1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

So sánh mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ trung quốc và việt nam

406 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 406
Dung lượng 821,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sọ Dừa do mẹ uống nước đựng trong sọ dừa sinh ra, Trần Hà Trần Giới thì dongười mẹ bị giao long cuốn sinh ra...Ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, mô típ sinh đẻ thần kỳ là một mô típxuất

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_

VƯƠNG ĐẠI LIÊN

SO SÁNH MÔ TÍP SINH ĐẺ THẦN KỲ TRONG TRUYỆN

CỔ TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_

VƯƠNG ĐẠI LIÊN

SO SÁNH MÔ TÍP SINH ĐẺ THẦN KỲ TRONG TRUYỆN

CỔ TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Văn học dân gian

Mã số: 62220125

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PSG.TS Trần Lê Bảo

2 PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của luận án "So sánh mô típ sinh đẻ thần kỳ trongtruyện cổ Trung Quốc và Việt Nam" là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân,được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Lê Bảo và PGS TS Nguyễn ThịBích Hà

Các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án này là trung thực và chưa được

ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận án của mình

Tác giả

Vương Đại Liên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Lê Bảo và PGS.TS.Nguyễn Thị Bích Hà - hai thầy cô đáng kính đã luôn chỉ bảo tận tình, cung cấp nhữngđịnh hướng chuyên môn và cho tôi những gợi ý hết sức hữu ích để phát triển nội dungluận án Nhờ sự hỗ trợ và khích lệ thường xuyên của thầy cô, tôi mới có thể thực hiệnđược luận án này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đối với các thầy cô giảng dạy tạiTrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đạihọc Sư Phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi học hỏi thêm kiến thức vàphương pháp để nghiên cứu và thực hiện luận án

Tôi xin cảm ơn các chuyên gia, các nhà nghiên cứu trân quý thuộc các trườngđại học, viện nghiên cứu, viện khoa học… đã cho tôi những góp ý giá trị, chia sẻ chotôi những thông tin quý báu đối với luận án Đặc biệt, tôi muốn gửi lời cảm ơn chânthành tới TS Trần Thị Thu Hương đã cho tôi nhiều ý kiến để hoàn thiện luận án

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luôn động viên,khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Vương Đại Liên

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

I Lí do chọn đề tài 5

II Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 6

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

IV Phương pháp nghiên cứu 8

V Đóng góp của luận án 9

VI Cấu trúc luận án 9

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 10

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu mô típ sinh đẻ thần kỳ ở Trung Quốc 10

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu mô típ sinh đẻ thần kỳ ở Việt Nam 15

1.1.3 Lịch sử nghiên cứu so sánh mô típ sinh đẻ thần kỳ của Trung Quốc và Việt Nam 21

1.2 Một số khái niệm liên quan đến luận án 22

1.2.1 Truyện cổ 22

1.2.2 Thần thoại 24

1.2.3 Truyền thuyết 26

1.2.4 Truyện cổ tích 27

1.2.5 Sinh đẻ thần kỳ 28

1.2.6 Mô típ sinh đẻ thần kỳ 35

1.3 Cơ sở lý luận của luận án 37

1.3.1 Lý thuyết típ và mô típ 37

1.3.2 Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa 39

1.3.3 Lý thuyết so sánh văn hóa, so sánh loại hình 44

1.3.3.1 So sánh văn hóa 44

Trang 6

1.3.3.2 So sánh loại hình 46

Tiểu kết chương 1 49

Chương 2: KHẢO SÁT MÔ TÍP SINH ĐẺ THẦN KỲ TRONG TRUYỆN CỔ TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM 50

2.1 Mục tiêu khảo sát và cách thức khảo sát 50

2.1.1 Mục tiêu khảo sát 50

2.1.2 Cách thức khảo sát 50

2.2 Khảo sát mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc 49

2.2.1 Phạm vi khảo sát 49

2.2.2 Nội dung khảo sát 52

2.2.3 Kết quả khảo sát, phân loại 52

2.3 Khảo sát mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Việt Nam 64

2.3.1 Phạm vi khảo sát 64

2.3.2 Nội dung khảo sát 64

2.3.3 Kết quả khảo sát, phân loại 65

2.4 Nhận xét chung về kết quả khảo sát 75

Tiểu kết chương 2 79

Chương 3: SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA MÔ TÍP SINH ĐẺ THẦN KỲ TRONG TRUYỆN CỔ TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM 80

3.1 Những yếu tố tương đồng trong mô típ sinh đẻ thần kỳ 80

3.1.1 Phương thức mộng triệu phổ biến hơn phương thức khác 80

3.1.2 Thần có tần số xuất hiện cao nhất 82

3.1.3 Thời gian mang thai dài hơn bình thường 85

3.1.4 Trứng xuất hiện nhiều lần 87

3.1.5 Tương đồng về đặc điểm của những nhân vật 90

3.2 Những tín ngưỡng dân gian tương đồng trong mô típ sinh đẻ thần kỳ 93

3.2.1 Vạn vật hữu linh 93

Trang 7

3.2.2 Tín ngưỡng phồn thực 98

3.2.3 Sùng bái nhật nguyệt tinh tú và thiên tượng 105

3.2.4 Sùng bái totem, sùng bái con rồng 110

3.2.5 Sùng bái thủy tổ, sùng bái tổ tiên và sùng bái anh hùng 116

3.3 Mô típ sinh đẻ thần kỳ cùng thể hiện quá trình phát triển của nhân loại 119 3.3.1 Từ xã hội mẫu hệ đến xã hội phụ hệ 119

3.3.2 Lịch sử hóa thần thoại và thần thoại hóa lịch sử 123

Tiểu kết chương 3 126

Chương 4 SỰ KHÁC BIỆT CỦA MÔ TÍP SINH ĐẺ THẦN KỲ TRONG TRUYỆN CỔ TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM 127

4.1 Một số yếu tố khác biệt trong mô típ sinh đẻ thần kỳ 127

4.1.1 Khác biệt về sự xuất hiện của những loại động vật 127

4.1.2 Khác biệt về sự xuất hiện của những loại thực vật 132

4.1.3 “Khí” xuất hiện nhiều lần trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Trung Quốc 134

4.1.4 Một bọc nhiều con xuất hiện nhiều lần trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Việt Nam 136

4.2 Mô típ sinh đẻ thần kỳ thể hiện sự khác biệt về một số tư tưởng, quan niệm 139

4.2.1 Tư tưởng “âm dương” thể hiện trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Trung Quốc 139

4.2.2 Quan niệm “ngũ hành tương sinh tương khắc” thể hiện trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Trung Quốc 142

4.2.3 Quan niệm “ở hiền gặp lành” thể hiện trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Việt Nam 146

4.2.4 Quan niệm “đi chùa cầu tự” thể hiện trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Việt Nam 148

4.3 Mô típ sinh đẻ thần kỳ thể hiện sự khác biệt về lịch sử văn hóa 151

Trang 8

4.3.1 Văn hóa đế vương, văn hóa phụ quyền thể hiện trong mô típ sinh đẻ thần

kỳ của Trung Quốc 1514.3.1.1 Những người thống trị trong lịch sử Trung Quốc sinh ra đều bằng

phương thức sinh đẻ thần kỳ, hình thành một hệ thống hoàn chỉnh 1514.3.1.2 Tư tưởng “quân quyền thần thụ” thể hiện trong mô típ sinh đẻ thần kỳ

của Trung Quốc 1534.3.1.3 Mặt trời tượng trưng cho vương quyền trong mô típ sinh đẻ thần kỳ củaTrung Quốc 1554.3.1.4 Phụ quyền thể hiện tuyệt đối trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Trung

Quốc 1574.3.2 Văn hóa làng xã, giao lưu và tiếp biến văn hóa thể hiện trong mô típ sinh

đẻ thần kỳ của Việt Nam 1594.3.2.1 Dấu ấn văn hóa làng xã thể hiện trong mô típ sinh đẻ thần kỳ của Việt

Nam 1594.3.2.2 Sự giao lưu và tiếp biến văn hóa thể hiện trong mô típ sinh đẻ thần kỳ

của Việt Nam 162

Tiểu kết chương 4 166 KẾT LUẬN 167 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 171 TÀI LIỆU THAM KHẢO 172 PHỤ LỤC 191

Trang 9

Sọ Dừa do mẹ uống nước đựng trong sọ dừa sinh ra, Trần Hà Trần Giới thì dongười mẹ bị giao long cuốn sinh ra

Ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, mô típ sinh đẻ thần kỳ là một mô típxuất hiện nhiều, nhưng những chuyên luận nghiên cứu về mô típ sinh đẻ thần kỳchưa thật sự tương xứng với số lượng truyện, bài luận nghiên cứu so sánh về sinh đẻthần kỳ của hai nước lại càng ít thấy, đây vẫn là một khu vườn bỏ hoang của giớinghiên cứu Tuy nhiên, từ trước đến giờ, mô típ sinh đẻ thần kỳ là một mô típ quenthuộc được nhiều học giả, chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc và Việt Nam quantâm Nhưng do điều kiện ngôn ngữ và một số nguyên nhân khác, nên việc nghiêncứu của các học giả thường chỉ giới hạn việc khảo sát tác phẩm trong nước Cũng cómột số bài so sánh về văn hóa, văn học của Trung Quốc và Việt Nam có đề cập đến

mô típ sinh đẻ thần kỳ, nhưng nghiên cứu chưa hình thành một hệ thống Do đó,việc tiến hành nghiên cứu so sánh mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ của TrungQuốc và Việt Nam một cách hệ thống, chi tiết là thực sự cần thiết

Theo xu thế phát triển của thế giới, sự giao lưu và hợp tác giữa các nước làmột xu hướng tất yếu Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng, có lịch sử

Trang 10

giao lưu từ lâu Những năm gần đây, Trung Quốc và Việt Nam hợp tác trong nhiềulĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa… nên việc tìm hiểu lẫn nhau trở thành mộtnhu cầu tất yếu Truyện cổ là truyện đời xưa, thể hiện văn hóa, tư tưởng của mộtdân tộc, một quốc gia Nghiên cứu về truyện cổ hai nước từ góc độ nguồn gốcnghiên cứu lịch sử giao lưu của hai nước và văn hóa của hai nước, chúng tôi nhậnthấy mô típ sinh đẻ thần kỳ là một mô típ xuất hiện trong truyện cổ với tần số cao.

Từ những điểm tương đồng của mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ có thể nhậnthấy nhân dân hai nước có những cảm nhận tương đồng đối với một vấn đề nào đó,cũng có thể nhìn ra mối liên hệ nội tại của văn hóa hai nước Từ những điểm khácbiệt, có thể suy đoán về sự khác nhau do điều kiện địa lý, môi trường tự nhiên, tâm

lý văn hóa dân tộc và nhu cầu thẩm mỹ của nhân dân hai nước Để có thể học tập và

mở rộng hợp tác, gắn chặt mối quan hệ của các quốc gia thì chúng ta nhất thiết phải

có những nghiên cứu cụ thể và sâu sắc về xã hội, đặc biệt là văn hóa

Từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “So sánh mô típ sinh

đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc và Việt Nam”

II Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 1 Mục đích nghiên cứu

- Từ việc tìm hiểu mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc và ViệtNam, thấy được sự tương đồng và sự khác biệt trong truyện cổ, văn học dân gian và vănhóa của hai nước

- Tăng cường hiểu biết về quy luật giao lưu và tiếp biến văn hóa của TrungQuốc và Việt Nam, đồng thời thấy được sự độc lập, tính sáng tạo trong việc xây

dựng nền văn học dân gian, văn hóa dân gian của hai nước

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án phải thực hiện các nhiệm vụ cơ bản như sau:

- Sưu tập các truyện có mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc

và Việt Nam

Trang 11

- Khảo sát và phân loại những truyện đã sưu tập được Lập ra bảng khảo sát

để so sánh và đối chiếu

- Tìm ra sự tương đồng và dị biệt của mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ

- Phân tích nguyên nhân tạo ra sự tương đồng và sự khác biệt trong mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc và Việt Nam

III Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc

và Việt Nam Truyện cổ ở đây gồm thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích của hainước, chủ yếu của dân tộc Hán của Trung Quốc và dân tộc Kinh của Việt Nam.Nhưng cũng không loại trừ một số truyện cổ của một số dân tộc khác cũng được lựachọn vào để làm đối tượng nghiên cứu so sánh

2 Phạm vi nghiên cứu

2.1 Phạm vi tài liệu của Trung Quốc gồm bốn phần

1 Những truyện sinh đẻ thần kỳ trong Vĩ Thư (Vĩ Thư là tên gọi của một

loạt sách lưu hành ở Tây Hán và Đông Hán mang màu sắc kỳ dị)

2 Những mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện kể về các vua chúa của các

triều đại phong kiến Trung Quốc trong Sử Ký, Hán Thư, Hậu Hán Thư

3 Những truyện có mô típ sinh đẻ thần kỳ trong cuốn sách “Vân Cấp Thất

4 Những truyện có mô típ sinh đẻ thần kỳ trong 10 cuốn sách của Tổng tập truyện dân gian Trung Quốc.

2.2 Phạm vi tài liệu của Việt Nam

Các truyện dân gian Việt Nam gần như được sưu tập vào bộ sách Tổng tậpvăn học dân gian Việt Nam do viện Khoa học Xã hội Việt Nam biên soạn, do nhàxuất bản Khoa học Xã hội xuất bản Vì vậy, chúng tôi khảo sát dựa trên tài liệu:

Trang 12

1 Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số, tập 3, Thần thoại.

2 Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 4, tập 5 Truyền thuyết dân gian người Việt.

3 Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 6, Truyện cổ tích thần kỳ.

IV Phương pháp nghiên cứu

Khi thực hiện luận án, người viết đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu dưới đây:

1 Phương pháp nghiên cứu tư liệu thứ cấp

Đầu tiên, tác giả sẽ thống kê số lượng truyện có mô típ sinh đẻ thần kỳ trongnhững tài liệu ở trên của Trung Quốc và Việt Nam và phân loại theo phương thứccảm ứng Sau đó tác giả thống kê những vật cụ thể xuất hiện trong mô típ sinh đẻthần kỳ và phân loại theo tính chất của vật cảm ứng cụ thể là động vật, thực vật,những vật thể trong tự nhiên, những vật dụng trong cuộc sống và thần Cuối cùng,tác giả thống kê tần số xuất hiện của từng loại vật cụ thể xuất hiện trong mô típ sinh

đẻ thần kỳ

2 Phương pháp so sánh loại hình

Phương pháp so sánh là phương pháp quan trọng trong luận án, như tiêu đềcủa luận án là so sánh mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc và ViệtNam, nên luận án sẽ dựa vào những mô típ tương đồng về sự sinh đẻ thần kỳ củahai nước, từ đó so sánh sự tương đồng và sự khác biệt

3 Phương pháp nghiên cứu ngữ văn dân gian

Trên cơ sở phân tích tư liệu, chúng tôi sẽ phân tích, tổng hợp và tìm hiểu nộidung, ý nghĩa, vai trò của những mô típ này trong truyện cổ dân gian hai nước vàtìm nguyên nhân tạo ra sự tương đồng cũng như sự khác biệt

4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Nghiên cứu văn học dân gian nói chung cũng như mô típ nói riêng, phải vậndụng đến những phương pháp liên ngành như văn hóa học, lịch sử học, dân tộc học,

xã hội học, phiên dịch học

Trang 13

V Đóng góp của luận án

Hệ thống được những truyện có mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ TrungQuốc và Việt Nam, phân loại theo một số tiêu chí nhất định So sánh mô típ sinh đẻthần kỳ trong truyện cổ Trung Quốc và Việt Nam một cách hệ thống, tìm hiểu vềnhững điểm tương đồng và những điểm khác biệt của chúng để rút ra những kếtluận khoa học Từ đó, có một tầm nhìn tổng quan về mô típ sinh đẻ thần kỳ củaTrung Quốc và Việt Nam Trong phụ lục sẽ thống kê mô típ sinh đẻ thần kỳ củaTrung Quốc và Việt Nam, dịch phần tiếng Trung sang tiếng Việt và lập bảng phụlục để cung cấp một nguồn tài liệu cho những người nghiên cứu văn học dân gianhai nước nói riêng và nghiên cứu văn hóa, văn học của hai nước nói chung

Phân tích sự tương đồng và sự khác biệt của truyện cổ hai nước, tức là từnguồn gốc phân tích sự giống nhau và khác nhau về tư tưởng, ý thức, văn hóa củahai dân tộc Tìm hiểu về mô típ sinh đẻ thần kỳ hai nước có thể hiểu thêm một sốvấn đề văn hóa, văn học của hai dân tộc Trong bối cảnh giao lưu giữa Trung Quốc

và Việt Nam ngày càng tăng cường, tìm hiểu văn hóa hai nước trở thành vấn đề tấtyếu thì biết được quá khứ, mới có thể khai thác tương lai một cách tốt nhất

VI Cấu trúc luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận án được triển khai trên

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Mô típ sinh đẻ thần kỳ là một mô típ phổ biến trên thế giới Nền văn họcTrung Quốc sở hữu số lượng lớn các truyện có mô típ sinh đẻ thần kỳ Các nhànghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu và cho xuất bản một số chuyên luận về vấn đềnày Việt Nam cũng có nhiều truyện xuất hiện mô típ sinh đẻ thần kỳ, nhưng nhữngchuyên luận nghiên cứu về mô típ sinh đẻ thần kỳ số lượng còn hạn chế Không chỉ

ở Trung Quốc và Việt Nam mà trên thế giới, sinh đẻ thần kỳ cũng trở thành một mô típ quen thuộc với những người nghiên cứu Folklore

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu mô típ sinh đẻ thần kỳ ở Trung Quốc

Thế kỷ XX, thần thoại học Trung Quốc phát triển nhanh chóng Mô típ sinh

đẻ thần kỳ cũng được nghiên cứu như một loại thần thoại Học giả Trung Quốc đã

sử dụng thuật ngữ “thần thoại cảm sinh (感生神话)” để chỉ loại truyện này Thầnthoại - vốn chỉ một thể loại của văn học dân gian, nhưng ở đây, ý nghĩa của từ thầnthoại được hiểu là những truyện sinh đẻ thần kỳ Từ cảm ứng trong cụm từ cảm sinh

- cảm ứng sinh đẻ không chỉ đơn thuần chỉ cảm ứng thiên nhiên, mà còn có thể từđộng vật, thực vật, những vật dụng trong cuộc sống Hứa Thận (许慎) đời Đông

Hán trong cuốn Ngũ Kinh Dị Nghĩa (五经异义) dẫn “Xuân Thu Công Dương

Truyện ( 春秋公羊传)” đã nói rằng: “Thần Nhân đều không có bố, cảm ứng thiên

mà sinh ra”

Về bản chất, sinh đẻ thần kỳ thuộc một loại thần thoại Do tình trạng hônnhân tạp hôn cộng với trình độ hiểu biết còn thấp kém, người nguyên thủy khônghiểu và không thể lý giải được nguyên nhân khoa học của hiện tượng sinh đẻ nên đãdùng nhiều cách khác nhau để giải thích Họ cho rằng việc sinh đẻ có được là dongười phụ nữ ăn phải trứng yến mang thai, hoặc là do người phụ nữ giẫm vào vếtchân khổng lồ mang thai, hoặc mơ thấy rồng mang thai Về sau người ta sử dụng

Trang 15

những mô típ này trong truyền thuyết, truyện cổ tích, sử thi nhưng nguồn gốc củanhững mô típ này vẫn thuộc phạm trù của thần thoại.

Về cơ bản, thuật ngữ “thần thoại cảm sinh” của Trung Quốc tương đương vớikhái niệm mô típ sinh đẻ thần kỳ của Việt Nam Nó được dùng để chỉ một người(thường là những nhân vật trong thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích ) ra đờimột cách kỳ lạ, khác thường, có thể do người mẹ ăn, uống phải vật lạ, tiếp xúc vớivật lạ, nằm mơ thụ thai sinh ra; cũng có thể chỉ hiện tượng lúc nhân vật ra đời cóyếu tố dị thường, hào quang chiếu vào phòng, mùi thơm khắp nhà

Trong bộ sách tổng tập thi ca sớm nhất của Trung Quốc - Kinh Thi (诗经) đã

có ghi chép về thần thoại cảm sinh, tức là mô típ sinh đẻ thần kỳ “Thương tụng, Huyền điểu (商颂

玄鸟)” ghi chép về sự ra đời thần kỳ của tổ tiên Thương Khiết

(商契) “Đại nhã, Sinh dân (大雅

生民)” ghi chép về sự ra đời thần kỳ của tổ tiên

Chu Hậu Tắc Mặc dù chỉ là mấy câu chưa đủ độ hoàn chỉnh, nhưng nó là sử liệu

quý để các nhà nghiên cứu có cơ sở dữ liệu tìm hiểu về mô típ này Trong “Hỏi trời (Thiên vấn 天问)” của bộ Sở Từ (楚辞) cũng có nói đến thần thoại cảm sinh Sử Ký ( 史记) cũng ghi chép nhiều về thần thoại cảm sinh như sự ra đời của Lưu Bang (刘

邦), sự ra đời thần kỳ của tổ tiên Tần Đại Nghiệp (秦大业)… Có thể thấy rằng, ởTrung Quốc, nhiều vị vua, hoàng đế xưa được sinh ra một cách khác thường và hiệntượng này đã được ghi chép vào các sách cổ khác nhau

Nghiên cứu về thần thoại cảm sinh cũng đã đạt được những thành quả nhấtđịnh Các nhà nghiên cứu Trung Quốc chủ yếu có bốn quan điểm về nguyên nhânxuất hiện thần thoại cảm sinh Thứ nhất là thuyết sùng bái Totem Đây là quan điểmđược đưa ra sớm nhất Những người đại diện cho thuyết này chủ yếu có Tôn TácVân (孙作云), Viên Kha (袁珂)… Thứ hai là thuyết sùng bái phồn thực Trong bài

văn “Thử bàn về thần thoại cảm sinh có nguồn gốc từ sùng bái sinh nở (试论感生 神话源于生殖崇拜)” (1994), Vương Phượng Xuân (王凤春) và Vương Hạo (王浩)

cho rằng trong thần thoại cảm sinh của các dân tộc, người nguyên thủy khôngnhững không nhận thức được yếu tố người cha trong việc sinh đẻ mà thậm chí còn

Trang 16

không biết liên hệ trực tiếp hai vấn đề giao hợp nam nữ và thụ thai, do đó sinh rasùng bái Totem và sùng bái tổ tiên Nhưng nhìn từ góc độ văn tự học, khảo cổ học,

xã hội học, tư duy thần thoại học, thái độ sùng bái này có nguồn gốc từ sùng bái

sinh nở Thứ ba là thuyết sùng bái tự nhiên Trong bài luận “Bước đầu tìm hiểu nguồn gốc của thần thoại cảm sinh Trung Quốc ( 中国感生神话起源初探 1998))”,

Mông Phi (蒙飞) đã chỉ ra thần thoại cảm sinh xuất hiện ở thời đại quần hôn, ngườinguyên thủy cho rằng nguyên nhân thụ thai là do thiên nhân cảm ứng Thứ tư làthuyết thần hóa tổ tiên Đây là quan điểm chủ lưu của những năm gần đây cho rằngthần thoại cảm sinh của Trung Quốc đều xuất hiện ở “thời đại văn minh”, mục đíchcủa nó là thần hóa tổ tiên, thánh nhân, để lấy niềm tin của dân chúng Nhiều ngườicòn gọi loại này là thần thoại cảm sinh chính trị, chủ yếu tập trung vào thời đạiMười sáu nước (十六国时期) Những bài nghiên cứu tiêu biểu phải kể đến “Thần

thoại cảm sinh chính trị của thời kỳ Mười sáu nước và dung hợp dân tộc (十六国时

期政治感生神话与民族融合 2007))” của Hồ Tường Cầm (胡祥琴), “Khảo luận hiện tượng dựa vào nguồn gốc tổ tiên thời kỳ Bắc triều Mười sáu nước (十六国北

朝时期祖源攀附现象考论 2014)” của Trương Quân (张军), “Khám phá phân tích thần thoại cảm sinh chính trị đế vương thời kỳ Ngụy Tấn Nam Bắc triều (魏晋南北

朝时期帝王政治感生神话探析 2014)” của Lương Lực (梁力)

Ngoài những bài viết tìm hiểu nguyên nhân của thần thoại cảm sinh ra, cũng

có những bài viết tìm hiểu thần thoại cảm sinh các dân tộc thiểu số của Trung Quốc.Tiêu biểu có bài nghiên cứu của Vương Hiến Chiêu (王宪昭) “Khám phá phân tích

thần thoại cảm sinh của các dân tộc thiểu số Trung Quốc (中国少数民族感生神话

探析 2008))” chỉ ra thần thoại cảm sinh là một loại thần thoại quan trọng của thần

thoại các dân tộc thiểu số, chủ yếu phản ánh nguồn gốc của loài người Có người từ

góc độ giới tính tìm hiểu thần thoại cảm sinh Ví dụ bài “Từ góc độ giới tính xem xét thần thoại cảm sinh của sự ra đời thủy tổ (从性别角度看始祖诞生感生神话

2004)” phân tích nội hàm của thần thoại cảm sinh của Trung Quốc và sử thi của

Trang 17

Phần Lan Kalevala Tác giả Khương Uẩn Hà (姜韫霞) đã chỉ ra một số thần thoạicảm sinh mặc dù có dấu tích của chế độ thị tộc mẫu hệ, nhưng nhìn từ tổng thể nóthuộc về thế hệ thần thoại phụ quyền Bề ngoài là tôn sùng nữ thủy tổ, tôn sùng mẫutính, nhưng bản chất là phục vụ cho tư tưởng phụ quyền và nam quyền Những tácphẩm này chỉ từ thiên chức sinh đẻ khẳng định phụ nữ, coi phụ nữ là công cụ sinh

đẻ mà thôi Bài “Nguyên mẫu hình tượng nữ tính trong thần thoại cảm sinh các dân tộc thiểu số và giải thích nó từ góc độ nhân loại học nữ tính (少数民族感生神话女

性形象原型及其女性人类学阐释 2009)” của Trác Mã (卓玛) cho rằng trong thần

thoại cảm sinh của các dân tộc thiểu số, bất cứ thần hay là người, hình tượng phụ nữđều liên quan đến sinh đẻ Mẫu thần nhờ có vai trò sinh nở vạn vật mà được ca tụng

và tán thưởng, do năng lực sinh nở nên được làm mẹ của người anh hùng Ngườinguyên thủy chỉ nhìn thấy khả năng sinh đẻ của người phụ nữ, do vậy nhiều ngườiphụ nữ tự mình vật hóa mình, dần dần mất ý thức chủ thể

Một số bài nghiên cứu tập trung phân tích thần thoại cảm sinh thông qua một

số văn bản tác phẩm cụ thể “Bàn về thần thoại cảm sinh trong Sử Ký (论《史记》 中的感生神话 2012)” của Dương Hiển (杨显) chỉ ra rằng Sử Ký có nhiều thần

thoại cảm sinh của đế vương Tư Mã Thiên (司马迁) ghi chép lại thần thoại cảmsinh, một mặt nói rõ suy ngẫm của ông đối với nguồn gốc dân tộc, mặt khác nói rõvai trò của một sử quan, phải ghi chép những thần thoại cảm sinh từ ngày xưa đã có

dân gian và những thần thoại cảm sinh xuất hiện ở thời Hán “Giải mã thần thoại

cảm sinh trong Kinh Thi ( 《诗经》中感生神话的解读 2014)” của Mai Tiệp (梅婕)

chỉ ra cảm ứng thụ thai là phương thức giáng sinh của thủy tổ Thương Chu, theoKinh Thi lưu truyền, những phương thức giáng sinh trở thành nguyên mẫu của đời

sau “Bàn về thần thoại cảm sinh trong hai lăm bộ sử (论二十五史中的感生神话 2014)” của Điền Văn Tú ( 田文秀) phân loại thần thoại cảm sinh trong hai lăm bộ sử

thành bốn loại: cảm sinh do tiếp xúc vật lạ, cảm sinh do nuốt vật lạ, cảm sinh donhìn thấy vật lạ, cảm sinh do nằm mơ

Trang 18

Một số bài tập trung phân tích một truyện thần thoại cảm sinh cụ thể Bài

“Bàn về sự ra đời của Hoàng đế Hiên Viên và nội hàm lịch sử của nó (论轩辕黄帝 的出生及其历史内涵 1994)” của Đoàn Bảo Lâm (段宝林) bàn về sự ra đời thần kỳ

của Hoàng đế Hiên Viên: Hoàng đế Hiên Viên là anh em của Ngọc Hoàng, thấyngười dân chịu khổ, quyết tâm xuống trần gian giúp dân, đầu thai vào một người phụ

nữ đang hái rau trên đồi tên Phú Bảo Bài “Khảo sát thần thoại cảm sinh Hậu Tắc ( 后稷感生神话考 2006)” của Dương Kiến Quân (杨建军) khảo sát từ ngữ ghi chép

về sự sinh đẻ thần kỳ của Hậu Tắc trong sách Kinh Thi phần “Đại nhã, Sinh dân (大

生民)” và trong “Sử Ký, bản kỷ nhà Chu (史记

周本纪)” và nhận định hai bài trong Kinh Thi và trong Sử Ký tuy có khác nhau nhưng bài trong Sử Ký là dị bản của bài trong Kinh Thi Trong bài “Thuyết mới về Khương Nguyên giẫm vào vết chân khồng lồ ( 姜源“履巨人迹”新说 2014)”, Vương Hướng Huy (王向辉) đã khái quát

những quan điểm chủ yếu về vết chân khổng lồ đang tranh luận trong giới nghiêncứu, cuối cùng chỉ ra vết chân khổng lồ là chỉ con cú mèo Doãn Thừa (尹承) trong

bài “Mấy biểu trưng về thần thoại ra đời của Tống Thái Tổ (宋太祖诞生神话表微 2015)” khái quát năm tình tiết sinh đẻ thần kỳ của Tống Thái Tổ bao gồm mẹ mơ

thấy mặt trời vào bụng, thần quang chiếu vào phòng, thân thể được màu vàng kimche phủ, nhau thai hình hoa sen, hương thơm lạ thường và phân tích những nguyênnhân của những tình tiết này

Nhìn chung, giới nghiên cứu Trung Quốc đã có khá nhiều bài nghiên cứu vềthần thoại cảm sinh, nhưng phần lớn chỉ nghiên cứu một hoặc vài thần thoại cảmsinh, hoặc chỉ nghiên cứu thần thoại cảm sinh trong một số sách cổ nhất định, chưa

có công trình nghiên cứu nào thống kê tất cả các thần thoại cảm sinh ở Trung Quốc

và so sánh đối chiếu những thần thoại cảm sinh ấy Hơn nữa, khái niệm “thần thoạicảm sinh” của Trung Quốc chủ yếu chỉ những người con gái chưa chồng do ăn,uống phải dị vật, tiếp xúc dị vật, cảm ứng rồng, cảm ứng thiên tượng dị thường thụthai sinh con Ở đây, vai trò người bố thường không được nhắc đến Những truyệnnày xuất hiện khá sớm và phản ánh bóng dáng của xã hội mẫu hệ, thời điểm con

Trang 19

người sinh ra “biết mẹ không biết bố” Còn đến thời đã có nhà nước thì “thần thoạicảm sinh” chủ yếu là thần thoại cảm sinh của các vua và một số người thân tín củavua, thường liên quan đến chính trị nhà nước, nên đã có người gọi là thần thoại cảmsinh chính trị (政治感生神话) Những truyện này thường xuất hiện trong truyềnthuyết, nên học giả Trung Quốc chủ yếu nghiên cứu thần thoại cảm sinh trong thầnthoại và truyền thuyết, còn những mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ tích thì ítđược đề cập đến.

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu mô típ sinh đẻ thần kỳ ở Việt Nam

Ở Việt Nam thì không có thuật ngữ chuyên để chỉ những loại truyện này.Người ta coi sinh đẻ thần kỳ là một mô típ mà không coi là một loại thần thoại riêng,gọi nó là mô típ “sự ra đời thần kỳ”, “mô típ ra đời kỳ lạ”, “mô típ sinh nở thầnkỳ”… Nhìn chung những thuật ngữ đó đều có ý nghĩa gần giống nhau Nếu nói họcgiả Trung Quốc chủ yếu nghiên cứu thần thoại cảm sinh trong thần thoại và truyềnthuyết, thì ở Việt Nam, những mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ tích đượcnghiên cứu nhiều, thậm chí có thể nói giới nghiên cứu Việt Nam chủ yếu tập trungnghiên cứu mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyền thuyết và truyện cổ tích

Những sách cổ ghi chép về sinh đẻ thần kỳ của Việt Nam có “Lĩnh Nam Chích quái” tương truyền do Trần Thế Pháp viết, có lời nói đầu của Vũ Quỳnh và Kiều Phú, sách “Việt Điện U Linh” do Lý Tế Xuyên viết Những tác phẩm ghi

chép về mô típ sinh đẻ thần kỳ cũng có thể gọi là truyện sinh đẻ thần kỳ vì nhữngtruyện này kết cấu hoàn chỉnh, đã độc lập thành truyện Tác phẩm tiêu biểu phải kểđến Truyện họ Hồng Bàng, Âu Cơ đẻ bọc trứng nở ra trăm con, Truyện Từ ĐạoHạnh và Nguyễn Minh Không nói về sự ra đời thần kỳ của Lý Nhân Tông, TruyệnMan Nương nói về sư Già La Đồ Lê bước qua Man Nương, Man Nương mang thai

đẻ con Việt Điện U Linh cũng có nhiều truyện kể về sự sinh đẻ thần kỳ như sự ra

đời thần kỳ của Trần Hưng Đạo…

Về mô típ sinh đẻ thần kỳ thì cũng có nhiều công trình nhắc tới, như công

trình“Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á”

(1998) của Nguyễn Bích Hà Tác giả đã khái quát ra mười dạng sinh đẻ thần kỳ:

Trang 20

a Đứa trẻ ra đời do thiên nhiên cảm ứng.

b Đứa trẻ ra đời do người mẹ ăn hoặc uống phải dị vật

c Đứa trẻ ra đời do người mẹ uống nước đựng trong dị vật

d Đứa trẻ ra đời do người mẹ nằm mộng

e Đứa trẻ ra đời do người mẹ kết hợp với một con vật nào đó

f Đứa trẻ ra đời do người mẹ kết hợp với thần linh

g Đứa trẻ ra đời do người mẹ sinh ra bọc trứng hoặc một cục thịt

h Đứa trẻ ra đời từ một quả cây hoặc từ một cây tre, khúc gỗ…

i Đứa trẻ ra đời là do được một lực lượng siêu nhiên đầu thai hoặc do thầnthánh mượn cửa để xuống trần gian

j Đứa trẻ ngay khi ra đời đã có dị tật hoặc là một con vật

Những mô típ ra đời thần kỳ được khái quát ra trong cuốn sách này về cơ bản

là hoàn chỉnh, là một tài liệu quý báu cho người sau nghiên cứu về mô típ sinh đẻthần kỳ cũng như nghiên cứu về truyện kể dân gian

Trong công trình: “Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích Việt Nam”

(1999) Nguyễn Thị Huế chỉ ra yếu tố làm nên nguồn gốc nhân vật xấu xí mà tài ba

là mô típ sinh đẻ thần kỳ Tác giả còn khẳng định: “Khi hình thức hôn nhân cổ điển

là hình thức quần hôn của chế độ thị tộc còn đang tồn tại, người phụ nữ sinh con sẽnhận được sự chăm lo chung của cộng đồng huyết thống Còn khi chế độ thị tộcmẫu hệ với hình thức hôn nhân quần hôn tan rã thì cũng phát sinh sự tan rã của họhàng huyết thống nguyên thủy Việc các bà mẹ sinh con không rõ nguồn gốc sẽ dẫnđến việc đứa trẻ sẽ không còn nhận được sự quan tâm chung của cộng đồng nữa.Không những như vậy mà những đứa con đấy còn bị cộng đồng xua đuổi và hắt hủi.Với mô típ sinh đẻ thần kỳ, tác giả dân gian đã dùng tư duy thần thoại truyền thống

để “thần thánh hóa” nguồn gốc nhân vật để hé mở một tương lai tốt đẹp cho nhânvật" [43, tr 51]

Phần khái luận của cuốn sách “Tổng tập văn học dân gian của người Việt, tập 4, truyền thuyết dân gian” (2004) do Kiều Thu Hoạch chủ biên, Trần Thị An,

Trang 21

Mai Ngọc Hồng cùng biên soạn đã chỉ ra mô típ sinh đẻ thần kỳ có hai dạng thứcthể hiện Dạng thức thứ nhất là kể trực tiếp bà mẹ đi tắm bị giao long phủ quanh

người như truyện Trần Giới Trần Hà, cầu vồng sa xuống người bà mẹ như truyện Năm anh em làng Na, sao chiếu thẳng xuống giường bà mẹ như Truyện hai ông gác cổng, bà mẹ đi tắm gặp rồng quấn như truyện Thánh Linh Lang, bà mẹ giẫm dấu chân hổ như Sự tích Cả Hai Cả Lợi… nhân đó thụ thai đẻ ra người anh hùng, những

người anh hùng này thường nằm trong một bọc thai chung Dạng thức thứ hai là kểviệc thụ thai thông qua một giấc mơ của các bà mẹ Các bà mẹ mơ thấy trăng sa vào

bụng như Truyện núi Vú Thúng, mơ nuốt hai quả trứng như truyện Cao Sơn Quý Minh, mơ thấy viên ngọc năm sắc bị vỡ như Truyền thuyết Mai Thúc Loan, mơ thấy tấm lụa đỏ choàng vào người như truyện Nhã Lang và đình Chu Quyến… Sau

những giấc mơ - điềm báo ấy là sự ra đời của những nhân vật phi thường Tác giảcòn chỉ ra: “Các biểu hiện phong phú này chắc chắn có liên quan đến tín ngưỡngvạn vật hữu linh thời cổ, không loại trừ sự ảnh hưởng của các tín ngưỡng nguyênthủy khác và Phật giáo, Đạo giáo…” [110, tr 44]

Trong cuốn sách “Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam” (2014) của Trần Thị An, ở phần phụ lục, tác giả khái quát sự ra đời

thần kỳ của các nhân vật trong những truyền thuyết xuất hiện mô típ sinh đẻ thần kỳ.Tác giả còn chỉ ra sự ra đời thần kỳ trong truyện cổ tích và truyền thuyết có sự khácnhau: “Sự ra đời của truyện cổ tích bó hẹp trong phạm vi gia đình, là ao ước của mộtgia đình, nhân vật ra đời thường mang đức tính tốt theo chuẩn mực đạo đức xã hội

mà gia đình mong muốn; trong khi đó, nhân vật truyền thuyết ra đời do mong muốncủa cộng đồng về người tài, họ phải có những phẩm chất cao cả để giải quyết nhữngvấn đề đang đặt ra cho cộng đồng đó” [1, tr 113]

Trong bài viết “Sự ra đời thần kỳ của người anh hùng trong sử thi Khan - Ê Đê” (2007), tác giả Phạm Đặng Xuân Hương đã nghiên cứu về sự ra đời thần kỳ

của người anh hùng với sự mang thai thần kỳ, sự sinh đẻ bất thường và lễ đặt tênđầy khó khăn trong 9 bản sử thi Ê Đê Trong đó, sự mang thai người anh hùng thần

kỳ được kể như sau: Người mẹ mang thai người anh hùng là do ăn hoặc uống phải

Trang 22

dị vật, hoặc do có một con vật bay vào miệng của người mẹ, do thiên nhiên cảmứng, do tự nhiên mang thai người anh hùng và người anh hùng là con cháu của vị

thần Trong bài luận “Yếu tố thần kỳ trong truyền thuyết nhân vật của người Việt ở Nam Trung Bộ” (2007), tác giả Nguyễn Định cho rằng trong số tác phẩm truyền

thuyết nhân vật người Việt ở Nam Trung Bộ mà tác giả tập hợp được chỉ có vuaNam Chiếu do mẹ bị con rái lớn hãm hiếp mang thai sinh ra Từ đấy, tác giả nhậnxét: “Trong truyền thuyết người Việt ở Nam Trung Bộ, mô típ sinh đẻ thần kỳ hầunhư ít khi được sử dụng ở truyền thuyết nhân vật Đây không phải chỉ là đặc điểmcủa truyền thuyết người Việt ở Nam Trung Bộ mà còn là đặc điểm của truyền thuyết

người Việt ở Nam Bộ và Thừa Thiên - Huế” [20, tr 20] Trong bài luận “Tìm hiểu

về mô típ sinh đẻ thần kỳ của kiểu truyện “người khỏe” trong kho tàng truyện cổ Việt Nam” (2008), tác giả Nguyễn Thị Hoa Mai chỉ ra bốn kiểu ra đời thần kỳ của

những “người khỏe” là: kết quả của những hôn nhân kỳ lạ, do người mẹ kết hợp vớithần linh sinh ra, do được một lực lượng siêu nhiên nào đó sinh ra, đứa trẻ sinh ra đã

dị dạng Trong bài viết “Mô típ “người mang lốt cóc” trong truyện cổ tích từ góc nhìn dân tộc học” (2015), tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan chỉ ra ba dạng thức của

người mang lốt được sinh ra là: do người mẹ (một bà goá hay một cô gái chưachồng) ăn, uống phải dị vật sinh ra; do người mẹ có quan hệ gián tiếp với thần linh(đặt chân vào dấu chân lạ, hào quang chiếu rọi vào buồng ngủ) sinh ra; nhân vậtđược sinh ra từ một giống thực vật (quả bí)

Ngoài những cuốn sách và những bài nghiên cứu ở trên, chúng tôi còn tìmthấy một số luận văn và luận án có đề cập đến mô típ sinh đẻ thần kỳ Dưới đâychúng tôi liệt kê các công trình theo giai đoạn thời gian:

Từ năm 2000 đến 2009: Luận văn thạc sĩ “Truyền thuyết và lễ hội Linh Lang vùng ven Hồ Tây - Hà Nội” (2004) của Hoa Hữu Vân chỉ ra sự sinh đẻ thần kỳ của

mẹ Linh Lang là do người mẹ nằm mơ và sự ra đời thần kỳ của Uy Linh Lang là dongười mẹ bị con giao long cuốn Tác giả cho rằng sự ra đời thần kỳ do người mẹnằm mơ là bắt nguồn từ quan niệm linh hồn và thể xác của người nguyên thủy, cònchi tiết bị giao long cuốn thì có liên quan đến “vua rắn” của Việt Nam Trong luận

Trang 23

văn thạc sĩ “Truyền thuyết và Lễ hội về Hai Bà Trưng ở Hát Môn - Phúc Thọ - Hà Tây” (2004), tác giả Nguyễn Thị Dung chỉ ra truyền thuyết về Hai Bà ở Hát Môn có

tình tiết mô típ sinh đẻ thần kỳ: bà Trần Thị Đoan (mẹ của Hai Bà) do nằm mơ mà

có mang, lúc sinh Hai Bà thì hương thơm sực nức, ánh sáng rực rỡ, ban ngày trời

đất bỗng tối tăm mù mịt như ban đêm Trong luận văn thạc sĩ “Truyền thuyết và lễ hội về Cao Lỗ ở xã Vạn Ninh, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh” (2006), tác giả

Nguyễn Văn Triệu chỉ ra sự ra đời thần kỳ của Cao Lỗ là do người mẹ mơ thấy rồngtrắng quấn quanh giường rồi mang thai sinh ra Sự ra đời thần kỳ này có cội nguồn

từ trong thần thoại cổ xưa, nhắc nhở những quan hệ lưỡng phân giữa “đất và nước”,

“núi và sông” Luận án tiến sĩ “Mối quan hệ văn hóa Tày - Việt dưới góc độ thẩm

mỹ qua một số kiểu truyện dân gian cơ bản” (2008) của tác giả Hà Thị Thu Hương

phân loại các dạng thụ thai thần kỳ là do ăn uống phải vật lạ, tiếp xúc với vật lạ và

nằm mơ Luận văn thạc sĩ “Truyền thuyết và lễ hội các làng La (Hà Nội)” của tác

giả Nguyễn Thị Nguyệt (2009) kể chuyện sinh đẻ thần kỳ của thành hoàng các làng

La Cả, La Dương, La Phù Tác giả đã khái quát ba ý nghĩa của mô típ sinh đẻ thần

kỳ Thứ nhất, xét về góc độ sáng tạo văn học nghệ thuật thì mô típ này nhằm tạo racác yếu tố thần kỳ để thu hút, hấp dẫn người đọc, người nghe Thứ hai, xét ở góc độvăn hóa tâm linh thì mô típ này nhằm linh thiêng hóa nhân vật được dân làng thờcúng (thành hoàng làng) Thứ ba, xét dưới góc độ nhận thức lịch sử thì mô típ nàyphản ánh thái độ yêu mến, tôn vinh, đề cao của nhân dân với các thần linh

Từ năm 2010 đến năm 2015: Trong luận văn thạc sĩ “Truyền thuyết về một

số danh nhân văn hóa thời trung đại trên đất Hải Dương” (2011), tác giả Nguyễn Thị Quyên chỉ ra những danh nhân văn hóa thời trung đại trên đất Hải Dương mang

sự ra đời thần kỳ là Mạc Đĩnh Chi và Nguyễn Thị Duệ Bố mẹ của Mạc Đĩnh Chingoài 40 tuổi chưa có con Khi đến đền Chử Đồng Tử ở Hưng Yên, một đêm người

vợ mơ thấy một vệt sáng quắc từ trời rơi xuống giữa nhà rồi hóa thành một con khỉchạy vào trong lòng, một thời gian sau sinh ra Mạc Đĩnh Chi Còn Nguyễn Thị Duệ

là do bà thân mẫu nằm mộng thấy sao trên trời sa vào bụng, sau đó sinh ra bà Trong

luận văn thạc sĩ “Khảo sát truyền thuyết và lễ hội Đinh Lê ở Ninh Bình” (2012) của

Trang 24

Giang Thị Thu Phương, tác giả chỉ ra trong truyền thuyết Đinh Lê, sự ra đời củaĐinh Bộ Lĩnh là do bà Đàm Thị trong một giấc ngủ như bị thôi miên đã bị rái cáhiếp, sau đó mang thai sinh ra Bộ Lĩnh Còn nhận xét về dạng sinh đẻ thần kỳ thì tác

giả cũng nhận định là có hai dạng sinh đẻ thần kỳ như trong cuốn sách Tổng tập văn học dân gian người Việt do Viện Khoa học Xã hội biên soạn Hoàng Việt Hương cũng cùng quan điểm này Trong luận văn thạc sĩ “Khảo sát truyền thuyết và lễ hội của các di tích Thăng Long Tứ Trấn” (2012), tác giả nói mô típ sinh đẻ thần kỳ có

hai biến dạng, dạng thứ nhất là bà mẹ thụ thai trực tiếp và dạng thứ hai là bà mẹ thụ

thai thông qua một giấc mơ Luận văn thạc sĩ “Truyền thuyết anh hùng chống ngoại xâm triều Trần” (2012), tác giả Hoàng Thị Lân chỉ ra sự ra đời thần kỳ của Trần

Hưng Đạo, Bảng Công, Đinh Công Tuấn, Quý Minh, Uy Linh Lang là những ngườiđược mẹ thụ thai thông qua một giấc mơ Hải Công, Nàng Ngọc là do mẹ bị rắntrắng bao phủ thụ thai đẻ ra Trần Nhật Duật sinh ra trên cơ thể có sự khác biệt…Tác giả nói nguyên nhân của sự sinh đẻ thần kỳ là xuất phát từ quan niệm tínngưỡng của con người, con người luôn tin rằng có kiếp luân hồi, có kiếp sau, có sựđầu thai Và con người có niềm tin vào cái siêu nhiên Hơn thế nữa, xuất phát từ tưtưởng, tình cảm của nhân dân, cũng là trí tưởng tượng sáng tạo của nhân dân để tônvinh những người anh hùng của dân tộc, gắn vào họ sự cao quý, khác thường để thểhiện lòng thành kính đối với họ, để cho họ bất tử và tồn tại muôn đời Luận án tiến

sĩ “Khảo sát và nghiên cứu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ” (2012), tác giả Nguyễn

Thị Thanh Lưu đã khảo sát 144 truyện, trong đó có 35 truyện có mô típ sinh đẻ thần

kỳ như truyền thuyết Trưng Hưng công thần Đinh Bạt Tụy, sự tích đền Bạch Mã.Tác giả còn chỉ ra: trong số 35 lần trình diện, các kịch bản của mô típ sinh đẻ thần

kỳ rất hiếm khi trùng lặp Điều đó cho thấy sức sáng tạo dồi dào của dân gian Đó làmột quá trình sáng tạo có ý thức nhằm khai thác tối đa vẻ đẹp của đối tượng theocách cảm nhận của dân gian, đồng thời mở ra một khoảng không rộng lớn để hìnhtượng ấy lớn vụt lên về tầm vóc và có khả năng trường tồn vĩnh cửu Luận văn thạc

sĩ “Khảo sát hiện tượng Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội (Qua truyện kể và Lễ Hội)” (2012)

của tác giả Vũ Thị Huế chỉ ra sự sinh đẻ thần kỳ của Từ Đạo Hạnh là do người mẹ

Trang 25

nằm mộng thụ thai đẻ ra con Trong luận văn thạc sĩ “Những yếu tố văn học dân gian trong truyện cổ Phật giáo của Thích Minh Chiếu” (2014) của Đỗ Thị Thúy, tác

giả chỉ ra trong 128 truyện mà tác giả tập hợp được thì truyện có mô típ sinh đẻ thần

kỳ là 5 truyện, trong đó có ba khía cạnh nhỏ là: sinh nở trăm trứng, nhân vật mang

hình hài quái dị và nhân vật được thụ thai nhờ thần Luận văn thạc sĩ “Truyền thuyết

về Nữ thần và Thánh Mẫu ở Hà Nam” (2015) của tác giả Trần Thị Bổng khái quát

ba dạng mô típ sinh đẻ thần kỳ là nằm mộng sinh con, thời gian mang thai khácthường và người mẹ đẻ bọc con

Nhìn chung, mặc dù những chuyên luận chuyên nghiên cứu về mô típ sinh đẻthần kỳ ở Việt Nam còn chưa nhiều, nhưng trong những công trình có liên quan đến

mô típ sinh đẻ thần kỳ, các tác giả đều đã đề cập đến Có thể nói, mô típ sinh đẻthần kỳ đã trở thành một mô típ quen thuộc đối với giới nghiên cứu

1.1.3 Lịch sử nghiên cứu so sánh mô típ sinh đẻ thần kỳ của Trung Quốc và Việt Nam

Cho đến nay, chưa có chuyên luận nghiên cứu so sánh về mô típ sinh đẻ thần

kỳ của Trung Quốc và Việt Nam Có một số bài văn có bàn về sinh đẻ thần kỳ hoặc

có nhắc một số truyện sinh đẻ thần kỳ “Bàn về so sánh thần thoại và truyền thuyết của Trung Quốc và Việt Nam ( 中越神话传说比较谈 1994)”, tác giả Mạnh Chiêu

Nghị (孟昭毅) đã lấy một số thần thoại và truyền thuyết tương tự của Trung Quốc

và Việt Nam tiến hành so sánh, như Thần Trụ trời của Việt Nam so sánh với Thầnthoại Bàn Cổ của Trung Quốc, Truyện Họ Hồng Bàng của Việt Nam và Truyện LưuNghị của Trung Quốc, Truyện Kim quy của Việt Nam và Quy Hóa thành của TrungQuốc, Đổng Thiên Vương của Việt Nam và Truyền thuyết Hậu Tắc (后稷传说) củaTrung Quốc Quan điểm của tác giả là: những thần thoại và truyền thuyết của ViệtNam hình thành dưới sự ảnh hưởng của những thần thoại và truyền thuyết tương tự

của Trung Quốc Trong công trình “Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện

cổ Việt Nam và Đông Nam Á” (1998)) của Nguyễn Bích Hà có nói đến truyện sinh

đẻ thần kỳ trong Tam quốc chí diễn nghĩa: khi A Đẩu ra đời, có một đám mây lành

Trang 26

che trên nóc nhà, một con hạc đến kêu 41 tiếng Trước khi Mạnh Hoạch ra đời, mộtngôi sao từ phía đông từ từ bay đến, dừng lại sáng lấp lánh giữa trời Rồi giống nhưtia chớp, nó cắm mạnh xuống nóc nhà mà từ đó Mạnh Hoạch ra đời Bài viết củaĐàm Lệ Phương (覃丽芳) “So sánh về thần thoại và truyền thuyết liên quan đến

nguồn gốc của dân tộc Trung Quốc và Việt Nam (中越有关民族起源神话传说对

比)” (2008) đã so sánh những điểm tương đồng và điểm khác biệt của Thần Trụ trời

Việt Nam và thần thoại Bàn Cổ của Trung Quốc Trong bài văn của Hoàng Linh (黄

玲) “Những chức năng tự sự và văn hóa của Thần thoại dân tộc xuyên biên giới lấy diễn biến của mô típ thần thoại “Trúc sinh người” làm dẫn chứng (中越跨境民

-族神话叙事及其文化功能—以“竹生人”神话母题的衍化为例 2011)”, tác giả lấy

những thần thoại “Trúc sinh người” lưu truyền ở miền Bắc Việt Nam và phía NamTrung Quốc làm đối tượng nghiên cứu, soi chiếu qua góc độ chính sách văn hóakhác nhau sau khi dân tộc di chuyển thuộc về hai nước Thần thoại “Trúc sinhngười” cũng đã phát sinh sự khác nhau về kế thừa và diễn hóa Bài viết cũng chỉ ra,những thần thoại này là tín ngưỡng của dân tộc xuyên biên giới và có chức nănglàm cho dân tộc xuyên biên giới tăng cường cảm giác quy thuộc

Nhìn chung, những bài luận đều chỉ bàn về sinh đẻ thần kỳ ở bước sơ bộhoặc chỉ nhắc đến, chưa thật sự đi sâu để phân tích mô típ này Với luận án này,chúng tôi mong muốn tìm hiểu, so sánh mô típ sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổTrung Quốc và Việt Nam một cách hệ thống, nhằm có một tầm nhìn tổng thể về môtíp sinh đẻ thần kỳ trong truyện cổ hai nước

1.2 Một số khái niệm liên quan đến luận án

1.2.1 Truyện cổ

Truyện cổ dân gian, cũng gọi là truyện dân gian, có nghĩa là truyện đời xưa.Nếu muốn tìm một từ trong Tiếng Hán để thay thế thì nó là “cố sự (故事)”, thườnggọi là “dân gian cố sự (民间故事 truyện dân gian)” Từ “cố sự (故事)” của tiếngHán có nghĩa rộng và nghĩa hẹp Nghĩa hẹp của “cố sự (故事)”, tương đương với

Trang 27

khái niệm truyện cổ tích của Việt Nam, chỉ một thể loại của văn học dân gian, cụ thể làtruyện cổ tích Nghĩa rộng của từ “cố sự (故事)” thì bao gồm các loại truyện dân gian,trong đó có thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, giaithoại nó tương đương khái niệm truyện cổ ở Việt Nam Ở Trung Quốc từ “cố sự”

được sử dụng nghĩa rộng nhiều hơn nghĩa hẹp Những cuốn sách như “Sách tra cứu típ

truyện dân gian Trung Quốc ( 中国民间故事类型索引)” của Đinh Nãi Thông (丁乃通), “Nghiên cứu típ truyện dân gian Trung Quốc (中国民间故事类型研究)” của Lưu Thủ

Hoa (刘守华), bộ sách “Tổng tập truyện dân gian Trung Quốc (中国民间故事总集)”

đều sử dụng nghĩa rộng của từ “cố sự ( 故事)” Lời nói đầu của bộ sách “Tổng tập

truyện dân gian Trung Quốc ( 中国民间故事总集)” đã chỉ ra danh từ “dân gian cố sự

(民间故事)” là một khái niệm rộng, nó bao gồm các thể loại văn học tự sự của quầnchúng nhân dân của các dân tộc Trung Quốc, trong đó có thần thoại, truyền thuyết, còn

có các loại truyện, như truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tíchsinh hoạt, truyện cười, ngụ ngôn và một số thể loại văn học tự sự đặc biệt của một sốdân tộc và một số khu vực” [176, tr 1]

Ở Việt Nam thì truyện cổ là một khái niệm được giới folklore sử dụng nhiều,

có nghĩa là truyện cổ xưa, truyện đời xưa Gồm thần thoại, truyền thuyết, truyện cổtích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, giai thoại Nguyễn Đổng Chi trong cuốn sách

Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam nói rằng: “Theo nghĩa thông thường, truyện cổ là

nói tắt của cách nói đầy đủ truyện cổ dân gian Truyện cổ dân gian là một khái niệm

có ý nghĩa khái quát, nó bao gồm hết thảy các loại truyện do quần chúng vô danhsáng tác và lưu truyền qua các thời đại” [9, tr 39]

Mô típ sinh đẻ thần kỳ thường xuất hiện trong thần thoại, truyền thuyết,truyện cổ tích, nên khái niệm truyện cổ mà chúng tôi sử dụng chỉ gồm thần thoại,truyền thuyết, truyện cổ tích Truyện cổ Trung Quốc chủ yếu chỉ truyện cổ của tộcngười Hán, truyện cổ Việt Nam chủ yếu chỉ truyện cổ của tộc người Kinh, nhưngmột số truyện của dân tộc khác cũng được thống kê và làm đối tượng khảo sát, vì nóxuất hiện trong những tài liệu mà tác giả sử dụng Theo quan niệm, truyện cổ là

Trang 28

truyện cổ dân gian, nhưng một số truyện cổ dân gian đã được sưu tập vào sử sách,nên một số tài liệu chúng tôi chọn đã được ghi trong sử sách của Trung Quốc như

Sử Ký, Hán Thư, Hậu Hán Thư… hoặc sử sách của Việt Nam như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư… Nhưng nguồn gốc của những truyện này vẫn từ dân gian, nên chúng tôi

vẫn lấy làm đối tượng nghiên cứu

1.2.2 Thần thoại

Thần thoại là một thể loại của văn học dân gian Từ “thần thoại” có nguồngốc từ Hy Lạp - cái nôi của nền văn minh châu Âu là “mythos” Trong tiếng Anhthần thoại là “myth”, thần thoại học là “mythology” Nhìn từ phạm vi thế giới, thầnthoại trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học từ thế kỷ XVII, XVIII, thậm chísớm hơn Nhiều người tiên phong trong giới nghiên cứu đã có cống hiến hữu ích

trong lĩnh vực nghiên cứu thần thoại Tân khoa học (1725) của Giambattista Vico

(1668 - 1744) là tác phẩm tiêu biểu cho thời kỳ bắt đầu của thần thoại học.Giambattista Vico nghiên cứu lịch sử phát triển văn hóa của nhân loại, lấy vấn đềthần thoại làm điểm xuất phát và trung tâm, đưa ra ba thời đại phát triển của nhânloại: thời đại thần thoại, thời đại anh hùng và thời đại con người Ngoài ra, nhànghiên cứu này còn đưa ra thuyết “tư duy thần thoại” Sau đó, những năm đầu củathế kỷ XIX, anh em nhà Grimm vận dụng phương pháp nghiên cứu so sánh lịch sửtrong ngôn ngữ học để nghiên cứu thần thoại, sáng lập ra trường phái thần thoại.Những lí luận này thúc đẩy “thần thoại phục hưng” của châu Âu một cách mạnh mẽ.Đến cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, thần thoại học lên đến thời kỳ huy hoàng

Mặc dù việc nghiên cứu thần thoại phát triển nhanh chóng trên toàn thế giới,nhưng để định nghĩa thần thoại thì lại là một việc không dễ Ernst Cassirer cũng đãtừng nói: “Trong tất cả các hiện tượng của văn hóa nhân loại, thần thoại và tôn giáo

là khó sử dụng logic để phân tích nhất” Mỗi người có một định nghĩa riêng KarlMarx cho rằng: “Thần thoại nào cũng chinh phục, chi phối và nhào nặn những sứcmạnh tự nhiên ở trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng, hình tượng hóa sứcmạnh tự nhiên, theo những sức mạnh tự nhiên bị chi phối, thần thoại cũng một đikhông trở lại” Lỗ Tấn thì cho rằng: “Người nguyên thủy trước đây, nhìn thấy vạn

Trang 29

vật trên trời dưới đất thay đổi liên tục, những thay đổi ngoài khả năng của nhân loại,nên tự tạo ra những giải thích về những hiện tượng này, những giải thích này gọi làthần thoại” [145, tr 17] Mao Thuẫn cho rằng: “Thần thoại tức là một loại truyện lưuhành ở thời đại thượng cổ, nội dung của truyện là những hành sự của các thần,những hành sự này ngoài khả năng của nhân loại, mặc dù hoang đường không có căn

cứ, nhưng người dân cổ đại kể lại với nhau và tin là thật” [148, tr 3] Chung KínhVăn cho rằng: “Thần thoại là một thể loại của văn học dân gian, là truyện mang tíchchất thần kỳ do người ngày xưa sáng tác ra để phản ánh thế giới tự nhiên, mối quan

hệ giữa con người và tự nhiên và hình thái xã hội” [175, tr 166] Theo quan điểmcủa Võ Quang Nhơn thì: “Thần thoại là một hiện tượng văn hóa tinh thần ra đời từkhá sớm Theo quy luật phổ biến, thần thoại chủ yếu ra đời trong xã hội cộng đồngnguyên thủy, vào những thời kỳ xa xưa của các xã hội trước khi có giai cấp Thầnthoại phản ánh một cách kì diệu nhận thức về vũ trụ, về cộng đồng đấu tranh thiênnhiên, sinh hoạt xã hội và tư duy xã hội ở các dân tộc người anh em từ thời cổ xưa”[81, tr 94] Nguyễn Hùng Vĩ chỉ ra: “Thần thoại là tập hợp những truyện kể dângian về các vị thần, các nhân vật anh hùng thần linh, các nhân vật sáng tạo văn hóathần linh, phản ánh quan niệm của con người cổ về thế giới tự nhiên và đời sống xãhội con người” [84, tr 25] Nguyễn Bích Hà cho rằng: “Thần thoại là truyện kể vềcác vị thần và những điều thần bí, là hình thức nhận thức thế giới đặc trưng của conngười thời cổ Thông qua sự thần thánh hóa và mĩ hóa các hiện tượng tự nhiên và xãhội, con người đã gửi gắm khát vọng giải thích tự nhiên, xã hội và ước mơ chinh

phục thế giới đó” [28, tr 21] Vũ Anh Tuấn trong Giáo trình văn học dân gian của mình chỉ ra: “Thần thoại là một thể loại văn học dân gian, một thể sáng tạo nghệ

thuật ngôn từ truyền miệng đầu tiên và không tự giác ra đời vào giai đoạn xã hộinguyên thủy đã phát triển từ dã man đến văn minh” [106, tr 46] Ngoài ra, thần thoạicòn được rất nhiều nhà nghiên cứu khác đưa ra các cách định nghĩa khác nhau Nhưvậy, thần thoại là sự sáng tạo của con người nguyên thủy để giải thích thế giới xungquanh Trước thế giới tự nhiên kỳ vĩ, bí ẩn, người nguyên thủy có rất nhiều câu hỏi

về tự nhiên và vũ trụ không tự lý giải được Con

Trang 30

người đã sử dụng trí tưởng tượng của mình để hình dung và lí giải chúng Như vậy,thần thoại đã được tạo ra Mô típ sinh đẻ thần kỳ trong thần thoại chủ yếu để giảithích nguồn gốc của loài người, chẳng hạn như những vật thể trong tự nhiên sinhngười gồm trời sinh người, đất sinh người, đá sinh người động vật sinh người,thực vật sinh người, thần sinh (tạo) người, người đàn ông sinh người Về sau,những mô típ này được truyền thuyết và truyện cổ tích vay mượn.

1.2.3 Truyền thuyết

Từ “truyền thuyết” có nguồn gốc từ tiếng Latinh legere Ban đầu nó là tên

gọi của một đoạn tài liệu, để chỉ một cuốn sách chứa đựng những lý giải về cuộc đờicủa các vị thánh được sắp xếp theo trật tự lịch Thiên Chúa và được đọc trong nhữngngày lễ thánh tại các nghi lễ thiêng liêng Tuy nhiên, về sau ý nghĩa của từ này đãđược mở rộng Truyền thuyết, tiếng Hán là “truyền thuyết (传说)”, từ này thường đicùng thần thoại, thành một cụm từ là “Thần thoại truyền thuyết (神话传说)” Viên

Kha ở cuốn sách Thần thoại truyền thuyết Trung Quốc ( 中国神话传说) có nói:

“Trong một truyện, thần thoại và truyền thuyết luôn lẫn lộn nhau, trong đó vừa miêu

tả hành vi của thần, vừa miêu tả hành vi của người, người và thần cùng xuất hiện,mới có thể viết ra những bài ca tráng lệ rực rỡ, rất khó chia cắt họ thành hai; họ cómột cái tên gọi chung là “thần thoại” [173, tr 33] Đây chính là thần thoại nghĩarộng của ông Trên thực tế, ở Trung Quốc thần thoại và truyền thuyết không có sựtách biệt rõ ràng, nên người ta thường gọi chung là “thần thoại truyền thuyết (神话传说) ”

Ở Việt Nam thì khái niệm truyền thuyết được định nghĩa rõ hơn, thườngngười ta hiểu là phải gắn liền với nhân vật lịch sự hoặc sự kiện lịch sử thì mới làtruyền thuyết Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nhận xét về truyền thuyết:

“Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thực lịch sử mà nhân dânqua nhiều thế hệ đã lí tưởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùngvới thơ và mộng Chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làmnên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con người ưa thích” [21] Kiều Thu Hoạch

Trang 31

định nghĩa truyền thuyết như sau: “Truyền thuyết là một thể loại truyện kể truyềnmiệng, nằm trong loại hình tự sự dân gian, nội dung cốt truyện của nó kể lại truyệntích của nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theoquan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương,phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng các yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thầnthoại; nó khác cổ tích ở chỗ không nhằm phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xãhội và số phận cá nhân mà thường phán ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia,dân tộc rộng lớn; nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sựthật lịch sử cụ thể chứ không phải hoàn toàn trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởngtượng” [34, tr 176] GS.TS Lê Chí Quế cho rằng: “Truyền thuyết là một thể loạitrong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử, danh nhânvăn hóa hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ” [84, tr 49 ].Trên thực tế, nhiều lúc thần thoại và truyền thuyết rất khó phân biệt, vì nó vừa mangyếu tố của thần thoại, vừa mang yếu tố của truyền thuyết, nhưng truyền thuyếtthường được gắn vào một nhân vật cụ thể nào đó trong lịch sử, những nhân vật ấysinh ra để giải quyết những vấn đề to lớn của cộng đồng Đúng như nhận xét của CốThủ tướng Phạm Văn Đồng, truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thực

mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lí tưởng hóa nhân vật lịch sử và gửi gắm nhữngtâm tình thiết tha của mình vào những nhân vật lịch sử này Mô típ sinh đẻ thần kỳcủa những nhân vật trong truyền thuyết là để nói rõ nguồn gốc xuất xứ thần thánh,cao quý của những nhân vật lịch sử này, nhân dân đã dụng trí tưởng tượng mỹ hóanhững nhân vật lịch sử này và tạo cho những nhân vật này một tiền đề để nhữngnhân vật này có thể làm được một việc to lớn cho nhân dân, cho nhà nước

1.2.4 Truyện cổ tích

Truyện cổ tích, Tiếng Hán dùng từ “cố sự (故事)” để biểu thị, nó là nghĩahẹp của từ “cố sự (故事)” Nghĩa rộng của từ “cố sự (故事)” tương đương với kháiniệm truyện cổ của Việt Nam, còn nghĩa hẹp tương đương với truyện cổ tích, chỉmột thể loại riêng của văn học dân gian

Trang 32

Truyện cổ tích không như truyền thuyết, truyền thuyết quan tâm đến nhữngvấn đề to lớn của cộng đồng, truyện cổ tích quan tâm đến số phận cá nhân, gia đình,truyện cổ tích ra đời để giải quyết những vấn đề của đời sống gia đình, những hiệntượng xung đột xã hội GS.TS Lê Chí Quế định nghĩa truyện cổ tích như sau:

“Truyện cổ tích là sáng tác dân gian trong loại hình tự sự mà thuộc tính của nó làxây dựng trên những cốt truyện; truyện cổ tích là tác phẩm nghệ thuật được xâydựng thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ; truyện cổ tích là một loại hoàn chỉnhcủa văn học dân gian, được hình thành một cách lịch sử; sự hư cấu thần kỳ trongtruyện cổ tích do hiện thực đời sống quyết định và nó cũng chịu sự biến đổi theotiến trình lịch sử” [84, tr 107] Truyện cổ tích được PGS.TS Nguyễn Bích Hà địnhnghĩa cụ thể như sau: “Truyện cổ tích là những truyện kể có yếu tố hoang đường kì

ảo Nó ra đời từ sớm nhưng đặc biệt nở rộ trong xã hội có sự phân hóa giàu nghèo,xấu tốt Qua những số phận khác nhau của nhân vật, truyện trình bày kinh nghiệmsống, quan niệm đạo đức, lí tưởng và mơ ước của nhân dân lao động về một xã hộicông bằng, dân chủ, hạnh phúc” [28, tr 75] Truyện cổ tích mà chúng tôi sử dụngtrong luận án chủ yếu là truyện cổ tích thần kỳ, nó phản ánh ước mơ của nhữngngười nhỏ bé, những người mà xã hội coi là những người “thấp kém” Họ ước mơ

có một lực lượng siêu nhiên xuất hiện để họ có thể thay đổi số phận của họ, có đượccuộc sống hạnh phúc, ấm no, tự do Tác giả dân gian đã cho họ một xuất xứ khácthường, những người này lúc sinh ra thường rất nhỏ bé, thường mang một bộ lốt xấu

xí, nhưng những người này đều có nguồn gốc từ thần thánh, bộ lốt chỉ là bên ngoài,còn trong bộ lốt là những con người rất tài ba, có khả năng siêu thường Cuối cùngnhững người này đều bỏ được lốt xấu xí trở thành những người đẹp đẽ và có mộtcuộc sống hạnh phúc Đây cũng chính là đặc điểm thể loại của truyện cổ tích, kếtthúc có hậu

1.2.5 Sinh đẻ thần kỳ

Theo chúng tôi, sinh đẻ thần kỳ có nghĩa rộng và nghĩa hẹp Nghĩa rộng chỉtất cả các loại sinh đẻ khác thường Dùng tiêu chí chủ thể sinh đẻ người có thể chiathành những vật thể tự nhiên sinh ra người; thực vật sinh ra người; động vật sinh ra

Trang 33

người; thần sinh (tạo) ra người; người đàn ông sinh ra người; người phụ nữ sinh rangười một cách khác thường Nghĩa hẹp dùng để chỉ người phụ nữ sinh ra ngườimột cách khác thường Dưới đây, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu nghĩa rộng và nghĩa hẹpcủa mô típ sinh đẻ thần kỳ, đầu tiên là nghĩa rộng:

A Những vật thể tự nhiên sinh người

Những vật thể tự nhiên sinh người chủ yếu có trời sinh ra người, đất sinh rangười… Truyện Sáng lập vũ trụ của người Gia Rai kể rằng: Từ cõi U Minh, thầnBung tạo ra muôn loài Cặp vợ chồng đầu tiên từ dưới lòng đất lên mặt đất để sinhsống, dắt theo đứa con và con trâu Con trâu bị vướng sừng hóa đá và vẫn còn dấutích ở cao nguyên Ca Nhơ Trong truyện kể của người H’mông thì Ông Chày BàChày tạo trời tạo đất, đất quá rộng nên bà Chày đã nắn lại đất Đất thấy đau rankhắp mình mẩy Một chỗ đất bị căng phồng lên, nứt ra Thế là đất trở dạ, sinh đôiđược hai người con là gái Gầu Á và trai Dầu Âu

Thần thoại Sự hình thành trái đất và muôn loài của dân tộc Hà Nhì kể rằng

Trời đất ngày xưa không được đẹp như bây giờ Lúc ấy bề mặt quả đất thật vắng vẻ,không có người ở, không có loài vật sinh sống và cũng chẳng có cây cối mọc, vì đấtmột nửa sống, một nửa chết Một hôm, bỗng có vùng đất sống nứt ra một vệt dài

Từ trong lòng đất chui ra một người Ngưới đó là Ché Pe Á Lòng Mới chui ra, ÁLòng chưa biết đi, vì chỉ có một chân Á Lòng chưa biết làm vì tay chưa đủ một đôi

Á Lòng nghe chưa được nhiều vì tai mới có một bên Á Lòng nhìn chưa rõ vì chỉ cómột mắt Thấy đất xung quanh mềm mềm, Á Lòng bốc đất nặn thử thêm một tay vàmột chân nữa Lắp chân vào thấy đứng vững hơn, đi không bị đổ ngã Lắp tay vào,

Á Lòng nặn đất được nhanh và dễ hơn… Trong truyện Mở trời dựng đất của người

Sán Dìu viết: … Trời đất đang tối tự bừng sáng, nhà cửa xiêm áo chưa hề có, khôngnón che đầu ba trăm năm, thời xưa trời đất tối mung lung, sinh ra lớp người có mắtthẳng…

Trang 34

B Thực vật sinh người

Thực vật sinh ra người chủ yếu là từ cây sinh người Người xưa chủ yếu sống

ở rừng núi, xung quanh họ toàn là cây cối, nên con người đã được gợi ý từ cây cối

về sự sinh đẻ Nguyễn Tấn Đắc trong công trình của mình Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif đã nhận xét rằng: “Đối với người xưa, cây cối là biểu hiện cụ thể

của sự sống cây cối cũng là một gợi ý về thời gian, về không gian, về chu kỳ sinhtrưởng, về sự tái sinh Cho nên cây cối thường là một mô típ được người xưa gửigắm rất nhiều ý nghĩ của họ Đặc biệt trong đó có ý nghĩ về sự sinh nở thần kỳ” [13,

tr 69] Những cây sinh người là cây đa, cây si, cây tre, cây dừa, cây cau, cây bầu…Trong đó, cây bầu sinh người là nhiều nhất, thường kể từ quả bầu sinh ra người.Quả bầu ở đây có thể là do cây bầu nở hoa kết quả, cũng có thể là do con ngườihoặc con vật đẻ ra quả bầu, từ bầu lại chui ra con người Về Truyện Quả bầu mẹ,

trong “Khảo sát truyện Phục Hy (伏羲考)”, Văn Nhất Đa đã sưu tập được 49 dị bản

về thần thoại quả bầu, phần lớn truyện ông sưu tập được là ở miền Nam TrungQuốc Đặng Nghiêm Vạn đã sưu tập được hàng trăm dị bản Thực tế không phải chỉ

ở Việt Nam, cũng không phải chỉ ở vùng Đông Nam Á, cũng không phải chỉ ở phíaNam Trung Quốc, mà truyện bầu mẹ là một truyện ở rất nhiều nơi trên thế giới.Đặng Nghiêm Vạn cũng đã có nhận xét rằng: đây là “một truyện phổ biến nhất ởhầu khắp thế giới nhưng lại mang sắc thái bản địa rất rõ rệt Huyền thoại đó khôngbắt nguồn từ một trung tâm, không có một nguồn gốc chung… Các nhà dân tộc học

và folklore đều thấy ở huyền thoại này nhiều yếu tố văn hóa cổ độc đáo, biểu hiệnrất đa dạng tùy theo tâm thức và hoàn cảnh sinh sống của các dân tộc người trongtừng khu vực lịch sử văn hóa nhất định… Điều đáng ngạc nhiên là huyền thoại này

có tính phổ biến, không một tộc người nào cho đến nay là không có, chí ít một vănbản Các văn bản đều có nét chung nhất, nhưng lại được thể hiện rất đa dạng tùytheo hoàn cảnh sinh sống và trình độ phát triển kinh tế xã hội của tộc người ấy”[108, tr 50]

Truyện của người Thái ở Tây Bắc thì kể rằng quả bầu mọc bên bờ sông NậmRốm đã đẻ ra người Thái, người Xá Truyện của người Dao thì kể từ vỏ, cùi, hạt

Trang 35

bầu đều hóa thành người Vỏ bầu ít hóa thành người Dao, người Mèo trên núi cao.Cùi bầu nhiều hơn thì hóa thành người Tày, người Nùng ở Lưng chừng núi Còn vôvàn hạt bầu hóa thành người Kinh ở vùng thấp, vùng đồng bằng đông đúc Truyệncủa người Khơ Me kể rằng: Trái bầu mẹ được gác bếp, những đứa trẻ ra đời sau ít bị

khói chính là tổ tiên của người Khơ Me, Kinh và các dân tộc khác Truyện Quả bầu vàng của dân tộc Ê Đê kể rằng: Khi ngọn lửa đã tắt hẳn, trời đất trở lại sáng sủa, hai

anh em Khốt và Kho chạy ra xem, họ thấy trái bầu thủng một lỗ khá rộng và nghe

có tiếng người nói rì rầm trong đó Bất thần có hai người trong ruột trái bầu chui ra,rồi tiếp đến hai người nữa, cứ thế từng đôi một cứ ra mãi, ra mãi Tất cả là hơn sáumươi đôi, đôi nào cũng có một trai một gái Khốt và Kho chia các con đi khắp nơi

để sinh cơ lập nghiệp Hai người ra đầu tiên đi về phía mặt trời mọc, nơi ấy có đồngbằng và biển Đông bao la lộng gió Họ là tổ tiên của người Kinh bây giờ Nhữngngười sinh ra tiếp sau đó đi về vùng rừng núi phía Bắc trùng điệp Họ là tổ tiên củacác dân tộc Mèo, Mán, Tày, Nùng, Thái… ngày nay Những người sinh ra sau nữa

đi về vùng núi phía Bắc gần hơn, họ là tổ tiên của các dân tộc ít người miền Trung:

Kơ Tu, Bru - Vân Kiều, Tà Ôi… Những người sinh ra sau cùng đi về vùng núi phíaNam hùng vĩ, họ là tổ tiên của các dân tộc Tây Nguyên: Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, XơĐăng, Mơ Nông, Kơ Ho, Mạ…

Truyện của người Mường kể rằng Trời làm hạn hán, nắng suốt 12 năm Vịthần cai quản mặt nước Ông Pồng Pêu ngồi đàn chài, mới ước cho mưa, chín ngàysau mưa về Nhờ có Ông Pồng Pêu ước nước mà đất đai ngấm nước, mới mọc đượccây si, rồi đẻ ra mường, có người và muôn vật ngày nay Ở dân tộc Chăm, còn có

truyện kể về dòng họ như Truyện họ Cau kể rằng trong vườn của một nhà vua

Chăm ngày xưa có trồng một cây cau rất kì lạ Trên cây cau đã mọc một cái hoa (cáibẹ), nhưng hoa nằm mãi trên thân cây mà không nở ra nụ, ra trái như thường lệ Vualấy làm lạ, bèn cho quân hầu trèo lên cây lấy bẹ hoa cau xuống Bổ ra, thấy trong đókhông phải là buồng cau mà là một em bé rất khôi ngô, có mang cả thanh kiếm thầnnữa Thấy điềm lạ, vua bèn nuôi dưỡng em bé thần kì và sau này vua

Trang 36

Chăm truyền ngôi lại cho cậu bé thần kỳ đó Từ đó, cậu bé con của cây cau thần kỳtrở thành thần tổ tiên của một ngành người Chăm.

C Động vật sinh ra người

Gặp nhiều nhất không phải là động vật đẻ ra người trực tiếp, mà là động vật

đẻ ra người gián tiếp như chim đẻ ra trứng, trứng nở ra người hoặc con chó đẻ raquả bầu, từ bầu chui ra người…

Chim đẻ ra trứng, trứng nở ra người ở Việt Nam là một mô típ thường gặp Ởdân tộc Kinh thì có mẹ Âu Cơ đẻ ra bọc trứng, nở ra trăm con Còn ở các dân tộc ít

người thì có truyện Trứng Điếng trong sử thi Đẻ đất đẻ nước của người Mường kể

chuyện đôi chim Tùng, chim Tót, có nơi còn gọi là chim Ây cái Ứa hoặc chimTráng, chim Trò… đẻ ra trứng và trứng nở ra người Hoặc như truyện Chim ông

Tôn trong sử thi Ẳm ệt Luông của người Thái… Những chi tiết được kể trong Đẻ đất đẻ nước như sau: “Trống chim tào trào, mái chim chiền chiền, liệng vào núi đá

Hang Trống, đi ấp trứng ở núi đá Hang Hào… Nghe ồn ào tiếng Lào, nghe lao nhaotiếng Kinh, nghe ình ình tiếng Môn, nghe nhốn nháo tiếng Siên - quan, nghe xônxao tiếng Thái, nghe hồi hài tiếng Mán, nghe nhao nhác tiếng Mèo”

Ngoài chim đẻ trứng nở ra người, ở người Tà Ôi, có Sự thích trái bầu mẹ hay

là Truyện Kinh và Tà Ôi là anh em kể rằng: Từ thuở xa xưa, khi trên trái đất chỉ có

loài thú sống với nhau, con người chưa xuất hiện, thì bỗng có một tiếng nổ dữ dội.Sau tiếng nổ, mặt đất nứt nẻ và uốn lượn như sóng biển Muông thú kinh hoàng bỏchạy tán loạn khắp nơi… các con thú vắng bóng chỉ có mỗi hai con chó, một đực vàmột cái may mắn sống sót Hai con chó sống chung… khi con chó cái đưa đầuxuống uống những ngụm nước mát cũng là lúc nó trở dạ và trong chốc lát nó sinh rađược một atoal (quả bầu) dài Một nửa quả bầu trên cạn còn lại một nửa thì nằmdưới nước Mùa xuân đến, mọi thứ trong rừng đổi thay, quả bầu bỗng dưng cựamình tan vỡ Từ trong quả bầu có rất nhiều người chui ra, vươn vai lớn dậy và biếtchạy nhảy cười nói vui đùa Lúc đầu, số người trong nửa quả bầu trên ra trước và vìdãi nắng dầm sương cho nên nó đen và trở thành người Tà Ôi như ngày nay; còn số

Trang 37

người trong nửa quả bầu dưới nước thì lại trắng trẻo và trở thành người Kinh ở đồngbằng.

D Thần hoặc bán thần sinh (tạo) người

Ở đây bao gồm thần sinh ra người hoặc là tạo ra người hai loại Truyện Nữ

Oa tạo người kể rằng: Sau khi đã mở ra trời đất, mặc dù đã có sông núi, có cây cối,chim thú nhưng chưa có nhân loại, thế giới vẫn cô đơn lạnh lẽo Nữ Oa thấy trênthế giới này vẫn thiếu một thứ gì, Nữ Oa đã dùng đất nặn ra con người, Nữ Oa nặn

ra con người liên tục, cuối cùng mệt quá mà vẫn thấy chưa đủ, nên Nữ Oa đã chodây thừng chui vào đám bùn, xong lấy ra đập và bùn rơi xuống đều thành người.Trong truyện của người H’mông kể rằng Ông Chày Bà Chày tạo trời tạo đất, đất quárộng nên bà Chày đã nắn lại đất Đất thấy đau ran khắp mình mẩy Một chỗ đất bịcăng phồng lên, nứt ra Thế là đất trở dạ, sinh đôi được hai người con là gái Gầu Á

và trai Dầu Âu Cả hai lớn nhanh, họ giúp ông Chày bà Chày tu sửa bầu trời và mặtđất, rồi thành vợ thành chồng Gầu Á mang thai, nhưng đẻ con từ ngón tay cái Gấu

Á cũng đẻ sinh đôi được hai người con: đứa lớn đặt tên là Chề Tù, đứa bé đặt tênChề Blù

Trong truyện Ẳm ệt luông của người Thái kể rằng: “…ăn nằm với nhau như

bữa trưa, chiều, nàng Kè mới chửa, chửa sau lưng chửa người Xá, chửa đằng trướcchửa người Thái, chửa ngón chân ngón tay chửa Sóc, chửa bên sườn chửa lợn, chửahươu nai, chửa trong bụng chửa chúa, chửa trên đầu chửa vua…”

Trong truyện Sáng tạo ra loài người của người H’mông có nói nhân vật Chử

Làu (tức ông Trời) lấy đất nặn thân hình con người đầu tiên, hà hơi vào miệng, chohồn vào bụng, cho tiếng vào cổ họng Con người đàn ông đầu tiên có mắt mũi, cótiếng nói và đi lại trên mặt đất Chử Làu lại nặn tiếp người đàn bà để cho họ lấynhau, để sinh con đẻ cái đông đúc như ngày nay

Trong thần thoại Thế giới của Then của người Thái kể rằng: Ở vùng Mường

Thanh, Then thả xuống một quả bầu, trong quả bầu đủ muôn loài và muôn vật: batrăm ba mươi giống Xá, ba trăm ba mươi giống Thái, ba trăm ba mươi giống người

Trang 38

khác, cùng với ba trăm ba mươi giống lúa dưới ruộng, ba trăm ba mươi giống cá

dưới nước… Trong truyện Kây Mơxirí - Mó Beela kể rằng, trời tròn với đất bằng.

Trời gây lụt hạn, ông bà Kây Mó phải tạo ra sông núi, trồng ngũ cốc nghiền nát rồinhờ nàng Tiên Út con Trời trộm của cha “bầu máu quý” trộn vào nặn nên loài ngườiđược sống lâu Cũng có truyện thì kể rằng Bà Me Bảu chuyên nặn người cho xuốngtrần gian Bà đã nặn ra người khổng lồ là con cháu Ải Lậc Cậc, to bằng ba quả núi,tai bằng chiếc quạt lúa Họ xuống trần gian qua hai ngàn mùa lúa chín, họ đưa nhau

về trời, vào lúc Ải Lậc Cậc bị Chô Con Din bẻ giò chết Trần gian lại trở lại vắngtanh, Me Bảu lại đúc lớp người khác là giống người bây giờ

E Người đàn ông sinh ra người

Về sự ra đời thần kỳ của Vũ (禹), có bản kể là do người bố Cổn sinh ra từ

bụng Còn Truyện Đất mẹ Na Ma À Mé của dân tộc Hà Nhì kể rằng sau trận lũ lụt

hai anh em chui vào quả bầu sống sót lấy nhau Người chồng mọc u trên khắp thânmình, cả ngón chân, ngón tay cũng nổi lên những cục u; người vợ mọc thêm 7 cái

vú ở phía sau lưng Người chồng đi săn đánh rơi các u ra khắp rừng Mỗi lúc u lại

nở ra một người, người sinh ở chân tay, người sinh ở trên đầu, mỗi người là tổ tiêncủa một dân tộc và nói một thứ tiếng riêng Sinh ra từ ngón tay cái là người Kinh,người Hán… Sinh ra từ những ngón tay khác là người Thái, người Dao… Người La

Hủ sinh ra từ ngón út Người Hà Nhì sinh ra từ bụng người chồng nên được ở trungtâm Nà Ma À Mé…

F Người phụ nữ sinh ra người một cách khác thường

Người phụ nữ sinh ra người một cách khác thường là một mô típ phổ biếntrên thế giới Theo Thánh Kinh của Thiên Chúa giáo, Jesus là do người mẹ thánhmẫu Mary tiếp nhận ý chí của thượng đế mà sinh ra Trong thần thoại Hy Lạp, thầnthống trị thế giới Folvkuiya Attis do thần nữ Nana ăn hạnh nhân sinh ra Thần Ares

do Hera ngửi mùi hoa thơm sinh ra Trong sử thi của Phần Lan “Kalevala” nói vềchuyện tranh giành ba bảo vật: thần nghiền có thể tự sản xuất ra thóc lúa, thầnnghiền có thể tự sản xuất ra muối, thần nghiền có thể tự sản xuất ra vàng Trong đó,anh hùng Vainamoinen là do mẹ cảm ứng gió và sóng sinh ra

Trang 39

Ở Trung Quốc có truyện Khương Nguyên giẫm vào vết chân khổng lồ sinh raHậu Tắc, Giải Địch nuốt trứng yến mang thai sinh ra Khiết, An Đăng cảm ứng rồng sinh

ra Thần Nông, Ác Đăng cảm ứng sao Vượt sinh ra Thuấn, Sa Di chạm vào khúc gỗ sinh

ra tổ tiên của dân tộc Di… Trong truyện cổ Việt Nam thì có Âu Cơ

sinh ra bọc trứng, nở ra trăm con, có mẹ Thánh Gióng dẫm vào vết chân khồng lồthụ thai sinh con, mẹ Sọ Dừa uống nước dựng trong sọ dừa thụ thai sinh ra Sọ Dừa,Thạch Sanh là do Ngọc Hoàng sai thái tử xuống đầu thai…

Tất cả các loại đã nói ở trên đều là sinh đẻ thần kỳ, song do hạn chế về thờigian, do tư liệu khá bề bộn nên luận án chỉ chọn nghĩa hẹp của sinh đẻ thần kỳ, tức

là người phụ nữ sinh ra người một cách khác thường để nghiên cứu Mấy loại sinh

đẻ thần kỳ đã nói ở trên chủ yếu xuất hiện trong thần thoại về nguồn gốc loài người,trả lời câu hỏi con người từ đâu đến Còn người phụ nữ sinh ra người một cách khácthường đã được mang nhiều dấu ấn văn hóa của nhân loại Ở đây, chủ thể sinh đẻthần kỳ là người và là người phụ nữ

Nguyên nhân xuất hiện mô típ sinh đẻ thần kỳ có lẽ đầu tiên là do ngườinguyên thủy không biết nguyên nhân sinh đẻ, không biết người phụ nữ sinh con là

do sự kếp hợp giữa nam giới và nữ giới Người ta đã nỗ lực tìm một phương thức lígiải cho việc mình mang thai đẻ con Đó có thể là do ăn, uống phải một cái gì hoặc

do tiếp xúc với một thứ gì đó Người cổ đại quan niệm vạn vật hữu linh, do vậy mà

Trang 40

mọi sự vật đều có thể gợi ý đến việc làm cho con người mang thai Từ thực vật,động vật, đến những hiện tượng tự nhiên, những vật dụng trong cuộc sống đều cólinh hồn, đều có thể làm con người mang thai sinh con đẻ cái Ngoài tín ngưỡng vạnvật hữu linh, mô típ sinh đẻ thần kỳ còn thể hiện những tín ngưỡng dân gian như tínngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vật tổ, tín ngưỡng về nhật nguyệt tinh tú Thờinguyên thủy, một cộng đồng người chủ yếu chiếm thế thượng phong bằng dân số.Hơn nữa, sinh đẻ là việc duy trì nòi giống, là một việc rất quan trọng đối với nhânloại Vì thế, những người đàn bà, với tư cách là mẹ - người duy nhất chắc chắn đãsinh ra thế hệ trẻ được tôn kính đặc biệt Đó là nguyên nhân quan trọng dẫn đếnngười phụ nữ có quyền tuyệt đối trong xã hội và từ đấy hình thành xã hội mẫuquyền.

Mô típ sinh đẻ thần kỳ của Việt Nam tương đương khái niệm thần thoại cảmsinh của Trung Quốc Khái niệm cảm sinh trong sinh đẻ thần kỳ là một khái niệmrộng, nó không đơn thuần chỉ một người phụ nữ cảm ứng thiên nhiên mang thai đẻcon Cảm ứng có thể từ động vật, thực vật hoặc những đồ vật trong đời sống Dựavào phương thức cảm ứng chúng tôi chia mô típ sinh đẻ thần kỳ thành sáu loại nhưsau:

1 Ăn, uống phải dị vật

Ngày đăng: 19/10/2020, 19:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w