1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng cơ cấu đầu tư ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến 2009

43 632 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng cơ cấu đầu tư ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến 2009
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 82,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạn 1986-1990nguồn vốn khu vực nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng cao do những năm đầu của thời kỳ mở cửa hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các tổ chức tài chính chưa phát t

Trang 1

Thực trạng cơ cấu đầu tư ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến

2009

I Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn

Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn có thể chia ra làm ba khu vực chính là khu vựcnhà nước, khu vực tư nhân và khu vực đầu tư nước ngoài Trong giai đoạn 1986-1990nguồn vốn khu vực nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng cao do những năm đầu của thời kỳ

mở cửa hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các tổ chức tài chính chưa phát triển

và gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động, đặc biệt là trong việc huy động vốn

Nhưng bước sang giai đoạn 2000 – 2009 thì cơ cấu này đã có sự thay đổi đángkể

Bảng 1: Vốn đầu tư toàn xã hội qua các năm

Đơn vị: tỷ đồng

Nhà nước

Khu vực tưNhân

Vốn đầu tưtrực tiếp nướcngoài

Trang 2

đóng góp đa dạng, hiệu quả của nguồn vốn rõ nét hơn, và có sự phát huy ở chừng mựcnhất định trong phân bổ vốn.

1 Nguồn vốn đầu tư trong nước

1.1 Nguồn vốn ngân sách nhà nước

Bảng 2 : Vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước phân theo nguồn vốn.

Đơn vị: tỷ đồng

Giá thực

Chia raVốn ngân

sách Nhànước

Vốn vay

Vốn của các doanhnghiệp Nhà nước

tư của khu vực nhà nước có xu hướng tăng lên từ 43.623% năm 2000 tăng lên 62,77%năm 2009 Tính riêng năm 2009 vốn từ Ngân sách Nhà nước đạt 153800 tỷ đồng,chiếm 21,8% tổng vốn đầu tư cả nước và bằng 106,8% kế hoạch

Về cơ cấu chi đầu tư của NSNN trong thời kỳ này cũng đã chuyển biến theohướng tập trung hơn cho các lĩnh vực ưu tiên của giai đoạn này, đó là: giao thông,thủy lợi giáo dục - đào tạo và các công trình phúc lợi dành cho người nghèo Nhữngchính sách này đã được tiến hành trong một thời gian khá dài, và nó đã thể hiện sự cốgắng của nhà nước trong việc phân bổ những nguồn lực hạn hẹp để tạo đà cho tăngtrưởng kinh tế

Trang 3

1.2 Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước

Là nguồn vốn có vai trò quan trọng trong phục vụ cho công tác quản lý nhànước và điều tiết nền kinh tế vĩ mô Thông qua nguồn này, nhà nước khuyến khíchphát triển các ngành, vùng, lĩnh vực theo định hướng chiến lược của mình Nguồn vốncòn được phân bổ để thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội

Bảng 3: Vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước.

Nguồn: Tổng cục thống kê, Vneconomy.vn

Theo Ngân Hàng Phát triển Việt Nam (VDB) thì việc giải ngân vốn tín dụngđầu tư phát triển gặp khá nhiều khó khăn

Theo thống kê, tổng số vốn TD ĐTPT giải ngân năm 2006 chỉ đạt 10.200 tỷ đồng,bằng 92% kế hoạch do các chủ đầu tư “tự nguyện” đăng ký và chỉ bằng 55% kế hoạch giảingân đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Mới đây, VDB đã gửi văn bản tới Thủ tướngChính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài Chính đề xuất các biện pháp tháo gỡ

Trong 6 tháng đầu năm 2007, toàn hệ thống VDB huy động được 29.794 tỷ đồng, thu

nợ gốc được 2.796 tỷ đồng, nhưng giải ngân vốn tín dụng đầu tư phát triển (TD ĐTPT) mớiđạt 4.573 tỷ đồng, bằng 20,6% kế hoạch (22.200 tỷ đồng)

Cũng trong thời gian này, VDB đã triển khai hàng loạt giải pháp để tháo gỡ khó khăncho các dự án mà chủ đầu tư đang có nợ quá hạn hoặc lãi đến hạn chưa trả, các dự án chưahuy động đủ nguồn vốn tham gia thì VDB vẫn giải ngân vốn vay trước cho các hạng mục,khối lượng công việc đã được chấp thuận sử dụng vốn vay tín dụng nhà nước theo hợp đồngtín dụng đã ký…

Trang 4

1.3 Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước.

- Trong giai đoạn 1991-1995, tốc độ tăng trưởng bình quân của DNNN là11,7% gấp 1,5 lần tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế Từ năm 1998-2001,tốc độ tăng trưởng của DNNN chậm lại nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong GDP củatoàn bộ nền kinh tế, nộp ngân sách chiếm 40% tổng thu của ngân sách nhà nước, tạoviệc làm cho trên 1,9 triệu người Một số sản phẩm của DNNN có đóng góp chủ yếuvào cân đối hàng hóa của nến kinh tế như bưu chính, dầu khí,…

Trang 5

Bảng 4 Tỷ trọng vốn doanh nghiệp nhà nước trong tổng vốn đầu tư

Nguồn: Tổng cục thống kê, vneconomy.vn

- Trong giai đoạn 2000- 2009, các DNNN vẫn làm tốt vai trò là loại hình DN điđầu, chiếm tỉ trọng đáng kể trong nền kinh tế Song càng ngày, tỷ trọng doanh thu củacác DNNN càng giảm Nguyên nhân là do quá trình cổ phần hóa các DNNN đangdiễn ra nhanh chóng Tính đến hết 8/2006, cả nước đã sắp xếp được 4.447 doanhnghiệp, trong đó, CPH 3.060 doanh nghiệp Riêng từ năm 2001 đến nay đã sắp xếpđược 3.830 doanh nghiệp Nhà nước, bằng gần 68% số doanh nghiệp Nhà nước đầunăm 2001

Sau quá trình thực hiện sắp xếp, số lượng doanh nghiệp Nhà nước giảm nhưngvẫn tiếp tục giữ vai trò chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt Khu vực doanhnghiệp Nhà nước vẫn đóng góp gần 40% GDP và 50% tổng thu ngân sách Nhà nước

1.4 Nguồn vốn đầu tư của tư nhân và dân cư:

Theo ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tiết kiệm trong dân cư và các doanhnghiệp doanh dân chiếm bình quân khoảng 15% GDP, trong đó phần tiết kiệm củadân cư tham gia đầu tư gián tiếp vào khoảng 3,7% GDP, chiếm khoảng 25% tổng tiếtkiệm của dân cư; phần tiết kiệm của dân cư tham gia đầu tư trực tiếp vào khoảng 5%GDP và bằng 33% số tiết kiệm được Trong giai đoạn 2001-2005, vốn đầu tư của dân

cư và tư nhân chiếm khoảng 26% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Trong giai đoạn tiếpnguồn này sẽ tiếp tục gia tăng cả về quy mô và tỷ trọng

Với khoảng vài trăm ngàn doanh nghiệp dân doanh ( gồm có doanh nghiệp tưnhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã) đã, đang và sẽ đi vào

Trang 6

hoạt động thì phần tích luỹ của các doanh nghiệp này sẽ đóng góp đáng kể vào ngânsách nhà nước cũng như tổng quy mô vốn của toàn xã hội Bởi vậy việc nhà nước thựchiện các chính sách để khuyến khích thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển làmột yêu cầu thiết yếu Và trên thực tế trong 20 năm thực hiện chính sách đổi mới, Nhànước liên tục hoàn thiện các chính sách nhằm tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tưnhân, kinh tế hộ gia đình mạnh dạn bỏ vốn đầu tư và phát triển.

2 Nguồn vốn nước ngoài

Như chúng ta đã biết, hiện nay Việt Nam đang là 1 thị trường đầy tiềm năng và

có sức thu hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài Trong những năm qua, nguồn vốnđầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã thu được những con số rất ấn tượng, có tác độngnhất định đến nền kinh tế nước ta

2.1 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng khẳng định vai trò quan trọngtrong nền kinh tế Việt Nam Trước hết, FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng vào tổng đầu tư

xã hội và góp phần cải thiện cán cân thanh toán trong giai đoạn vừa qua Các nghiên cứu gầnđây của Bộ Kế hoạch và đầu tư rút ra nhận định chung rằng khu vực có vốn đầu tư nướcngoài đã đóng góp quan trọng vào GDP với tỷ trọng ngày càng tăng Khu vực này góp phầntăng cường năng lực sản xuất và đổi mới công nghệ của nhiều ngành kinh tế, khai thông thịtrường sản phẩm (đặc biệt là trong gia tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá), đóng góp chongân sách Nhà nước và tạo việc làm cho một bộ phận lao động Bên cạnh đó, FDI có vai tròtrong chuyển giao công nghệ và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo sức ép buộccác doanh nghiệp trong nước phải tự đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất Các dự

án FDI cũng có tác động tích cực tới việc nâng cao năng lực quản lý và trình độ của người laođộng làm việc trong các dự án FDI

Bảng 4: số liệu cho biết tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong những năm qua:

Đơn vị: triệu USD

Năm Số dự án

vốnthựchiệnTổng số

Vốn điều lệ

ngoài góp

Việt Namgóp

Trang 7

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và đầu tư

Từ năm 1991 đến 1996 là thời kỳ FDI tăng trưởng nhanh, đạt kết quả cao nhấttrong 20 năm và góp phần ngày càng quan trọng vào việc thực hiện kinh tế – xã hội.Trong kế hoạch 5 năm 1991- 1995 thu hút được 17663 triệu USD vốn FDI đăng ký,tốc độ tăng trưởng hàng năm rất cao Đây là thời kỳ hoạt động FDI rất sôi động, hàngnghìn đoàn khách quốc tế đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư, hàng trăm dự án mớichờ thẩm định, hàng chục nhà máy được khởi công cùng một lúc, bản đồ FDI thay đổitừng ngày ở Việt Nam

Giai đoạn 1997 – 2000 là thời kỳ suy thoái của dòng vốn FDI vào Việt Nam Vốnđăng ký bắt đầu giảm từ năm 1997 và giảm mạnh trong 2 năm tiếp theo Nếu như các doanhnghiệp FDI đã tạo việc làm trực tiếp cho khoảng 20 vạn người trong 5 năm 1991 – 1995, thìtrong 5 năm 1996 – 2000 chỉ có thêm 149 nghìn người có việc làm trong khu vực FDI

Từ năm 2001 đến 2004 là thời kỳ hồi phục chậm của hoạt động FDI Tính đến cuốinăm 2004, tổng vốn đăng ký FDI ở Việt Nam là 4547.6 triệu USD và vốn thực hiện 2852.5triệu USD Con số này cho thấy, sau nhiều năm luồng vốn FDI vào Việt Nam bị chững lại,năm 2004 đã có dấu hiệu hồi phục rõ rệt

Từ khi ban hành luật đầu tư nước ngoài đến hết năm 2005, đã có 7279 dự án FDIđược cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký đạt 66,3 tỷ USD Hết năm 2005 còn 6030 dự áncòn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký hơn 65 tỷ USD (kể cả tăng vốn) Tính riêng năm 2006,

số dự án cấp mới là 833 dự án , chỉ bằng 86,1% so với năm 2005, với số lượng vốn đăng kýcấp mới là 7839 triệu USD bằng 166.6% so với năm 2005 Số lượt dự án tăng vốn năm 2006

là 486 dự án với số vốn tăng thêm là 2362.3 triệu USD Như vậy, so với năm 2005, số dự áncấp mới tuy có giảm đi nhưng số lượng vốn đăng ký cấp mới lại tăng lên, chứng tỏ xu hướngdòng vốn FDI vào nước ta tiếp tục phục hồi và tăng trưởng, đạt mức kỷ lục kể từ sau khủnghoảng tài chính khu vực năm 1997

Trang 8

Đến năm 2008 tổng vốn FDI đã đạt hơn 64 tỷ USD, gấp gần ba lần năm 2007.Đây là mức thu hút vốn FDI kỷ lục từ trước đến nay của Việt Nam Điều này càng có

ý nghĩa trong trong bối cảnh kinh tế toàn cầu khủng hoảng Tính chung từ đầu năm,

đã có tổng số 1.171 dự án FDI được cấp phép đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốnđăng ký đạt hơn 60,2 tỷ USD, tăng 222% so với năm 2007 Bên cạnh đó, trong năm

2008, có 311 dự án đăng ký tăng vốn, tổng số vốn tăng thêm đạt 3,74 tỷ USD Trongcác lĩnh vực đầu tư, vốn FDI tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng,gồm 572 dự án với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD, chiếm 48,85% về số dự án và54,12% về vốn đầu tư đăng ký Lĩnh vực dịch vụ có 554 dự án, tổng vốn đăng ký27,4 tỷ USD, chiếm 47,3% về số dự án và 45,4% về vốn đầu tư đăng ký Số còn lạithuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp

Do ảnh hưởng của thời kỳ suy thoái nên vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vàoViệt Nam năm 2009 giảm đáng kể, chỉ có 893 dự án đăng ký với tổng số vốn 16345,9,giảm gần 4 lần so với năm 2008

2.2 Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức – ODA

Trong thời gian qua, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã được mở rộng rất nhiều

và hiện có 51 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đaphương đang hoạt động thường xuyên tại Việt Nam Ngoài các nước là thành viên của

Tổ chức OECD-DAC còn có các nhà tài trợ mới nổi như Trung Quốc, Ấn độ, ga-ri, Séc,

Hung-Bảng 5: Cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA giai đoạn 2000 – 2009

Trang 9

Qua bảng số liệu ta thấy số vốn ODA cam kết và ký kết của nước ngoài dành cho Việt Nam tăng đáng kể và lượng giải ngân ngày càng hiệu quả hơn Trongthời kỳ 2006 – 2010, Việt Nam dự kiến giải ngân khoảng 11,9 tỷ USD vốn ODA để

hỗ trợ phát triển nông nghiệp và nông thôn; xây dựng cơ sở hạ tầng theo hướng đồng

bộ và hiện đại; phát triển cơ sở hạ tầng xã hội; bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyênthiên nhiên; phát triển thể chế và tăng cường năng lực con người

Trong kế hoạch 5 năm 2006-2010, Việt Nam có kế hoạch huy động khoảng 11 tỷUSD Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vào đầu tư phát triển Như vậy, trungbình mỗi năm phải đạt 2,2 tỷ USD Vậy ODA dự tính sẽ đóng góp khoảng 9% vàotổng vốn đầu tư toàn xã hội Theo kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội giai đoạn 2006-

2010, tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội tương đương 140 tỉ USD Trong đó, dự kiếnvốn vay nước ngoài chiếm khoảng 35%, riêng vốn vay từ nguồn ODA dự kiến đạt trên

19 tỉ USD vốn cam kết Giải ngân từ nguồn vốn này dự kiến tăng từ 1,7 tỉ USD vàonăm 2005 lên 2,3 tỉ USD vào năm 2010 Và như vậy, nguồn vốn giải ngân dự kiến sẽđạt 11 tỉ USD

Ngoài nguồn vốn tài trợ ODA, ở Việt nam còn có khoảng 600 các tổ chức phiChính phủ quốc tế hoạt động với số tiền viện trợ hàng năm lên đến 200 triệu USDtrong nhiều lĩnh vực khác nhau, liên quan trực tiếp đến đời sống người dân tại cácvùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc

Thông qua 15 Hội nghị CG thường niên, tổng vốn ODA đã được các nhà tài trợcam kết đạt 42,438 tỷ USD với mức cam kết năm sau cao hơn năm trước, kể cả nhữngnăm kinh tế thế giới gặp khó khăn như khủng hoảng tài chính khu vực châu Á vàonăm 1997

Số vốn ODA cam kết nói trên được giải ngân dựa trên tình hình thực hiện cácchương trình và dự án được ký kết giữa Chính phủ và các nhà tài trợ

Mặc dù chiếm tỷ trọng không lớn, khoảng 3-4% trong GDP của Việt Nam,song ODA là nguồn vốn bổ sung cho nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh

tế - xã hội của Chính phủ và là chất xúc tác cho các nguồn vốn đầu tư khác như vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn đầu tư của khu vực tư nhân,

Việc sử dụng ODA trong thời gian qua đã có hiệu quả, có tác động tích cực đếnphát triển năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng dịch vụ của các ngành và địa

Trang 10

phương Các công trình giao thông như Quốc lộ 5, Quốc lộ 10, Quốc lộ 18, Đườngxuyên Á Tp Hồ Chí Minh - Mộc Bài, cầu Bính, Cầu Bãi Cháy, Cầu Mỹ Thuận, Cảnghàng không Tân Sơn Nhất, được tài trợ từ nguồn vốn ODA đã minh chứng rõ rệt vềtác động lan tỏa của nguồn vốn ODA đối với phát triển

Ngoài ra, nguồn vốn ODA còn hỗ trợ các địa phương, đặc biệt các tỉnh cònnghèo, những các công trình phục vụ trực tiếp đời sống của nhân dân như giao thôngnông thôn, cấp điện và nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế xã và các bệnh viện tỉnh

và huyện, các công trình thủy lợi, các chợ nông thôn,

ODA có vai trò quan trọng hỗ trợ Việt Nam xây dựng và hoàn thiện khung thểchế, pháp lý (xây dựng và hoàn thiện các Luật, các văn bản dưới Luật) thông qua việccung cấp chuyên gia quốc tế, những kinh nghiệm và tập quán tốt của quốc tế và khuvực trong lĩnh vực pháp luật đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam chuyển đổi sang nềnkinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

Nguồn vốn ODA có vai trò tích cực hỗ trợ phát triển năng lực con người trongviệc đào tạo và đào tạo lại hàng vạn cán bộ Việt Nam trong thời gian qua trên rấtnhiều lĩnh vực như nghiên cứu cơ bản và ứng dụng khoa học, công nghệ, quản lý kinh

tế và xã hội, thông qua việc cung cấp học bổng nhà nước, cử chuyên gia nước ngoài

để đào tạo tại chỗ trong quá trình thực hiện các chương trình, dự án ODA, chuyểngiao công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, cung cấp trang thiết bị nghiên cứu vàtriển khai

2.3 Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế.

Trong các nguồn vốn được đầu tư thì nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàngthương mại cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể

Các số liệu của Ngân hàng thế giới WB đã cho thấy luồng vốn đầu tư từ cácNgân hàng thương mại nước ngoài vào Việt Nam bắt đầu tăng, WB đã ước tính luồngvốn đầu tư thật sự vào Việt Nam có thể đạt được mức tăng 10%/năm Các kết quả khảquan này, theo các nhà đầu tư nước ngoài, là do môi trường đầu tư ở Việt Nam đãđược cải thiện đáng kể Việc gia nhập vào tổ chức Thương mại thế giới WTO vàotháng 11/2006 đã giúp cho Việt nam rất nhiều trong việc thu hút vốn từ các ngân hàngthương mại quốc tế Với tư cách là thành viên của WTO, Việt Nam sẽ trở nên hấp dẫn

Trang 11

hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài do đã tạo ra được sự tin tưởng vào cơ chế,chính sách ổn định ở nước ta.

Trong năm 2008, Ngân hàng Thế giới WB đã dành cho Việt Nam nhiều khoảnvay ưu đãi với số tiền cho vay rất lớn, cùng với thời gian vay kéo dài Có nhiều dự áncho vay với kỳ hạn 40 năm Đó là cơ sở, nền tảng vững chắc tạo điều kiện thuận lợicho nước ta đi lên Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Thếgiới đã ký kết Hiệp định Tín dụng và các văn kiện khác cho khoản tín dụng xóa đóigiảm nghèo lần thứ 7 (PRSC-7) với trị giá 150 triệu USD (kí kết vào ngày 29/7/2008,tại Việt Nam) Khoản tín dụng này cũng dự kiến sẽ nhận được nguồn tài chính từ 12nhà tài trợ khác trong đó phần lớn là viện trợ không hoàn lại, nâng tổng số tiền hỗ trợcho Ngân sách chính phủ lên tới gần 370 triệu USD Ngân hàng Thế giới cũng dự kiến

sẽ cam kết khoảng 5 tỉ USD từ nguồn IDA (Industrial Development Agency) và IBRD(International Bank for Reconstruction and Development) để hỗ trợ Việt Nam trong

ba năm tới

Từ năm 2003 cho đến nay, Ngân hàng Phát triển châu Á ADB đã cho chúng tavay nhiều khoản tín dụng ưu đãi Ngày 1/12/2003, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vàNgân hàng Phát triển châu Á đã ký kết Hiệp định khoản vay trị giá 55 triệu USD cho

dự án "Phát triển giáo dục trung học phổ thông" Thời hạn vay là 32 năm, trong đó có

8 năm ân hạn, lãi suất trong thời gian ân hạn là 1%/năm, lãi suất trong những năm tiếptheo là 1,5%/năm; phần vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam là 25 triệu USD Dự án

sẽ được tiến hành từ năm 2003 - 2009 Không chỉ quan tâm đến vấn đề phát triển kinh

tế, ADB còn rất quan tâm đến chất lượng cuộc sống của người dân, đặc biệt là giới trẻViệt Nam Ngày 8/9/06, Dự án phòng chống HIV/AIDS cho Thanh niên do Ngânhàng Phát triển Châu Á tài trợ đã chính thức được khởi động Theo đó, chiến lượcphòng chống HIV/AIDS đến 2010 và tầm nhìn 2020 là khống chế sự lây lan trongcộng đồng dân cư xuống 0,3% Dự án có tổng kinh phí 26,7 triệu USD; trong đó,Ngân hàng Phát triển Châu Á tài trợ 20 triệu USD và Chính phủ Việt Nam đóng góp6,7 triệu USD

Việt Nam không chỉ nhận được sự ưu ái đầu tư từ WB, ADB mà còn nhậnđược sự ưu ái của nhiều Ngân hàng thương mại quốc tế khác trên thế giới

Trang 12

2.4 Nguồn vốn huy động qua thị trường vốn quốc tế.

Để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nền kinh tế, Nhà nước tarất coi trọng việc huy động nguồn vốn trên thị trường vốn quốc tế Ngày 25/10/2005,Việt Nam phát hành lượng trái phiếu đầu tiên trị giá 750 triệu USD ra thị trường vốnquốc tế và được đánh giá là khá thành công ( trái phiếu của Vinashin ) Sau đợt pháthành, đã có nhiều doanh nghiệp "nhăm nhe" đưa trái phiếu của mình ra thị trườngquốc tế và Bộ Tài Chính luôn khẳng định sẽ hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện kế hoạchphát hành Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã trình Chính phủ và được đồng ý về nguyêntắc kế hoạch phát hành 800 triệu USD trái phiếu doanh nghiệp (TP doanh nghiệp) rathị trường quốc tế Đầu tháng 6/2007, BTC đã kiến nghị Chính phủ thông qua Nghịquyết phát hành 1 tỷ USD trái phiếu ra thị trường vốn quốc tế với thời hạn từ 15 đến

20 năm (hiện tại được mở rộng thời hạn huy động từ 10 đến 30 năm) cho Tập đoànDầu khí, Tổng công ty Hàng hải, Tổng công ty Sông Đà và Lilama vay lại để đầu tưcác dự án

Hiện có ba hình thức phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế: thứ nhất, Chínhphủ phát hành trái phiếu rồi lựa chọn doanh nghiệp đầu tư (như đã làm với Vinashin);hình thức thứ hai là doanh nghiệp phát hành, Chính phủ bảo lãnh và thứ ba là doanhnghiệp tự phát hành

Theo ý kiến của các chuyên gia, hình thức thứ nhất và thứ hai là phù hợp vớicác doanh nghiệp VN vì doanh nghiệp có thể dựa vào năng lực và hệ số tín nhiệm củaChính phủ đã được các nhà đầu tư quốc tế công nhận mà không phải thực hiện lại cácbước đi phức tạp từ đầu như tiếp xúc với các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm và thựchiện quảng bá, xúc tiến với các nhà đầu tư

kỹ thuật… vừa chậm trễ, vừa chưa đảm bảo yêu cầu chất lượng; công tác khảo sát ban

Trang 13

đầu thiếu chính xác, không xác định đầy đủ các yếu tố liên quan Thủ tục phê duyệttổng dự toán, kế hoạch đấu thầu, kết quả trúng thầu…của một số Bộ, ngành và địaphương còn rất rườm rà và phức tạp Các quy định hướng dẫn tính toán điều chỉnh chiphí, định mức đầu tư thường chậm được xử lý của các cấp thẩm quyền và không đồng

bộ với các biến động thị trường, nhiều lúc dẫn đến tình trạng chi vượt dự toán, giảmnguồn thu

- Lãng phí kép trong sử dụng vốn Ở Việt Nam tồn tại một nghịch lí là nước nghèonhưng không biết tiêu tiền hợp lí, gây lãng phí Chúng ta chưa quan tâm đầy đủ việc

sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư kể cả ngân sách, nguồn đầu tư trong nướccũng như nước ngoài và ODA Đầu tư trong nước cũng là một nguồn lực tốt, thậm chí,năm 2006, đầu tư trong nước còn lớn hơn FDI Hầu hết đầu tư trong nước là các DN

tư nhân, các cá nhân, do đó, họ có lợi ích thực, thúc đẩy hiệu quả càng cao càng tốt.Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn trong nước vẫn bị hạn chế do tác động chung của cácnguồn lực khác Cơ chế chính sách, vấn đề cơ sở hạ tầng và cả những ưu đãi lớn dànhcho DN nhà nước Đáng ra, tư nhân có thể sử dụng nguồn vốn hiệu quả hơn rấtnhiều Tất nhiên, không phủ nhận sự yếu kém của DN tư nhân trong nước, nhưng mộtyếu tố quan trọng chính là môi trường kinh doanh còn quá nhiều nhân tố bất ổn, dochính nhà nước tạo ra

- Về vốn bên ngoài, chúng ta đã nhận được rất nhiều cam kết, nhưng tốc độ giảingân còn quá thấp Cam kết FDI 10-16 tỷ USD nhưng thực tế tỉ lệ giải ngân thấp hơnđáng kể, chỉ 4,1 tỷ USD năm ngoái Các nhà đầu tư vào nhưng chưa đưa được tiềnvào Chúng ta nhận được rất nhiều khoản tín dụng với lãi suất thấp, đầu tư vào nhưnglĩnh vực quan trọng như giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng… Các khoản tín dụng này hầuhết có giá trị rất lớn, có dự án số tiền đầu tư lớn hơn 1 tỷ USD Nhưng vấn đề ở chỗ sốvốn này không được đưa về Việt nam cùng một lúc mà được giải ngân trong một thờigian đáng kể hay chia thành nhiều đợt Và bài toán giải ngân vốn của chúng ta luôn làbài toán khó Trong cơ chế đổi mới như hiện nay, với tình hình thu hút được nhiềunguồn vốn đầu tư như vậy, việc giải ngân vốn là vấn đề rất quan trọng, nó không chỉriêng với các nguồn vốn đầu tư nước ngoài mà ngay cả các nguồn vốn trong nước nhưnguồn Ngân sách nhà nước cũng cần phải giải ngân chính xác

Trang 14

- Đối với vốn ODA, Việt Nam chưa thực hiện tốt tất cả các công việc cần thiết để

giải ngân tốt hơn Một phần do phức tạp thủ tục, một phần do quy định khác nhau giữa

nhà tài trợ và chính phủ Việt Nam nên khó thống nhất Sau khi chọn được dự án ODA

đã khó, việc chuẩn bị của Việt Nam khi có vốn ODA còn chậm, rõ nhất là chuẩn bị

mặt bằng, và không có sẵn vốn đối ứng trong các dự án Điều kiện con người và kinh

tế kỹ thuật đã làm chậm quá trình giải ngân Trong khi đó, mỗi nguồn ODA có thời

gian ân hạn nhất định Nếu không làm việc, chúng ta đã tự tước bỏ đi thời gian ưu đãi

ấy Ví dụ, một dự án ODA quy định trong 10 năm được hưởng lãi suất thấp, hoặc

không phải trả lãi Nhưng vì quá trình giải ngân chậm, khi dự án bắt đầu đi vào sử

dụng chỉ còn 2-3 năm Chúng ta đã tự đánh mất 7-8 năm quý giá Và cái giá của ODA

trở nên đắt đỏ hơn Chưa kể nó sẽ kìm hãm sự phát triển của khu vực, lĩnh vực đưa

ODA vào

II Thực trạng cơ cấu vốn đầu tư

1.Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước

VĐT xây dựng cơ bản là chi phí đầu tư chủ yếu cho hệ thống cơ sở hạ tầng KT_XH

bao gồm: chi phí cho việc khảo sát, quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết

kế và xây dựng, chi phí mua sắm, lắp đặt máy thiết bị và các chi phí khác, ghi trong

tổng dự toán.VĐT xây dựng cơ bản chiếm phần lớn VĐT phát triển xã hội và rất được

quan tâm trong cân đối chi tiêu ngân sách Đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN

chiếm tỷ trọng cao nhất Đây là cốt lõi của đầu tư phát triển toàn xã hội, có vai trò

quan trọng trong việc định hướng các thành phần kinh tế với các loại nguồn vốn ngoài

NSNN để đầu tư phát triển phục vụ các mục tiêu KT – XH đã được Đảng và Nhà

nước xác định trong qua trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay

Bảng 1: tỷ lệ đầu tư XDCB trong tổng chi NSNN

Trang 15

Từ bảng 1 ta thấy được sự quan tâm của Đảng và nhà nước ta đối với việc đầu

tư xây dựng cơ bản.Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản không ngừng tăng lên cả về giátrị tương đối và tuyệt đối qua các năm Nếu như năm 2000 vốn XDCB là 26211 tỷđồng ( 88,42% ) thì đến năm 2006 đã tăng lên hơn 3 lần (81087tỷ đồng) và tới năm

2007 tăng 4,3 lần (107440 tỷ đồng), một tỷ lệ cho thấy chi cho XDCB chính là chi chođầu tư phát triển Năm 2008 chi cho XDCB từ ngân sách nhà nước là 115274

tỷ đồng,năm 2009 là 228242 tỷ đồng tăng 98% so với năm 2008 và là số vốn đầu tưNSNN lớn nhất trong 1 năm

Những thống kê trên cho thấy những kết quả tích cực từ cơ cấu, định hướngcân đối nguồn vốn đầu tư XDCB của những năm qua Tuy nhiên,việc giải ngân cònthấp so với yêu cầu đặt ra Tình trạng chậm tiến độ xây dựng các công trình, dự án tuy

có giảm nhưng vẫn chưa được khắc phục

Số lượng và tỉ lệ các dự án đầu tư XDCB sử dụng ngân sách nhà nước có viphạm các qui định về quản lý đầu tư có xu hướng tăng lên.Cụ thể, năm 2005 có 1.822

dự án vi phạm (chiếm 14,57% dự án thực hiện đầu tư trong năm), năm 2006 có 3.173

dự án vi phạm (chiếm 18,19% dự án thực hiện đầu tư trong năm), năm 2007 có 4.763

dự án vi phạm (chiếm 16,6% dự án thực hiện đầu tư trong năm) Tình hình vi phạmquy định về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản năm 2009 dù đã giảm so với những nămtrước nhưng vẫn còn ở mức cao Trong 6 tháng đầu năm 2009, có 4.182 dự án viphạm các quy định về quản lý đầu tư, chiếm khoảng 13% tổng số dự án thực hiện đầu

tư trong ký

Các bộ, ngành và địa phương mới phản ánh được những sai phạm trong thủ tụcđầu tư, chưa phản ánh đúng thực tế về chất lượng công trình và việc thất thoát, lãngphí trong đầu tư xây dựng (theo báo cáo của các cơ quan năm 2005 có 28 dự án cólãng phí, chiếm 0,1%; năm 2006 có 8 dự án có lãng phí, chiếm 0,03%; năm 2007 có

17 dự án có lãng phí, chiếm 0,06% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong năm)

Qua báo cáo của các bộ, ngành và địa phương, tỷ lệ dự án chậm tiến độ năm

2009 khoảng 12,7% (năm 2008 là 18,2%; năm 2007 là 14,8%; năm 2006 là 13,1%)

Số dự án phải thực hiện điều chỉnh trong 6 tháng đầu năm 2009 là 6.478, chiếm 20,2%tổng số dự án; trong đó, 4% dự án điều chỉnh về nội dung đầu tư, 7,1% dự án điềuchỉnh về tiến độ, và 12,7% dự án điều chỉnh tổng mức đầu tư

Trang 16

(Nguồn: Báo cáo của Bộ KH-ĐT)

2 Vốn đầu tư cho giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ.

Bảng 2 : Kinh phí đầu tư cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo,khoa học- công nghệ môi trường từ ngân sách nhà nước

2.1 Giáo dục – Đào tạo.

Đầu tư cho GD-ĐT hiện nay từ các nguồn: NSNN (cả công trái giáo dục, vay

nợ, viện trợ) và ngoài NSNN (học phí, thu dịch vụ khoa học công nghệ…) trong đóngân sách chiếm 78,2% và là nguồn chủ yếu và có ý nghĩa quyết định nhất Ngân sáchnhà nước dành cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo năm 2000 là 12677 tỷ đồng chiếm11,63% tổng chi ngân sách nhà nước,tới năm 2007 là 53774 tỷ đồng (tăng gấp 4,24lần so với năm 2000)chiếm 13,46 % tổng chi ngân sách nhà nước năm 2007

Khi đánh giá về việc sử dụng nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) đầu tư choGD-ĐT trong những năm qua, nhiều người đã cho rằng, kinh phí đầu tư lớn nhưnghiệu quả chưa cao Theo tính toán tổng chi phí cho giáo dục ở Việt Nam so với GDPkhông những thuộc loại cao nhất thế giới mà còn đạt giải quán quân trong những nước

cao nhất.Năm 2006 tổng chi cho giáo dục lên tới 8,4% GDP, năm 2007 lên tới 9,2%

GDP khi ngân sách nhà nước tăng thêm gần 1% nữa Trong tổng chi phí, phần chingân sách nhà nước cho giáo dục cũng tăng từ 4,2% năm 2000 lên 5,6% GDP năm

2006, chứng tỏ nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến giáo dục, nhưng đồng thời cũngchứng tỏ sự lãng phí và thiếu hiệu quả của việc chi phí trên, tuy nhiên rất đáng buồn làkhông thể tìm ra nguồn gốc của chúng vì sự thiếu minh bạch trong số liệu tài chính

hiện nay.

Trang 17

Thực tế thì, từ năm 2001 đến 2007, chi NSNN cho giáo dục tăng qua mỗinăm, với tỷ trọng trong GDP tăng từ 4,1% lên 5,6% Song, do GDP của nước ta thấpnên cơ sở vật chất của ngành còn hết sức thiếu thốn, chỉ nói riêng về cơ sở vật chất tốithiểu là phòng học thì năm 2006 vẫn còn 38% số phòng bán kiên cố, 10,6% phòng họctạm; đời sống giáo viên còn rất khó khăn với lương bình quân thấp nhất là giáo viênmầm non 1,6 triệu đồng/tháng, cao nhất là giảng viên CĐ, ĐH là 2,5 triệuđồng/tháng nhưng phải đáp ứng quy mô giáo dục tăng từ 22 triệu năm 2000 lên 23triệu năm 2006, đồng thời lại phải nâng cao chất lượng Nếu so sánh tỷ trọng chi ngânsách cho GD-ĐT của nước ta với các nước thì thuộc loại cao nhưng do GDP bìnhquân trên đầu người còn rất thấp nên số tiền chi cho 1 HS, SV tính theo sức muatương đương của đồng đô la Mỹ chỉ bằng 1/4 Thái Lan, 1/8 Hàn Quốc, 1/11 Nhật Bản,1/10 Đức, 1/16 Mỹ

Hệ thống giáo dục ở Việt Nam tổ chức khá phức tạp, dẫn đến sự rối rắm trong việcnắm vững chi phí của nền kinh tế cho giáo dục.Bộ GD-ĐT chỉ quản lý khoảng 50%nguồn tài chính cho giáo dục, còn lại là các bộ ngành địa phương trực tiếp quản lý vàchi tiêu không hề báo cáo với Bộ GD-ĐT Vì thế, Bộ không kiểm soát được hoàn toànviệc sử dụng tài chính giáo dục

Luôn phải đối mặt với những mâu thuẫn rất lớn trên nhưng trong nhiều nămqua, dẫu chất lượng GD-ĐT chưa được như đòi hỏi của xã hội, chưa đáp ứng đượcyêu cầu phát triển đất nước song cũng phải đánh giá khách quan rằng, ngành GD-ĐT

đã đạt được một số kết quả Quy mô giáo dục tăng, chất lượng được cải thiện và theo

số liệu thống kê lao động việc làm tại Việt Nam thì lao động có trình độ CĐ, ĐH cóviệc làm chiếm 95,8%, còn theo khảo sát của 61 cơ sở giáo dục đại học thì tỷ lệ sinhviên ra trường chưa có việc làm thấp, khoảng 7% Có thể nói, ngành GD-ĐT đã cóđóng góp tích cực vào việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho các ngành kinh tế, xãhội để công cuộc đổi mới đất nước đạt được những kết quả như những năm qua

2.2 Khoa học – Công nghệ

Có thể nói đầu tư cho khoa học_công nghệ chính là hình thưc đầu tư cho tươnglai,chính vì vậy mà xu hướng đầu tư cho lĩnh vực này ngày càng được chú trọng.Nghịquyết Trung ương 2 khóa VIII coi KH-CN là quốc sách hàng đầu để phát triển kinh tế-

xã hội; đồng thời Luật KH-CN đã xác định đầu tư cho khoa học và công nghệ là đầu

Trang 18

tư phát triển Vì vậy Nhà nước dành ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách

KH-CN, với 2% tổng chi ngân sách (chiếm khoảng 0,5-0,6% GDP).Trong 5 năm liên tục(kể từ năm 2000 đến năm 2004), ngân sách nhà nước (NSNN) đầu tư cho KH&CN đạtđược 2% tổng chi NSNN và 3 năm liên tiếp (2002, 2003, 2004) đạt tương đương0,52% GDP.Chi cho sự nghiệp khoa học công nghệ môi trường từ ngân sách nhà nướckhông ngừng tăng lên qua các năm Năm 2000 là 1243 tỷ đồng tới năm 2006 tăng gấpđôi thành 2540 tỷ đồng,năm 2007 là 7604 tỷ đồng tăng gấp 3 so với năm 2006 và tănghơn 6 lần so với năm 2000

Tuy nhiên,đầu tư vào khoa học _công nghệ nhìn chung đã được quan tâmnhưng chưa đúng mức,tổng vốn đầu tư vào khoa học công nghệ giai đoạn 2005-2009chiếm 0.56% GDP Trong khi đó, tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp chưa đến 0,1%GDP Hầu hết doanh nghiệp vẫn ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ, chưa có điều kiện đầu tưcho khoa học và công nghệ Việc huy động các nguồn lực từ khối kinh tế tư nhân vàophát triển khoa học công nghệ còn rất hạn chế Hiện nay tỷ lệ đầu tư cho khoa học vàcông nghệ từ ngân sách nhà nước so với khu vực ngoài nhà nước khoảng 5:1, trongkhi tại Trung Quốc tỷ lệ này là 1:3

Theo điều tra mới nhất của Bộ Khoa học & Công nghệ, trên cả nước hiện có khoảng1.200 tổ chức khoa học và công nghệ, với khoảng 600 tỷ đồng ngân sách hàng năm.Đầu tư toàn xã hội cho khoa học và công nghệ ở mức rất thấp, chỉ khoảng 5 USD(năm 2007), với nguồn đầu tư chủ yếu là từ ngân sách nhà nước Trong khi đó, tạiTrung Quốc là khoảng 20 USD (năm 2004),Hàn Quốc khoảng 1000 USD (2007) ) vàTây Ban Nha chi 4.000 Euro (2008)

Khoa học công nghệ đã tập trung hơn vào nghiên cứu ứng dụng, phục vụ các

yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Nhiều thành tựu khoa học công nghệ mới được ứngdụng trong các ngành xây dựng, công nghiệp, nông nghiệp , đã tạo ra nhiều sảnphẩm và dịch vụ mới có chất lượng cao, có sức cạnh tranh, phục vụ xuất khẩu và thaythế nhập khẩu.Đặc biệt, trong lĩnh vực nông nghiệp KH&CN đã tạo ra nhiều giốngcây trồng, vật nuôi có chất lượng và năng suất cao, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh

tế nông thôn, đưa nước ta từ chỗ là nước nhập khẩu lương thực trở thành một trongnhững nước xuất khẩu gạo, cà phê, v.v hàng đầu trên thế giới.Các chương trìnhnghiên cứu trọng điểm về công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật

Trang 19

liệu, tự động hoá, công nghệ cơ khí - chế tạo máy, đã góp phần nâng cao năng lực nộisinh trong một số lĩnh vực công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệuquả của nhiều ngành kinh tế.

Khoa học và công nghệ trong những năm qua đã góp phần đào tạo và nâng caotrình độ nhân lực, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc

và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc.Hoạt động của các tổ chứcKH&CN đã mở rộng từ nghiên cứu - phát triển đến sản xuất và dịch vụ KH&CN.Quyền tự chủ của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động KH&CN bước đầu được tăngcường Quyền tự chủ về hợp tác quốc tế của tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CNđược mở rộng

Khoa học và công nghệ đã góp phần quan trọng trong việc tiếp thu, làm chủ,thích nghi và khai thác có hiệu quả các công nghệ nhập từ nước ngoài Nhờ đó, trình

độ công nghệ trong một số ngành sản xuất, dịch vụ đã được nâng lên đáng kể, nhiềusản phẩm hàng hoá có sức cạnh tranh cao hơn Mặc dù đã đạt được những thành tựunhất định, nhưng nhìn chung KH&CN nước ta còn nhiều mặt yếu kém, còn có khoảngcách khá xa so với thế giới và khu vực Đổi mới KH_CN còn mang tính thụđộng,mang tính tình huống,chủ yếu là công nghệ nhập khẩu từ bên ngoài chưa đápứng được yêu cầu là nền tảng và động lực phát triển kinh tế - xã hội,vẫn còn nhữngbất cập trong sử dụng vốn đầu tư cho KHCN như việc giải ngân chậm, chất lượng vàhiệu quả nghiên cứu KHCN vẫn chưa được cải thiện…

3.Vốn đầu tư phát triển khác:

Bao gồm tất cả các khoản đầu tư của xã hội nhằm nâng năng lực phát triển của

xã hội như: nâng cao dân trí, hoàn thiện môi trường xã hội, cải thiện môi trường sinhthái, hỗ trợ các chương trình phòng chống tệ nạn xã hội và các chương trình phát triểnkhác cụ thể là:Chi phí cho việc thăm dò, thiết kế qui hoạch ngành, qui hoạch vùnglãnh thổ,Chi phí cho việc triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gianhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng

Hạn chế

+)Trong thời gian qua, do quá chú trọng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Việt Nam

đã tập trung đầu tư quá nhiều cho cơ sở hạ tầng nên dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải,manh mún, đồng thời nảy sinh nhiều vấn đề về hiệu quả kinh tế - xã hội, thất thoát

Trang 20

lãng phí lớn Điều này dẫn đến bố trí vốn cho các dự án đầu tư vượt quá khả năng.

Tỷ lệ giải ngân còn thấp so với yêu cầu đặt ra.Tiến độ thực hiện và giải ngân cácnguồn vốn đầu tư nhà nước 2009 đã đạt mức cao hơn nhiều so với các năm trước ;bốtrí vốn tập trung, khắc phục dần tình trạng phân tán, dàn trải Tuy nhiên,việc giảingân còn thấp so với yêu cầu đặt ra Tình trạng chậm tiến độ xây dựng các công trình,

dự án tuy có giảm nhưng vẫn chưa được khắc phục.(tỷ lệ dự án chậm tiến độ năm

2009 khoảng 12,7% (năm 2008 là 18,2%; năm 2007 là 14,8%; năm 2006 là 13,1%)

Số lượng và tỉ lệ các dự án đầu tư XDCB sử dụng ngân sách nhà nước có viphạm các qui định về quản lý đầu tư (không phù hợp với qui hoạch; phê duyệt khôngđúng thẩm quyền; không thực hiện đầy đủ trình tự thẩm tra, thẩm định dự án; đấu thầukhông đúng qui định; bỏ giá thầu không phù hợp; phê duyệt không kịp thời; ký hợpđồng không đúng qui định; chậm tiến độ; chất lượng xây dựng thấp; lãng phí) có xuhướng tăng lên.Trong 6 tháng đầu năm 2009, có 4.182 dự án vi phạm các quy định vềquản lý đầu tư, chiếm khoảng 13% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong ký (năm 2008

là 18,9%; năm 2007 là 17,6%; năm 2006 là 13,4%)

Nợ đọng trong đầu tư xây dựng cơ bản đang là vấn đề bức xúc hiện nay, vượtquá khả năng cân đối của ngân sách, chưa được xử lý dứt điểm Do nhiều nguyênnhân khác nhau, tình hình thực hiện vượt kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản củacác Bộ, ngành và địa phương vẫn tiếp diễn và có xu hướng tăng (sau khi rà soát lại, số

nợ vẫn còn trên 5 nghìn tỷ đồng, Trung ương khoảng 2 nghìn tỷ đồng, địa phươngkhoảng 3 nghìn tỷ đồng)

Thất thoát, lãng phí, tham nhũng trong xây dựng cơ bản là một vấn đề nổicộm hiện nay Nhưng con số thất thoát lãng phí, tham nhũng là bao nhiêu thì đến giờnày vẫn là một ẩn số, không ai có thể lý giải và trả lời vấn đề này Hiệu quả sử dụngcủa các nguồn VĐT chưa cao, tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí, thất thoát trong đầu

tư còn lớn Còn có những biểu hiện tiêu cực trong quản lý đầu tư và thi công côngtrình Chất lượng công trình thấp, gây lãng phí và giảm hiệu quả đầu tư Chưa pháthuy lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của đất nước trên trường quốc tế

+)Đánh giá về việc sử dụng nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) đầu tư cho GD-ĐTtrong những năm qua thì thấy rằng kinh phí đầu tư lớn nhưng hiệu quả chưa cao.Nhànước Việt Nam rất quan tâm đến giáo dục, nhưng đồng thời cũng chứng tỏ sự lãng phí

Trang 21

và thiếu hiệu quả của việc chi phí cho GD-ĐT tuy nhiên rất đáng buồn là không thể

tìm ra nguồn gốc của chúng vì sự thiếu minh bạch trong số liệu tài chính hiện nay.

Hệ thống giáo dục ở Việt Nam tổ chức khá phức tạp, dẫn đến sự rối rắm trong việcnắm vững chi phí của nền kinh tế cho giáo dục.Bộ GD-ĐT chỉ quản lý khoảng 50%nguồn tài chính cho giáo dục, còn lại là các bộ ngành địa phương trực tiếp quản lý vàchi tiêu không hề báo cáo với Bộ GD-ĐT Vì thế, Bộ không kiểm soát được hoàn toànviệc sử dụng tài chính giáo dục

+) Đầu tư vào khoa học _công nghệ nhìn chung đã được quan tâm nhưng chưa đúngmức,tổng vốn đầu tư vào khoa học công nghệ giai đoạn 2005-2009 chiếm 0.56%GDP .Đổi mới KH_CN còn mang tính thụ động,mang tính tình huống,chủ yếu làcông nghệ nhập khẩu từ bên ngoài Điều này bộc lộ những yếu kém và thiếu sót trongcông tác đầu tư nghiên cứu,chuyển giao công nghệ cũng như công tác đào tạo cánbộ,công nhân viên có tay nghề,có trình độ về khoa học_kỹ thuật

KH&CN nước ta còn nhiều mặt yếu kém, còn có khoảng cách khá xa so với thế giới

và khu vực, chưa đáp ứng được yêu cầu là nền tảng và động lực phát triển kinh tế - xãhội,vẫn còn những bất cập trong sử dụng vốn đầu tư cho KHCN như việc giải ngânchậm,đầu tư ít lại dàn trải( mức đầu tư toàn xã hội cho KHCN còn khoảng 0,7% GDPthấp nhất thế giới.Còn theo số đầu tư trên đầu người thì chỉ đạt đạt 5 USD/người) Vớinguồn kinh phí ít ỏi như trên, cộng với đầu tư dàn trải ở nhiều nơi dẫn đến chất lượng

và hiệu quả nghiên cứu KHCN vẫn chưa được cải thiện…

III THỰC TRẠNG CƠ CẤU ĐẦU TƯ THEO NGÀNH

Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưngvẫn chưa thực sự tương hợp với sự vận động không ngừng của nền kinh tế Ngànhcông nghiệp và xây dựng chiếm gần 40% GDP, dịch vụ tiếp tục duy trì ở mức khoảng38% GDP Tỷ trọng công nghiệp chế biến tăng lên và chiếm khoảng 60% giá trị sảnxuất công nghiệp; các ngành công nghệ cao đã chiếm khoảng 25% giá trị sản lượngcông nghiệp Một số ngành dịch vụ đã phát triển khá nhanh và đang từng bước mởrộng quy mô Tuy nhiên ngành nông nghiệp vẫn chỉ là những bước tiến chậmchạp,chưa có định hướng rõ ràng và cụ thể

Ngày đăng: 22/10/2013, 17:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Vốn đầu tư toàn xã hội qua các năm - Thực trạng cơ cấu đầu tư ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến 2009
Bảng 1 Vốn đầu tư toàn xã hội qua các năm (Trang 1)
Bảng 4. Tỷ trọng vốn doanh nghiệp nhà nước trong tổng vốn đầu tư - Thực trạng cơ cấu đầu tư ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến 2009
Bảng 4. Tỷ trọng vốn doanh nghiệp nhà nước trong tổng vốn đầu tư (Trang 5)
Bảng 4: số liệu cho biết tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong những năm   qua: - Thực trạng cơ cấu đầu tư ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến 2009
Bảng 4 số liệu cho biết tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong những năm qua: (Trang 6)
Bảng 5: Cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA giai đoạn 2000 – 2009 Đơn vị: TriệuUSD - Thực trạng cơ cấu đầu tư ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến 2009
Bảng 5 Cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA giai đoạn 2000 – 2009 Đơn vị: TriệuUSD (Trang 8)
Bảng 2 : Kinh phí đầu tư cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo,khoa học- công nghệ môi  trường từ ngân sách nhà  nước - Thực trạng cơ cấu đầu tư ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến 2009
Bảng 2 Kinh phí đầu tư cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo,khoa học- công nghệ môi trường từ ngân sách nhà nước (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w