1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quá trình hình thành, phát triển và giao lưu của gốm sứ hizen

244 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 244
Dung lượng 17,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu gốm sứ giúpchúng ta hiểu thêm đời sống và hoạt động kinh tế của Nhật Bản thời bấy giờ.Thứ tư, lợi nhuận thu được từ xuất khẩu gốm sứ đã cho thấy tư duy của người Nhật tro

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-***** -NGUYỄN THỊ LAN ANH

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN

VÀ GIAO LƯU CỦA GỐM SỨ HIZEN

Chuyên ngành : Lịch sử thế giới cận đại và hiện đại

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 PGS.TS Nguyễn Văn Kim

2 PGS.TS Hoàng Anh Tuấn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu sử dụng trong Luận án là trung thực Các kết quả rút ra

từ Luận án chưa từng được ai công bố Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

về công trình nghiên cứu này.

Tác giả

N

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Kim, người hướng dẫn khoa học Thày đã tận tâm giúp đỡ, chỉ bảo và động viên tôi trong suốt thời gian làm nghiên cứu sinh.

Trong quá trình làm luận án, người viết cũng đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ nhiệt thành của các Thày, Cô, các nhà nghiên cứu, bạn đồng nghiệp, đặc biệt là PGS.TS Hoàng Anh Tuấn, Thày hướng dẫn 2, các Thày Cô của

Bộ môn Lịch sử thế giới, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, ĐHQGHN; Ban chủ nhiệm Khoa tiếng Nhật, Trường Đại học Hà Nội và các bạn đồng nghiệp; Bộ môn Lịch sử, Bộ môn Khảo cổ học, Trường Đại học Kokugakuin; Trung tâm nghiên cứu Văn hóa quốc tế, Trường Đại học Nữ sinh Chiêu Hòa; Bảo tàng Quốc gia Tokyo; Bảo tàng Lịch sử thành phố Arita; Trung tâm Bảo tồn Di sản thành phố Huế; Tạp chí nghiên cứu lịch sử; Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á; Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ; Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật; Tạp chí Nghiên cứu phát triển đã tạo điều kiện và giúp

đỡ tôi trong suốt thời gian theo học.

Tác giả Luận án xin được gửi lời tri ân chân thành tới GS NGND Vũ Dương Ninh, PGS.TS Hán Văn Khẩn (Trường ĐHKHXH&NV), GS Ohashi Koji (Bảo tàng gốm sứ Kyushu), GS.TS Kikuchi Seichi (Trường Đại học Nữ sinh Chiêu Hòa), GS.Yoshida Enji và TS Ito Shinji (Trường Đại học Kokugakuin), GS.TS Sasaki Tatsuo (Trường Đại học Kanazawa); TS Nogami Takenori (Viện bảo tàng Lịch sử thành phố Arita), TS Nagano Yuji (Viện bảo tồn Văn hóa thành phố Hasami) Với tầm tri thức của mình, các Thày, chuyên gia nghiên cứu gốm sứ đã chỉ dẫn cho tôi nhiều nguồn tư liệu quý, gợi mở hướng tiếp cận mới, đặc biệt Thày, Cô còn dành thời gian để tôi

có thể bộc bạch và trao đổi những vấn đề khoa học để một số nhận định được khách quan và toàn diện hơn.

Trang 5

Những tư liệu mà tôi có thể tiếp cận và tra cứu không thể thiếu sự chỉ dẫn và giúp đỡ của cán bộ Thư viện Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn, Trường Đại học Kokugakuin,Viện nghiên cứu Đông Bắc Á và nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã chia sẻ thông tin, kinh nghiệm nghiên cứu, ý tưởng khoa học, cũng như phê phán, khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Luận án.

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới bố mẹ, anh chị, chồng và con gái tôi, những người luôn tạo điều kiện cho tôi học tập và ở bên cạnh động viên những lúc tôi gặp khó khăn nhất.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan……… i

Lời cảm ơn……… ii

Mục lục……… iv

Danh mục các bảng……… vii

Danh mục các biểu đồ……… viii

Danh mục các hình vẽ……… ix

MỞ ĐẦU…….……….……….……… 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu … 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 23

4 Nguồn tư liệu ……….……… 23

5 Phương pháp nghiên cứu……… 24

6 Các đóng góp chính…….……… 24

7 Cấu trúc luận án……… 25

CHƯƠNG 1 GỐM SỨ HIZEN TRONG DÒNG CHẢY GỐM SỨ NHẬT BẢN……….……….……….…… 26

1.1 Tổng quan về gốm sứ Nhật Bản 26

1.1.1 Thời cổ đại 26

1.1.2 Thời tr đại 29

1.1.3.Thời cận thế 32

1.2 Tổng quan về gốm sứ Hizen……… 34

1.2.1 Nguyên liệu……….……… 36

1.2.2 Kỹ thuật tạo hình và quy trình sản xuất. 38

1.2.3 Sự biế đổi của gốm sứ Hizen. 40

Tiểu kết……… 45

Trang 7

CHƯƠNG 2 CÁC DÒNG GỐM SỨ HIZEN……… 47

2.1 Vẻ dung dị của gốm Karatsu 50

2.2 Hasami - Dòng gốm sứ tinh tế, bình dị 54

2.3 Dòng sứ trắng mỏng Mikawachi 63

2.4 Dòng sứ quý tộc Arita 70

2.4.1 Koim ri……….…….……… 70

2.4.2 K kiemo …….……….……….……… 74

2.4.3 N bes im ……….……… 78

Tiểu kết….………. 83

CHƯƠNG 3 GỐM SỨ HIZEN TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI… 85 3.1 Tổng quan về tình hình xuất khẩu gốm sứ Hizen thế kỷ XVII -XVIII………. 86

3.2 Nguồn xuất khẩu gốm sứ Hizen……… 91

3.3 Gốm sứ Hizen trên thị trường thế giới……… 94

3.3.1 Th trường châu Á……… 94

3.3.1.1 - 96 3.3.1.2 I d es 97

3.3.1.3 Siam - M l ys 100

3.3.1.4 102

3.3.1.5 Sr l k 103 3.3.1.6 Tây Á (Iran – Yeme ). 105 3.3.2 Th trường châu Âu…….……….………….…… 105

3.3.3 Th trường Việt Nam……… 109

3.3.3.1 Việt Nam - đối tác, trạm trung chuyển gốm sứ H ze 109 3.3.3.2 Glưu gốm sứ Việt Nam - Nhật Bả 118

3.4 Ảnh hưởng của gốm sứ Hizen đến đời sống kinh tế - xã hội 133

Tiểu kết……….……. 139

Trang 8

KẾT LUẬN……….……….… 141

Chú thích……… 149 Danh mục các công trình khoa học của tác giả liên quan đến Luận án…… 152 Tài liệu tham khảo ……… 153 Phụ lục 161

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: Gốm sứ Nhật Bản do VOC xuất khẩu từ Nagasaki sang Đàng Ngoài

Bảng 3.2: Gốm sứ Nhật Bản xuất khẩu từ Batavia đến Việt Nam bởi VOC

Bảng 3.3: Đồ sứ xuất khẩu qua thuyền mành từ Đàng Trong đến Batavia

Bảng 3.4: Đồ sứ chuyên chở từ Đàng Ngoài tới Batavia

Bảng 3.5: Số lượng gốm sứ Hizen xuất khẩu sang Đài Loan - Phúc Kiến

Bảng 3.6: Số lượng xuất khẩu sang Indonesia giai đoạn 1653 - 1737

Bảng 3.7: Số lượng xuất khẩu sang Siam giai đoạn 1666 - 1677

Bảng 3.8: Số lượng xuất khẩu sang Malacca

Bảng 3.9: Số lượng xuất khẩu sang Ấn Độ từ 1658 -1714

Bảng 3.10: Số lượng xuất khẩu sang Srilanca giai đoạn 1670 - 1714

Bảng 3.11: Số lượng xuất khẩu đến Iran - Yemen

Bảng 3.12: Số lượng gốm sứ xuất khẩu sang Hà Lan (1659 -1679)

Bảng 3.13: Đồ sứ nhập từ Nhật Bản vào Đàng Ngoài qua mậu dịch

thuyền mành

Bảng 3.14: Mạng lưới thương mại gốm sứ Hizen thế kỷ XVII-XVIII

112113116117178178182183184187188189190191

Trang 10

Biểu đồ 3.3: Số lượng gốm sứ Hizen xuất khẩu sang Batavia

Biểu đồ 3.4: Số lượng gốm sứ Hizen xuất khẩu sang Siam giai

đoạn 1666-1677

Biểu đồ 3.5: Số lượng gốm sứ Hizen xuất khẩu sang Malacca

Biểu đồ 3.6 : Số lượng gốm sứ Hizen xuất khẩu sang Bengal - Coromandel

- Surat giai đoạn 1658-1714

Biểu đồ 3.7: Số lượng gốm sứ Hizen xuất khẩu sang Srilanka giai đoạn

1670-1714

Biểu đồ 3.8: Số lượng gốm sứ Hizen xuất khẩu sang Iran - Yemen

Biểu đồ 3.9: Số lượng gốm sứ Hizen xuất khẩu sang Hà Lan

Biểu đồ 3.10: Số lượng sứ Nhật Bản từ Nagasaki xuất sang Đàng Ngoài

Biểu đồ 3.11: Đồ sứ nhập từ Nhật Bản vào Đàng Ngoài qua mậu dịch

104105109113114

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 1.3: Sản phẩm giai đoạn 1670-1690, giai đoạn 1660, giai đoạn 1650 45

Hình 2.18: Dụng cụ trà đạo (Bát trà, b nh đựng nước, b nh hương) 67Hình 2.19: Chạm khắc tinh xảo của sứ Mikawachi (cuối thế kỷ 17) 67

Trang 12

Hình 2.20: Đĩa hoa đào 68

Hình 2.24: B nh rượu, lư hương, cốc (dùng trong tiệc trà) 69Hình 2.25: Đĩa chim phượng hoàng, rồng (sứ Imari cổ - thế kỷ XVII) 73Hình 2.26: Đĩa hoa cúc, lá xanh (sứ Imari cổ - thế kỷ XVII) 73Hình 2.27: Đĩa hạc trắng và hoa cúc (sứ Imari sơ kỳ thế kỷ XVII) 73Hình 2.28: Đĩa phong cảnh ( sứ Imari sơ kỳ- thế kỷ XVIII) 74

Hình 2.30: Bát, bình hoa Kakiemon trang trí hoa cúc (1640) 76Hình 2.31: Đĩa Kakiemon trang trí họa tiết rồng phượng (cuối thể kỷ XVII) 76Hình 2.32: Bát Kakiemon trang trí họa tiết hoa cúc, dương xỉ (1720-1735) 77

Hình 3.5: Đĩa nh h nh chữ Nguyệt , trên thành có 3 con phượng cách điệu 121

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Người phương Đông, đặc biệt là cư dân khu vực Đông Á, thường giải thíchthế giới mà mình đang sống bằng rất nhiều triết lý khác nhau, trong đó có một triết

lý quen thuộc: Thế giới và sự tồn tại của vạn vật được cấu thành bởi 5 yếu tố cơ bản

là Kim (kim loại), Mộc (gỗ), Thủy (nước), Hỏa (lửa), Thổ (đất) Sự tương hợp giữa

5 yếu tố này ở những mức độ khác nhau của mỗi yếu tố riêng biệt, bản chất tươngsinh tương khắc giữa chúng đã tạo nên sự đa dạng của vạn vật trên thế giới Về cơ bản,mỗi sự vật, hiện tượng đều ẩn chứa bên trong cả 5 yếu tố cơ bản này và yếu tố nào pháttriển đến độ cực thịnh hoặc được các yếu tố khác hỗ trợ (tương sinh) nhiều nhất thì biểuhiện của nó sẽ bộc lộ ra bên ngoài

Gốm sứ là loại hình sản phẩm thông dụng trong đời sống con người, phục vụnhiều mục đích khác nhau từ sinh hoạt hàng ngày cho tới nhu cầu thẩm mỹ, nghi lễ,tôn giáo v.v… Đó là những yếu tố thiết yếu với cuộc sống của các dân tộc trên thếgiới Theo đó, gốm sứ luôn bao gồm các yếu tố, đất và nước hợp luyện nên dáng vẻban đầu, gỗ và lửa tôi luyện giúp có độ rắn chắc và lớp men góp phần tạo nên sựkhác biệt của mỗi dòng sản phẩm gốm sứ hay nói cách khác lớp men chính là cáihồn của gốm sứ Người nghệ nhân gốm luôn mang tâm huyết, trình độ chế tác vàvăn hóa dân tộc truyền vào các tác phẩm của mình để sản phẩm gốm sứ trở nênsống động hơn Hai yếu tố con người và thiên nhiên kết hợp với nhau để tạo nênnhững dòng gốm sứ đặc sắc

Ở giai đoạn đầu phát triển của gốm sứ, trình độ khoa học kỹ thuật của conngười lúc đó còn rất sơ giản, các phương tiện vận chuyển còn thô sơ nên việc vận chuyểnnguyên vật liệu, trong đó có đất sét - thành tố quan trọng bậc nhất trong quá trình sảnxuất gốm sứ, từ nơi này sang nơi khác thật sự là vấn đề nan giải Chính vì vậy, các lò,trung tâm gốm sứ thường phát triển ở những vùng có trữ lượng lớn đất

sét tốt, phù hợp cho hoạt động sản xuất loại hình sản phẩm này

Trong các làng gốm cổ ở Nhật Bản, lãnh địa Hizen(1) nổi danh là quê hươngcủa gốm sứ, bởi nơi đây có những mỏ đất sét có độ dẻo cao, hạt mịn, độ co ngótthấp và chịu lửa tốt Những sản phẩm gốm sứ đầu tiên trên lãnh địa Hizen trông kháthô mộc nhưng từng bước đã có bản sắc hơn qua nhiều trải nghiệm Đặc biệt, vớinhững kỹ thuật tiếp nhận được từ Trung Quốc và Triều Tiên trong thế kỷ thứ XVI-

Trang 14

XVII, gốm sứ Hizen đã tự cải biến để trở thành dòng gốm sứ đỉnh cao của Nhật Bảntrong thời kỳ cận thế Sản phẩm gốm sứ Hizen đã đạt đến kỹ thuật tinh xảo, sựphong phú, tinh tế bởi chúng thể hiện tài hoa và khả năng thẩm mỹ cao của các nghệnhân, đặc biệt là những cảm xúc thăng hoa được thổi vào hồn sứ với khát vọngvươn đến tận cùng của sự hoàn mỹ Trong suốt hai thế kỷ XVII - XVIII, gốm sứHizen Nhật Bản không chỉ được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội Nhật Bản

mà còn được xuất khẩu với số lượng lớn ra thị trường quốc tế với vai trò là mặthàng chính yếu, góp phần quan trọng trong quá trình chuyển biến đưa Nhật Bảnthành quốc gia thương mại ở châu Á thời cận thế

Trong thời đại hoàng kim của hệ thống thương mại châu Á, gốm sứ NhậtBản nói chung, gốm sứ Hizen nói riêng đã phát triển và từng bước thâm nhập vàothị trường thế giới Tiếp nhận kỹ thuật từ khu vực nhưng gốm sứ Hizen đã mauchóng tạo nên những đặc tính riêng biệt Đây chính là chủ đề mà nhiều học giả ViệtNam, Nhật Bản và thế giới quan tâm, khảo cứu Để tìm hiểu về gốm sứ Hizen, làm

rõ lịch sử phát triển, phạm vi phân bố, đặc tính đa dạng và giá trị thương mại của

dòng gốm sứ này Chúng tôi đã chọn đề tài “Quá trình hình thành, phát triển và

giao lưu của gốm sứ Hizen” bởi 5 lí do cơ bản như sau:

Thứ nhất, với những đặc trưng về loại hình, kiểu dáng, hoa văn, trong lịch sử

gốm sứ là biểu tượng văn hóa, được dùng để định danh các thời đại lịch sử Khi nóiđến một giai đoạn lịch sử nhất định, như thời đại Jomon (10.000 năm - thế kỷ IIITCN), Yayoi (thế kỷ III TCN - III SCN)… các nhà nghiên cứu thường dựa vào đặctính của các sản phẩm gốm để làm tiêu chí phân chia thời kỳ lịch sử Do vậy, gốm

sứ luôn là một phần quan trọng, thiết yếu của tiến trình lịch sử và đời sống kinh tế

-xã hội của các quốc gia

Thứ hai, gốm sứ không chỉ là ngành sản xuất thủ công, có những đòi hỏi khắt

khe về kỹ thuật và nghệ thuật mà còn là một ngành kinh tế quan trọng của Nhật Bảncũng như nhiều quốc gia phương Đông Nghiên cứu gốm sứ, chúng ta không chỉhiểu thêm về lịch sử, về các hoạt động kinh tế, sự phát triển kỹ thuật mà còn hướngđến những nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về giá trị sử dụng, yêu cầu thẩm mỹ,phong cách nghệ thuật của mỗi thời đại

Thứ ba, thời cận thế, gốm sứ Hizen là một hiện tượng phát triển tiêu biểu của

Nhật Bản Các sản phẩm gốm sứ được sử dụng rộng rãi trong nước và hơn thế còn

Trang 15

tham gia vào thị trường xuất khẩu Gốm sứ đã trở thành một ngành sản xuất, mộtlĩnh vực kinh tế đối ngoại quan trọng của Nhật Bản Việc nghiên cứu gốm sứ giúpchúng ta hiểu thêm đời sống và hoạt động kinh tế của Nhật Bản thời bấy giờ.

Thứ tư, lợi nhuận thu được từ xuất khẩu gốm sứ đã cho thấy tư duy của

người Nhật trong phát triển kinh tế, khẳng định sức mạnh và năng lực hội nhập kinh

tế cũng như phạm vi ảnh hưởng văn hóa rộng lớn của Nhật Bản với các quốc giakhu vực và thế giới

Thứ năm, con đường mở rộng xuất khẩu gốm sứ ra thị trường khu vực và thế giới của Nhật Bản khá đặc biệt Dưới tác động của chính sách tỏa quốc (Sakoku,

1635-1853), việc xuất khẩu gốm sứ của Nhật Bản chủ yếu thông qua hoạt động củacác thương nhân Trung Quốc và Hà Lan Việc làm rõ hoạt động, vai trò của cácthương nhân này là một trong những nội dung chính của đề tài nghiên cứu

Quá trình phân tích số liệu để lý giải những nhận định trên cũng chính là nỗlực tổng hợp những thông tin về gốm sứ Hizen, loại gốm sứ đã góp phần đưa NhậtBản thành cường quốc thương mại và đem lại những ảnh hưởng nhất định của đấtnước này ra thế giới trong thời kỳ Edo (1603-1868)

2 Lịch sử nghiên cứu

Gốm sứ là một loại hình di sản mang nhiều giá trị lịch sử, văn hóa và Hizen

là một trong những dòng gốm sứ đã góp phần tạo nên những giá trị đó Chính vì thế,gốm sứ Hizen là một chủ đề hấp dẫn được nhiều nhà nghiên cứu Nhật Bản, quốc tếquan tâm Để thực hiện chủ đề nghiên cứu, hầu hết các tác giả đều sử dụng, khaithác cơ sở dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau từ các tư liệu lịch sử, công trình nghiêncứu kết hợp với các thành tựu về khảo cổ học Nhờ đó, việc tìm hiểu và phân tíchlịch sử phát triển, đặc tính và mối quan hệ bang giao giữa Nhật Bản với các nướctrên thế giới nói chung, giao thương gốm sứ nói riêng đã dần trở nên sáng tỏ

2.1 Tình hình nghiên cứu gốm sứ Hizen ở Việt Nam

Trong những nghiên cứu chung về lịch sử khu vực, gốm sứ đã sớm thu hútđược sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong nước, trong đó phải kể đến công

trình “Xã hội Việt Nam thế kỷ XVI XVIII và quan hệ giao lưu gốm sứ Việt Nam Nhật Bản” [21] Qua chuyên luận này, tác giả Nguyễn Văn Kim đã cung cấp những

-nhận định tổng quát về các mối giao thương gốm sứ giữa Việt Nam - Nhật Bản từthế kỷ XVI - XVIII Bằng việc khảo cứu công phu các nguồn sử liệu, tác giả cho

Trang 16

rằng trong quan hệ giao thương khu vực, người Nhật đến Việt Nam và Đông Nam

Á tương đối muộn Tuy nhiên, nếu coi các hoạt động giao thương của vương quốcLưu Cầu thì quan hệ này đã bắt đầu từ cuối thế kỷ XIV và được duy trì liên tục chođến đầu thế kỷ thứ XVI Từ đầu thế kỷ thứ XVII, Nhật Bản đã đem đến Việt Namtiền đồng, bạc, vũ khí và đặc biệt là gốm sứ Hizen Dựa vào các kết quả khai quậtkhảo cổ, tác giả đã khẳng định những hiện vật gốm sứ Hizen phát hiện được ở Hội

An và nhiều thương cảng ở miền Trung như Thanh Hà, Nước Mặn hay ở khu mộĐại Làng đều có niên đại vào nửa sau thế kỷ XVII Đồng thời trong công trìnhnghiên cứu này, tác giả cũng đã làm rõ mối quan hệ bang giao giữa Nhật Bản vàViệt Nam, trong đó gốm sứ Hizen là một sản phẩm đặc biệt được đưa đến Việt Namvào thế kỷ XVII Công trình cũng cung cấp số liệu cụ thể mà các hiện vật gốm sứđược đưa đến Việt Nam trong hơn ba thập kỉ Trong thời gian 1650 - 1679 thuyềnbuôn Trung Quốc đã chở đến 00 sản phẩm gốm sứ Hizen từ Nagasaki đến QuảngNam rồi từ đó tiếp tục đưa đến Batavia Vào thế kỷ XVI-XVII, Công ty Đông Ấn

Hà Lan (VOC) cũng đã nhập một số lượng đáng kể đồ sứ Hizen tới Đàng Ngoài.Cho đến nay, gốm sứ Hizen vẫn còn hiện diện ở nhiều vùng miền khác nhau củaViệt Nam

Gốm sứ là thương phẩm quen thuộc trong mậu dịch khu vực và quốc tế trướckhi người châu Âu tìm ra con đường hàng hải sang phương Đông thế kỷ thứ XV.Người Bồ Đào Nha sau khi tìm ra tuyến đường qua mũi Hảo vọng, đã thiết lập hệthống buôn bán nối Ấn Độ với Malacca, Trung Quốc và khu vực Viễn Đông Từđây các sản phẩm của phương Đông được đưa về phương Tây một cách thường

xuyên Trong công trình nghiên cứu “Gốm sứ Đàng Ngoài xuất khẩu ra Đông Nam

Á thế kỷ XVII” [53], tác giả Hoàng Anh Tuấn đã đưa ra những nhận định chung về

tình hình xuất khẩu gốm sứ của Việt Nam (cụ thể là Đàng Ngoài) đặt trong bối cảnh buônbán gốm sứ châu Á Trên cơ sở khái quát tình hình buôn bán gốm sứ trên thị trường thếgiới, tác giả khẳng định hoạt động kinh tế đó đem lại cơ hội cho gốm sứ

Đàng Ngoài du nhập vào mạng lưới thương mại khu vực Trong thập niên 1630,kim ngạch hàng xuất khẩu gốm sứ Trung Quốc của VOC sang châu Âu tăng đáng

kể nhưng cũng sớm sa sút do ngành sản xuất gốm sứ tại Trung Quốc bị tàn phánghiêm trọng dưới tác động của rối loạn chính trị, xã hội Dưới sức ép ngày càngtăng của người Mãn Châu, nhà Minh sụp đổ năm 644 Tại Trung Quốc nội chiến

Trang 17

kéo dài dẫn đến phá hủy trung tâm sản xuất gốm sứ, kéo theo sự thiếu hụt trầmtrọng sản phẩm gốm sứ chất lượng cao trên thị trường Vì vậy, sau năm 64 , gốm sứTrung Quốc chất lượng cao hầu như vắng bóng trên thị trường quốc tế Trong năm

650 và 65 , thương điếm Deshima của VOC tại Nhật đã gửi 45 đĩa và 6 tiêu bản sứHizen khác nhau sang thương điếm Đàng Ngoài Qua hơn một thập kỉ buôn bán,hoạt động gốm sứ của Nhật Bản về châu Âu của VOC dần suy thoái và cơ bản chấmdứt vào năm 665 do giá nhập khẩu tại Nhật quá cao

Trong công trình nghiên cứu “Các thương cảng vùng Trung Bộ Việt Nam và con đường gốm sứ ở vùng Tây nam Thái Bình Dương trong thời đại Đại thương mại

- thế kỷ XVI-XVIII” [45], nhà nghiên cứu Trần Đức Anh Sơn lại hướng sự tập trung

vào khảo sát các hiện vật gốm sứ cổ tìm được ở các thương cảng từng đóng vai trò quantrọng trong con đường gốm sứ thời kỳ Đại thương mại (Thanh Hà, Hội An, và

Nước Mặn) Tại thương cảng Thanh Hà, đã thu được nhiều hiện vật gốm Nhật Bản niên đại 1650 - 1680 thuộc dòng gốm Hizen Đồ gốm Hizen được chở trên các thuyền buôn của người Nhật tới nhiều cảng thị của Đại Việt trước khi đưa đến Siam,Indonesia Hội An được biết đến là thương cảng lớn nhất của Đàng Trong trong thế

kỷ XVI-XVIII, trong số 130 thuyền buôn châu Ấn được cấp phép đến Việt Nam thì

có tới 86 thương thuyền đến Hội An (chiếm 66%) Các cuộc khai quật khảo cổ học cũng đã tìm ra số lượng lớn gốm Hizen ở khu cảng thị này

Dựa vào kết quả khai quật khảo cổ học, chuyên luận “Gốm sứ Trung Quốc và gốm sứ Nhật Bản phát hiện trong các mộ Mường” [37], các nhà khảo cổ học Phạm

Quốc Quân và Bùi Minh Trí đã thống kê được số lượng và các mẫu sản phẩm gốm

sứ Nhật Bản tìm thấy ở các ngôi mộ Mường, cụ thể là khu vực Đống Thếch (KimBôi - Hòa Bình) Ngoài ra, ở khu vực Hà Tây (nay là Hà Nội), các nhà khảo cổ cũngtìm thấy một số lượng khá lớn gốm sứ Nhật Bản có đặc tính giống với hiện vật tìmthấy ở khu Đống Thếch như: gốm men trắng vẽ lam và gốm vẽ nhiều màu Loại hìnhchủ yếu là lọ tỳ bà, bát đĩa mang những nét đặc trưng của gốm Hizen, có niên đạinửa cuối thế kỷ XVII Những loại hình gốm sứ tương tự như vậy cũng được tìm thấy

ở các thương cảng cổ ven biển miền Trung như Hội An (Quảng Nam), hay LamKinh (Thanh Hóa) Tuy nhiên, số lượng gốm sứ Hizen được tìm thấy ở miền Trungnhiều hơn so với miền Bắc - Việt Nam

Trang 18

Bên cạnh đó, gốm sứ còn được tìm thấy ở nhiều khu vực khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là Hoàng thành Thăng Long Các hiện vật gốm sứ tìm được

ở đây đa dạng về chủng loại với nguồn gốc khác nhau Bên cạnh đồ gốm Việt Nam,các nhà khảo cổ còn tìm thấy nhiều gốm Trung Quốc, Nhật Bản và Ai Cập Gốm sứ cómặt ở Hoàng thành Thăng Long giai đoạn này chủ yếu là do con đường ngoại giao vàgiao lưu thương mại Dựa trên bộ sưu tập lựa chọn ngẫu nhiên do Ban khai quật khảo cổhọc khu di tích Hoàng thành Thăng Long cung cấp, chuyên gia nghiên cứu gốm sứNguyễn Đình Chiến đã giới thiệu nhiều thông tin quý báu, góp phần tìm hiểu về gốm sứmậu dịch thông qua gốm sứ phát hiện được trong Hoàng thành Thăng Long Công trình

nghiên cứu mang tên “Gốm sứ nước ngoài phát hiện được trong khu Hoàng thành Thăng Long” [13] Trong công trình này, tác giả Nguyễn Đình Chiến đã giới thiệu cụ thể

các mẫu sản phẩm gốm sứ Trung Quốc, Nhật Bản được tìm thấy tại vùng Kinh đô Cáccuộc khai quật khảo cổ học từ năm 999 – 2000 ở Hậu Lâu, Văn Miếu (Hà Nội) đã pháthiện được 10 mảnh bát sứ hoa lam vẽ rồng và hoa lá Cuộc khai quật vào tháng 5-2000 ở

di tích Bách hóa Tràng Tiền (ngoại vi Hoàng thành Thăng Long xưa) đã tìm thấy 50mảnh sứ hoa lam, đây là đồ sứ Hizen chất lượng cao

Ngoài ra, Bùi Minh Trí cũng đã cung cấp số liệu cụ thể, mẫu mã, chủng loạicủa gốm sứ Nhật Bản tìm thấy tại Hoàng thành Thăng Long qua công trình nghiên

cứu “Gốm sứ Nhật Bản trong Hoàng thành Thăng Long” [49] Trong công trình

này, tác giả đã khảo sát nhiều hiện vật gốm sứ quý hiếm được tìm thấy tại Hoàngthành, trong số đó có nhiều hiện vật có khả năng là đồ dùng cá nhân của Hoàng đế

và Hoàng gia Ngoài số lượng đồ gốm Việt Nam có niên đại từ thế kỷ VII đến thế

kỷ XIX, còn có nhiều đồ gốm sứ Trung Quốc có niên đại từ thế VII đến thế kỷ XIX,đặc biệt là có sự xuất hiện của gốm sứ Nhật Bản (đồ sứ Hizen) có niên đại thế kỷXVII Gốm sứ Hizen tìm thấy ở Hoàng thành Thăng Long chủ yếu là gốm hoa lam.Các loại chủ yếu như bát với nhiều loại kích cỡ, hoa văn khác nhau như bát vẽ rồng,bát vẽ sư tử, bát vẽ chim phượng Các loại đĩa nhỏ, đĩa lớn với các họa tiết như hoacúc, phong cảnh, hoa lá Chén vẽ hoa lá, chén vẽ phong cảnh và các loại bìnhrượu men trắng Qua đó, tác giả đưa ra kết luận rằng, khó có thể phân biệt giữagốm sứ Nhật Bản và Trung Quốc, bởi lẽ gốm sứ Nhật Bản chịu ảnh hưởng rất

Trang 19

lớn từ đồ sứ Trung Quốc về trang trí, kiểu dáng, nhất là đồ gốm hoa lam nên cónhiều điểm gần gũi, đặc biệt dưới đáy nhiều sản phẩm sứ ghi niên hiệu của các vuanhà Minh.

Ngoài các công trình kể trên, nhà khảo cổ học Trịnh Cao Tưởng đã công bố

công trình nghiên cứu mang tên “Thêm một vài thông tin về gốm sứ Hizen trong bối cảnh ngoại thương Việt - Nhật thế kỷ XVI - XVII” [51] Tác giả đã đưa ra nhận định

đồ gốm Nhật Bản có mặt trong các thương cảng Việt Nam không phải chỉ là cáchiện vật gốm Hizen có niên đại khoảng 1640 - 690 như các thông tin trước đã công

bố Tác giả còn đưa ra dẫn chứng về mẫu sản phẩm gốm Karatsu, được nhà nghiêncứu Ohashi Koji xác nhận nguồn gốc hiện vật gốm đó có sớm hơn năm 640 Bêncạnh thông tin đó, tác giả còn thống kê những vùng đã có sự tồn tại của gốm sứHizen trong lãnh thổ Việt Nam

Với công trình nghiên cứu “Vấn đề bảo tồn và phát triển Nghề thủ công truyền thống ở Nhật Bản” [16], tác giả Hồ Hoàng Hoa đã làm rõ giá trị của nghề thủ

công truyền thống của Nhật Bản như sơn mài, kim hoàn và đặc biệt là gốm sứ vẫnđược xem là tài sản quý giá trong kho tàng văn hóa dân tộc đang được chính phủ vànhân dân trân trọng giữ gìn Trong công trình này, tác giả chỉ đơn thuần khái quátlịch sử hình thành và phát triển của gốm sứ Nhật Bản nói chung và giới thiệu cácsản phẩm gốm sứ cụ thể như gốm Bizen, một số lò gốm trong lãnh địa Hizen nhưgốm sứ Arita, Karatsu

Có thể nói gốm sứ luôn là một trong những sản phẩm mang tính thực tiễncao, đáp ứng nhiều nhu cầu thiết yếu của con người trong cuộc sống hàng ngàynhưng không vì thế mà mất đi tính nghệ thuật vốn có Thời gian lưu học ở Nhật, tôi

đã được tiếp xúc, tìm hiểu về văn hóa của xứ sở này và thật sự ấn tượng với nhữngđường nét tinh xảo trong sản phẩm gốm sứ Nhật Bản Vì thế, khi trở về Việt Nam,tôi tham gia vào khóa học Thạc sĩ tại khoa Đông Phương học và bắt đầu công cuộc

tìm kiếm nét độc đáo trong gốm sứ Nhật Bản Luận văn Thạc sĩ với đề tài “Vai trò của gốm sứ Nhật Bản trong văn hóa đời sống” [3] đã đưa ra cái nhìn tổng quan về

vai trò của gốm sứ trong đời sống vật thể và phi vật thể của nhân dân Nhật Bản Nếunhư trong đời sống vật thể đề cập đến các sản phẩm gốm sứ sử dụng trong sinh hoạthàng ngày, vật dụng trang trí thì trong văn hóa phi vật thể, luận văn đề cập

Trang 20

đến gốm sứ trong nghệ thuật cắm hoa, trà đạo Với mục đích sử dụng đa dạng củagốm sứ, tác giả đã khái quát được những giá trị độc đáo trong sự kết hợp các dụng

cụ gốm sứ trong trà đạo như theo chủ đề, theo mùa và nhiều khi còn theo mục đích

của các buổi tiệc Ngoài ra, trong bài viết “Gốm sứ Nhật Bản và gốm sứ Việt Nam”

[4], qua việc so sánh và thống kê một số nét tương đồng, dị biệt giữa gốm sứ NhậtBản và Việt Nam, tác giả đã làm rõ đặc trưng riêng của hai dòng gốm Với vị trínằm cạnh nền văn minh lớn, như quy luật của sự lan tỏa, gốm sứ Nhật Bản và ViệtNam đã sớm thu nạp, tiếp nhận những ảnh hưởng từ Trung Hoa Tuy nhiên, khi dunhập vào mỗi nước, gốm sứ nhanh chóng được thay đổi để phù hợp với thị hiếu vànhu cầu của người dân bản địa Ngay trong bản thân hai dòng sản xuất gốm sứ NhậtBản và Việt Nam, mặc dù có nhiều nét tương đồng trong kỹ thuật sản xuất nhưngcũng có nhiều điểm khác biệt trong mục đích sử dụng sản phẩm, mẫu mã, thiết kế

Công trình “Nét độc đáo của ẩm thực Nhật Bản thông qua các đồ đựng gốm sứ” [5]

đã minh họa về cách sử dụng và sắp xếp món ăn Nhật Bản trong đời sống thườngngày, trong dịp lễ tết, các kiểu kết hợp màu sắc của món ăn và đồ đựng theo mùa.Bài viết cũng làm rõ quan niệm “mùa nào thức ấy” và cách thức người Nhật truyềntải ý tưởng đó vào đời sống thực tế thông qua những dụng cụ đồ đựng, bát đĩa Tuynhiên, mới chỉ dừng lại ở việc khái quát, cung cấp cái nhìn tổng thể, các công trìnhnghiên cứu khoa học và cả luận văn của tác giả chưa đi sâu vào tìm hiểu, khảo cứuchuyên sâu về một dòng gốm sứ cụ thể nào

Nhìn chung, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về gốm sứ Hizen chưanhiều, phần lớn tập trung khảo cứu qua các cuộc khai quật khảo cổ Thông qua đặcđiểm của hiện vật tìm được ở nhiều vùng miền khác nhau, các tác giả đưa ra nhậnxét đánh giá nguồn gốc cũng như niên đại của sản phẩm này Chính vì thế, với côngtrình nghiên cứu này, chúng tôi mong muốn tìm hiểu sâu hơn về gốm sứ Hizen vớicái nhìn tổng quan về nhiều khía cạnh của dòng gốm sứ đặc biệt này

2.2 Tình hình nghiên cứu gốm sứ Hizen ở Nhật Bản

Nếu như nghiên cứu về gốm sứ Nhật Bản nói chung và gốm sứ Hizen nóiriêng chưa thu hút được đông đảo các nhà nghiên cứu Việt Nam thì ngược lại, dònggốm này đã sớm thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Nhật Bản Một trong

những công trình đó là:“Tổng quan về xuất khẩu gốm sứ Hizen ra thế giới”; “Gốm

Trang 21

sứ Hizen xuất khẩu ra các nước Đông Nam Á” [87] Thông qua chuyên luận, Ohashi

Koji đã khái quát về tình hình xuất khẩu của gốm sứ Hizen ra thế giới và tập trungchủ yếu vào thị trường các nước Đông Nam Á Theo ghi chép của tác giả, trong giaiđoạn 1647 - 1650, thuyền buôn Trung Quốc đã đưa gốm sứ Hizen vào thị trườngcác nước trong khu vực như Campuchia, Siam, Việt Nam Những năm 50, các sảnphẩm ở lò gốm Yoshida, tỉnh Ureshino (một tỉnh trong lãnh địa Hizen) đã được đưasang Indonesia, Đài Loan Giai đoạn 1659 - 1684, thông qua Công ty Đông Ấn HàLan (VOC), gốm sứ Hizen đã xâm nhập vào thị trường châu Âu với số lượng đáng

kể Năm 684, nhà Thanh thâu tóm được Đài Loan và thống nhất đất nước Chínhquyền Mãn Thanh cho phép mở cửa trở lại các thương cảng ở miền nam Trung Hoa.Như một hệ quả tất yếu, gốm sứ Trung Quốc nhanh chóng lấy lại vị trí trên thịtrường Đông Nam Á và thế giới Đó cũng là lí do khiến gốm sứ Hizen mất đi vị thếcủa mình tại nhiều quốc gia Đông Nam Á Mặc dù vậy, các sản phẩm gốm sứ Hizenvẫn được đưa sang Indonesia

Ngoài ra phải kể đến công trình “Nhật ký giao thương Hirado - Hà Lan: thiết lập ngoại giao thời cận thế” [106] của Nagazumi Yoko Tác giả đã đưa ra cái

nhìn sâu sắc về chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ năm 609 khi Hà Lan thiết lậpquan hệ với thương điếm Hirado (Nhật Bản) đến năm 64 khi tàu Hà Lan rời cảngNagasaki Nagazumi Yoko chủ yếu sử dụng nguồn tư liệu ghi chép hoạt động mậudịch của nhân viên và thuyền trưởng Nicolas Couckebacker trong giai đoạn

633 đến 1639 Trong công trình nghiên cứu này, Nagazumi Yoko còn đưa ra nhậnđịnh: nếu xét trên khía cạnh nghiên cứu thì sổ kinh doanh và hóa đơn của Công tyĐông Ấn Hà Lan là quan trọng nhưng theo nhật ký mậu dịch thì tàu buôn Hà Lan vàTrung Quốc hoạt động một cách độc lập theo thể chế Mạc phiên, đặc biệt là chínhsách đối ngoại đầu thế kỷ XVII Hơn nữa, việc đó rất hữu ích trong việc tìm hiểuquy trình vận chuyển từ Hirado sang Nagasaki Nhiều nhà nghiên cứu đã so sánhgiữa Hirado và Nagasaki, có nhận xét rằng hoạt động giao thương ở Hirado tự dohơn so với Nagasaki

ao Keisuke với công trình nghiên cứu “Mậu dịch Hà Lan thời cận thế và bế quan tỏa cảng”[107] Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đề cập đến quan hệ

giao thương của thuyền buôn Hà Lan với Nagasaki Hirado giai đoạn đầu thế kỷ

Trang 22

XVII sang thế kỷ XVIII Qua việc so sánh số liệu phía Nhật Bản và Hà Lan, tác giả

đã làm rõ quan hệ giao thương các giai đoạn và thay đổi trong các năm và dựa theo

số lượng thay đổi này có thể làm minh chứng để nghiên cứu giao thương Hà Lan Nhật Bản thay đổi thế nào trong giai đoạn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII Dựavào kết quả này có thể phán đoán được kinh tế Nhật Bản từ một xã hội giao thươngquốc tế chuyển sang nền kinh tế nội địa thế nào Từ việc lý giải xã hội giao thươngquốc tế chuyển sang nền kinh tế tự cường giai đoạn thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII

-đã đưa ra phán đoán về số hàng cao cấp được kiểm soát của Mạc phủ Hơn nữa,cùng với sự phát triển sản xuất trong nước thế kỷ XVIII và kết quả của chính sáchtăng số lượng các doanh nghiệp của Mạc phủ có thể đưa ra kết quả suy đoán về sựtăng trưởng của các hoạt động kinh tế hướng nội, không phụ thuộc nhiều vào hàngxuất khẩu

Trên cơ sở đánh giá ảnh hưởng trực tiếp đối với thay đổi kinh tế trong nước

từ thế kỷ XVII có thể thấy chính sự thiếu hụt hàng hóa đó đã đánh thức nền kinh tếNhật Bản không chỉ phát triển trong các lĩnh vực thủ công nghiệp mà còn phát triểnkinh tế thương nghiệp với mức tiêu dùng lớn Công trình nghiên cứu này tập trungnghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của mậu dịch Hà Lan, chủ yếu làhàng xuất khẩu thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII Công trình cũng tóm lược lại vấn đềchủ yếu: Mậu dịch Deshima và Hà Lan trong thời kỳ “Bế quan tỏa cảng” đã pháttriển thống nhất như một cầu nối ngoại thương châu Á - Nhật Bản, Ấn Độ, ĐôngNam Á trong thế kỷ XVII, XVIII Từ kết quả đó cho thấy mậu dịch Hà Lan ởDeshima bị tác động bởi điều kiện ngoại cảnh trong sự thay đổi cơ cấu mậu dịch củaCông ty Đông Ấn Hà Lan như: Sự bất hợp tác của hai nước Hà Lan và Anh, mâuthuẫn của các nước châu Á, thực trạng buôn bán, hạn chế cung cấp… Hơn nữa, pháttriển kinh tế dưới thể chế Mạc phiên có các quy định đối với mậu dịch Hà Lan trongchính sách phát triển kinh tế như đúc lại tiền, tăng nhập khẩu dựa theo sự phát triểncủa nền kinh tế hàng hóa, thay đổi các mặt hàng nhập khẩu giữa đồng và tiền xu,hàng nhập khẩu cao cấp của lãnh chúa chuyển sang dùng các mặt hàng trong nước.Mậu dịch Hà Lan thời cận thế thông qua lưu thông hàng hóa phát triển dưới chế độMạc phiên từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đã đạt được vị trí quan trọng trên mộtphạm vi rộng lớn của châu Á Từ vấn đề quan tâm nói trên, công trình này cũng

Trang 23

đã đưa ra kết luận: gốm sứ Hizen chính thức được Công ty Đông Ấn Hà Lan xuấtkhẩu trong thế kỷ XVII, hay trong giai đoạn “bế quan tỏa cảng” Cuốn sách đã làm

rõ sự thay đổi trong cấu trúc của nền kinh tế trong bối cảnh theo đuổi chính sáchsakoku của chính quyền Edo Đây là một nghiên cứu có vị trí rất quan trọng trongviệc tìm hiểu gốm sứ Hizen được xuất khẩu thế nào dưới thời Mạc phủ Edo (1600-1868) Ngoài ra, con đường mậu dịch Hà Lan tại thương điếm Deshima chia làm 3giai đoạn: Giai đoạn 1641 - 1659 (Châu Ấn thuyền); Giai đoạn 1660 - 1715 (Mậudịch khu vực châu Á); Giai đoạn 6 trở về sau (Mậu dịch qua con đường Batavia).Thuyền buôn Hà Lan đã xuất khẩu gốm sứ Hizen với số lượng ngày càng nhiều sangthị trường các nước châu Á tạo thành một tam giác mậu dịch Ấn Độ - châu Á - NhậtBản

Yamawaki Tenjiro với công trình “Mậu dịch: Xuất khẩu sứ Arita của thuyền buôn Trung Quốc và Hà Lan” [92] được xếp ngang hàng với dữ liệu của T.Volker ở

châu Âu Công trình này chú trọng đến vấn đề ngoại thương và được biết đến như là

“lịch sử thành phố Arita” Tác giả chủ yếu nghiên cứu xuất khẩu sứ Hizen, bên cạnh

đó cũng đạt được những thành quả lớn trong nghiên cứu lịch sử kinh tế Vì thế, tácgiả đã nghiên cứu toàn diện về xuất khẩu gốm sứ Hizen trong khoảng thời gian từ

650 đến 5 dựa theo số liệu trong sổ kinh doanh của công ty VOC đưa ra số lượngxuất khẩu và các hạng mục sản phẩm hàng năm Sau này, Ohashi Koji dựa trên sổkinh doanh để phân tích và làm sáng tỏ hơn các thông tin về điểm đến, chủng loạisản phẩm, số lượng xuất khẩu hàng năm của sứ Imari Số lượng xuất

khẩu của gốm sứ Hizen theo thời gian được chia làm 2 giai đoạn chính: từ 64 đến

658 là giai đoạn phát triển hưng thịnh và giai đoạn xuất khẩu giảm sút 684 ( 685)

do nhà Thanh quay lại hoạt động trên thị trường thế giới Ngoài ra, đối tượng phântích chủ yếu là số liệu của công ty VOC Các nghiên cứu sau này đã đề cập đến sốlượng xuất khẩu của tư thương tại Deshima Năm 685 trở về sau, sứ Arita được tưthương xuất khẩu với số lượng lớn, tuy nhiên đó không phải là toàn cảnh về xuấtkhẩu gốm sứ Nhật Bản nhưng cũng là một gợi ý quý báu cho các nghiên cứu saunày Ngoài ra, gốm sứ xuất khẩu bởi thuyền buôn Trung Quốc cuối thế kỷ XVIIcũng chỉ là số liệu xuất khẩu đến Batavia mà thôi Vì vậy, điểm mấu chốt trongcông trình này là không chỉ phân tích xuất khẩu gốm sứ của công ty VOC mà còn

Trang 24

đề cập đến số lượng xuất khẩu gốm sứ của tư thương (Trung Quốc) và làm rõ đượcđối tượng xuất khẩu gốm sứ Hizen Công trình có phân tích thời kỳ đỉnh cao trongxuất khẩu sứ Imari nhưng chưa chỉ rõ mối quan hệ giữa điểm đến của sản phẩm nênchưa đưa ra những nguyên nhân dẫn đến việc thay đổi nhập khẩu, số lượng, hay giátrị của sản phẩm Tức là sự thay đổi xuất khẩu theo thời gian trở thành đề tài chủyếu trong công trình này.

Bên cạnh các công trình nghiên cứu kể trên, chuyên luận nghiên cứu “Gốm

sứ Hizen xuất khẩu qua biển Thái Bình Dương” [105], Nogami Takenori đã trình

bày khái quát về quan hệ giao thương gốm sứ Hizen qua thị trường mậu dịchManila Tác giả đã đưa ra một bức tranh về sự thăng trầm của gốm sứ Hizen khitham gia thị trường các nước Mexico, Mỹ, Tây Ban Nha từ thế kỷ XVI đến thế kỷXIX Trong thế kỷ thứ XVI, một số lượng nhỏ gốm sứ Hizen đã được đưa sangnước Mỹ cùng với số lượng lớn gốm sứ Trung Quốc Tuy nhiên, đến thế cuối thế kỷXVII, nhà Thanh ra lệnh cấm xuất khẩu gốm sứ ra nước ngoài Đó chính là cơ hộitốt cho gốm sứ Nhật Bản, đặc biệt là gốm sứ Hizen có chỗ đứng trên thị trường châu

Âu Từ thế kỷ XVIII, gốm sứ Hizen đã được đưa đến Mexico Đến đầu thế kỷ XIX,gốm sứ Hizen được tàu buôn của Mỹ và Tây Ban Nha tiếp tục đưa sang thị trườngcác nước châu Á

Trong công trình“Sứ Hizen xuất khẩu ra nước ngoài”[30], tác giả Nogami

Takenori đã khẳng định thời gian xuất khẩu của sứ Hizen ra nước ngoài vào khoảngnăm 492 và giới thiệu về các loại hoa văn của sản phẩm sứ Hizen Qua đây, tác giả

đã khái quát lịch sử phát triển và đưa ra đặc trưng sản phẩm của các vùng sản xuất

sứ Hizen Bên cạnh đó, tác giả đề cập đến sự thay đổi trong cách trang trí sản phẩmqua các giai đoạn phát triển khác nhau của gốm sứ Hizen Tác giả chia thành haigiai đoạn chính trong quá trình thay đổi để phù hợp với thị hiếu người tiêu dùngthời bấy giờ Giai đoạn đầu, gốm sứ Hizen phỏng theo phong cách gốm sứ TrungHoa để bắt đầu tiến trình thay thế gốm sứ Trung Quốc trên thị trường thế giới Sảnphẩm thời gian này chủ yếu là những chiếc đĩa được trang trí với họa tiết chimphượng và chữ “Nhật” được tập trung sản xuất tại Arita và Hasami Giai đoạn thứhai là thời kỳ đĩa hoa văn chim phượng và chữ “Nhật” được sản xuất với số lượnglớn theo mẫu quy định của đơn đặt hàng Lúc này loại

Trang 25

đĩa này được làm ở các vùng sản xuất như Uchiyama, Sotoyama thuộc Arita, vùngHasami, Ueshino và xuất hiện các lò chuyên sâu Ngoài hoa văn chim phượng vàchữ “Nhật”, còn các sản phẩm có hoa văn chữ “Thọ” và chim phượng hoàng, đĩa sứxanh lớn, đĩa hoa văn hình cành phù dung được sản xuất ra dựa theo yêu cầu và sựbiến động trên thị trường gốm sứ.

Với khảo cứu“Gốm sứ Hizen ở Việt Nam” [98], nhà khảo cổ học Nhật Bản

Kikuchi Seiichi đã khái quát tình hình gốm sứ Hizen xuất khẩu sang Đàng Trong,Việt Nam thế kỷ XVII Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra cácchủng loại gốm sứ Hizen tìm được ở 8 khu di tích khảo cổ miền Bắc Việt Nam:Thăng Long, Văn Miếu, Tràng Tiền, Lam Kinh, Hòa Bình, Đống Thếch, Kỳ Sơn,Hải Dương, Hưng ên; khu di tích khảo cổ ở miền Trung và Nam Bộ: Quảng Trị,cảng Cửa Việt, Phước Lý, Thừa Thiên Huế, Thanh Hà, Quảng Nam, Thanh Chiêm,Trà Kiệu, Bình Định, Nước Mặn Mỗi vùng đều tìm thấy những hiện vật gốm sứHizen khác nhau về chủng loại và số lượng

Tương tự như vậy, với bài viết “Sứ Imari ở Hàn Quốc” [104], Ieda Junichi

đưa ra một số hiện vật, mẫu gốm sứ Hizen ở thị trường Seoul và một số thành phốlớn của Hàn Quốc trong thế kỷ XVII - XVIII Tác giả cũng cho biết về số lượng cụthể của các chủng loại sản phẩm như sometsuke, hay iroe trong từng giai đoạn

Trong công trình nghiên cứu “Sứ hoa lam Hizen và sứ trắng Kraak ở Goa

-Ấn Độ” [100], Sasaki Hanae đã đưa ra mẫu hiện vật sứ Hizen hoa lam và sứ trắng

Kraak được trưng bày ở viện Bảo tàng Dân tộc học Goa Với nghiên cứu khảo cổ,các nhà nghiên cứu đã chứng minh đó là sản phẩm được sản xuất tại lò Hiekoba,Arita Hiện vật này cũng được tìm thấy ở Philipines, Indonesia, Mexico và được chorằng là sản phẩm xuất khẩu chung trong giai đoạn 660 đến 1680

Các nhà nghiên cứu về gốm sứ đã đưa ra các bằng chứng về đồ sứ Nhật Bảnxuất khẩu ra nước ngoài thế kỷ thứ XVII được sản xuất ra ở những lò nung thuộctỉnh Hizen ở Tây Bắc đảo Kyushu Hizen phần lớn là quận Saga ngày nay, vùngđược xác định là trung tâm sản xuất đồ sứ Hizen dựa theo tên của tỉnh sản xuất vàcòn được gọi là gốm sứ Imari theo tên cảng thị - nơi gốm sứ được xuất đi Giai đoạnxuất khẩu từ Nagasaki đến nhiều nơi trên thế giới mà điểm chính là Đông Nam Á,châu Âu và Trung Đông Đó là những điều Miki Sakuraba khẳng định lại trong

Trang 26

công trình nghiên cứu của mình mang tên “Đồ sứ Nhật Bản xuất khẩu đến Việt Nam

và Đông Nam Á thế kỷ XVII” [27] Trong bài viết này tác giả làm rõ thêm về bối

cảnh lịch sử trong mậu dịch của công ty VOC, qua đó thống kê được số lượng xuấtkhẩu sang thị trường Đông Nam Á mà cụ thể là thị trường Việt Nam

Ngoài ra, công trình nghiên cứu “Nhập môn gốm sứ Nhật Bản”, [74] tác giả

Abe Yoshiyaki đã khái quát qua trình phát triển của gốm sứ Nhật Bản qua các giaiđoạn từ cổ đại đến hiện đại Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích sự khác biệt giữagốm sứ Nhật Bản với gốm sứ phương Tây qua kỹ thuật tạo hình, họa tiết trang trí,chủng loại sản phẩm Hơn nữa, tác giả còn nhận định rằng giống như một số ít quốcgia khác, nghệ thuật gốm sứ rất phát triển tại Nhật Bản Điều này không chỉ thể hiện

ở số lượng lớn nhiều thợ gốm và nghệ nhân gốm sứ mà rất nhiều người am hiểu vàyêu mến môn nghệ thuật này Có thể nhờ may mắn được sinh ra trên mảnh đất ôn hoà, cóphong thổ đa dạng và thời tiết bốn mùa rõ rệt nên người Nhật Bản luôn mang trong mìnhniềm say mê nghệ thuật gốm sứ - môn nghệ thuật lấy hồn từ thiên nhiên và đất đai làmnguồn cảm hứng để sáng tạo Với các điều kiện thuận lợi như vậy, nghệ thuật gốm sứNhật Bản phát triển rất phong phú về thể loại Cùng với việc sản xuất các sản phẩm gốm

sứ ứng dụng trong công nghiệp và sử dụng hàng ngày, các thợ gốm đều đeo đuổi mộtphong cách gốm mang bản sắc sáng tạo riêng Một số chú trọng vào các loại bình thiên

về ứng dụng, một số khác dựa trên sự kết hợp giữa sự sáng tạo với hình dáng và cách sửdụng kỹ thuật mang tính truyền thống Vẫn có người không quan trọng tính ứng dụng mà

đi tìm kiếm những cái mới và thử nghiệm các kiểu hình dạng mới cho đất sét

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu Nhật Bản tập trung chủ yếu nghiên cứu mốiquan hệ bang giao giữa Nhật Bản và các nước trong khu vực cũng như trên thế giới.Bên cạnh các chuyên luận về giao thương, các nhà nghiên cứu còn đi sâu tìm hiểuqua các cuộc khai quật khảo cổ để tìm ra dấu tích của gốm sứ Hizen trong khu vực,tập trung chủ yếu ở các nước Đông Nam Á Qua đó, các học giả cũng đã khẳng địnhlại mối quan hệ giao thương của Nhật Bản với các nước đã có trước thế kỷ XVII.Đây cũng là bằng chứng cho thấy nỗ lực của Nhật Bản trong phát triển kinh tế và sản xuất các sản phẩm thương mại xuất khẩu trong thời kỳ cận thế

Trang 27

2.3 Tình hình nghiên cứu gốm sứ Hizen trên thế giới

Ngoài các học giả Việt Nam và Nhật Bản, trên thế giới còn có một số công

trình nghiên cứu về gốm sứ Hizen, tiêu biểu như T.Volker với công trình “Gốm ứ

và công t Đông Ấn Hà Lan qua hóa đơn của thành Batavia và các d liệu khác ở Hirado và D hima ”[65] Mục đích nghiên cứu của công trình là khái quát vai trò

của công ty Đông Ấn Hà Lan trong mậu dịch gốm sứ đặt trong mối quan hệ thịtrường Trung Quốc, Nhật Bản và nhiều quốc gia ở Đông Nam Á Thời gian nghiêncứu được giới hạn từ cuối thế kỷ XVI đến năm 682, khi sổ kinh doanh thànhBatavia được công bố Thời gian này, ở Trung Quốc được cho là giai đoạn chuyểngiao quyền lực từ nhà Minh (1368-1644) sang nhà Thanh (1644 -1911) Số liệuđược dùng phân tích chủ yếu là sổ kinh doanh ở Batavia, sổ kinh doanh Daho, cácbức thư VOC gửi tới Hirado và Deshima từ 63 đến 682

Qua việc phân tích các tư liệu liên quan đến công ty trong giai đoạn từ 596

-1682, tác giả đã khái quát về chủng loại, số lượng trong hoạt động mậu dịch gốm sứcủa VOC Ngoài công trình này, tác giả còn đưa ra số liệu xuất khẩu của công ty

VOC từ sau năm 683 “Mậu dịch gốm ứ Nhật Bản của công t Đông Ấn Hà Lan au năm 1683”[66].

Vialle Cýthia với công trình “Gốm sứ Nhật Bản xuất khẩu sang Hà Lan: Ghi chép của Công t Đông Ấn Hà Lan” [69] Công trình này dựa vào các số liệu của

Den Haag (Viện bảo tàng lưu trữ Quốc Gia Hà Lan) về Công ty Đông Ấn Hà Lan

và số liệu của thuyền buôn Hà Lan tại Nhật Bản để làm rõ quá trình thâm nhập củagốm sứ Nhật Bản vào thị trường Hà Lan Ngoài ra, công trình cũng có sử dụngnghiên cứu của T.Volker để tham khảo và hoàn thiện Công trình tập trung vào một

số vấn đề sau:

Hoạt động xuất khẩu gốm sứ Nhật Bản sang Hà Lan được Công ty Đông Ấn

Hà thực hiện năm 65 qua đơn đặt hàng của 4 người trong ban Giám đốc Đó là đơnđặt hàng sản phẩm mẫu để xem xét liệu gốm sứ Nhật Bản có thể thay thế được gốm

sứ Trung Quốc hay không Bởi lẽ gốm sứ Trung Quốc đã xuất khẩu sang thị trường

Hà Lan với số lượng lớn từ năm 64 kéo dài đến năm 652

Năm 66 , do nhu cầu của thị trường nên hầu hết gốm sứ Nhật Bản đượcchuyển đến Pháp Khoảng năm 666, vì xuất hiện một số vấn đề trong chất lượng

Trang 28

và giá cả nên đơn đặt hàng đã giảm đi nhiều Từ 668, xuất khẩu gián đoạn một thời

gian, cho đến 6 2, gốm sứ Nhật Bản bắt đầu quay lại thị trường châu Âu

Năm 6 9, Ban giám đốc VOC quyết định ngừng nhập khẩu gốm sứ Nhật Bảncho Ấn Độ và đến năm 683, VOC ngừng nhập khẩu gốm sứ Nhật Bản Chính quyền

Ấn Độ đã đặt thuyền trưởng của tàu buôn Trung Quốc các sản phẩm quý hiếmnhưng cố gắng đó đã bị thất bại Cuối năm 680, do thiếu nguồn vốn và thợ gốm lànhnghề nên một lần nữa gốm sứ Nhật Bản không đáp ứng được đơn đặt hàng sảnphẩm cao cấp cho thị trường Hà Lan Tuy nhiên, nhiều tư thương đã tham gia vàohoạt động xuất khẩu trong thời gian dài nên từ năm 693, họ vẫn được phép xuấtkhẩu và phải trả phí vận chuyển Mối quan tâm của VOC đối với mặt hàng xuấtkhẩu sang thị trường Hà Lan có thể là gốm sứ Trung Quốc, hoặc là gốm sứ NhậtBản nên tư thương vẫn tiếp tục nhập khẩu mặc dù cuối thế kỷ XVII vẫn chưa đượccông nhận chính thức Cuối thế kỷ XVIII, tư thương vẫn tiếp tục hoạt động thươngmại nhưng không nhiều người hướng tới thị trường châu Á Sau năm 86, Nhật Bản

đã thử xuất khẩu gốm sứ trở lại nhưng đã không thành công như mong đợi

Từ 65 đến 683, có những ghi chép chính thức về số lượng xuất khẩu sang thịtrường Hà Lan qua đường Batavia của VOC, trong đó ghi cụ thể về số lượng vàhạng mục hàng hóa hàng năm Tổng xuất khẩu sang Hà Lan là 22 692 tiêu bản(không tính các tiêu bản mẫu) Vialle Cýthia đã sử dụng tư liệu từ đơn đặt hàng gốcghi chép số lượng mua bán gốm sứ Nhật Bản của VOC Hoạt động này được kéodài từ khi Nhật Bản chính thức tham gia vào hoạt động xuất khẩu đến cuối năm

660 Trong giai đoạn này, xuất khẩu gốm sứ Hizen gặp nhiều thăng trầm như: nảysinh các vấn đề về chất lượng, giá cả, giảm đơn đặt hàng và gián đoạn Đóng góp to lớncủa công trình này chính là bảng tóm tắt dữ liệu số lượng xuất khẩu gốm sứ các năm củaVOC

Công trình nghiên cứu này cũng sử dụng dữ liệu của T.Volker (sổ kinh doanh, hóa đơn) là nguồn cung cấp số liệu chủ yếu

Liên quan đến sản xuất gốm sứ, năm 659 được coi là điểm khởi đầu trongviệc xuất khẩu gốm sứ Hizen sang châu Âu Tuy nhiên, trong năm này VOC đặthàng với số lượng lớn nên Arita chỉ đáp ứng được /2 số lượng hàng đặt Hơn nữa,

Trang 29

Hà Lan không phải là nước duy nhất buôn bán trực tiếp với Nhật Bản, mà TrungQuốc cũng nhập với số lượng lớn đưa sang châu Âu Số lượng gốm sứ Hizen màTrung Quốc đặt hàng để đưa sang châu Âu không cụ thể nhưng theo đánh giá củacác nhà nghiên cứu thì số lượng có thể gấp 2 lần so với số gốm sứ mà VOC đặt mua.

Thời gian này, Hà Lan ưa chuộng các sản phẩm sứ màu, trong khi đó ngườichâu Á lại thích các sản phẩm sứ hoa lam Năm 6 0, sứ màu Nhật Bản đã “thôimiên” người dân Hà Lan và châu Âu, nhưng họ không mua những sản phẩm này từngười Hà Lan mà mua từ người Trung Quốc Vì vậy, trong các bộ sưu tập ở Hà Lan,

có khá nhiều sứ màu và sứ hoa lam Imari, sứ hoa lam Kakiemon cũng phong phúnhưng hầu như không thấy sự có mặt của sứ màu Kakiemon Cả hai dòng sản phẩmImari và Kakiemon có thể thấy ở các bảo tàng hay các sưu tập ở Anh, Đức, Pháp ỞĐức phần lớn các sản phẩm đều là quà tặng Người Hà Lan thích các sản phẩm màusắc rực rỡ, còn Trung Quốc lại thích sản phẩm của dòng Kakiemon Vì thế, sảnphẩm sứ Kakiemon ngày càng được người Trung Quốc ưu chuộng và Nhật Bản đãsản xuất ra nhiều sản phẩm phù hợp với thị hiếu của các nước này Cuối thế kỷ XVIIđầu thế kỷ XVIII, sản phẩm Kakiemon của lãnh địa Hizen có mặt chủ yếu ở châu Âu

và được đánh giá là có giá trị cao hơn so với gốm sứ Trung Quốc

Từ 00 - 20, gốm sứ Trung Quốc được nhập khẩu nhiều hơn gốm sứ Nhật Bảnnhưng giai đoạn này được coi là thời kỳ khởi sắc về xuất khẩu của gốm sứ NhậtBản Nguyên nhân chính dẫn đến sự sụt giảm của gốm sứ Nhật Bản là do sự giatăng đồ sứ Cảnh Đức Trấn Như vậy, gốm sứ Nhật Bản xuất khẩu sang thị trườngchâu Âu trong khoảng 85 năm (từ 659 đến 45), hầu hết là các sản phẩm trang trí caocấp và chúng được trang trí trong các cung điện hoàng gia Nhìn từ góc độ kinh tế,công trình nghiên cứu này phản ảnh sự khác biệt trong chủng loại, kỹ thuật sản xuất,giá trị của sản phẩm gốm sứ xuất khẩu sang châu Âu hay các nước châu Á Bêncạnh đó, còn chỉ ra mối liên hệ giữa Công ty Đông Ấn Hà Lan và các thuyền buônTrung Quốc trong mạng lưới thương mại Đông Nam Á

Trong công trình nghiên cứu “Mậu dịch gốm ứ Nhật Bản”[108], Oliver

Impey đã khái quát một số điểm trong mậu dịch gốm sứ Nhật Bản từ lúc bắt đầuxuất khẩu đến cuối thế kỷ XVIII Thế kỷ XVI, tàu buôn Bồ Đào Nha bắt đầu xuấtkhẩu trực tiếp gốm sứ Cảnh Đức Trấn (Trung Quốc) sang thị trường châu Âu,

Trang 30

nhưng đến cuối thế kỷ XVII, Hà Lan đã thay thế Bồ Đào Nha trong công cuộc buônbán này Năm 640, Hà Lan xuất khẩu được vài chục vạn tiêu bản gốm sứ, lợi nhuậnthu được chưa nhiều nhưng chúng được coi là sản phẩm chủ đạo trong giai đoạnnày Nếu nói về quy mô xuất khẩu gốm sứ Nhật Bản, số lượng xuất khẩu của tưthương mà Công ty Đông Ấn Hà Lan không lưu lại là rất lớn Tuy nhiên, trong giaiđoạn đầu thì việc sử dụng dữ liệu của Công ty Đông Ấn cũng giúp cho chúng tahình dung phần nào về mức độ buôn bán gốm sứ Hizen với Hà Lan.

Trong thế kỷ XVI, một số lượng lớn gốm sứ Hizen, đặc biệt là dòng sứ Aritađược đưa sang thị trường Macao với các sản phẩm đa dạng về chủng loại, phong

phú về mẫu mã được Roy, Sit Kai Sin khảo sát trong công trình nghiên cứu “Gốm

trình“Gốm sứ Hizen xuất khẩu sang Manila” [101] Nhà khảo cổ học Nida

T Cuevas đã trình bày số lượng cụ thể của gốm sứ Hizen được đưa sang nước nàytrong khoảng thời gian từ 684 đến 1740

Gốm sứ Hizen sản xuất thành công và được đưa đến nhiều quốc gia ĐôngNam Á từ những năm 640, tuy nhiên số liệu khảo cổ học mới chỉ ghi nhận về sốlượng đưa sang các quốc gia như Siam, Philippines, Campuchia, Việt Nam màchưa đề cập đến Lào Từ tháng 2 năm 2006 đến tháng 2 năm 200 , từ công trình cảitạo đường phố của thành phố Viêng Chăn, đã tìm thấy 140.345 hiện vật gốm sứ,trong đó có 6.135 hiện vật được khẳng định là nhập từ nước ngoài Trong tổng số16.135 hiện vật gốm sứ nước ngoài, các nhà khảo cổ học Lào đã tìm ra 94 hiện vậtgốm sứ được sản xuất tại Hizen, Nhật Bản Tác giả Simizu Naho còn liệt kê những

mẫu mã, chủng loại được đưa đến thành phố này trong công trình nghiên cứu “Gốm

sứ Hizen Nhật Bản phát hiện ở thành phố cổ Viêng Chăn – Buôn bán sứ Imari và Karat u dưới Vương triều Lane Xang” [102].

Trang 31

Trong công trình “Nhật Bản - Quần đảo Indonesia: Bằng chứng thương mại” [103], Naniek Harkantiningsih Wibisono đã chứng minh giữa Nhật Bản và

Indonesia đã có giao dịch thương mại cuối thế kỷ XVII Thời gian đó, Indonesia lànơi sản xuất nhiều hạt tiêu và các gia vị khác, trong khi Nhật Bản là nước sản xuấtgốm sứ Chính qua mối giao thương ban đầu đó và xuất phát từ nhu cầu tự thân củahai nước đã tạo một cầu nối để Nhật Bản xuất khẩu sản phẩm gốm sứ đặc trưng củamình sang Indonesia Gốm sứ Hizen xuất khẩu sang Indonesia thời gian này đượcghi nhận là mẫu hàng có giá trị cao

Qua công trình nghiên cứu “Mậu dịch gốm sứ Hizen ở Malacca” [109], Lu

Tai - Kang đã đưa ra số liệu hiện vật gốm sứ Hizen tìm thấy ở Malacca và cung cấpnhững thông tin bổ ích về mậu dịch gốm sứ Hizen ở đất nước này Sau năm

5 , dưới sự cai trị của Bồ Đào Nha, Malacca trở thành trung tâm phát triển vềthương mại và tôn giáo Tuy nhiên, năm 64 khi Hà Lan chiếm đóng, Malacca trởthành một trong những trung tâm buôn bán khu vực châu Á dưới sự chỉ đạo củacông ty VOC Hà Lan Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều hiện vật gốm Hizennhư: mảnh gốm hoa lam, mảnh sứ được trang trí nhiều màu sắc Theo số liệu ghichép, công ty VOC Hà Lan đã đưa sứ Hizen sang thị trường Ấn Độ, Tây Á quaMalacca

Ngoài ra, trong công trình nghiên cứu “Gốm sứ Hiz n dưới cái tên Imari tìm thấy ở Hà Lan” [123], nhà khảo cổ A.Kaneda đã sử dụng kết quả của các cuộc khai

quật khảo cổ tiến hành ở kênh đào của Hà Lan để chứng minh gốm sứ Nhật Bản vàTrung Quốc có vai trò quan trọng góp phần thay đổi cuộc sống của người dân HàLan trong thế kỷ XVII - XVIII Cuối thế kỷ XVI, Hà Lan đã theo học cách lái tàucủa người Bồ Đào Nha trên con tàu sang Viễn đông Năm 602, sáu cảng hoạt độngđộc lập của Hà Lan đươc sát nhập vào một nhóm, thương nhân trong các nhóm nàytham gia hoạt động chung trong một tổ chức gọi là Công ty Đông Ấn Hà Lan(VOC) Thời gian này, VOC đã thiết lập trụ sở ở Batavia cho mục đích buôn bánhương liệu Mặc dù gốm sứ chưa là mặt hàng chủ đạo nhưng đã có ảnh hưởng lớnđến văn hóa xã hội của Hà Lan thời gian sau đó Thế kỷ XVI, các hộ gia đình HàLan phần lớn chỉ biết đến gốm sứ Trung Quốc và gốm sứ lúc này như một biểutượng của quyền quý, cao sang mà chỉ tồn tại trong các gia đình quý tộc Đến cuối

Trang 32

thế kỷ XVII, gốm sứ phổ biến hơn và đến thế kỷ XVIII, gốm sứ hầu như có mặt ởtất cả các hộ gia đình Hà Lan.

Thông qua các cuộc khai quật khảo cổ, sứ hoa lam, sứ màu, sứ trắng củaHizen được tìm thấy ở một số thành phố của Hà Lan như Amsterdam, Alkmaar,Delft, Hertogenbosch Hiện vật tìm thấy ở Hà Lan bao gồm các loại như đĩa, bát (cỡ

to, cỡ trung, cỡ nhỏ), chén trà, đĩa đựng chén trà v.v… Hiện vật sớm nhất được cho

là sản phẩm thuộc dòng Koimari và hiện vật có niên đại muộn nhất là sản phẩm sứmàu niên đại vào khoảng cuối thế kỷ XVIII Các tiêu bản gốm sứ mang thiết kế theophong cách cuối triều Minh (Trung Quốc) hay phong cách gốm sứ Cảnh Đức Trấn.Trong công trình nghiên cứu này, tác giả còn phân loại các hiện vật theo mục đích

sử dụng như dụng cụ ăn uống (bình cỡ nhỏ, bình cỡ trung; bát cỡ nhỏ, bát cỡ trung;bình đựng nước; đĩa nhỏ, đĩa đựng chén trà; lọ đựng mù tạt…); dụng cụ nhà bếp(các loại bình, lọ đựng gia vị); dụng cụ trang trí (bình hoa cỡ nhỏ, cỡ trung; bát cỡnhỏ, bát trà; đĩa cỡ nhỏ, đĩa đựng chén trà…); dụng cụ vệ sinh (bô, chậu) Qua đócho thấy, gốm sứ Hizen không chỉ là dụng cụ ăn uống đơn thuần mà còn trở thànhdụng cụ trang trí Tuy nhiên, qua phân tích niên đại và thời gian du nhập vào HàLan, các nhà nghiên cứu cũng nhận định rằng sứ các mẫu mã cửa gốm sứ Hizenđược đưa đến Hà Lan có xu hướng thay đổi theo từng thời kỳ và góp mặt vào sựthay đổi trong đời sống văn hóa của nước này

Công trình nghiên cứu“Gốm sứ Hizen tìm thấy ở các con tàu đắm Oo t rland năm 97 của công t Đông ấn Hà Lan” [124] Bruno E.J.S.Werz đề cập đến các hiện

vật gốm sứ Hizen tìm thấy trong các con tàu Oosterland của VOC bị đắm tại Nam

Mỹ do trận cuồng phong ngày 24 tháng 5 năm 69 Oosterland là dự án bao gồmhàng trăm con tàu lớn được VOC đưa vào sử dụng trong suốt thời gian hoạt độngcủa mình (1602 - 1799) Hiện vật gốm sứ tìm thấy trong các con tàu đắm này baogồm hàng trăm các mảnh gốm, sành, sứ và một số hiện vật nguyên vẹn mà được chorằng là sản phẩm của Nhật Bản, Trung Quốc, Ba Tư, Đức và Hà Lan Theo dữ liệunghiên cứu lịch sử, đặc điểm của gốm sứ, có thể xác định được niên đại của hiện vậttìm thấy trên các con tàu đắm Các

hiện vật này được sản xuất trước ngày 6, tháng 2 năm 69 khi bốn tàu khác đồnghành cùng Oosterland rời châu Á Niên đại của hiện vật được minh chứng

Trang 33

rõ ràng hơn khi phân tích, so sánh với các hiện vật gốm sứ được đặt hàng thời điểm

đó và hiện nay vẫn được lưu giữ ở bảo tàng Victoria & Albert, Ashmolean của Anh.Trong các hiện vật tìm được, gốm sứ Hizen chiếm 9% trong đó chủ yếu là sứ hoalam và sứ trắng Mặc dù số hiện vật tìm được không phải là tất cả nhưng cũng đãchứng minh được gốm sứ Hizen đã có mặt trên con tàu này Sản phấm sứ hoa lamgồm 5 lọ đựng thuốc, 15 bình cao cổ với 7 kích cỡ khác nhau Sản phẩm sứ trắnggồm 4 bình vuông cao cổ, 2 bình cao cổ và 3 bình đựng thuốc nhỏ Mặc dù không

có số lượng cụ thể gốm sứ Hizen chuyển sang từng nước cụ thể nhưng cũng là mộtminh chứng xuất khẩu sang châu Âu của Hizen thông qua VOC thời gian này

Trong chuyên luận“Gốm sứ Hizen tìm thấy trong vụ đắm tàu Avon t r năm 1659”[ 25] nhà khảo cổ học Christine van der Piji-Ketel đã giới thiệu mặt hàng gốm

sứ Hizen được chuyển sang Ấn Độ được tìm thấy trên con tàu Avonster của VOC.Avonster là con tàu bị đắm tại vịnh Gale năm 659 do bị vỡ neo trong khi chờchuyển hàng sang Ấn Độ Avonster vốn là con tàu mang tên Blessing thuộc quyềnquản lý của công ty Đông Ấn Anh, tuy nhiên con tàu này thuộc quyền quản lý củaVOC sau khi cuộc chiến Anh - Hà Lan kết thúc và được đổi tên thành Avonster(Sao hôm) Từ năm 993-1996, các cuộc khai quật khảo cổ được tiến hành tại vịnhGale và đã tìm được nhiều mảnh vỡ gốm sứ trong khu vực tàu đắm này Trong đó,rất nhiều lọ nhỏ đựng thuốc, đĩa tinh xảo với đường kính khoảng 20 cm… được cho

là sản phẩm của Hizen tìm thấy ở đây Bên cạnh đó, còn tìm được nhiều vật mẫubằng gỗ của VOC mang sang đặt hàng tại Nhật Bản Trong chuyên luận này, tác giả

đã đề cập đến quá trình tìm nguồn hàng thay thế gốm sứ Trung Quốc của VOC Giaiđoạn này, họa tiết trang trí, mẫu mã của Hizen tương đối giống với gốm sứ TrungQuốc nên nhiều nhà nghiên cứu đã phải sử dụng đến vận đơn của VOC và niên đạicủa sản phẩm để xác minh các hiện vật đó thuộc về Hizen hay Cảnh Đức Trấn

Công trình nghiên cứu “Đất và Lửa”, [59], Nicole Rousmaniere đã khái quát

những mốc phát triển chính của gốm sứ Hizen để làm sáng tỏ quá trình thay đổi của

lò nung, cũng như đặc trưng sản phẩm trong từng giai đoạn khác nhau Bên cạnh đó,công trình nghiên cứu này đã mô tả các công đoạn cụ thể trong quy trình sản xuất

Trang 34

gốm sứ Hizen truyền thống như xử lý tạp chất, kỹ thuật tạo hình, quy trình sản xuất,tạo dáng, tạo hình sản phẩm, trang trí đặc biệt là các loại hình lò nung từ truyềnthống đến hiện tại cho người đọc một bức tranh toàn cảnh về quy trình sản xuấtcũng như kỹ thuật gia công của gốm sứ Hizen.

Nhìn lại các kết quả nghiên cứu có thể thấy, hiện có rất ít các công trìnhnghiên cứu vượt qua phạm vi của nước mình Ở Việt Nam hầu hết các nhà sử học,khảo cổ học đều tập trung vào “trường hợp Việt Nam” tức đi sâu khảo cứu các địađiểm tìm thấy gốm sứ Hizen như: Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu, Hậu Lâu(Hà Nội), Đống Thếch (Hòa Bình), Phố Hiến (Hưng ên), Lam Kinh (Thanh Hóa),Thanh Hà (Thừa Thiên - Huế), Hội An (Quảng Nam), Nước Mặn (Bình Định), ĐạiLàng (Lâm Đồng) từ đó, tập trung xác định niên đại, tìm hiểu xuất sứ, đặc tính vàgiá trị sử dụng của các hiện vật gốm sứ Ở nhiều quốc gia châu Á và thế giới, cácnhà nghiên cứu cũng đã tập trung đi sâu phân tích các nguồn tư liệu văn bản và hiệnvật phát hiện được ở các thương cảng, di tích lịch sử, văn hóa Nhìn chung, còn cóchưa nhiều công trình nghiên cứu trình bày vấn đề một cách hệ thống và có một cáinhìn chung về khu vực

Nguồn tư liệu: Một số nhà nghiên cứu đã tập trung khai thác cơ sở dữ liệuchủ yếu từ sổ kinh doanh và vận đơn của Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) để phântích mối quan hệ thương mại giữa Nhật Bản với các nước; quan hệ giao thương mạigiữa Bồ Đào Nha và Hà Lan khi tham gia vào thị trường Nhật Bản

Ở Việt Nam, một số chuyên gia cũng đã công bố kết quả nghiên cứu trong đó cóviệc xác định thời điểm khởi đầu, phạm vi và hoạt động quan hệ giao thương với NhậtBản Tuy nhiên, hầu hết các tác giả chỉ tập trung vào trường hợp Việt Nam mà rất ít đềcập đến quan hệ giao thương giữa Nhật Bản và các nước khác thời kỳ cận thế Trong khi

đó, các học giả Nhật Bản và một số chuyên gia quốc tế lại tập trung khảo cứu về quan hệthương mại giữa Nhật Bản với Đại Việt (Đàng Ngoài, Đàng Trong), Philippines,Indonesia, Campuchia, Siam trên cơ sở phân tích tư liệu về khảo cổ, đi sâu phân tíchcác mô-típ bản địa và đặc tính của gốm sứ xuất khẩu ra thị trường thế giới Các nghiêncứu thống kê chủng loại, mẫu mã, họa tiết trang trí v.v của từng loại hình sản phẩmxuất khẩu cũng đã được thực hiện Từ

đó, người ta cũng đã thấy được những điểm tương đồng và dị biệt giữa các khu vựcthị trường Như vậy, gốm sứ Hizen không chỉ được sản xuất để đáp ứng nhu

Trang 35

cầu trong nước mà còn thiết thực phục vụ nhu cầu tiêu dùng của thị trường thế giới.Cùng với các sản phẩm gia dụng cũng có nhiều sản phẩm cao cấp, tinh xảo, đượcchế tạo theo đơn đặt hàng và những yêu cầu riêng.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận án cố gắng phác dựng một cách khái quát về quá trình hình thành, pháttriển, đặc trưng và những biến đổi của gốm sứ Hizen, loại sản phẩm hàng hóa đãgóp phần đưa Nhật Bản thành cường quốc thương mại và mở rộng những ảnhhưởng của đất nước này ra thế giới thế kỷ XVII-XVIII

Thế kỷ XVII được coi là “Thời kỳ hoàng kim” của thương mại châu Á và làthế kỷ diễn ra nhiều biến động trong lịch sử nhân loại Sau các phát kiến địa lý, hệthống thương mại thế giới, các trung tâm thương mại vùng, liên vùng, liên thế giới

đã được thiết lập và phát triển mau chóng Trong bối cảnh đó, các quốc gia châu Á

đã tham gia vào hoạt động giao thương quốc tế với những sản phẩm đặc thù Nhưng,

tơ lụa, gốm sứ là mặt hàng tiêu biểu của Đông Á trong nhiều thế kỷ Tuy nhiên, thờibấy giờ, hầu hết giới thương nhân quốc tế chỉ biết đến các sản phẩm hàng hóa tiêubiểu của châu Á thông qua các sản phẩm của những thị trường lớn như Ấn Độ,Trung Hoa Nắm bắt thời cơ do những biến động chính trị ở Trung Quốc, giới cầmquyền Nhật Bản đã chủ trương tiếp nhận mau chóng kỹ thuật sản xuất của TriềuTiên, Trung Quốc để đẩy mạnh sản xuất gốm sứ, từ đó dùng gốm sứ để thâm nhậpvào thị trường thế giới Đó là chủ trương kinh tế táo bạo của Nhật Bản Nhờ cónhững thúc ép của thị trường trong nước và yêu cầu xuất khẩu, gốm sứ Hizen đã có

sự phát triển vượt trội của cả về số lượng và chất lượng Việc tập trung khảo cứu quátrình hình thành, phát triển, con đường và năng lực xuất khẩu ra thế giới của gốm sứHizen là những mục tiêu trọng tâm mà luận án đề ra

4 Nguồn tư liệu

Để thực hiện các mục tiêu và nội dung nghiên cứu, chúng tôi đã tập trungkhai thác các nguồn tư liệu bằng tiếng Việt, Anh và tiếng Nhật (bao gồm cả nguồn

tư liệu Hán văn); kết hợp với kết quả điều tra điền dã, phân tích các phát hiện khảo

cổ học, hiện vật gốm sứ Hizen lưu giữ tại các bảo tàng quốc lập, sưu tập cá nhân ởViệt Nam, Nhật Bản và một số quốc gia trên thế giới Trong quá trình nghiên cứu,hoàn thiện luận án, bản thân tác giả cũng đã đi thực tế tại các bảo tàng, các làng

Trang 36

gốm truyền thống của Nhật Bản như thành phố Arita, Nishi Arita, lò Kodaru,Gezuyabu, Hatanohara Tại đây, chúng tôi đã khảo sát thực tế những địa danh làmgốm sứ nói chung và gốm sứ Hizen nói riêng, khảo cứu kỹ các loại lò nung, kỹ thuậtsản xuất và các loại hiện vật thực tế Thông qua các chuyến đi đó, tác giả đã có cơhội tìm hiểu quy trình làm gốm sứ, do vậy những tư liệu khảo sát cùng các kết quảnghiên cứu đó đã đóng góp một phần quan trọng cho luận án.

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng những phương pháp cơ bản của khoa học lịch sử, đặt vấn đềnghiên cứu trong bối cảnh khu vực và thế giới, trong mối quan hệ lịch đại và đồngđại Dựa vào việc phân tích các kênh thông tin, luận án đã ứng dụng phương phápthống kê, nghiên cứu so sánh để làm rõ các nội dung chuyên môn và mục tiêunghiên cứu đề ra

Bên cạnh đó, các nguồn tư liệu lưu trữ, tư liệu thực tế thu thập được ở ViệtNam, Nhật Bản đặc biệt là tư liệu khảo sát tại vùng Hizen kết hợp với việc trao đổi,xin ý kiến của các chuyên gia sử học, khảo cổ học, các nhà nghiên cứu, sưu tầm, cácchuyên gia bảo tàng v.v là những cơ sở quan trọng để chúng tôi đi đến nhữngnhận xét, đánh giá về quá trình hình thành, phát triển, sự biến đổi và quan hệ giaothương của Nhật Bản nói chung, giao lưu gốm sứ Hizen nói riêng thế kỷ XVII-XVIII

6 Các đóng góp chính

Là một dòng gốm sứ nổi tiếng, Hizen đã trở thành chủ đề nghiên cứu của cácnhà khoa học không chỉ ở Nhật Bản mà ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, ởViệt Nam chưa có các công trình chuyên khảo toàn diện, cụ thể về gốm sứ Hizen.Chính vì vậy, luận án cố gắng tập trung nghiên cứu quá trình hình thành, phát triểncủa gốm sứ Hizen đồng thời góp phần làm rõ những tương đồng, dị biệt giữa cácdòng gốm sứ Hizen; những điểm chung, riêng về nhu cầu sử dụng gốm sứ trongnước với thị trường quốc tế và giữa các thị trường khu vực, quốc tế Mặt khác, luận

án cũng tập trung làm rõ vai trò của gốm sứ Hizen, một trong những mặt hàng quantrọng, có ý nghĩa thiết yếu trong lịch sử, kinh tế Nhật Bản góp phần đưa Nhật Bảntrở thành một nước có nền kinh tế thương mại phát triển thời cận thế

Trang 37

Thông qua việc nghiên cứu gốm sứ Hizen, luận án cũng cố gắng tìm hiểu vaitrò của gốm sứ trong đời sống xã hội đặc biệt là đặc tính văn hóa, phong cách nghệthuật cũng như nhu cầu thẩm mĩ của người Nhật Từ việc tập trung nghiên cứu vềcác hoạt động kinh tế đối ngoại, giao lưu, buôn bán gốm sứ của Nhật Bản, luận áncũng muốn góp phần vào việc làm rõ lịch sử quan hệ giao thương giữa Nhật Bảnvới Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á trong bối cảnh chính quyền Edo theođuổi chính sách tỏa quốc để từ đó hiểu thêm vai trò của các thương nhân trung gian

cũng như bản chất của sakoku.

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án có cấu trúc 3 chương, bao gồm:

Chương : Gốm sứ Hizen trong dòng chảy gốm sứ Nhật Bản; Chương 2: Các dòng gốm sứ Hizen; Chương 3: Gốm sứ Hizen trên thị trường thế giới Ngoài ra, luận án

còn có phần Phụ lục minh họa để các nhà nghiên cứu và bạn đọc hiểu thêm và cócái nhìn so sánh về gốm sứ Hizen

Trang 38

CHƯƠNG 1 GỐM SỨ HIZEN TRONG DÒNG CHẢY GỐM SỨ NHẬT BẢN

Ở Nhật Bản, từ thời cổ đại phụ nữ luôn là người đảm đương công việc dệtvải, may quần áo, trong khi nam giới được coi là người chuyên tạo ra những đồ vật bằng

gỗ, đá, kim loại, vật dụng bằng rơm, rổ rá và những công cụ canh tác Nhu cầu muốn làm

ra những đồ dùng phục vụ cho bản thân và cuộc sống là thiên hướng bẩm sinh của conngười Đến nay, hầu hết các cụ già ở làng quê, dù là đồng bằng hay miền núi, đều có thể

tự đan rổ rá, bện áo mưa vì từ xa xưa kia họ đã quen với việc khám phá tự nhiên vàthích ứng với môi trường tự nhiên Nhu cầu trong đời sống của con người không ngừngthay đổi và phát triển Do đó, những sản phẩm mà con người tạo ra cũng không ngừngbiến đổi để thỏa mãn nhu cầu sống và sử dụng vật dụng ngày càng đáp ứng mục đíchphát triển của mình

Giống như mỗi người đều có dòng họ, mỗi nghề thủ công cũng có quá trìnhsáng tạo và phát triển riêng Nghề gốm sứ Nhật Bản cũng không nằm ngoài quy luật

đó, cũng có lịch sử phát triển gắn liền với những thăng trầm của dân tộc Nhật Bản

Ra đời bắt nguồn từ nhu cầu của con người, gắn bó với đời sống tiêu dùng hàngngày cũng như đời sống văn hóa tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, nghề gốm sứ

đã thực sự góp phần tạo nên nét riêng, bản sắc văn hóa Nhật Bản Tích lũy nhữngkinh nghiệm của quá trình sản xuất, gốm sứ đã không ngừng được biến đổi, ngàycàng trở nên tinh xảo hơn dưới bàn tay của các nghệ nhân Trải qua một quá trìnhphát triển lâu dài, từ đất nung, một sản phẩm sơ khai đã phát triển lên thành gốm,sành, sứ sau đó là những sản phẩm tinh xảo hơn đáp ứng được nhu cầu của thời đại

1.1 Tổng quan về gốm sứ Nhật Bản

1.1.1 Thời Cổ đại

Từ hàng vạn năm trước, những người Nhật đầu tiên đã đến định cư trên vùngquần đảo Cuộc sống của họ chủ yếu dựa vào tự nhiên bằng các hoạt động săn bắt,hái lượm, dần dần họ biết phát nương, làm rẫy, tụ cư và xây dựng làng xóm, tạo nên

xã hội lấy quan hệ huyết thống làm nền tảng cho sinh hoạt xã hội, cộng đồng Trongcuộc sống hàng ngày, người Jomon (10,000 TCN - thế kỷ III TCN) đã biết làm đồgốm bằng đất nung để phục vụ cho nhu cầu của mình Đây là dấu mốc quan trọngtrong đời sống văn hóa của người Nhật Đồ gốm bắt đầu

Trang 39

từ thời tiền sử, những bằng chứng sớm nhất về gốm Nhật Bản được phát hiện từ giaiđoạn Jomon Loại hình đồ đựng bằng gốm nhỏ đã được khai quật với số lượng đáng

kể ở phía Đông nước Nhật Hầu hết các sản phẩm này đều có màu xám thẫm, hoavăn là những đường cong được bố trí rất nghệ thuật với hoa văn nan chiếu Sảnphẩm này được tạo ra bằng cách cuộn những vòng đất sét chồng lên nhau để tạohình, rồi vuốt phẳng bằng tay Sau cùng mới trang trí hoa văn quấn thừng Hìnhdáng phổ biến là dạng góc cạnh, đáy nhọn, có tay cầm hình đầu thú Thời kỳ này,gốm Jomon được làm bằng tay, sau đó được nung qua lửa

ở nhiệt độ thấp

Giai đoạn đầu thời Jomon, đa phần gốm có hình tam giác Phương pháp làmsản phẩm này là dùng đất sét cuộn những vòng chồng lên nhau, vì thế bề mặt củasản phẩm không mịn mà khá gồ ghề Sản phẩm được làm ra không chỉ là dụng cụphục vụ đời sống của còn người mà nó đã chứng tỏ một điều rằng: con người có thểkhai thác tiềm năng vốn có của tự nhiên để phục vụ cuộc sống của mình

Đến giữa thời Jomon, hình dáng của gốm Jomon đã có những bước thay đổi.Gốm thời này tinh xảo hơn so với thời kỳ đầu Con người đã chú ý đến những vănthừng trên sản phẩm Họ đã làm những văn thừng nhỏ và miết mạnh tay hơn để tạo

ra sản phẩm có độ mịn và đỡ thô hơn Trong giai đoạn này, họ còn làm ra các sảnphẩm có hình người, nhiều nhất là hình dáng của phụ nữ Người nguyên thủy chưabiết dùng quần áo bằng vải vóc, họ chỉ biết mặc đồ bằng lá, vỏ cây hay da thú

Cuối thời Jomon, sản phẩm mỏng, hình dạng nhỏ và đa dạng hơn về chủngloại, nhưng vẫn sử dụng văn thừng để trang trí Nhiều sản phẩm có hoa hình vănthừng được khắc nổi trên bề mặt khiến sản phẩm khá đẹp và độc đáo

Đồ gốm Jomon đại diện cho văn hóa Nhật Bản thời đồ đá mới do chínhngười Nhật sáng tạo, không chỉ là sản phẩm có nghệ thuật tạo hình với các hoa vănphong phú, mà còn thể hiện tín ngưỡng và sức sống mãnh liệt của người bản địatrong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt Chính vì thế, văn hóa gốm Jomon đã trở thànhmẫu mực cho văn hóa các địa phương khác và càng về giai đoạn cuối thì tính thờiđại và tính địa phương càng mạnh Tiến sĩ khoa học M.G Munro đã nhận xét về đồ

gốm Nhật thời Jomon như sau: “Nó l n lỏi vào nh ng quan niệm vô cùng phong phú

về hình dáng và trang trí mà có lẽ chưa ở đâu và chưa bao giờ có gì vượt được

Trang 40

nó” Ông còn cho rằng: “Tài năng nghệ thuật của người Nhật sau này bắt nguồn từ trong quá khứ tiền sử.” [16]

Trải qua thời gian, khi bước vào thời Yayoi (thế kỷ III TCN - thế kỷ IIISCN), đồ gốm Jomon vẫn thịnh hành nhưng có những kỹ thuật cao hơn và nó còntiếp tục ảnh hưởng cho đến khi văn hóa ayoi lan rộng

Văn hóa ayoi là nền văn hóa đồ gốm tiếp sau văn hóa Jomon, tuy có nhiềuđiểm tương đồng nhưng cũng đã có những phát triển đáng chú ý Gốm thời kỳ nàyvẫn được nung ở nhiệt độ thấp, không tráng men Màu chủ đạo là đỏ sẫm, bên cạnh

đó còn có màu đỏ nhạt Thời kỳ này, sản xuất nông nghiệp lúa nước ra đời Đồ đồng,

đồ sắt xuất hiện Họ vẫn làm ra các sản phẩm Jomon độc đáo Loại gốm này về cơbản vẫn dựa trên kỹ thuật dải cuộn, nhưng tiến bộ hơn một bước là bắt đầu có sự phamàu và hình dáng cũng được trau chuốt với kỹ thuật cao hơn mặc dù hoa văn khôngphong phú như gốm Jomon Ảnh hưởng của văn hóa lục địa tràn đến đã làm cho vănhóa của thời đại Yayoi phát triển thêm một bước mới Kế thừa kỹ thuật của thời đạiJomon, gốm Yayoi đã đóng góp cho xã hội kỹ thuật chế tạo ra các công cụ vô cùngphong phú Vì thế, khi nhìn vào đồ gốm thời kỳ này, có thể nhận thấy sự thay đổilớn trong tinh thần của cư dân, đồng thời gốm đã phản ảnh được thực trạng xã hội

Theo các nguồn sử liệu và di chỉ khảo cổ học, người ta biết được rằng sauthời đại Yayoi, một chính quyền thống nhất của các tiểu vương quốc được thành lập

ở vùng Yamato, hay còn gọi là nước amato Khi nhà nước Yamato và triều đìnhYamato thống nhất cũng là lúc họ bắt đầu tích cực tiếp thu kỹ thuật mới của cư dânlục địa

Thế kỷ thứ V, kỹ thuật gốm từ Triều Tiên du nhập vào Nhật và loại gốm nàyhoàn toàn khác với đất nung Từ đó, người Nhật biết đến sự tồn tại của bàn xoay.Chiếc bàn xoay thô sơ đầu tiên ra đời, như một hệ quả tất yếu, gốm liền mảng (gốmSueki) đã từng bước thay thế cho việc cuộn vòng đất sét Gốm Hajibe, hay còn gọi

là đồ sành được tìm thấy chủ yếu tại các gò mộ lớn, đó là những tượng đất nungkhông tráng men

Đồ gốm Nhật Bản bắt đầu chịu ảnh hưởng của gốm sứ Trung Hoa vào thờiHeian Nhiều loại gốm men xanh nổi tiếng được du nhập vào thời này, song đồ gốmthời Heian không có nhiều cải tiến mà chỉ dừng lại ở mức độ sản xuất đồ gia dụng

Ngày đăng: 19/10/2020, 19:43

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w