tri thức, Công nghệ tri thức, Xã hội tri thức, Giáo dục hướng tri thức, vv Và gần đây chúng ta được nghe chính
Tổng bí thư Lê Khả Phiêu nhắc nhủ: “Phải tri thức hóa Đảng, tri thức hóa
dân tộc, tiếp tục tri thức hóa công nông, cả nước là một xã hội học tập”.
Như vậy hai tiếng TRI THỨC không phải là từ hoa mỹ, thời thượng, mà nó
mang tính nghiêm túc, đặc biệt đối với bối cảnh xã hội Việt Nam khi màchúng ta tỏ ra lạc hậu trong nền kinh tế công nghiệp, kinh tế hàng hóa thìchúng ta hoàn toàn có thể “đi tắt đón đầu” để bắt kịp cộng đồng thế giớitrong nền kinh tế tri thức
Trong kinh tế tri thức, mọi nhà doanh nghiệp đều là nhà khoa học.Giáo dục cơ bản cũng được đổi mới thành giáo dục hướng tri thức trong đócăn bản là giúp mọi người tự hình thành tri thức có nghĩa là giúp cho mọingười có ý thức tự học, học liên tục, và học suốt đời Qua đó chúng ta thấyrằng vai trò thư viện trong việc hình thành tri thức cho mọi người là hết sứcquan trọng Do đó đứng trước bối cảnh xã hội đang cổ vũ cho việc tiến lên
Trang 9một nền kinh tế tri thức trọng trách của ngành thông tin thư viện trong việcđáp ứng yêu cầu hình thành tri thức cho mọi người trong xã hội là vô cùngquan trọng.
Thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cả nước vớihàng nghìn nhà máy, xí nghiệp lớn nhỏ thuộc mọi ngành nghề khác nhauđang bước vào thời kỳ phát triển và đổi mới Mọi hoạt động xã hội đềuchuyển theo trục kinh tế Tuy nhiên Hà Nội ngày nay còn là hiện thân củangàn năm văn hiến, của bản sắc văn hoá, là biểu tượng, là tinh hoa của đấtnước Hệ thống thư viện công cộng Thủ đô Hà Nội đứng đầu là Thư viện HàNội đã góp phần không nhỏ vào việc gìn giữ tinh hoa ấy bằng cách đẩy mạnhcác hoạt động của mình, phát triển mạng lưới thư viện cơ sở nhằm nâng caovăn hóa đọc cho người dân
Trong bài báo “Có thể làm gì cho nền giáo dục Quốc dân”, V.I Lê nin
đã viết: “Niềm hãnh diện và tự hào của một thư viện công cộng không phải ởchỗ nó có bao nhiêu cuốn sách quý, có bao nhiêu bộ sách xuất bản hồi thế kỷXVI hay có bao nhiêu tác phẩm viết tay từ hồi thế kỷ X mà là ở chỗ sách cóđược chuyển đọc trong nhân dân rộng rãi đến mức nào, đã thu hút được baonhiêu bạn đọc mới, mọi việc hỏi, mượn sách nhanh hay chậm, có bao nhiêusách được mượn về nhà đọc, có bao nhiêu trẻ em được thu hút vào việc đọcsách và sử dụng thư viện”
Quán triệt tư tưởng đó, hệ thống 12 thư viện quận, huyện trên địa bànThành phố Hà Nội đã tổ chức nhiều hoạt động cung cấp và tuyên truyền giớithiệu tài liệu, hệ thống thư viện quận, huyện đã góp phần không nhỏ vào việcđưa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống nhân dân,nâng cao trình độ dân trí, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đờisống… Tuy nhiên hiện nay vẫn đang còn một số vấn đề bất cập như vốn tàiliệu thư viện chưa thực sự thỏa mãn nhu cầu của bạn đọc, trình độ tin học,ngoại ngữ của cán bộ thư viện chưa cao, thiếu những hình thức phục vụ hiệuquả… Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động thư
Trang 10viện quận, huyện Thủ đô Hà Nội đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước” làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở điều tra, khảo sát, nghiên cứu tổ chức hoạt động thư việnquận, huyện trên địa bàn Thành phố Hà Nội đưa ra những kiến nghị, giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và phục vụ người dùng tin Thủ đô
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khẳng định vai trò Thư viện Hà Nội trong hoạt động thư viện cơ sở,cũng như vai trò thư viện quận, huyện đối với sự phát triển của Thủ đô Hà Nội
- Tìm hiểu đặc điểm nhu cầu tin và người dùng tin tại các thư viện quận, huyện Thành phố Hà Nội
- Khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động của các thư viện quận, huyệntrong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đồng thời phân tích, đánh giánhững mặt đã đạt được và chưa đạt được trong hoạt động của các thư viện, cụ thể
là trong việc đảm bảo thông tin cho người dùng tin chính là cư dân địa bàn phục vụcho mục đích nghiên cứu, học tập, phát triển kinh tế -
xã hội
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các thư viện trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
3 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết tập trung vào các hướng sau:
- “Mô hình tổ chức và hoạt động của thư viện tỉnh, huyện và cơ sở ở ViệtNam: Đề tài nghiên cứu khoa học ứng dụng cấp Bộ của tác giả TS Lê Văn Viếtcông bố năm 2007 Đề tài nghiên cứu quá trình hình thành, mô hình tổ chức vàhoạt động qua các thời kỳ trong giai đoạn từ năm 1954 tới nay ở
Trang 11nước ta Phân tích nguyên nhân thất bại hay ít có hiệu quả của các mô hình thư viện công cộng đã và đang tồn tại ở nước ta.
- “Một số định hướng về hoạt động nghiệp vụ đối với thư viện cấp huyệntrong thời kỳ đổi mới” của ThS Nguyễn Trọng Phượng đăng trên Tạp chí Thưviện Việt Nam số 1(2009) Đề tài nghiên cứu đưa ra định hướng hoạt động nghiệp
vụ các thư viện huyện nói chung
- “Hoạt động thư viện phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn vùngĐồng bằng sông Hồng” của tác giả Nguyễn Thị Lan Thanh xuất bản năm
2008 Đề tài trên nghiên cứu cung cấp những kết quả đạt được, những tồn tàicần khắc phục trong hoạt động của các thư viện công cộng khu vực Đồngbằng sông Hồng trong việc phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn.Các đề tài trên chưa có đề tài nào tập trung nghiên cứu sâu về tổ chức hoạtđộng của các thư viện quận, huyện Thủ đô Hà Nội
Cho đến nay nghiên cứu về thư viện quận, huyện Thủ Đô Hà Nội có
vụ cho các thư viện trên địa bàn Thư viện quận, huyện đồng thời cũng đóngvai trò là cơ quan văn hóa giáo dục hàng đầu, là trung tâm thông tin – thư
Trang 12viện – thư mục phục vụ cho học tập, nghiên cứu và sản xuất của nhân dânđịa phương.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và giải quyết tốt những nhiệm vụ đã
đề ra Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định và giới hạnnhư sau:
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là tổ chức hoạt động của cácthư viện quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Thực trạng tổ chức hoạt động của 12 thư việnquận, huyện trên địa bàn Thành phố Hà Nội trước khi Hà Tây được sát nhập: Thưviện Quận Thanh Xuân, Thư viện Quận Cầu Giấy, Thư viện Quận Hoàn Kiếm,Thư viện Quận Ba Đình, Thư viện Quận Hai Bà Trưng, Thư viện
Quận Tây Hồ, Thư viện Quận Đống Đa, Thư viện huyện Gia Lâm, Thư việnhuyện Đông Anh, Thư viện huyện Thanh Trì, Thư viện huyện Từ Liêm, Thưviện huyện Sóc Sơn
- Phạm vi thời gian: Thực trạng tổ chức hoạt động của thư viện quận, huyện Thủ đô Hà Nội từ năm 2007 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu
Trang 13- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phỏng vấn, mạn đàm với các chuyên gia
6 Đóng góp về mặt thực tiễn và lí luận của khóa luận
6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận: Góp phần làm rõ và bổ sung lý luận công
tác tổ chức và quản lý hệ thống thư viện quận, huyện
6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Khóa luận đưa ra các giải pháp khả thi
nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện quận, huyệntrên địa bàn Thành phố Hà Nội để ngày càng phục vụ tốt nhất nhu cầu tincủa người dùng tin trên địa bàn
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1 THƯ VIỆN THÀNH PHỐ VỚI HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN QUẬN, HUYỆN THỦ ĐÔ HÀ NỘI 1.1 Quá trình hình thành và phát triển Thư viện Hà Nội
Thư viện Hà Nội là thưviện công cộng lớn nhất củaThủ đô, trung tâm thông tin,văn hóa, giáo dục quan trọngcủa Thành phố, là thư việntrung tâm đầu ngành của mạnglưới thư viện ở Thủ đô, thưviện hạng nhất, thư viện có vịtrí đặc biệt quan trọng củaquốc gia (theo Điều 14, mục 2Nghị định 72/2000/NĐ-CPngày 06 tháng 8 năm 2002 củaChính phủ)
Thư viện Hà Nội đượcthành lập ngày 15/10/1956 vớitên gọi ban đầu “Phòng đọc sách nhân dân” Thư viện đã qua nhiều lần thayđổi địa điểm Lúc ở bên hồ Hoàn Kiếm (nhà Thuỷ Tạ), khi về Lò Đúc, MaiDịch, Văn Miếu – Quốc Tử Giám Đến tháng 1/1959 Thư viện chính thứcđóng tại 47 Bà Triệu và mang tên “Thư viện Nhân dân Hà Nội”, nay là Thưviện Hà Nội
Số lượng cán bộ trong những ngày đầu mới thành lập chỉ có 4 người,với vốn sách nhỏ bé vài ngàn cuốn được chuyển từ kháng chiến về, ngoài ra
là một số báo, tạp chí Cơ sở vật chất của Thư viện còn nghèo nàn Cán bộ
Trang 15của Thư viện đã tìm mọi cách khắc phục khó khăn để từng bước đưa Thưviện Hà Nội đi lên.
Năm 1975, khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Nam – Bắc thu về mộtmối, toàn dân phấn khởi bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước Được sựquan tâm của Thành ủy, UBND, HĐND, Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội, Thưviện Hà Nội từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất, bổ sung thêm đội ngũ cán
bộ có trình độ cao, tăng cường vốn tài liệu, đồng thời phát huy tốt công tácphục vụ người dùng tin thông qua một số hình thức tuyên truyền giới thiệusách Từng bước nâng cao chất lượng phục vụ người dùng tin, phát triển toàndiện các hoạt động của mình cả về mặt chất và lượng nhằm phục vụ tốt nhucầu ngày càng cao của người dùng tin
Với những hoạt động phong phú, đa dạng, hiệu quả của mình, Thưviện Hà Nội đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và pháttriển Thủ đô và nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân Hà Nội
Vì thế Thư viện Hà Nội đã vinh dự được Nhà nước trao tặng ba Huânchương Lao động (1991, 1996, 2001), và Huân chương Độc lập hạng ba(2006), được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen ba năm liền (1977, 1978,1979) Được UBND thành phố và Bộ VHTT tặng nhiều bằng khen và Cờ
thưởng luân lưu “Đơn vị thi đua xuất sắc dẫn đầu toàn ngành thư viện
toàn quốc”, được Nhà nước công nhận là “Thư viện hạng I cấp quốc gia”.
Thư viện Hà Nội qua nửa thế kỷ xây dựng và phát triển đã khôngngừng lớn mạnh xứng đáng là một địa chỉ văn hóa quen thuộc và đáng tincậy của bạn đọc Thủ đô và cả nước Cũng như các cơ quan Thông tin – Thưviện khác, Thư viện Hà Nội có chức năng và nhiệm vụ đặc thù của mình
1. 2 Chức năng – Nhiệm vụ của Thƣ viện Hà Nội 1.2.1 Chức năng
- Thư viện Hà Nội có chức năng nhiệm vụ giữ gìn di sản Thư tịch về
Hà Nội; thu thập, tàng trữ, bảo quản, tổ chức việc khai thác và sử dụng chung vốntài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin
Trang 16phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớpnhân dân Thủ đô, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡngnhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ công cuộcCNH – HĐH đất nước.
- Là trung tâm nghiên cứu địa chí về Thủ đô Đây là công tác đặc thùcủa thư viện Thư viện thu thập, lưu trữ, bảo quản và phục vụ người dùng tin cáctài liệu địa chí có liên quan đến Hà Nội từ nhiều nguồn khác nhau
- Là trung tâm thông tin thư mục của Thủ đô
- Thư viện biên soạn và phổ biến các loại thư mục, nhất là thư mục địachí nhằm phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của Thủ đô
- Thư viện Hà Nội phục vụ người dùng tin rộng rãi: cán bộ, công chứccủa các cơ quan Đảng và chính quyền, cán bộ các tổ chức chuyên môn, người làmcông tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập, chỉ đạo sản xuất, thiếu nhi… Vì vậy, Thưviện Hà Nội là một Thư viện khoa học tổng hợp đồng thời có chức năng nghiêncứu và hướng dẫn nghiệp vụ thư viện cơ sở
1.2.2 Nhiệm vụ
Tổ chức thu thập, lưu giữ, bảo quản các loại hình tài liệu xuất bản ởtrong nước và nước ngoài, đặc biệt chú ý tài liệu về Hà Nội, phù hợp vớichức năng, nhiệm vụ của thư viện và nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa xãhội của địa phương
Hướng dẫn, tư vấn tổ chức thư viện; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn,nghiệp vụ cho người làm công tác thư viện; tổ chức luân chuyển sách, báo;chủ trì phối hợp hoạt động về chuyên môn, nghiệp vụ với các thư viện kháctrên địa bàn Thành phố Hà Nội
Tổ chức phục vụ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dùng tinđược sử dụng vốn tài liệu thư viện thông qua các hình thức đọc tại chỗ,mượn về nhà, luân chuyển tài liệu hoặc phục vụ ngoài thư viện phù hợp với
Trang 17nội quy thư viện, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, học tập và giải trí của ngườidùng tin Thủ đô.
Tổ chức và thực hiện công tác tuyên truyền, giới thiệu kịp thời, rộngrãi vốn tài liệu thư viện đến mọi người, đặc biệt là các tài liệu phục vụ côngcuộc phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội ở Thủ đô; xây dựng phong trào đọcsách báo trong nhân dân Thủ đô
Xây dựng và phát triển vốn tài liệu phù hợp với đặc điểm tự nhiên kinh tế - văn hóa của Thủ đô Hà Nội và đối tượng phục vụ của thư viện Thủ
-đô Hà Nội là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâmlớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước;
là nơi đặt trụ sở của các cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước, các tổchức chính trị - xã hội, các cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế và lànơi diễn ra các hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng nhất của đất nước
Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệthông tin vào hoạt động của Thư viện Hà Nội và hệ thống thư viện Thủ đô,từng bước hiện đại hóa công tác thư viện đáp ứng nhu cầu ngày càng cao củangười dùng tin Thủ đô; tham gia xây dựng và phát triển mạng thông tin - thưviện của hệ thống Thư viện công cộng và hệ thống Thông tin khoa học
Biên soạn và xuất bản các ấn phẩm thông tin - thư mục, thông tin cóchọn lọc, xuất bản điện tử phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đối tượngphục vụ của Thư viện
Xây dựng các đề án, dự án, quy hoạch phát triển sự nghiệp Thư việnThủ đô trong từng giai đoạn cụ thể, phù hợp với sự phát triển của Thủ đô vàcủa đất nước
Tham gia các hoạt động nghiệp vụ trong Liên hiệp các thư viện khuvực Đồng bằng sông Hồng và hệ thống Thư viện công cộng toàn quốc
Phát triển quan hệ quốc tế, giao lưu, trao đổi, học tập kinh nghiệm vàcông nghệ với các thư viện trong khu vực và thế giới
Trang 181.3 Đặc điểm hoạt động thông tin của Thƣ viện Hà Nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Thời đại chúng ta đang sống là thời đại khoa học và công nghệ Hiệntại, xã hội loài người đã và đang tiếp cận một nền văn minh mới, trong đó trithức, trước hết là những tri thức khoa học và công nghệ sẽ chiếm ưu thế vàtrở thành phổ biến Trong xu thế đó, bất kỳ một quốc gia, dân tộc nào nếukhông xây dựng cho mình một thực lực khoa học, công nghệ mạnh sẽ cónguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn
- Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày nayđược áp dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực thông tin– thư viện
- Tìm tin bằng phương pháp truyền thống về cơ bản là phương phápchủ yếu trong thư viện khi mà phương pháp tìm tin hiện đại chưa triển khai rộngrãi
- Cùng với quá trình phát triển của Thư viện, sự bùng nổ của thông tin,việc tra cứu truyền thống không còn phù hợp hay nói một cách khác tốc độ tìmkiếm chậm hơn so với tìm tin trên máy tính vừa nhanh vừa dễ thao tác
- Nhu cầu tin của người dùng tin cũng thay đổi, họ không chỉ khai thácthông tin trên giấy mà còn có nhu cầu khai thác thông tin trên mạng máy tính, chỉcần ngồi nhà cũng có thể tra cứu tài liệu một cách dễ dàng
- Xu hướng người dùng tin chủ yếu sử dụng máy tính để tra tìm tài liệu rất phổ biến đòi hỏi thư viện cũng phải đổi mới để hội nhập với thời đại
Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện định hướng phát triển văn hóa doĐại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đề ra là phát huy bản sắcdân tộc, bảo tồn tôn tạo các di sản văn hóa phi vật thể làm nền tảng cho sựgiao lưu văn hóa với bên ngoài Thư viện Hà Nội đã có nhiều đổi mới tronghoạt động thông tin nhằm quán triệt nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giaophó, đồng thời theo kịp sự phát triển và hội nhập của đất nước trong giaiđoạn hiện nay:
Trang 19- Thư viện đang sử dụng phần mềm CDS/ISIS for window cải tiến có nhiều tính năng hơn có thể quản lý bạn đọc, quản lý, bổ sung, xử lý tài liệu.
- Thư viện cho phép bạn đọc khai thác thông tin trên mạng internet, trên trang Web và bản tin điện tử
- Phục vụ tra cứu tìm tin trên máy tính trên mạng thông tin của Thư viện (mạng LAN)
- Thư viện xây dựng được một nguồn lực thông tin sách báo phong phú
đa dạng với 674.139 tài liệu và 450 loại báo, tạp chí;
Trong đó:
- Sách Tiếng Việt: 508.929 bản
- Sách Ngoại văn: 30.180 bản
- Sách Thiếu nhi: 116.525 bản
- Tài liệu địa chí: 16.505 tài liệu
- 2000 sách chữ nổi, 1700 băng catsette, đĩa CD
- CSDL: 8 CSDL với 210.000 biểu ghi sẵn sàng phục vụ nhu cầu tra cứu tìm tài liệu trên máy tính
Với nguồn tài liệu phong phú như hiện nay Thư viện Hà Nội đã xâydựng được hệ thống các phòng phục vụ bạn đọc đa dạng gồm 9 phòng: Đọctổng hợp; Đọc tự chọn; Mượn; Đọc báo – Tạp chí; Đọc thiếu nhi; Mượnthiếu nhi; Đọc địa chí; Đọc khiếm thị; Đọc tài liệu ngoại văn và tổ chức phục
vụ bạn đọc dưới nhiều hình thức:
+ Tổ chức phục vụ bạn đọc tại chỗ, mượn về nhà, luân chuyển sáchxuống cơ sở qua thành viện tình nguyện, phục vụ tại nhà các đối tượng chính sách,người tàn tật, người khiếm thị, phục vụ qua mạng thông tin, phục vụ qua thư mục.+ Mở cửa phục vụ bạn đọc liên tục từ 8h00 – 19h30, từ thứ 2 đến thứ 6,thứ 7 từ 8h00 – 17h00
19
Trang 20+ Phục vụ rộng rãi mọi đối tượng bạn đọc bao gồm: các cháu thiếuniên, nhi đồng, người tàn tật, học sinh, sinh viên, cán bộ hưu trí, cán bộnghiên cứu giảng dạy, các nhà quản lý, lãnh đạo.
+ Nhiều sản phẩm và dịch vụ mới: Khai thác thông tin trên Internet,bản tin điện tử, thông tin chọn lọc, thư mục chuyên đề, thư mục trích báo, tạp chí
- Đổi mới hình thức và đa dạng hóa các nội dung tuyên truyền sáchmới, tuyên truyền sách chuyên đề, tuyên truyền sách thiếu nhi (ứng dụng CNTT,thi trắc nghiệm…) nhằm nâng cao tính hấp dẫn và hiệu quả của công tác tuyêntruyền giới thiệu sách
- Tích cực xây dựng các dự án khả thi để phát triển sự nghiệp thư việnThủ đô như: Xây dựng bộ sưu tập di sản thư tịch Thăng Long – Hà Nội, xây dựngthư viện điện tử, phát triển hệ thống thư viện Thủ đô trong giai đoạn
CNH - HĐH đất nước
Thư viện Hà Nội với những hoạt động thông tin trong thời kỳ hội nhập
và phát triển đã có những bước chuyển mình tích cực để hòa mình vào xu thếchung của thời đại, của xã hội Thư viện đã xây dựng trụ sở mới tại 47 BàTriệu, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội - một công trình văn hoá trọng điểm củaThành phố hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội
Trong năm 2009 Thư viện đặt cho mình một chương trình hoạt động
cụ thể:
- Thực hiện tốt việc sát nhập Thư viện Hà Nội và Thư viện Hà Tây,nhanh chóng ổn định tổ chức, xây dựng được kế hoạch công tác chung để phát huythế mạnh ở cả 2 trụ sở
- Đa dạng hóa, hiện đại hóa công tác bạn đọc, tổ chức hợp lý các phòngphục vụ bạn đọc năm 2009 mở cửa phục vụ bạn đọc đến 19h30 hàng ngày và ngàythứ 7
Trang 21- Tiếp tục củng cố, sáng tạo đổi mới các hình thức hoạt động tại thưviện.
- Tăng cường các biện pháp bảo quản và phát triển vốn tài liệu của thư viện đảm bảo cả về chất lượng và số lượng
- Tiếp tục cải cách các thủ tục cấp thẻ bạn đọc, đa dạng hóa các sảnphẩm và dịch vụ thông tin – thư viện, không ngừng đổi mới các hình thức hoạtđộng, phương thức phục vụ bạn đọc để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thưviện
- Tăng cường phối hợp với các quận, huyện, nhà trường, các cơ quanlàm tốt công tác tuyên truyền giới thiệu sách báo (tổ chức các cuộc triển lãm, trưngbày sách báo tư liệu, liên hoan tuyên truyền giới thiệu sách báo với các chủ đề:
“Mừng Đảng – mừng xuân”, “Thăng Long – Hà Nội”, “Làm theo tấm gương củaBác”, “Như có Bác trong ngày vui đại thắng”, “Anh bộ đội cụ Hồ”, “Danh nhânTản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu” vào các dịp kỷ niệm của Thủ đô và đất nước) phục
vụ nhiệm vụ chính trị, thu hút đông đảo nhân dân đến thư viện
- Cập nhật thông tin cho trang Web Thư viện Hà Nội
- Tích cực luân chuyển sách báo xuống cơ sở, phối hợp với các quận,huyện duy trì, phát triển hệ thống thư viện quận, huyện và cơ sở Giúp đỡ cácđịa phương xây dựng các thư viện, tủ sách mới
- Tổ chức tập huấn kiến thức nghiệp vụ mới cho cán bộ thư viện trungtâm, thư viện quận, huyện về biên mục MARC21, áp dụng khung phân loại thậpphân DEWEY
- Chú trọng công tác sưu tầm thu thập tài liệu về địa chí Hà Nội đáp ứng các nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu về 1000 năm Thăng Long – Hà Nội
- Hoàn thiện các văn bản pháp quy về tổ chức và hoạt động của hệthống Thư viện Thủ đô trình UBND Thành phố Hà Nội, tạo hành lang pháp
Trang 22lý cho Thư viện Hà Nội, các thư viện quận, huyện và cơ sở phát triển mạnh mẽ.
- Xây dựng và đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với Thư viện hiện đại tại trụ sở 47 Bà Triệu
- Phấn đấu xây dựng Thư viện Hà Nội trở thành Thư viện kiểu mẫu ởThủ đô
1.4 Vai trò của Thƣ viện Hà Nội đối với hệ thống thƣ viện cơ sở
Đã từ lâu, ngành Thư viện cả nước vận hành theo định hướng vươn tới
cơ sở Quan điểm ấy thể hiện mong muốn mang sách báo – tri thức về vùngsâu, vùng xa, xóa dần khoảng cách về dân trí, về nhu cầu hưởng thụ văn hóagiữa thành thị và nông thôn Tuy nhiên, nhiệm vụ nâng cao chất lượng đọctại các vùng xa trung tâm không phải nơi nào cũng thực hiện trọn vẹn Vớingười dân nội thành và ngoại thành Hà Nội họ quả là “may mắn” vì có được
sự phục vụ tận tâm của Thư viện Hà Nội
Thư viện Hà Nội là một thư viện Khoa học tổng hợp đồng thời có chứcnăng nghiên cứu và hướng dẫn nghiệp vụ thư viện cơ sở 45 năm trưởngthành và phát triển, một chặng đường không dài cho một ngành công tácnhưng Thư viện Hà Nội đã thực hiện được nhiều hoạt động hữu ích đối với
hệ thống thư viện quận, huyện
+ Đã xây dựng được một mạng lưới thư viện, tủ sách rộng khắp thànhphố, bao gồm thư viện trung tâm, 12 thư viện quận - huyện: Thư viện Quận
Thanh Xuân, Thư viện Quận Cầu Giấy, Thư viện Quận Hoàn Kiếm, Thưviện Quận Ba Đình, Thư viện Quận Hai Bà Trưng, Thư viện Quận Tây Hồ,Thư viện Quận Đống Đa, Thư viện huyện Gia Lâm, Thư viện huyện ĐôngAnh, Thư viện huyện Thanh Trì, Thư viện huyện Từ Liêm, Thư viện huyệnSóc Sơn, 389 thư viện, tủ sách cơ sở, 136 điểm Bưu điện Văn hoá xã, hàngtrăm thư viện trong các trường phổ thông
Trang 23+ Xây dựng được một nguồn lực thông tin sách báo phong phú đadạng Toàn mạng lưới có trên 830.699 tài liệu, hơn 530 loại báo, tạp chí Thư viện
Hà Nội có 674.139 tài liệu và 450 loại báo, tạp chí;
Trong đó:
- Sách Tiếng Việt: 508.929 bản
- Sách Ngoại văn: 30.180 bản
- Sách Thiếu nhi: 116.525 bản
- Tài liệu địa chí: 16.505 tài liệu
- 2000 sách chữ nổi, 1700 băng catsette, đĩa CD
- CSDL: 8 CSDL với 210.000 biểu ghi
Số thẻ cấp: 14.500 thẻ các loại
Lượt bạn đọc: 570.000/năm
Lượt luân chuyển sách: 1.600.000 lượt/năm
+ Xây dựng các đề án, dự án, quy hoạch phát triển sự nghiệp Thư việnThủ đô trong từng giai đoạn cụ thể, phù hợp với sự phát triển của Thủ đô và củađất nước
+ Là trung tâm hướng dẫn nghiệp vụ cho các Thư viện cơ sở trên địabàn Thủ Đô Hà Nội Thư viện kiểm tra thường xuyên và mở lớp bồi dưỡng nghiệp
vụ, nâng cao trình độ cán bộ Thư viện cơ sở trên địa bàn nhằm đẩy mạnh phongtrào đọc sách của nhân dân địa phương
1.5 Thƣ viện quận, huyện của Thủ đô Hà Nội
1.5.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ thư viện quận, huyện
Theo Quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động của thư viện quận, thị xã,
thành phố trực thuộc tỉnh (Ban hành kèm theo Quyết định số
49/2006/QĐ-BVHTT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin)
quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ thư viện quận, huyện như sau:
Trang 24Thư viện huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là thư viện cấp huyện) là đơn vị sự nghiệp văn hóa - thông tin, do Ủy ban nhân dân cấp huyện thành lập; có chức năng xây dựng và tổ chức việc
sử dụng chung vốn tài liệu thư viện phục vụ nhiệm vụ xây dựng và phát triểnkinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương
Xây dựng kế hoạch hoạt động dài hạn, ngắn hạn của thư viện và tổchức thực hiện sau khi được cơ quan chủ quản phê duyệt;
Tổ chức phục vụ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người đọc sử dụngvốn tài liệu thư viện, tổ chức các hình thức phục vụ, mở cửa thư viện theongày, giờ nhất định phù hợp với điều kiện công tác, sản xuất và sinh hoạt củanhân dân địa phương; không đặt ra các quy định làm hạn chế quyền sử dụngthư viện của người đọc;
Xây dựng vốn tài liệu phù hợp với trình độ, nhu cầu của nhân dân, vớiđặc điểm và yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương
Tăng cường vốn tài liệu thư viện thông qua việc tiếp nhận sách luânchuyển từ thư viện tỉnh hoặc thực hiện việc mượn, trao đổi tài liệu với cácthư viện khác trên địa bàn
Thực hiện việc thanh lọc ra khỏi kho các tài liệu không còn giá trị sửdụng theo quy định của Bộ Văn hóa - Thông tin;
Thường xuyên tổ chức các hoạt động thông tin, tuyên truyền giới thiệusách, báo để thu hút người đọc đến sử dụng vốn tài liệu thư viện; tổ chức cácđợt vận động đọc sách, báo; xây dựng phong trào và hình thành thói quenđọc sách, báo trong nhân dân địa phương;
Tổ chức các dịch vụ thông tin - thư viện phù hợp với chức năng,nhiệm vụ theo quy định của pháp luật;
Tham gia xây dựng và phát triển mạng lưới thư viện, phòng đọc sách;hướng dẫn nghiệp vụ cho các thư viện, phòng đọc sách trên địa bàn,
Trang 25Từng bước triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt độngcủa thư viện;
Thực hiện báo cáo định kỳ tháng, 6 tháng, hàng năm và báo cáo độtxuất vê tình hình hoạt động của thư viện với cơ quan chủ quản và thư việncấp tỉnh;
Thực hiện các nhiệm vụ khác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ củathư viện do cơ quan chủ quản giao
Thư viện quận, huyện Thủ đô Hà Nội với vị trí địa lý, kinh tế, chính trị, xã hội đặc biệt đã hoàn thành và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của thư viện quận, huyện Theo Quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động của thư viện quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh được ban hành kèm theo Quyết định số 49/2006/QĐ-BVHTT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Đồng thời đã thể hiện tốt vai trò quan trọng trong việc cung cấp những kiến thức cơ bản và kiến thức mới nhất, giúp cho người dân
có những thông tin cần thiết, liên quan đến công việc và cuộc sống của
chính mình và của cộng đồng
1.5.2 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin
Thư viện quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hà Nội là hệ thống thưviện công cộng, đặc biệt đây còn là tuyến thư viện tiếp xúc khá gần vớingười dân nên người dùng tin của thư viện quận, huyện là tất cả mọi tầng lớpnhân dân với trình độ và nghề nghiệp khác nhau Với thành phần người dùngtin đa dạng cùng với sự tăng trưởng kinh tế, phát triển về văn hóa, sự tăngnhanh và phong phú của các xuất bản phẩm, việc đẩy nhanh công tác tuyêntruyền và giới thiệu sách báo trên các phương tiện thông tin đại chúng đã tạođiều kiện cho nhu cầu đọc của người dân tăng lên nhanh chóng
Nghiên cứu người dùng tin và nhu cầu tin là một trong những trongnhững nhiệm vụ trọng tâm của các thư viện nói chung và thư viện quận,huyện Thủ đô Hà Nội nói riêng nhằm nắm được các đối tượng người dùngtin khác nhau cũng như những nhu cầu thông tin của họ để không ngừng
Trang 26nâng cao khả năng thỏa mãn nhu cầu thông tin của người dùng tin Ngườidùng tin và nhu cầu thông tin trong các thư viện chính là các căn cứ quantrọng để các cơ quan thông tin – thư viện nâng cao chất lượng vốn tài liệucũng như chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện.
1.5.2.1 Đặc điểm người dùng tinNgười dùng tin là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin Đó là đốitượng phục vụ của các cơ quan thông tin tư liệu Người dùng tin vừa là kháchhàng của các dịch vụ thông tin, đồng thời họ cũng là người sản sinh ra thôngtin mới
Việc phân loại người dùng tin giúp các cơ quan thông tin thư việnphục vụ hiệu quả nhất
Đối với người dùng tin ở các quận, huyện trên địa bàn Thành phố HàNội tập trung vào 3 nhóm chính:
- Nhóm người dùng tin là người cao tuổi, lao động
Bao gồm các cán bộ lãnh đạo, quản lý, các nhà nghiên cứu, các cán
bộ giảng dạy tại các trường học…Nhóm người dùng tin này thường không
ổn định Họ đến Thư viện nhiều hay ít tùy thuộc vào số đề tài mà họ nghiêncứu cần tới nhiều tài liệu hay ít tài liệu tham khảo về địa phương Họ lànhững người có trình độ học vấn cao hoạt động chủ yếu của họ là nghiêncứu, giảng dạy, quản lý nên thời gian học dành cho việc đọc sách và nghiêncứu tài liệu là khá lớn
Nhóm người dùng tin là học sinh
Nhóm người dùng tin là học sinh đông đảo nhất trong tổng số ngườidùng tin đến các thư viện quận, huyện Các em có độ tuổi rất trẻ, ham học,
Trang 27ham hiểu biết Các em có nhiều thời gian dành cho việc đọc sách và nghiên cứu.
Nhóm người dùng tin là người cao tuổi, lao động
Bao gồm các cán bộ hưu trí, công nhân, nông dân, cư dân sống trên địabàn quận, huyện đến thư viện để giải trí, nghỉ ngơi, khám phá, tìm hiểu nângcao tri thức trong mọi lĩnh vực đời sống Họ có độ tuổi tương đối cao Họkhông thường xuyên đến thư viện vì mục đích của họ đến thư viện chủ yếu
để nâng cao hiểu biết và giải trí Ngoài đọc sách, họ còn dành thời gian chohoạt động thể dục thể thao, xem vô tuyến, ngỉ ngơi…
1.5.2.2 Đặc điểm nhu cầu tinNhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếp nhận
và sử dụng thông tin nhằm duy trì và phát triển hoạt động sống Nhu cầu tinnảy sinh khi con người hoạt động, giao lưu và ngày càng phong phú, sâu sắcnếu con người tham gia nhiều hoạt động và tính chất phức tạp của hoạt độnggia tăng
Nhóm người dùng tin trí thức
Nhóm người dùng tin này cần những thông tin định hướng chiếnlược, dự báo chung (thông tin ở tầm vĩ mô), ưu tiên sự tổng hợp tài liệu vềnhững vấn đề, đề tài cụ thể Họ không chỉ cần những tài liệu mới xuất bản
mà cả những tài liệu cũ Họ cần các tài liệu bậc 1, bậc 2, tài liệu gốc…Điềunày cho thấy sách báo là công cụ không thể thiếu của những nhà tri thứctrong hoạt động chuyên môn của họ
Nhóm người dùng tin học sinh
Nhu cầu tin của các em khá đơn giản và ổn định Các em đọc chủ yếusách văn học nghệ thuật, sách khoa học thưởng thức để khám phá nhữngđiều mới lạ, để hiểu biết cuộc sống; Các sách viết về các tấm gương anhhùng liệt sĩ, các danh nhân, người tốt việc tốt, truyện cười, truyện tranh,truyện khoa học viễn tưởng…
Trang 28 Nhóm người dùng tin cao tuổi, người lao động
Nội dung nhu cầu đọc của nhóm người dùng tin này khá phong phúnhưng không chuyên sâu Nhu cầu chủ yếu là về lĩnh vực kinh tế, khoa học
kỹ thuật, sản xuất kinh doanh, bảo vệ sức khỏe…Nhu cầu đọc của nhóm nàykhá ổn định
1.5.3 Vai trò thư viện quận, huyện đối với sự phát triển của Thủ đô
Hà Nội
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, theo quan điểm của Đảng và Nhànước, huyện là địa bàn kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, nông dân vớicông nhân, kinh tế toàn dân với kinh tế tập thể và các thành phần kinh tếkhác Huyện là trọng điểm để tiến hành xây dựng nền kinh tế mới, nền vănhóa mới, con người mới
+ Thư viện quận, huyện Thủ đô Hà Nội có vai trò vị trí quan trọngtrong hệ thống Thư viện công cộng, là cầu nối giữa thư viện tỉnh, thành phố vớithư viện tủ sách cơ sở, là cơ quan hướng dẫn nghiệp vụ cho các thư viện trên địabàn Thư viện quận, huyện đồng thời cũng đóng vai trò là cơ quan văn hóa giáodục hàng đầu, là trung tâm thông tin – thư viện – thư mục phục vụ cho học tập,nghiên cứu và sản xuất của nhân dân địa phương, có nhiệm vụ tuyên truyền phổbiến chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách củaĐảng và Nhà nước, nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa, trình độ văn hóakhoa học kỹ thuật cho cán bộ và nhân dân…góp phần phát triển và đổi mới đấtnước
+ Thư viện quận, huyện là loại hình thư viện công cộng cung cấp tàiliệu, sách báo phục vụ cho người dân và con em của họ mà không đòi hỏi một lệphí nào Các thư viện trên phục vụ có chọn lọc tài liệu, sách báo phù hợp thiết thựccho nhân dân, từng địa phương từng vùng
+ Thư viện quận, huyện sẽ góp phần tích cực thu hẹp dần khoảng cách
về đời sống văn hoá giữa đô thị và nông thôn, giữa vùng kinh tế phát triển và vùngkinh tế chưa phát triển; nâng cao dần trình độ dân trí, phát triển văn
Trang 29hoá, phát triển kinh tế, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống ở địa phương.
+ Thư viện quận, huyện là trung tâm luân chuyển tài liệu sách báo rộngrãi trong nhân dân, là nơi sử dụng tài liệu sách báo mang tính tập thể xã hội, hợp
lý, tiết kiệm và kinh tế nhất trong điều kiện hiện nay
+ Thư viện quận, huyện góp phần giáo dục, phát triển và gìn giữ vănhoá đọc, văn hoá nghe nhìn bằng cách tuyên truyền hướng dẫn đọc, xây dựng thóiquen đọc sách báo trong các tầng lớp dân cư
+ Đặc biệt, thư viện quận, huyện Thủ đô Hà Nội không chỉ lưu giữ vốntài liệu phong phú phục vụ độc giả mà còn có những tài liệu quý hiếm được sưutầm trên địa bàn quận, huyện mà các thư viện khác không có
Như vậy, Thư viện quận, huyện Thủ đô Hà Nội là hệ thống thư viện
có vai trò quan trọng và để hoạt động của hệ thống được đẩy mạnh nhằmnâng cao chất lượng văn hóa đọc cho nhân dân trong địa phương thì việc tìmhiểu cụ thể tình hình hoạt động hiện nay của các thư viện này là việc cầnthiết và phù hợp thực tế để có những nhìn nhận đánh giá và đưa ra nhữngphương hướng tốt nhất cho sự phát triển của từng thư viện
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN QUẬN, HUYỆN THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Cuộc cách mạng thông tin đã thay đổi bộ mặt xã hội Thông tin đóngvai trò hết sức quan trọng đối với con người Nó tác động trong mọi lĩnh vựcsinh hoạt của đời sống hiện nay và cả trong thiên niên kỷ tới Không sai chút
nào khi người ta dùng từ “Xã hội thông tin” để gọi xã hội đương thời - một
xã hội mà lực lượng lao động trong lĩnh vực thông tin chiếm một tỷ lệ cao
Trong xã hội thông tin, các loại hình thư viện ngày càng đóng góp vaitrò quan trọng và tích cực trong việc khám phá và truyền bá tri thức về tựnhiên và xã hội Thư viện với những hoạt động của mình đã trở thành mộttrong những hình thức cơ bản của tri thức xã hội và ngày càng chiếm vị tríquan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Với Thủ đô Hà Nội – trái tim của cả nước, hệ thống thư viện quận,huyện chỉ đứng sau Thư viện Hà Nội đang dần tự hoàn thiện từ tổ chức đếnhoạt động nhằm nâng cao trình độ dân trí của nhân dân góp phần vào sựnghiệp CNH - HĐH đất nước
Nằm trong hệ thống Thư viện công cộng, các thư viện quận, huyệnThành phố Hà Nội thuộc sự chỉ đạo của Thư viện Hà Nội về các hoạt độngnghiệp vụ (định hướng bổ sung tài liệu, đào tạo nghiệp vụ…) Tuy nhiên, cácthư viện cũng nằm trong hệ thống cơ quan của từng quận, huyện nói riêng,hoạt động phục vụ cho nhân dân trong quận, huyện mà các thư viện phụtrách…nên các thư viện cũng chịu sự quản lý của Phòng văn hóa, Trung tâm(Nhà) văn hoá các quận, huyện (ngân sách, nội dung hoạt động…)
Hà Nội có 14 quận, huyện hiện tại 12 quận, huyện có thư viện là: Thưviện Quận Thanh Xuân, Thư viện Quận Cầu Giấy, Thư viện Quận HoànKiếm, Thư viện Quận Ba Đình, Thư viện Quận Hai Bà Trưng, Thư việnQuận Tây Hồ, Thư viện Quận Đống Đa, Thư viện huyện Gia Lâm, Thư việnhuyện Đông Anh, Thư viện huyện Thanh Trì, Thư viện huyện Từ Liêm, Thư
Trang 31viện huyện Sóc Sơn Lịch sử hình thành của các thư viện khác nhau tuynhiên hoạt động của các thư viện không vì thế mà yếu kém Hiện nay, hệthống thư viện quận, huyện có số lượng tài liệu khá lớn và đang phục vụhàng nghìn lượt bạn đọc, cấp hàng ngàn thẻ đọc mới và triển khai nhiều dịch
vụ thông tin cho nhân dân
Bảng 1: Số liệu hoạt động thư viện quận, huyện Thủ đô Hà Nội 2007 - 2008
Thư viện quận - huyệnNăm Tổng Số sách Số sách Số thẻ Lượt bạn Lượt tài liệu
số thư hiện có bổ sung cấp mới đọc luân chuyểnviện
2.1 Đặc điểm vốn tài liệu
Vốn tài liệu là một tập hợp có hệ thống các xuất bản phẩm và các vậtmang tin khác nhau, lựa chọn phù hợp với nhiệm vụ, tính chất loại hình thưviện Vốn tài liệu là một trong những yếu tố cấu thành thư viện, là tiêu chuẩntiền đề cho sự hình thành tồn tại và phát triển của thư viện Mọi hoạt độngcủa thư viện đều lấy vốn tài liệu làm trung tâm, từ bổ sung, đăng ký, xử lý,đến tổ chức sắp xếp, phục vụ người dùng tin Vốn tài liệu giúp thư viện thựchiện tốt các chức năng của mình: Chức năng thông tin, chức năng văn hóa,giáo dục, giải trí Đồng thời vốn tài liệu còn giúp Thư viện hoàn thiện cácnhiệm vụ đối nội và đối ngoại:
- Đối nội: trong phạm vi thư viện, các hoạt động đều dựa trên nền tảng vốn tài liệu (bổ sung, xử lý…)
Trang 32- Đối ngoại: Thông qua việc cung cấp vốn tài liệu cho người dùng tin,thư viện đang tham gia vào chương trình phát triển văn hóa, giáo dục, kinh tế - xãhội của địa phương và đất nước.
Cơ cấu vốn tài liệu theo nội dung
Toàn bộ hệ thống 12 thư viện quận, huyện Thủ đô Hà Nội có vốn tài liệu bao quát được các lĩnh vực chính: sách chính trị - xã hội, sách khoa học– kỹ thuật, sách văn học – nghệ thuật, sách thiếu nhi Nhìn chung nguồn lựcthông tin của các thư viện quận, huyện phong phú, chuyên sâu về nội dungđáp ứng khá tốt nhu cầu tin của người dùng tin các thư viện quận, huyện
Cơ cấu tài liệu theo loại hình
Theo thống kê hết năm 2008 các thư viện quận, huyện Thành phố Hà Nội đã có:
- Sách: 156.560 bản sách chiếm 99,6% tổng số vốn tài liệu
- Báo, tạp chí: Có khoảng 480 tên báo, tạp chí Đặc biệt các báo nhưNhân dân, An ninh Thủ đô, Lao động, tạp chí Đảng cộng sản…có ở tất cả các thưviện góp phần to lớn vào việc tuyên truyền đường lối của Đảng và Nhà nước chonhân dân, nâng cao tinh thần yêu quê hương, bảo vệ đất nước
Cơ cấu tài liệu theo ngôn ngữ
100% vốn tài liệu của thư viện quận, huyện Thủ đô Hà Nội là tiếngViệt Điều này được lý giải một phần là do bạn đọc có trình độ phổ thôngchiếm đa số và phần nữa là do kinh phí của các thư viện không đủ để muasách, báo nước ngoài
2.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị của thƣ viện
Trụ sở, trang thiết bị là một trong những yếu tố đảm bảo cho thư việnhoạt động một cách bình thường Trụ sở càng khang trang, rộng rãi, trangthiết bị càng đầy đủ, hiện đại thì càng tăng thêm sức hút người dùng tin tới
sử dụng thư viện Ngược lại, ở những nơi, trụ sở chật hẹp, trang thiết bịkhông đầy đủ, cũ kỹ thì việc thu hút đông đảo người dùng tin đến thư viện là
Trang 33điều rất khó, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi các thư viện đang phải đốimặt với sự cạnh tranh của các phương tiện thông tin đại chúng cũng như cáckhu vui chơi, giải trí khác.
Để thuận lợi cho việc phục vụ người dùng tin, thư viện các quận,huyện đều được xây dựng ở trung tâm, nơi tập trung đông dân cư Các thưviện đều đặt trong trung tâm văn hoá của các quận, huyện giúp cho các thưviện dễ dàng tuyên truyền, giới thiệu các hoạt động của mình Đồng thời giúpcho người dùng tin có thể tham gia phong phú các loại hình văn hoá, thúcđẩy tinh thần tham gia, học hỏi, tìm hiểu của người dùng tin
Với những sự đầu tư thích đáng và ngày càng được quan tâm, các Thưviện quận, huyện không ngừng trang bị hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bịhoàn thiện, đầy đủ nhằm mục đích phục vụ người dùng tin hiệu quả nhất
Toàn bộ 12 thư viện đều có nhà kiên cố Mỗi thư viện có từ 4 đến 6 giásách, các thư viện lớn như Ba Đình, Hoàn Kiếm có nhiều hơn: thư viện quận
Ba Đình 11 giá sách, thư viện quận Hoàn Kiếm trên 20 giá sách, thư việnhuyện Đông Anh 10 giá sách… Các giá sách đúng tiêu chuẩn, kích cỡ, không
bị hoen gỉ giúp cho việc bảo quản tốt tài liệu thư viện Ngoài ra các thư việnđều có tủ trưng bày, giới thiệu sách mới, sách theo chuyên đề rất thuận tiệncho độc giả tìm đọc Mỗi thư viện cho phép một lúc từ 15 – 30 người ngồiđọc Hệ thống quạt máy, đèn điện, bàn ghế rộng, mới … được đáp ứng đầy
đủ tạo điều kiện thuận lợi cho người dùng tin khi đến sử dụng thư viện
Trang 34Hàng năm, các thư viện còn không ngừng đầu tư để bổ sung các trangthiết bị cho thư viện: Tủ chứa báo, tạp chí, tủ để đồ của bạn đọc… tạo điềukiện yên tâm nhất cho cả cán bộ thư viện và người dùng tin đến thư viện.
Việc phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã tác động mạnh
mẽ đến hoạt động thư viện nói chung và hệ thống thư viện quận, huyệnThành phố Hà Nội nói riêng Các thư viện đang dần dần từng bước tự độnghóa hoạt động thư viện Toàn hệ thống có 9 máy tính phục vụ cho hoạt độngthư viện Ví dụ: Thư viện quận Tây Hồ có 1 máy tính, máy in Sử dụng miễnphí phần mềm CDS/ISIS for Dos trong việc quản lý tài liệu Đặc biệt, Thưviện quận Hoàn Kiếm vừa xây dựng, hoàn thiện lại cơ sở vật chất tại 42 NhàChung với kinh phí lên tới 500 triệu đồng Thư viện trang bị 3 máy tính, sửdụng phần mềm Inforlib phần mềm thư viện điện tử trong việc quản lý tàiliệu
2.3 Đặc điểm cơ cấu tổ chức - Đội ngũ cán bộ
2.3.1 Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của thư viện được tổ chức tốt sẽ đảm bảo cho thư việnthực hiện có chất lượng các hoạt động của mình Chính vì vậy, việc củng cố
cơ cấu tổ chức cho các thư viện là vấn đề rất cần thiết Để giúp các thư viện
có được cơ cấu tổ chức phù hợp với điều kiện của từng loại hình thư viện,
Trang 35ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX, các cơ quan quản lý nhà nước đã quantâm đến vấn đề biên soạn những văn bản quy định cách thức tổ chức và hoạtđộng của các thư viện Năm 1972, Bộ Văn hóa đã ban hành: “Quy chế tổchức và hoạt động của các thư viện huyện” Đây là văn bản đầu tiên giúp cácthư viện cấp huyện ở nước ta tiến hành tổ chức các hoạt động của thư viện.Trong quy chế này chưa quy định rõ cơ cấu tổ chức của thư viện huyện Chođến năm 1979 một quy chế mới về tổ chức và hoạt động của thư viện huyệnđược ban hành Trong quy chế này đã quy định rõ cơ cấu tổ chức của thưviện huyện như sau: Thư viện huyện gồm 2 bộ phận phục vụ: Bộ phận đọctại chỗ và cho mượn về nhà Đến ngày 5/5/2006 Bộ trưởng Bộ Văn hóa -Thông tin lại ban hành Quy chế mẫu về: “Tổ chức và hoạt động của thư việnhuyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh” kèm theo Quyết định số49/2006/QĐ-BVTT Trong qui chế quy định rõ thư viện cấp huyện có 2 bộphận chuyên môn, nghiệp vụ: Bộ phận nghiệp vụ và Bộ phận phục vụ.
a) Bộ phận nghiệp vụ có nhiệm vụ:
- Xây dựng, bổ sung và xử lý kỹ thuật vốn tài liệu thư viện; lập danhmục tài liệu theo yêu cầu người đọc; biên soạn các bản thông tin thư mục; tổ chứccác cuộc thi tìm hiểu qua sách báo trên quy mô toàn huyện và các hoạt động thôngtin, tuyên truyền giới thiệu sách, báo khác;
- Tham gia xây dựng và phát triển mạng lưới thư viện cơ sở; hướng dẫn nghiệp vụ cho các thư viện trên địa bàn
b) Bộ phận phục vụ có nhiệm vụ:
- Tổ chức phục vụ tại thư viện, đáp ứng yêu cầu về sử dụng vốn tàiliệu thư viện thông qua các hình thức đọc tại chỗ và mượn về nhà; tổ chức các hoạtđộng thông tin, tuyên truyền giới thiệu sách, báo nhằm thu hút người đọc tới sửdụng vốn tài liệu thư viện;
- Tổ chức phục vụ ngoài thư viện, thực hiện luân chuyển sách báoxuống các thư viện, phòng đọc sách cơ sở, các điểm Bưu điện Văn hóa xã, Tủ sáchpháp luật và các mô hình thư viện mang tính chất công cộng khác;
Trang 36tiếp nhận sách luân chuyển từ thư viện tỉnh; thực hiện mượn, trao đổi tài liệuvới các thư viện khác trên địa.
Hiện tại, theo số liệu điều tra, khảo sát, 12 thư viện quận, huyện trênđịa bàn Thành phố Hà Nội chỉ có một bộ phận: Phòng phục vụ Do đội ngũcán bộ thư viện còn thiếu, các thư viện nằm chung với nhà văn hóa nênkhông có đủ cả nhân lực và vật lực để tổ chức được đầy đủ các phòng Các
bộ phận lồng ghép khiến cho hoạt động thư viện chưa đạt hiệu quả cao
2.3.2 Đội ngũ cán bộ
Tuyên ngôn về Thư viện Công cộng năm 1994 của UNESCO đã nhấnmạnh: “Các cán bộ thư viện là người môi giới tích cực giữa người dùng vànguồn lực Việc đào tạo nghề nghiệp và nâng cao trình độ chuyên môn củacán bộ thư viện là đòi hỏi tất yếu để nâng cao trình độ phục vụ” Tuy nhiên,tại thời điểm này, với sự ra đời của kỷ nguyên số, sự hiện hữu của thư viện
điện tử, các chuyên gia thông tin – thư viện thế giới đã dự báo: Xu thế giảm
sự truy cập có hướng dẫn đến nội dung là một trong những yếu tố tác động
đến vai trò của các cơ quan thông tin – thư viện cũng như người cán bộ thưviện Sự tác động đó làm cho vai trò của vật mang tin sẽ gần như không còn,nghĩa là làm giảm đi vai trò của người cán bộ thông tin – thư viện Tuynhiên, trong bối cảnh ngành Thư viện Việt Nam hiện nay – đang ở giai đoạnphát triển kết hợp giữa mô hình thư viện truyền thống với thư viện điện tử(trong đó mô hình thư viện truyền thống vẫn giữ vai trò chủ đạo, đặc biệt làtrong hệ thống thư viện công cộng), thì vật mang tin truyền thống vẫn còngiữ nguyên giá trị, và như vậy, người cán bộ thư viện với vai trò là ngườihướng dẫn người dùng truy cập tới các nguồn thông tin qua các dịch vụ của
thư viện, vẫn hết sức cần thiết và không thể thiếu trong các thư viện [8, tr.
21]
Hệ thống thư viện quận, huyện Thủ đô Hà Nội đang dần kiện toàn độingũ cán bộ có trình độ chuyên môn, trách nhiệm, nhiệt tình với công việc
Trang 37đáp ứng sự nghiệp CNH – HĐH của địa phương nói riêng và đất nước nóichung.
Hầu hết các thư viện quận, huyện trên địa bàn Hà Nội có 2 cán bộ, chủyếu là cán bộ nữ, trẻ, nhiệt tình, năng động Theo thống kê có 21 cán bộ/12thư viện 18 cán bộ có trình độ đại học chiếm gần 81% Còn lại 19% là trình
độ trung cấp hoặc tương đương, cán bộ kiêm nhiệm là 6/21 cán bộ chiếm gần29% trên tổng số cán bộ thư viện quận, huyện
2.4 Hoạt động bổ sung vốn tài liệu
Công tác bổ sung vốn tài liệu là quá trình sưu tầm, nghiên cứu và lựachọn những tài liệu có nội dung tư tưởng tốt, có giá trị khoa học thực tiễn,nghệ thuật cao, nhằm đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin Vốn tài liệu làmột trong 4 yếu tố cấu thành nên cơ quan thông tin – thư viện Việc bổ sungkhông đơn giản là mua thêm sách mới, mà phải phù hợp với diện đề tài baoquát và đối tượng phục vụ của thư viện, đồng thời phải tuân theo các nguyêntắc cơ bản, đó là: Các tài liệu bổ sung phải mang tính Đảng, tính định hướng,tính hệ thống, tính khoa học và kế hoạch Công tác bổ sung vốn tài liệu thựchiện tốt thì vốn tài liệu thư viện sẽ có giá trị cao, luôn luôn đổi mới và đượccập nhật thường xuyên đồng thời thư viện sẽ nâng cao được khả năng đápứng nhu cầu tin của người dùng tin, thu hút được đông đảo số lượng ngườidùng tin đến thư viện
Để xây dựng vốn tài liệu phát huy được hiệu quả phục vụ các yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội của địa phương, các thư viện quận, huyện Thủ đô
Hà Nội đều cần dựa vào chính sách bổ sung vốn tài liệu – một văn bản chínhthức do ban lãnh đạo thư viện xây dựng, trong đó đề ra phương hướng cũngnhư cách thức xây dựng vốn tài liệu của cơ quan
Hiện tại trong các thư viện công cộng nói chung và hệ thống thư việnquận, huyện Thủ đô Hà Nội nói riêng chưa có một thư viện nào xây dựngđược chính sách bổ sung cho thư viện mình Để tiến hành bổ sung các thưviện đã dựa vào các tiêu chí chủ yếu như: Chức năng, nhiệm vụ, đối tượng
Trang 38người dùng tin, kinh phí mà thư viện được cấp…để tiến hành bổ sung vốn tàiliệu Chẳng hạn, căn cứ vào kinh phí được cấp hàng năm của thư viện mà thưviện dành một tỷ lệ nhất định cho hoạt động bổ sung có tính đến cơ cấu vốntài liệu (theo nội dung, loại hình, ngôn ngữ) cũng như các nguồn bổ sung.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của công tác bổ sung, các thư việnquận, huyện Thành phố Hà Nội đã rất quan tâm đến việc bổ sung những tàiliệu có nội dung phù hợp với nhu cầu học tập, nghiên cứu, giải trí của ngườidùng tin
Bảng 2: Số liệu vốn tài liệu bổ sung năm 2007 - 2008
Trang 39Ví dụ: Thư viện quận Tây Hồ bổ sung vốn tài liệu theo môn loại như
30 40
20
Sách chính trị - xã hội Sách khoa học - kỹ thuật sách văn học - nghệ thuật Sách thiếu nhi
Thư viện quận Hoàn Kiếm đã bổ sung vốn tài liệu theo môn loại như
Riêng đối với sách lý luận – chính trị thì các thư viện đã chấp hànhnghiêm chỉnh quy định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa số 50/2003-QĐ-BVHTT
về việc quy định đảm bảo tối thiểu 10% kinh phí mua sách báo hàng năm để
mua sách lý luận – chính trị góp phần tuyên truyền đường lối chính trị củaĐảng, pháp luật của Nhà nước
2.4.2 Kinh phí bổ sung
Phần lớn nguồn kinh phí được cấp của các thư viện đều được sử dụng