1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đối chiếu giới từ tiếng hán hiện đại với giới từ tiếng việt hiện đại (qua một số giới từ)

173 54 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 422,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂNLÝ YÊN CHÂU LI YANZHOU ĐỐI CHIẾU GIỚI TỪ TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI VỚI GIỚI TỪ TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI QUA MỘT SỐ GIỚI TỪ LUẬN ÁN T

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÝ YÊN CHÂU (LI YANZHOU)

ĐỐI CHIẾU GIỚI TỪ TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI VỚI GIỚI TỪ

TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI (QUA MỘT SỐ GIỚI TỪ)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HàNội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-LÝ YÊN CHÂU (LI YANZHOU)

ĐỐI CHIẾU GIỚI TỪ TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI VỚI GIỚI TỪ

TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI (QUA MỘT SỐ GIỚI TỪ)

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU

MÃ SỐ: 62 22 01 10

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ĐÀO THANH LAN

HàNội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên c ứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả được trình bảy trong luận án này là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kì công trình nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận án.

Tác giả luận án

Lý Yên Châu (Li Yanzhou)

Trang 4

Mặc dù đã c ố gắng hoàn thiện luận án bằng mọi sức nỗ lực và khả năng củamình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, nên tôi rất mong nhận đượcnhững đóng góp quý báu của qúy thầy cô và các bạn đồng nghiệp.

Xin chân thành cảm ơn

LÝ YÊN CHÂU(LI YANZHOU)

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.3: Những giới từ chỉ đối tướng trong tiếng Hán không thể lược bỏ 129Bảng 3.4: Những giới từ chỉ đối tướng trong tiếng Việt không thể lược bỏ 130Bảng 3.5: Những giới từ chỉ căn nguyên và công cụ của tiếng Hán không thể lược bỏ 130

Bảng 3.6: Những giới từ chỉ căn nguyên và công cụ của tiếng Việt không thể lược bỏ 131

Bảng 3.7: Những giới từ chỉ thời gian, nơi chốn, phương diện, phạm vi của

Bảng 3.8: Những giới từ chỉ thời gian, nơi chốn, phương diện, phạm vi của

Trang 7

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục cá kýhiệu vàchữ viết tắt

Danh mục cá bảng

MỞ ĐẦU 1

1 Lýdo chọn đề tài 1

2 Mục đích vànhiệm vụ nghiê cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 3

4 Đối tượng vàngữ liệu nghiê cứu 3

5 Những đóng góp của luận án 7

6 Bố cục của luận án 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SƠ LÍ LUẬN 9 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

1.1.1 Tình hình nghiê cứu giới từ tiếng Hán 9

1.1.2 Tình hình nghiê cứu giới từ tiếng Việt 14

1.1.3 Tình hình nghiê cứu đối chiếu giới từ tiếng Hán với giới từ tiếng Việt .16

1.2 Cơ sở líthuyết liên quan đến đề tài 19

1.2.1 Líthuyết ngôn ngữ học đối chiếu … … ……19

1.2.2 Líthuyết về giới từ 23

1.2.2.1 Khái niệm giới từ 23

1.2.2.2 Đặc điểm giới từ 27

1.2.2.3 Phân loại giới từ 33

1.2.2.4 Phân biệt giới từ với động từ… … ……… 38

1.2.2.5 Phân biệt giới từ với liên từ 43

1.2.2.6 Phân biệt giới từ với một số từ loại khác 48

1.3 Tiểu kết ………51

CHƯƠNG 2 ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA GIỚI TỪ TIẾNG HÁN VỚI GIỚI TỪ TIẾNG VIỆT 53

2.1 Đối chiếu về chức năng ngữ pháp của giới từ 53

2.1.1 Những điểm giống nhau 53

2.1.2 Những điểm khác nhau 55

Trang 8

2.2.1 Cấu tạo của giới từ tiếng Hán 65

2.2.1.1 Giới từ đơn 65

2.2.1.2 Giới từ kép 68

2.2.2 Cấu tạo của giới từ tiếng Việt 70

2.2.2.1 Giới từ đơn 70

2.2.2.2 Giới từ kép 71

2.3 Đối chiếu về giới ngữ tiếng Hán với tiếng Việt 73

2.3.1 Đối chiếu về cấu tạo của giới ngữ 73

2.3.2 Đối chiếu về sự phân bố vị trícủa giới ngữ 77

2.3.2.1 Những điểm giống nhau 77

2.3.2.2 Những điểm khác nhau 85

2.3.3 Đối chiếu về chức năng ngữ phá của giới ngữ 88

2.3.3.1 Chức năng ngữ phá của giới ngữ tiếng Hán 89

2.3.3.2 Chức năng ngữ phá của giới ngữ tiếng Việt 92

2.4 Đối chiếu về ngữ nghĩa của giới từ tiếng Hán với giới từ tiếng Việt 94

2.4.1 Căn cứ đối chiếu 94

2.4.2 Giới từ chỉ không gian (địa điểm, nơi chốn) 95

2.4.3 Giới từ chỉ thời gian 100

2.4.4 Giới từ chỉ phương hướng 104

2.4.5 Giới từ chỉ đối tượng 106

2.4.6 Giới từ chỉ phạm vi 108

2.4.7 Giới từ chỉ phương diện 110

2.4.8 Giới từ chỉ mục đích 111

2.4.9 Giới từ chỉ nguyê nhâ 112

2.4.10 Giới từ chỉ căn nguyê 114

2.4.11 Các nhóm nhỏ khác 118

2.5.Tiểu Kết………120

CHƯƠNG 3 ĐỐI CHIẾU HOẠT ĐỘNG CỦA GIỚI TỪ TIẾNG HÁN VỚI GIỚI TỪ TIẾNG VIỆT 122 3.1 Đối chiếu sự hiện diện và không hiện diện của giới từ tiếng Hán với giới từ tiếng Việt 122 3.1.1 Về bình diện cúphá 125

Trang 9

3.1.3 Về cách dùng 135

3.1.4 Nhìn từ sự chi phối của động từ 136

3.2 Đối chiếu chức năng đánh dấu chủ đề của giới từ tiếng Hán với giới từ tiếng Việt 138

3.2.1 Giới từ tiếng Hán vàchủ đề hóa (topicalization) 140

3.2.1.1 Giới từ chỉ căn nguyên đánh dấu chủ đề 140

3.2.1.2 Giới từ chỉ nguyên nhân đánh dấu chủ đề 140

3.2.1.3 Giới từ chỉ phương diện đánh dấu chủ đề 141

3.2.1.4 Giới từ chỉ phạm vi đánh dấu chủ đề 141

3.2.1.5 Giới từ chỉ đối tượng đánh dấu chủ đề 142

3.2.2.Giới từ tiếng Việt và chủ đề hóa 142

3.2.2.1 Giới từ chỉ căn nguyên đánh dấu chủ đề 143

3.2.2.2 Giới từ chỉ nguyên nhân đánh dấu chủ đề 143

3.2.2.3 Giới từ chỉ phương diện đánh dấu chủ đề 144

3.2.2.4 Giới từ chỉ phạm vi đánh dấu chủ đề 144

3.2.2.5 Giới từ chỉ đối tượng đánh dấu chủ đề 145

3 3.Tiểu kết……… ………146

KẾT LUẬN………148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN

ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lýdo chọn đề tài

Trong hầu hết cá ngôn ngữ trên thế giới, hệ thống từ vựng đều được chia thànhthực từ và hư từ Trong đó, hư từ thường không có ý nghĩa biểu thị thực tại màchỉcóchức năng biểu thị ý nghĩa ngữ phá Căn cứ đặc tính của hình thái ngôn ngữ, tiếngHán và tiếng Việt đều thuộc về loại hình ngôn ngữ đơn lập (Isolating language), hư

từ vàtrật tự từ đóng vai trò chủ yếu trong việc thể hiện ý nghĩa ngữ phá(grammatical devices) Trong cá loại hư từ của tiếng Hán vàtiếng Việt, giới từ luônđược coi làmột trong những trọng điểm ngữ pháp và cũng là mối quan tâm của đôngđảo giới nghiê cứu ngôn ngữ vàgiảng dạy tiếng Về mặt ngữ nghĩa, giới từ cũng nhưcác loại hư từ khác, chỉ có ý nghĩa ngữ pháp mà không có ý nghĩa từ vựng Về chứcnăng cú pháp, giới từ làm nhiệm vụ kết nối từ phụ với từ chính Giới từ chủ yếu bắtnguồn từ sự hư hoá, còn gọi là ―ngữ pháp hoá‖ (grammaticalization) của thực từ.Vìmức độ hư hoá khác nhau cho nên giữa giới từ và động từ, danh từ tương ứng sựphân chia ranh giới không rõnét Bên cạnh đó, giữa giới từ vàliên từ đôi khi sự phânchia ranh giới cũng không rõ rệt Chính vìngữ nghĩa, tác dụng, nguồn gốc, cáchdùng của giới từ rất phức tạp vàgiới từ trong hệ thống ngữ phá tiếng Hán vàtiếngViệt lại cógiátrị đặc biệt, cho nê việc nghiên cứu giới từ trong ngữ phá học tiếngHán vàtiếng Việt xưa nay rất được coi trọng, những quan điểm về nóvẫn chưa có sựthống nhất với nhau

Trong quátrình thụ đắc ngôn ngữ, giới từ đã ảnh hưởng không nhỏ đối với sinhviên Trung Quốc vàsinh viên Việt Nam, đặc biệt làquátrình thụ đắc tiếng Hán vàtiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ thứ hai Hơn nữa, do những điều kiện lịch sử vàđịa lý đặc biệt, cùng với quátrình tiếp xúc Hán - Việt lâu dài, trong tiếng Việt đã tiếpthu một lượng lớn (khoảng 70%) từ vựng tiếng Hán, thường gọi làtừ gốc Hán

Trong số từ gốc Hán ấy, giới từ chiếm một tỷ lệ đáng kể, vídụ: do (由: yóu, do) /由

Trang 11

于: yóu yú(do vu), đối với (对: duì, đối) /对于: duìyú (đối vu), vì(为: wèi, vị)/为

了: wèi le (vị liễu), tại (在: zài, tại), từ (自: zì, tự/từ), v.v… Với tư cách là một cán

bộ giảng dạy tiếng Hán cho người nước ngoài, cómột thời gian khádài học tập và nghiê cứu tiếng Việt tại Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, hiện nay đang giảng dạy tiếng Hán cho người Việt Nam vàgiảng dạy tiếng Việt cho người Trung Quốc, chúngtôi rất hứng thúvới giới từ trong tiếng Hán vànhận thấy đi sâu nghiên cứu giới từ tiếng Hán trong sự đối chiếu với giới từ tiếng Việt sẽ cógiátrị líluận vàthực tiễn rất lớn đối với công tác nghiê cứu vàgiảng dạy tiếng Hán cũng như tiếng Việt

Trong khuôn khổ một luận án tiến sĩ ngôn ngữ học, chúng tôi sẽ tập trung đốichiếu những giới từ thường dùng trong tiếng Hán với những giới từ thường dùngtrong tiếng Việt, và tìm ra các phương thức biểu đạt tương đương giữa chúng Từ đó,ứng dụng vào việc dạy học tiếng Hán cho sinh viên Việt Nam, vàdạy học tiếng Việtcho sinh viên Trung Quốc Hy vọng có thể giúp cho người học hiểu đúng và sử dụngchính xác giới từ trong quátrình giao tiếp

Vìnhững lý do trên đây, chúng tôi chọn vấn đề ―Đối chiếu giới từ tiếng Hánhiện đại với giới từ tiếng Việt hiện đại (qua một số giới từ)‖ làm đề tài luận án tiến sĩcủa mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hoámột cách toàn diện về đặc điểm giới từ tiếng Hán và giới

từ tiếng Việt, luận án làm rõ đặc điểm ngữ phá của giới từ trong tiếng Hán và tiếngViệt, gồm ngữ nghĩa và cách dùng Từ đó chỉ ra sự giống vàkhác nhau giữa giới từtiếng Hán vàgiới từ tiếng Việt trên phương diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và cách dùng

Thông qua đối chiếu hoạt động trong ngôn ngữ của giới từ tiếng Hán vàgiới từtiếng Việt, luận án khảo sát những nhâ tố chi phối giới từ, như sự hiện diện và khônghiện diện của giới từ, chức năng đánh dấu chủ đề của giới từ, v.v

Trang 12

Để đạt được mục đích trên, luận án phải hoàn thành những nhiệm vụ sau:

(1) Hệ thống hoámột số vấn đề líluận về giới từ tiếng Hán vàgiới từ tiếng Việt;(2) Khảo sát cá giới từ điển hình trên phương diện ngữ pháp, ngữ nghĩa, cáchdùng;

(3) Đối chiếu những giới từ điển hình trong tiếng Hán với cá giới từ tương ứng trong tiếng Việt, chỉ ra hình thức biểu đạt tương ứng của chúng trong hai ngôn ngữ;

(4) Khảo sát những nhâ tố chi phối giới từ tiếng Hán vàgiới từ tiếng Việt trongviệc sử dụng ngôn ngữ (lời nói và văn phạm), vídụ: sự hiện diện vàkhông hiện diện củagiới từ, chức năng đánh dấu chủ đề của giới từ, v.v

3 Phương pháp nghiên cứu

Luận án chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp miêu tả dùng để miêu tả, lýgiải cá khái niệm, chức năng, đặcđiểm, sự phân loại giới từ tiếng Hán vàgiới từ tiếng Việt

- Phương pháp đối chiếu dùng để đối chiếu các đặc điểm ngữ pháp, vị tríphân

bộ, cấu tạo, ngữ nghĩa, hoạt động của giới từ tiếng Hán với giới từ tiếng Việt

- Thủ phá thống kê dùng để thống kêtần suất sử dụng của những giới từ thường dùng của tiếng Hán vàtiếng Việt

- Các thủ pháp phân tích ngôn ngữ học như phân tích thành tố trực tiếp, phân tích thành phần câu, phân tích ngữ cảnh, cải biến…dùng để phân tích chức năng cú pháp,

vị tríphân bố, cấu tạo, ngữ nghĩa của giới từ

4 Đối tượng vàngữ liệu nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Giới từ trong Tiếng Hán có hơn 100 từ [张小克, Trương Tiểu Khắc, 2004, 87],nhưng trong tiếng Việt chỉ cókhoảng 30 từ [Hoàng Trọng Phiến, 2007, 25], về mặt

số lượng, giới từ tiếng Hán nhiều hơn tiếng Việt Về mặt ý nghĩa, giới từ trong tiếngViệt tương đương với tiếng Hán, chúng đều cóthể biểu thị không gian, thời gian,

Trang 13

phương hướng, đối tượng, phạm vi, mục đích, căn nguyên, công cụ, ngoại lệ, v.v

Đối với sự phân định từ loại thìgiới ngữ phá tiếng Hán vàgiới ngữ phá tiếng Việt

cónhững quan điểm khác nhau, ýkiến của các trường phái đối với sự phân định giới

từ cũng không hoàn toàn giống nhau Vìvậy, luận án này lấy ―现代汉语词典‖

(―Từ điển Hán ngữ hiện đại‖ do viện Nghiên cứu Ngôn ngữ thuộc viện Khoa học

Xãhội Trung Quốc biên tập, bản thứ 5), ―现代汉语频率词典‖(―Từ điển tấn số

tiếng Hán hiện đại‖ do Đại học ngôn ngữ Bắc Kinh biên soạn, năm 1990) và ―Từ

điển tiếng Việt‖ (do viện Ngôn ngữ học thuộc viện Khoa học Xãhội Việt Nam biên

tập năm 2006, bản in lần thứ 12) , ―Từ điển tấn số tiếng Việt‖ (Tên nguyên bản

bằng tiếng Pháp là ―Dictionaire de fréquence du Vietnamien‖ do tác giả Nguyễn

Đức Dân biên soạn, xuất bản tại Universitéde Paris VII, năm 1980) làm tài liệu

tham khảo để xác định số lượng giới từ tiếng Hán vàgiới từ tiếng Việt cótần số xuất

hiện cao là đối tượng nghiên cứu Dựa vào đó, chúng tôi đưa ra bảng sau:

Bảng 1.1: Giới từ thường dùng trong tiếng Hán vàtiếng Việt (theo "Từ điển tần số")

TT Giới từ tiếng Hán Tấn số Giới từ tiếng Việt Tấn số

Trang 14

Mặt khác, kết hợp với quan điểm của cá nhàngữ pháp, và đặc tính của giới từ

tiếng Hán, chúng tôi chọn thêm một số giới từ song âm tiết của tiếng Hán để làm

đối tượng nghiê cứu, vídụ: 按照/àn zhào/ (án chiếu), 本着/běn zhe/ (bản trước), 除

了/chúle/ (trừ liễu), 对于/duìyú/ (đối vu), 根据/gēn jù/ (căn cứ), 自从/zìcóng/ (từ/tự

tòng)

4.2 Nguồn ngữ liệu

Ngữ liệu của tiếng Hán trong luận án này chủ yếu lànhững tác phẩm văn học và

tài liệu phá luật sau: 边城 (Biên Thành), 冰心全集 (Băng Tâm toàn tập, dưới đây sẽ

viết tắt ―Băng Tâm‖), 邓小平全集 (Đặng Tiểu Bình toàn tập, dưới đây sẽ viết tắt

―Đặng Tiểu Bình‖), 高晓声作品 (Tác phẩm của Cao Hiểu Thanh, dưới đây sẽ viết

tắt ―Cao Hiểu Thanh‖), 骆驼祥子 (Lạc Đà Tường Tử), 呐喊 (Gào thét), 祝福

(Chúc Phúc), 围城 (Vi Thành), 小二黑结婚 (Anh Hai đen lấy vợ), 徐志摩作品 (Tác

Phẩm của Từ ChíMa), 药 (Thuốc), 中华人民共和国民法通则 (Quy

Trang 15

định phá luật chung của nước Cộng hoàNhân dân Trung Hoa, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa sẽ viết tắt ―CHNDTH‖), 中华人民共和国刑法 (Luật hình sự nước CHNDTH),中华人民共和国合同法 (Luật hợp đồng nước CHNDTH),中华人民共和国公司法(2006) (Luật công ty nước CHNDTH), 中华人民共和国证券

(修订) (Luật bảo vệ người vị thành niên nước CHNDTH), 中华人民共和国婚姻

―Đôi mắt‖, ―Lão Hạc‖, ―Mảnh đất lắm người nhiều ma‖, ―Chữ người tử tù‖,

―Số đỏ‖, ―Tắt Đèn‖, ―Luật trọng tài thương mại nước Cộng HoàXãHội Chủ nghĩaViệt Nam‖(dưới đây sẽ viết tắt ―Luật trọng tài TM‖, nước Cộng HoàXãHội Chủnghĩa Việt Nam sẽ viết tắt ―CHXHCNVN‖), ―Chiến lược phát triển kiểm toán nhànước đến năm 2020 nước CHXHCNVN‖(dưới đây sẽ viết tắt ―Chiến lược‖), ―HiếnPháp nước CHXHCNVN‖ (dưới đây sẽ viết tắt ―Hiến Pháp‖), ―Luật thi hành ánhình sự nước CHXHCNVN‖, ―Nghị quyết về dự án, công trình quan trọng quốc giatrình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư nước CHXHCNVN‖(dưới đây sẽ viết tắt

―Nghị Quyết‖), ―Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án‖ (dưới đây sẽ viết tắt ―PhápLệnh‖) Tổng số chữ là: 487.489 chữ

5 Những đóng góp của luận án

Cóthể nói, đây là lần đầu tiên, một công trình nghiên cứu mang tính hệ thống vềgiới từ tiếng Hán trong sự đối chiếu với giới từ tiếng Việt được thực hiện bởi mộtnghiê cứu sinh người Trung Quốc tại cơ sở đào tạo cóbề dày kinh nghiệm của Việt

Trang 16

Nam trên đất nước Việt Nam Đề tài có ý nghĩa lí luận vàthực tiễn sau:

Thứ nhất, luận án tập trung nghiê cứu, đối chiếu một cách hệ thống, toàn diện

về đặc điểm của giới từ tiếng Hán, trước hết làcá giới từ điển hình trong mối tươngquan với cá giới từ tương ứng của tiếng Việt Cóthể nói, đây là công trình nghiê cứuđối chiếu giới từ Hán - Việt đầu tiên cótính toàn diện vàhệ thống Luận án làm nổirõsự giống vàsự khác nhau của giới từ tiếng Hán vàtiếng Việt, đồng thời, cung cấptài liệu tham khảo cho việc so sánh đối chiếu tiếng Hán vàtiếng Việt

Thứ hai, luận án góp phần vào líthuyết đối chiếu hai ngôn ngữ cùng loại hình lạicóquan hệ mật thiết hình thành trong quátrình tiếp xúc Hán - Việt

Thứ ba, thông qua quátrình khảo sát, rút ra những nhâ tố chi phối giới từ tiếng Hánvàgiới từ tiếng Việt trong khi sử dụng ngôn ngữ (lời nói và văn phạm), vídụ: sự hiệndiện vàkhông hiện diện của giới từ, chức năng đánh dấu chủ đề của giới từ, v.v

Cùng với đó, luận án này còn cung cấp tài liệu tham khảo cho việc biên soạn tàiliệu giảng dạy tiếng Hán cho sinh viên Việt Nam vàgiảng dạy tiếng Việt cho sinhviên Trung Quốc

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận án có ba chương Chương

1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở líluận Chương này

trình bày kết quả nghiê cứu về giới từ tiếng Hán vàtiếng Việt của giới ngôn ngữ học, vànhững công trình nghiê cứu đối chiếu về giới từ tiếng Hán với giới từ tiếng Việt

Về phần líthuyết của ngôn ngữ học đối chiếu, chúng tôi lấy những quan điểm của GS.Hứa Dư Long (许余龙) và GS Lê Quang Thiêm làm cơ sở líluận Về lí thuyết của giới từ, chúng tôi rút ra những quan điểm đã được công nhận của cá học giả đi trước, ứng dụng vào nghiê cứu thực tế, như khái niệm, đặc điểm vàsự phân loại giới

từ trong tiếng Hán vàtiếng Việt, phân biệt giới từ với động từ, liên từ và trợ từ trong tiếng Hán hiện đại, phân biệt giới từ với tình thái từ trong tiếng Việt hiện đại

Trang 17

Chương 2: Đối chiếu đặc điểm ngữ pháp vàngữ nghĩa của giới từ tiếng Hán

với giới từ tiếng Việt Chương này chúng tôi đối chiếu về chức năng ngữ pháp, vị

tríphân bố, cấu tạo của giới từ tiếng Hán với tiếng Việt Bên cạnh đó, chúng tôi cònđối chiếu giới ngữ của tiếng Hán với giới ngữ của tiếng Việt Hơn nữa, đối chiếu vềchức năng ngữ nghĩa của giới từ giữa tiếng Hán vàtiếng Việt, cụ thể là: giới từ chỉkhông gian (địa điểm, nơi chốn), giới từ chỉ thời gian, giới từ chỉ phương hướng,giới từ chỉ đối tượng, giới từ chỉ phạm vi, giới từ chỉ phương diện, giới từ chỉ mụcđích, giới từ chỉ nguyên nhân, giới từ chỉ căn nguyên, giới từ chỉ công cụ (phươngthức) vàgiới từ chỉ ngoại lệ, v.v

Chương 3: Đối chiếu hoạt động của giới từ tiếng Hán với giới từ tiếng Việt.

Trong chương này, chúng tôi sẽ đối chiếu về sự hiện diện vàkhông hiện diện củagiới từ tiếng Hán với giới từ tiếng Việt, khảo sát những nhâ tố chi phối giới từ Tiếp

đó, đối chiếu về chức năng đánh dấu chủ đề của giới từ tiếng Hán với giới từ tiếngViệt, tìm ra điểm giống vàkhác nhau giữa chúng Nói chung, những giới từ chỉ cănnguyên, giới từ chỉ nguyê nhân, giới từ chỉ phương diện, giới từ chỉ phạm vi, giới từchỉ đối tượng của tiếng Hán vàtiếng Việt đều cókhả năng đánh dấu cho chủ đề

Trang 18

CHƯƠNG 1.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SƠ LÍLUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu giới từ tiếng Hán

Vấn đề từ loại, trong đó có giới từ với phần lớn cá ngôn ngữ trên thế giới từ xưađến nay luôn được coi làmột trong những trọng điểm ngữ pháp được giới nghiê cứungôn ngữ vàgiảng dạy tiếng quan tâm Tiếng Hán vàtiếng Việt cũng không làngoạilệ

Trong lịch sử phát triển từ loại tiếng Hán, giới từ làmột trong những từ loại xuấthiện khá sớm Giới từ xuất hiện sớm nhất được xác định là vào thời Ân Thương(B.C năm 1600 – năm 1046), trong Kim văn (chữ đúc đồng) đã xuất hiện đến 20giới từ Thời cổ đại, giới từ trong tiếng Hán được gọi là ―từ‖, ―trợ tự‖ hoặc ―ngữtrợ‖ Thời cổ đại, do hạn chế về mọi mặt, ngôn ngữ chưa được nghiê cứu một cáchchuyên biệt vàhệ thống, ngữ phá tiếng Hán nói chung vàgiới từ tiếng Hán nói riêngvẫn chưa được hệ thống hóa một cách hoàn chỉnh Cho đến thế kỷ 19, với sự xuấthiện của trước tác ―Mã thị văn thông‖ (马氏文通)của MãKiến Trung (马建

忠 , 1898, 72), giới từ mới thực sự trở thành đối tượng nghiê cứu, đánh dấu mộtbước phát triển mới trong lịch sử nghiê cứu giới từ tiếng Hán

MãKiến Trung tham khảo ngữ phá học phương Tây, phân loại từ loại tiếng Hán

cổ đại thành 9 loại: Danh từ, đại từ, động từ, tĩnh từ, trạng từ, giới từ, liên từ, trợ từ,thán từ Hệ thống này thiết lập nên mô hình căn bản của hệ thống từ loại tiếng Hán

Hệ thống về sau không có thay đổi gìlớn, trong khoảng thời gian tương đối dài, cóthay đổi thìchỉ làviệc tách số từ ra khỏi tĩnh từ vàtách ngữ khítừ ra khỏi trợ từ, tăngthêm lượng từ vàtừ tượng thanh (ideophone) màthôi

Trang 19

Sau MãKiến Trung phải kể đến Chương Sĩ Chiêu (章士钊), là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ ―giới từ‖ và cho rằng: ―Giới từ lànhững từ kết hợp với danh từ, danh đại từ để liên kết với động từ, hình dung từ vànhững từ khác Giới từ cóthể đứng trước hoặc đứng sau danh từ mànódẫn ra, đứng trước được gọi là ‗tiền trí giới từ‘, đứng sau gọi là ‗hậu trígiới từ‘‖.

Cuốn ―Tân trứ văn pháp quốc ngữ‖ của LêCẩm Hi (黎锦熙, 1924, 62) làtácphẩm đầu tiên nghiê cứu ngữ phá tiếng Hán hiện đại một cách hệ thống Cuốn sáchnày cócống hiến đáng kể trong nghiê cứu từ loại ở chỗ đã phân loại từ loại tiếngHán thành 5 loại lớn và9 loại cơ bản: thực thể từ (danh từ, đại từ), vị từ ( động từ),khu biệt từ (tính từ, phótừ), quan hệ từ (giới từ, liên từ), tình thái từ (trợ từ, thán từ).Loại cơ bản thìgiống với ― Mã Thị Văn Thông‖, chỉ có điều tên gọi thay đổi mộtchút

Trong cuốn ―Đại cương văn pháp Trung Quốc ‖ của LãThúc Tương (吕叔湘,

1942, 68), tác giả đã phân chia ra từ ngữ khí Từ ngữ khíđược phân loại ở một phạm

vi lớn hơn phạm vi từ ngữ khí thông thường, bao gồm một số phótừ biểu thị ngữkhívàtừ cảm thán Cuốn ―ngữ phá tiếng Hán hiện đại‖ của Vương Lực(王力王力 ,

1943, 80)lại phân chia thành số từ vàtừ ngữ khí.Cuốn ―Bản thảo tiếng Hán hiệnđại‖ của Đinh Thanh Thụ (丁声树, 1961, 44) tiến hành phân loại lượng từ, từ tượngthanh (bao gồm thán từ)

Cuốn ―Hệ thống ngữ phá giảng dạy tiếng Hán tạm định‖ (1956) đã phân loại từtiếng Hán thành 11 loại, chúng làdanh từ, lượng từ, đại từ, động từ, tính từ, số từ,phótừ, giới từ, liên từ, trợ từ, thán từ Hệ thống này được sửa lại trong ―Đề cươngngữ phá giảng dạy trung học phổ thông‖ (1984) Trong cuốn sách này, từ tiếng Hán

đã tăng thêm 1 loại, đó là từ tượng thanh Hệ thống 12 từ loại này cótầm ảnh hưởngtương đối lớn Từ điển từ loại tiêu chuẩn được xuất bản hiện tại, ngoại trừ từ điểncábiệt cóphân tách ra từ ngữ khí, đại đa số từ điển khi biên tập vẫn sử dụng và

Trang 20

tham khảo hệ thống này.

Triệu Nguyên Nhiệm (赵元任 ) trong ―Văn pháp tiếng Trung Quốc‖ (1968,93), lại đề cập thêm 1 loại từ, đó là khu biệt từ (区别词), bao gồm: 这 giá(đây), 那

na (đó), 每 mỗi (mỗi), 各 các (các), 另 linh (khác), 一 nhất (nhất), 十 thập (thập),

整 chỉnh (cả), 半 bán (nửa), 许多 hứa đa (đa phần).

Trần Vọng Đạo (陈望道) trong ―Giản luận văn pháp‖ (1978), đã phân từ loại

ra thành 判断词 (phán đoán từ), 系词 (hệ từ), 指示词 (chỉ thị từ) Chu Đức Hi (朱德熙) trong ―Bản thảo ngữ pháp‖ (1982, 85) đã tiến hành phân tách khu biệt từ (区别词) tính từ, phân tách từ nơi chốn, từ phương vị, vàtừ thời gian từ danh từ, phântách từ ngữ khítừ trợ từ, tổng cộng có17 từ loại khác nhau

Lưu Nguyệt Hoa (刘月华) trong cuốn ―Ngữ phá tiếng Hán hiện đại thực hành‖của mình đã phân chia từ loại thành 12 loại theo góc độ giảng dạy ngữ phá tiếngHán, gồm danh từ, động từ, tính từ, số từ, lượng từ, đại từ, phótừ, giới từ, liên từ, trợ

từ, từ tượng thanh, từ cảm thán [66]

Cuốn ―Tiếng Hán hiện đại‖ của khoa Tiếng Trung trường Đại học Bắc Kinhnăm 1993 đã tách tính từ trạng thái thành từ trạng thái, nhưng vẫn coi từ nơi chốn,

từ phương vị, từ thời gian đều thuộc danh từ, tổng cộng có15 loại

Tiếp đó, còn rất nhiều học giả nổi tiếng đã đi sâu nghiên cứu về giới từ nhưTrần Thành Dịch, Trương Chí Công, Chu Đức Huy, Quách Cẩm Lương, Triệu ThụcHoa, Phó Vũ Hiền, Chu Tiểu Tân v.v Các học giả đã có những luận giải khákỹ vềnội hàm và ý nghĩa mở rộng, nhìn chung đã miêu tả được đặc trưng cơ bản, baogồm chức năng ngữ pháp và ý nghĩa ngữ phá giới từ Điển hình như tổng kết nhận

định của nhàngôn ngữ học Triệu Thục Hoa, Phó Vũ Hiền, Chu Tiểu Tân Triệu

Thục Hoa cho rằng: giới từ có năm đặc trưng ngữ pháp như sau: (1) Giới từ khôngthể độc lập đảm nhận cá thành phần trong câu; (2) Giới từ cũng không thể làm

Trang 21

thành câu, không thể độc lập trả lời câu hỏi, nhưng những trong một số ngữ cảnh nhất định cóthể được dùng để trả lời câu hỏi; (3) Giới từ không cóhình thức lặp; (4) Giới từ không kết hợp được với bổ ngữ; (5) Giới từ không kết hợp được với trợ từ động thái Cũng như vậy, Phó Vũ Hiền vàChu Tiểu Tân sau khi so sánh động từ, giới

từ vàliên từ với nhau đã tổng kết và đưa ra những đặc điểm ngữ phá của giới từ như sau: (1) Giới từ không thể đảm nhận thành phần câu, không thể đơn độc trả lời câu hỏi Một số giới từ cóthể kết hợp được với trợ từ động thái ―了‖, ―着‖ ,

―过‖, một số giới từ không thể kết hợp được, giới từ không cóhình thức lặp; (2)Những giới ngữ đứng trước vị ngữ, phần lớn cóthể được tu sức bởi phótừ phủ định

―不‖, ―没‖; (3) Sau giới từ cóthể kết hợp được với tân ngữ (Thuật ngữ trong giớingữ phá tiếng Hán Giới ngữ phá Việt Nam gọi làbổ ngữ), vị từ hoặc thể từ, cấuthành giới ngữ tu sức cho vị từ hoặc thể từ

Từ những nghiê cứu trên đây, cóthể thấy giới từ làmột loại hư từ trong từ loạitiếng Hán hiện đại

Về tiêu chuẩn phân chia từ loại, từ công trình ―Mã thị văn thông‖ ra đời đếnnay, cá nhàngữ phá học cũng đã đưa ra nhiều tiêu chuẩn để phân chia từ loại tiếngHán, chủ yếu cóba tiêu chuẩn sau: 1 Hình thái; 2 Ý nghĩa; 3 Chức năng ngữ phá(còn gọi làchức năng phân bố)

Về tiêu chuẩn hình thái, tiếng Hán (cũng như tiếng Việt) làngôn ngữ đơn lập, đặctrưng hình thức của từ không phong phú như ngôn ngữ khuất chiết (inflectinglanguage, như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, v.v…), cho nên, Quách Nhuệ (郭锐) chỉ ra rằng: đối với tiêu chuẩn phân chia từ loại tiếng Hán mànói, tiêu chuẩn hìnhthái không thể coi làm tiêu chuẩn phân chia từ loại chính, chỉ cóthể làm một tiêuchuẩn tham khảo [54, tr113]

Về tiêu chuẩn ý nghĩa, MãKiến Trung (1989), Vương Lực (1943) đều lấy tiêu chuẩn này để phân chia từ loại tiếng Hán Ý nghĩa của từ cóhai loại, một là ý nghĩa

Trang 22

từ vựng, hai là ý nghĩa ngữ phá Nếu căn cứ theo tiêu chuẩn này phân chia từ loạicũng gặp nhiều mâu thuẫn Vídụ: danh từ làmột loại từ biểu thị tên gọi của ngườihoặc sự vật, động từ làmột loại từ biểu thị động tác, hành vi, phát triển vàbiến hóacủa sự vật Chu Đức Hi (1985) đã từng chỉ ra: ―战争 (n, zhanzheng, chiến tranh) và打仗(v, dazhang, giao chiến), về khái niệm của hai từ này không cógìkhác nhaunhiều, nhưng tính chất ngữ phá của hai từ này thìkhông giống nhau‖ (从概念上说指称并无不同,但两个词的语法性质绝然不同‖) Cho nên, tiêu chuẩn ý nghĩacũng chỉ cóthể làm một căn cứ tham khảo cho tiêu chuẩn phân chia từ loại tiếngHán màthôi.

Về chức năng ngữ pháp (phân bố), nhiều nhàngữ phá (LãThúc Tương, ĐinhThanh Thụ, Triệu Nguyên Nhiệm, Lưu Nguyệt Hoa, Quách Duệ) đã thừa nhận tiêuchuẩn này cóthể làm tiêu chuẩn phân chia từ loại cho tiếng Hán Tiêu chuẩn phân

bố của từ bao gồm: khả năng kết hợp của từ vàkhả năng tạo câu của từ, vídụ: 学习(xue xi, học tập) là động từ, cóthể nói 不学习 (bu xue xi, không học tập), 再学习(zai xuexi , lại học tập/ học tiếp), 也学习 (ye xue xi, cũng học tập) Như vậy, động

từ (学习) cóthể kết hợp với phótừ (不 bất,再 tái,也 dã) 小说 (xiao shuo: tiểuthuyết) làdanh từ, không thể kết hợp với phótừ, nhưng có thể nói 两本小说 lưỡng

bản tiểu thuyết (hai quyền tiểu thuyết), 许多小说 hứa đa tiểu thuyết (nhiều tiểu

thuyết), nhưng với động từ thìkhông thể nói như vậy, đó là khả năng kết hợp của từ Chức năng tạo câu của từ chỉ làtừ trong câu cóthể đảm nhiệm những thành phần cúphá vàchức năng cú pháp nào đó, ví dụ: 学习 (học tập) và 小说 (tiểu thuyết) cóthể tự mình đảm nhiệm thành phần câu, nhưng 关于 (về), 从 (từ), 吗 (không) thìkhông thể tự mình đảm nhiệm thành phần của câu 学习 (học tập) thường làm vị

Trang 23

ngữ, với một điều kiện nhất định thìnócóthể làm bổ ngữ hoặc chủ ngữ, 小说 (tiểu thuyết) cóthể làm chủ ngữ, bổ ngữ, định ngữ, nhưng không thể làm vị ngữ được.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta cóthể thấy chức năng ngữ pháp (phân bố)làmột tiêu chuẩn khách quan, khoa học để làm tiêu chuẩn phân chia từ loại tiếng Hánhiện đại

Dựa trên cá công trình nghiê cứu của những nhàngữ phá học tiếng Hán đi trước,xuất phát từ cơ sở líluận nghiê cứu trong luận án này vànhững vận dụng thực tếtrong giảng dạy tiếng, chúng tôi phân chia từ loại tiếng Hán thành 12 loại, gồm có:danh từ (từ thời gian, từ nơi chốn, từ phương vị), đại từ, động từ, tính từ, lượng từ,

số từ, phótừ, giới từ, liên từ, trợ từ, thán từ, từ tượng thanh

1.1.2 Tình hình nghiên cứu giới từ tiếng Việt

Việc nghiê cứu từ loại tiếng Việt luôn được cá nhàngữ phá Việt Nam coi trọng.Tài liệu sớm nhất nghiê cứu về từ loại tiếng Việt là ―Từ điển Việt – Bồ Đào Nha -Latinh‖ của A deRhodes được in ấn vào ngày 5 tháng 2 năm 1651 tại RôMa, Ông

A deRhodes phân chia từ loại tiếng Việt thành 5 loại: danh từ, đại từ, động từ, tính

từ, vàcá từ không cótrạng thái biến hóa Từ đó về sau, cókhông ít học giả chuyênnghiê cứu về từ loại tiếng Việt Dưới đây là những công trình nghiê cứu cótính tiêubiểu về từ loại tiếng Việt

Trong sách giáo khoa ―Từ loại tiếng Việt hiện đại‖ của LêBiên, tác giả đã đưa

ra 9 loại từ, chúng là:danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, phụ từ, quan hệ từ (giới

từ vàliên từ), tình thái từ, thán từ [2]

Trong công trình ―Ngữ phá tiếng Việt‖ của Nguyễn Tài Cần, tác giả đã phânchia từ vựng tiếng Việt thành 9 loại, chúng là: danh từ, số từ, đại từ, động từ, tính

từ, phótừ, quan hệ từ (giới từ vàliên từ), trợ từ, thán từ.[3, tr340]

Nguyễn Kim Thản trong công trình ―Cơ sở ngữ phá tiếng Việt‖ của mình cũng đãphân chia ra 9 loại, nhưng tên gọi mỗi loại cókhác nhau Trong đó, thực từ có5

Trang 24

loại: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, hư từ có4 loại: từ kèm, từ nối, từ đệm vàtừ cảm [30, tr59]

Tác giả Diệp Quang Ban trong công trình ―Ngữ phá tiếng Việt‖ của mình đãcăn cứ vào ba tiêu chuẩn sau đây để phân chia từ loại tiếng Việt: ý nghĩa khái quát,khả năng kết hợp, chức vụ cúphá Trên cơ sở tiêu chuẩn đó, tác giả đã phân chia ra

11 loại, chúng là: danh từ, số từ, tính từ, động từ, đại từ, định từ, phótừ, quan hệ từ, tình thái từ, trợ từ, thán từ Giới từ nằm trong quan hệ từ [1]

Tác giả Đinh Văn Đức trong cuốn ―Ngữ phá tiếng Việt (Từ loại)‖ đã căn cứ theo tiêu chuẩn phân chia khoa học, phân từ loại tiếng Việt thành những loại sau: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, quan hệ từ, tình thái từ Giới từ nằm trong quan hệ

từ Đây là một công trình nghiê cứu khoa học, cógiátrị tham khảo rất lớn [8]

Tác giả Nguyễn ChíHòa trong công trình ―Ngữ phá tiếng Việt thực hành‖, từgóc độ giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, đã đưa ra 7 loại, chúng là: danh từ,động từ, tính từ, đại từ, số từ, phótừ, giới từ [16]

Trong công trình ―Vấn đề ‗từ‘ trong tiếng Việt ‖, tác giả Nguyễn Thiện Giápdựa trên ýnghĩa khái quát và đặc điểm hoạt động ngữ phá của từ, đưa ra 9 loại, gồm:danh từ, vị từ, quán từ, lượng từ, đại từ, liên từ, giới từ, trợ từ, thán từ [11]

Bên cạnh đó, hai công trình nghiê cứu nổi tiếng cógiátrị tham khảo lớn trongnghiê cứu giới từ tiếng Việt, một là công trình ―Hư từ trong tiếng Việt hiện đại‖của Nguyễn Anh Quế (1982), tác giả đã thảo luận một cách chi tiết một số loại hư từtrong tiếng Việt hiện đại, các hư từ đó gồm: số từ, đại từ, phótừ, giới từ, liên từ, trợ

từ, phụ từ, cảm thán từ.[27] Một công trình nữa là: ―Cách dùng hư từ tiếng Việt‖của Hoàng Trọng Phiến, công trình này cóthể coi như là một cuốn sách công cụ đểtra cứu về cá loại hư từ của tiếng Việt, trong đó bao gồm giới từ Hai công trìnhnghiê cứu này có ý nghĩa tham khảo rất lớn trong nghiê cứu hư từ (bao gồm giới từ)tiếng Việt.[26]

Dựa trên cá nghiê cứu nổi bật trên đây của cá học giả, cóthể thấy, mặc dùcó một

số học giả không chỉ ra vị trí độc lập của giới từ tiếng Việt, nhưng vẫn có

Trang 25

không ít cá học giả công nhận sự tồn tại của từ loại giới từ, vàtiến hành nghiê cứuchuyên sâu về từ loại này Các học giả đó bao gồm: Bùi Đức Tịnh, Phan Khôi,Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức, Nguyễn Anh Quế, Diệp Quang Ban, NguyễnChíHoà, Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Văn Chính

Từ những nghiê cứu ngữ phá tiêu biểu nói trên, cóthể thấy, về tiêu chuẩn phânchia từ loại, có một xu hướng kháthống nhất là căn cứ vào ba tiểu chuẩn, chúng là:ýnghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức vụ cúphá [Diệp Quang Ban, 1, tr.470] Chodùkết quả phân chia từ loại khác nhau, nhưng về cơ bản đều thừa nhận giới từ tiếngViệt làmột từ loại riêng hoặc thuộc về quan hệ từ Dựa trên cá công trình nghiê cứucủa những nhàngữ phá học tiếng Việt đi trước, xuất phát từ cơ sở líluận trong luận ánnày vànhững vận dụng thực tế trong giảng dạy tiếng, chúng tôi phân chia từ loạitiếng Việt thành 11 loại, chúng là:danh từ, đại từ, số từ, lượng từ, động từ, tính từ,phótừ, liên từ, giới từ, thán từ, trợ từ Trong đó, giới từ là một từ loại độc lập trongtiếng Việt

Cóthể nói, vấn đề nghiê cứu từ loại nói chung vàgiới từ trong tiếng Hán và tiếngViệt nói riêng luôn nhận được sự quan tâm cao độ của cá học giả Trung Quốc vàViệtNam Thành quả nghiê cứu rất đáng trân trọng, làm tăng bề dày nghiê cứu líluận và

có ý nghĩa thiết thực trong việc vận dụng vào thực tiễn dạy học vàsử dụng ngôn ngữnhư một công cụ giao tiếp Tuy nhiên, quan điểm của cá học giả vẫn còn một sốýkiến chưa hoàn toàn thống nhất, đặc biệt làvấn đề phân loại từ tiếng Việt

Từ việc điểm lại cá công trình nghiê cứu cóliên quan, chúng tôi cho rằng, vềnghiê cứu đối chiếu tiếng Hán vàtiếng Việt trên góc độ từ loại càng cần phải quantâm hơn nữa Cho đến nay, không gian nghiên cứu đối chiếu giới từ tiếng Hán vàgiới từ tiếng Việt vẫn còn làkhoảng trống chờ đợi chúng ta tiếp tục bổ sung, xứngvới tầm của nó

1.1.3 Tình hình nghiên cứu đối chiếu giới từ tiếng Hán với giới từ tiếng Việt

Trang 26

Như ta đã biết, đã có rất nhiều công trình chuyên luận hoặc luận án để nghiêcứu vàkhảo sát về giới từ tiếng Hán vàgiới từ tiếng Việt, nhưng những luận án hoặcchuyên luận để nghiê cứu đối chiếu về giới từ tiếng Hán vàgiới từ tiếng Việt vẫn rất

ít, chủ yếu tập trung vào những luận án sau:

(Nghiên cứu đối chiếu giới ngữ ―zai + từ nơi chốn‖ của tiếng Hán với ―ở + từ nơichốn‖ của tiếng Việt) của Phạm Thị Ngọc Phương (Việt Nam, 2008) đã bảo vệthành công tại TP Quế Lâm, Trung Quốc Tác giả đã đối chiếu giới ngữ ―zai + từnơi chốn‖ với ―ở + từ nơi chốn‖ từ góc độ cúpháp, ngữ nghĩa, và phân tích lỗi trongkhi sinh viên Việt Nam sử dụng giới ngữ ―zai + từ nơi chốn‖ của tiếng Hán.[48]Luận văn thạc sĩ ―汉语介词 ‗给‘和越南语介词 ‗cho‘比较研究‖ (Nghiên cứuđối chiếu giới từ ―gei‖ của tiếng Hán với giới từ ―cho‖ của tiếng Việt) của LaThúy Hiền (Việt Nam, 2011) đã bảo vệ thành công tại TP Vũ Hán, Trung Quốc.Trong bài đó, tác giả đã đối chiếu giới từ ―gei‖ của tiếng Hán với giới từ ―cho‖của tiếng Việt theo líthuyết ba bình diện (ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng), vàphântích lỗi trong khi người Việt Nam sử dụng ―gei‖ của tiếng Hán.[71]

Luận vặn thạc sĩ ―汉越语相似介词对比分析——以 ‗除/除了‘, ‗为/为了‘为例‖ (Nghiên cứu đối chiếu giới từ tương tự của tiếng Hán vàtiếng Việt —— lấy

―trừ/trừ liễu‖, ―vị/vị liễu‖ làm thí dụ) của Mai Thu Hoài (Việt Nam, 2011) đã bảo

vệ thành công tại TP Vũ Hán, Trung Quốc Tác giả đã đối chiếu giới từ ―除/除了‖với giới từ ―ngoài/trừ‖, ―为 / 为 了 ‖ với từ ―vì/do/tại/bởi/nhờ‖ từ góc độ ngữnghĩa, vị tríphân bố, vàphân tích lỗi trong khi sinh viên Việt Nam sử dụng giới từ ―除/除了‖, ―为/为了‖.[73]

Luận vặn thạc sĩ ―汉越介词对比及越南学生使用的偏误分析‖(Đối chiếugiới từ tiếng Hán với tiếng Việt vàphân tích lỗi của sinh viên Việt Nam) của Vi

Trang 27

Minh Hải (Việt Nam, 2012) đã bảo vệ thành công tại TP Trường Sa, Trung Quốc.Tác giả đã tiến hành đối chiếu giới từ tiếng Hán với giới từ tiếng Việt về kết cấu,phân loại, đặc điểm, và đã dành hai chương chính để phân tích lỗi của sinh viên ViệtNam trong khi sử dụng giới từ tiếng Hán.[81]

Luận án tiến sĩ ―汉越空间介词对比研究 ‖ (Nghiên cứu đối chiếu giới từkhông gian tiếng Hán với tiếng Việt) của Đinh Thị Thanh Nga (Việt Nam, 2014) đãbảo vệ thành công tại TP Vũ Hán, Trung Quốc Luận án này lấy giới từ ―从, 在,到,向‖(Từ, Tại, Đến, Với) làm đối tượng nghiên cứu chính của giới từ không giantiếng Hán, vàphân tích lỗi trong khi sinh viên Việt Nam sử dùng giới từ không gian

từ góc độ phiên dịch.[45]

Luận văn thạc sĩ ―汉语介词‗跟‘与越南语‗với‘比较及其教学研究‖ (Nghiên cứu đối chiếu giới từ ‗gei‘ của tiếng Hán với giới từ ―với‖ của tiếng Việt vàviệc giảng dạy) của TôThị Bích Thủy (Việt Nam, 2014) đã bảo vệ thành công tại TP.Tô Châu, Trung Quốc Tác giả đã đối chiếu giới từ ―gen‖ của tiếng Hán với giới từ

―với‖ của tiếng Việt từ bình diên cúpháp, ngữ nghĩa, và phân tích lỗi trong khi sinh viên Việt Nam khi sử dùng giới từ ―gei‖ của tiếng Hán.[77]

Ngoài ra, còn một số luận án vàluận văn thạc sĩ đối chiếu giới từ tiếng Việt với một số ngoại ngữ khác cũng có gia trị tham khảo lớn, như:

Luận án tiến sĩ ―Nghiên cứu ngữ phá vàngữ nghĩa của giới từ tiếng Anh đốichiếu với tiếng Việt‖ của Nguyễn Cảnh Hoa (2001) đã bảo vệ thành công tại HàNội.Tác giả đã đối chiếu giới từ tiếng Anh với giới từ tiếng Việt về chức năng ngữ pháp,hoạt động trong lời nói, vị trí, cấu tạo, và đi sâu đối chiếu ngữ nghĩa của giới từ chỉđịa điểm, thời gian, nguyê nhân, mục đích, phương hướng trong tiếng Anh với tiếngViệt Cuối cùng, tác giả ứng dụng kết quả nghiê cứu vào việc phân tích khó khăn vàlỗi của người Việt Nam khi học giới từ tiếng Anh.[15]

Trang 28

Luận án tiến sĩ ―Nghiên cứu giới từ định vị theo hướng ngữ dụng (trên cứ liệutiếng Anh vàtiếng Việt)‖ của Trần Quang Hải (2001) đã bảo vệ thành công tại HàNội Tác giả tập trung nghiê cứu những giới từ định vị như: trong, ngoài, dưới, trên,trước, sau, bên theo hướng ngữ dụng (ngôn ngữ học tri nhận), vàtiến hành đối chiếuvới giới từ định vị của tiếng Anh Mặt khác, tác giả phân tích những khó khănthường gặp trong sử dụng giới từ định vị, vàtìm ra nguyên nhâ vàgiải phá khắc phục.[12]

Từ đó, chúng ta cóthể thấy cómột số công trình nghiê cứu đối chiếu giới từ tiếngHán với giới từ tiếng Việt, nhưng chủ yếu tập trung vào một số giới từ, vàtheohướng giảng dạy vàngữ dụng, còn một số luận án khác thì đối chiếu giới từ tiếngViệt với giới từ tiếng Anh Tóm lại, trong luận án này, chúng tôi sẽ nghiê cứu đốichiếu giới từ tiếng Hán với giới từ tiếng Việt một cách hệ thống từ phương diện cúpháp, ngữ nghĩa đến phương diện hoạt động, làm nổi rõsự giống vàsự khác nhau củagiới từ tiếng Hán vàtiếng Việt, cung cấp tài liệu tham khảo cho việc nghiê cứu đốichiếu tiếng Hán vàtiếng Việt

1.2 Cơ sở líthuyết liên quan đến đề tài

1.2.1 Líthuyết ngôn ngữ học đối chiếu

Bàn về ngôn ngữ học đối chiếu, Hứa Dư Long (许余龙) cho rằng: ―Trong khiđối chiếu ngôn ngữ, căn cứ theo đối tượng đối chiếu khác nhau, chúng ta cóthể tiếnhành theo hai trục Một mặt, chúng ta cóthể chọn hiện tượng ngôn ngữ đồng đại(synchronic) hoặc lịch đại (diachronic) để đối chiếu Mặt khác, chúng ta có thểchọn hiện tượng ngôn ngữ của một ngôn ngữ nội bộ nào đó để đối chiếu, cũng cóthể đối chiếu về hiện tượng ngôn ngữ giữa cá ngôn ngữ khác nhau Như thế sẽhình thành 4 góc phần tư (Quadrant) như sau:‖ (在进行语言学比较时, 根据比较对象的不同, 我们可以沿着两条轴线来进行 一方面, 我们可以选择共时或历时的语言现象来进行比较 另一方面, 我们可以选择对某一语言内部的语言现

Trang 29

象来进行比较, 也可以对不同语言之间的语言现象进行比较 这样便形成如下四个象限) [78, tr1]:

―Góc phần tư I‖ là đối chiếu đồng đại của một nội bộ ngôn ngữ nào đó, cụ thể

là đối chiếu ngữ âm, từ vừng, ngữ phá của một ngôn ngữ trong một giai đoạn lịch sử(chủ yếu là giai đoạn hiện nay); ―Góc phần tư II‖ là đối chiếu lịch đại của một nội

bộ ngôn ngữ nào đó, cụ thể là đối chiếu ngữ âm, từ vừng, ngữ phá của một ngôn ngữ trong những giai đoạn lịch sử diễn biến khác nhau, để giúp chúng ta tìm hiểu về con đường lịch sử phát triển của ngôn ngữ đó; ―Góc phần tư III‖ là đối chiếu lịch đại giữa cá ngôn ngữ khác nhau, cụ thể là đối chiếu ngữ âm, từ vừng, ngữ phá giữa cá ngôn ngữ khác nhau trong các giai đoạn phát triển lịch sử; ―Góc phần tư IV‖ là đối chiếu đồng đại(chủ yếu làgiai đoạn hiện nay) giữa cá ngôn ngữ khác nhau, cụ thể là đối chiếu ngữ âm, từ vừng, ngữ phá giữa cá ngôn ngữ khác nhau trong một giai đoạn lịch sử nào đó (thường làhiện đại).[78, tr2]

Nội dung nghiê cứu của luận án này chính là ―Góc phần tư IV‖, đối chiếu đồngđại giữa cá ngôn ngữ khác nhau (tiếng Hán vàtiếng Việt), cụ thể là: đối chiếu giới từtiếng Hán hiện đại với giới từ tiếng Việt hiện đại, khảo sát hiện tượng ―giới

Trang 30

từ‖ của hai ngôn ngữ trong giai đoạn lịch sử hiện nay, để tìm ra sự giống vàkhác củagiới từ tiếng Hán vàtiếng Việt.

Tác giả Lê Quang Thiêm cũng chỉ rõ: ―Ngôn ngữ học đối chiếu hình thànhtrong trào lưu nghiên cứu so sánh chung Nóbao quát một lúc nhiều ngôn ngữ, bấtluận ngôn ngữ đó cùng hay khác loại hình vàngữ hệ Theo L.V Secba, nghiên cứuđối chiếu không chỉ giúp cho việc học vàdạy ngoại ngữ tốt hơn mà còn giúp chúng

ta hiểu sâu sắc hơn tiếng mẹ đẻ, vìrằng nógiúp ta thâm nhập sâu sắc hơn vào bảnchất vàcấu trúc ngôn ngữ dân tộc; và ―việc nghiê cứu đó giúp chúng ta thâm nhậpvào thực chất của cá quátrình ngôn ngữ cũng như hiểu sâu hơn các quy luật điềukhiển cá quátrình này [32, tr35]

―Song có thể dự đoán rằng: những nghiê cứu cóích lợi hơn cả sẽ thuộc vào haikhu vực chính yếu sau đây:1) 2) Nghiên cứu đối chiếu tiếng Việt với các ngônngữ cùng khu vực, cónhiều tiếp xúc về địa lýlãnh thổ và văn hóa lịch sử như: tiếngHán, tiếng Lào ‖, ―Mỗi ngôn ngữ trong hai khu vực nêu trên được chọn để đốichiếu với tiếng Việt sẽ có ý nghĩa và tác dụng không giống nhau vàkhông hoàn toàntách biệt nhau‖ [32, tr135]

Như trên đã nói, tiếng Hán vàtiếng Việt cóquan hệ mật thiết, vàcómột thời giankhádài trong lịch sử tiếp xúc, cónhiều từ (khoảng 70%) của tiếng Việt vay mượn từtiếng Hán, trong đó có một phần làgiới từ, cho đến nay, hai ngôn ngữ vẫn đang trênđường phát triển của riêng mình, cho nên, việc nghiê cứu đối chiếu giới từ giữa haingôn ngữ không chỉ giúp ta hiểu sâu hơn về giới từ (từ loại) hiện trạng của hai ngônngữ, còn giúp chúng ta tăng hiểu biết về ngữ pháp (trật tự từ) hiện trạng của haingôn ngữ

Tác giả Hứa Dư Long còn khẳng định: ―Ngôn ngữ học đối chiếu phân chia rangôn ngữ học đối chiếu líluận vàngôn ngữ học đối chiếu ứng dụng Ngôn ngữ họcđối chiếu líluận thuộc về ngôn ngữ học líluận, nhiệm vụ của nó làvận dụng nguyêlícủa ngôn ngữ học đối chiếu vànhững líluận của ngôn ngữ học khác để đối chiếuvàmiêu tả hai ngôn ngữ (hoặc đa ngôn ngữ) Ngôn ngữ học đối chiếu

Trang 31

ứng dụng thuộc về ngôn ngữ học ứng dụng, nhiệm vụ của nólàlàm thế nào lấynguyê lícủa ngôn ngữ học đối chiếu để ứng dụng vào nhũng hoạt động của ngônngữ, đặc biệt làhoạt động giảng dạy ngoại ngữ (ngôn ngữ thứ hai) Bình thường,ngôn ngữ học đối chiếu líluận làhai chiều, ngôn ngữ học đối chiếu ứng dụng làmột

chiều, chúng tôi sẽ sử dụng hai mô hình sau để biểu thị:‖ (对比语言学分为理论对比

语言学与应用对比语言学 理论对比语言学属于理论语言学的一个组成部分,它的任务是运用一般对比语言学的原理和其他一些一般语言学的知识, 对两种或两种以上的语言进行具体对比描述 应用对比语言学是应用语言学的一个组成部分, 它的任务是研究如何将对比语言学应用于有关的语言活动中去, 特别是应用外语(王力或第二语言)教学活动 一般来说, 理论对比语言是双向性的,

Môhình ngôn ngữ học đối chiếu ứng dụng (Một chiều):

X

Trang 32

Trong môhình ngôn ngữ học đối chiếu ứng dụng, một hiện tượng ngôn ngữ X(vd: giới từ) thể hiện trong ngôn ngữ A vàngôn ngữ B lànhư thế nào (cụ thể làXavàXb)? Chúng ta cần tìm ra Xb tương ứng với Xa trong ngôn ngữ B Nếu trongngôn ngữ B không cóhình thức tướng ứng với Xa, thìXb sẽ biểu hiện làhình thứcZero, cho nên, ngôn ngữ học đối chiếu ứng dụng thường là đối chiếu một chiều,nhiệm vụ của nólàtìm ra nội dung biểu đạt của ngôn ngữ A tương ứng với hình thứcnào của ngôn ngữ B.

Trong luận án này, chúng tôi sẽ áp dụng líthuyết vàphương pháp của ngôn ngữhọc đối chiếu ứng dụng, tức là đối chiếu một chiều, tìm ra vàmiêu tả những đặc điểmgiống vàkhác nhau của giới từ tiếng Hán vàgiới từ tiếng Việt nói chung, đối chiếu cácách biểu đạt của giới từ tiếng Việt tương ứng với giới từ tiếng Hán, và đối chiếu sựhoạt động của giới từ tiếng Hán với giới từ tiếng Việt

1.2.2 Líthuyết về giới từ

1.2.2.1 Khái niệm giới từ

Tiếng Hán vàtiếng Việt đều thuộc về loại hình ngôn ngữ đơn lập, không biến hình, hư từ vàtrật tự từ đóng vai trò chủ yếu trong việc thể hiện ý nghĩa ngữ phá.Việc nghiên cứu giới từ tiếng Hán bắt đầu từ cuốn sách ―Mã thị văn thông‖ (马氏文通, 1898) Ở đó xuất hiện hàng loạt tác phẩm nghiê cứu nổi tiếng như ―Vănphạm quốc ngữ‖ của Trần Thừa Trạch (陈承泽), ―Văn pháp quốc ngữ mới‖ của LêCẩm Hi (黎锦熙), luận án tiến sĩ nhan đề ―Giátrị của giới từ tiếng Hán‖ của CaoDanh Khải (高明凯) [51], ―Lại bàn về phụ động từ‖ của Nhiêu Trường Dung, luận

án tiến sĩ nhan đề ―Giới từ vàgiới ngữ‖ của Kim Xương Cát (金昌吉), ―Hư từtiếng Hán hiện đại‖ của Trương Nghị Sinh (张宜生), ―Giới từ vàcấu trúc giới từ‖của Trần Xương Lai (陈昌来), v.v Trong đó đưa ra những định nghĩa và khái niệm

về giới từ cógiátrị tham khảo lớn như sau:

Trang 33

MãKiến Trung (1898) định nghĩa ―介字是在实体词之间起介绍作用的,是介

绍一个实体词给另一个实体词的‖ (Giới từ làmột loại từ có tác dụng giới thiệu

quan hệ giữa hai thực từ, tức làgiới thiệu một thể từ cho một thể từ khác Những đónggóp của ―Mã thị văn thông‖ do ông viết như sau: 1 Xác lập giới từ tiếng Hán; 2.Tìmhiểu tác dụng của giới từ trong câu; 3 Khảo sát cụ thể vài giới từ tiếng Hán

cổ thường gặp như ―之 chi, 于 vu, 以 dĩ, 与 dữ, 为 vi‖ [72, tr246]

Trong cuốn sách ―Văn phạm quốc ngữ‖, tác giả Trần Thừa Trạch (陈承泽, 1920)

đã đi theo con đường của MãKiến Trung, phân chia giới từ thành hai loại, gồm

―tiền giới từ‖ (preposition) và ―hậu giới từ‖ (postposition) Tiền giới từ lại chiathành 3 loại nhỏ: (1) Biểu thị quan hệ tiếp xúc như ―于‖vu; (2) Biểu thị khởi đầunhư ―自‖tự, ―从‖tòng, ―由‖do; (3) Để tân ngữ đứng trước vị ngữ như ―把‖bả,

―将‖tương, ―以‖dĩ Hậu giới từ như ―之‖chi, tác giả chỉ ra rằng, giới từ ―之‖chi biểu thị sở hữu giữa hai thành phần (từ chính với từ phụ) [40, tr46]

LêCẩm Hi (1924) phân chia giới từ tiếng Hán hiện đại thành 4 loại, tức làgiới từthời gian – nơi chốn, giới từ căn nguyên, giới từ phương thức, giới từ sở hữu, 3 loạiđầu làtiền giới từ, còn loại thứ tư là hậu giới từ Tác giả đã miêu tả tỷ mỉ giới

từ như: giới từ thời gian – nơi chốn gồm có ―在 tại, 于 vu, 於 ư, 当 đương, 临 lâm,

关于 quan vu, 对于 đối vu, 从 tòng, 起 khởi, 向 hướng, 往 vãng, 冲 xung,

đối, 对于 đối vu, 顺 thuận, 沿 diên, 挨 ái, 到 đáo, 至 chí, 自从 tự tòng‖; giới từ

căn nguyên gồm có ―为了 vị liễu, 为 vị, 给 cấp, 以 dĩ, 替 thế, 代 đại, 被 bị‖;

giới từ phương thức gồm có ―把 bả, 拿 ná, 将 tương, 用 dụng, 以 dĩ, 凭 bằng, 按

án, 按照 án chiếu, 照 chiếu, 据 cứ, 准 chuẩn, 就 tựu, 趁 sấn, 依 y, 仗 trượng, 和

hòa, 同 đồng, 比 tỉ, 过 quá, 如同 như đồng, 犹如 do như, 像 tượng, 除 trừ‖ [62,

Trang 34

Cao Danh Khải (高明凯, 1986) trong luận án tiến sĩ của mình cho rằng, bảnchất của giới từ tiếng Hán khác với giới từ cá ngôn ngữ Ấn- Âu Giới từ tiếng Hán

là bán động từ (semi –verb) hoặc phụ động từ (coverb) [51]

Trong luận án tiến sĩ của Kim Xương Cát (金 昌 吉 , 1996) tác giả đã chỉ rõnhững đặc điểm của giới từ như sau: (1) Giới từ đứng trước danh từ (danh ngữ), đại

từ, biểu thị quan hệ giữa chúng (danh từ, đại từ) vàcá thành phần khác trong câu;(2) Giới từ không thể đứng độc lập (giới từ phải đi kèm thực từ, tạo thành giới ngữ);

(3) Giới ngữ không thể làm vị ngữ; (4) Hai giới từ khác nhau không thể cùng đồng thờikết hợp với thực từ (như: chỉ cóthể nói là ―ghế bằng gỗ‖, không thể nói là ―ghế

của bằng gỗ‖) [61, tr24-25]

Trong công trình ―Ngữ phá tiếng Hán hiện đại thực hành‖, tác giả Lưu NguyệtHoa (刘月华, 2001) đã định nghĩa giới từ làmột loại hư từ, đại đa số giới từ được hưhoátừ động từ, nó đứng trước danh từ (danh ngữ), đại từ cùng tạo thành giới ngữ,làm trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ, chủ ngữ trong câu [66, tr263]

Trần Xương Lai (陈昌来, 2002) đã định nghĩa giới từ làmột loại từ cótác dụnggiới thiệu vàkết nối hai thành phần trong câu, nónối liền trung tâm vị ngữ với danh

từ, đại từ, cá thể từ vàmột số vị từ, biểu thị quan hệ cúphá vàquan hệ ý nghĩa giữachúng [37, tr25]

Trên cơ sở thấm nhuần định nghĩa và khái niệm của cá học giả đi trước, chúng

tôi khái quát lại quan điểm của cá học giả về giới từ tiếng Hán như sau: Giới từ tiếng

Hán làmột loại hư từ, chỉ có ý nghĩa ngữ pháp không có ý nghĩa từ vựng, nó đứng trước danh từ (danh ngữ) hoặc đại từ, biểu thị một quan hệ nào đó giữa chúng (danh từ, đại từ) vàcác thành phần khác trong câu Giới từ cóthể ngầm chỉ ra thời gian, nơi chốn, phương thức, nguyê nhân, mục đích, đối tượng, tiếp thể (recipient), tác thể (agent) v.v Ngoài ra, giới từ không thể đứng độc lập màphải

Trang 35

kết hợp với một bổ ngữ để tạo ra giới ngữ cùng đảm nhiệm thành phần trong câu Giới ngữ của tiếng Hán thường đứng trước vị ngữ động từ.

Việc nghiên cứu giới từ tiếng Việt cũng đã được nhiều nhàngữ phá Việt Namquan tâm, cá nhànghiê cứu cũng đãcónhiều định nghĩa cho giới từ tiếng Việt Chẳnghạn:

Bùi Đức Tịnh đã phân biệt khái niệm giới từ vàgiới ngữ Ông đã định nghĩa giới

từ như sau: ―Giới từ làtiếng dùng để chỉ sự tương quan ý nghĩa giữa một tiếng vàtục ngữ của nó ‖ [33, tr109]

Phan Khôi định nghĩa giới từ là: ―Giới từ dùng để giới thiệu danh từ hoặc đạidanh từ đến với động từ, danh từ hoặc đại danh từ khác để tỏ ra sự biểu thị quan hệgiữa chúng với nhau‖ [18, tr195]

Nguyễn Kim Thản định nghĩa giới từ như sau: ―giới từ làmột loại hư từ (trongnhóm quan hệ từ) cótác dụng nối liền từ phụ (hoặc từ tổ phụ) với từ chính (hoặc từ

tổ chính) biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa hai đơn vị đó Giới từ bao giờ cũng đứngtrước từ phụ hoặc từ tổ phụ‖ [30, tr330]

Theo tác giả Đinh Văn Đức: Giới từ làmột tiểu loại trong quan hệ từ cùng vớiliên từ vàtừ chỉ hướng Tác giả cho rằng, giới từ nằm trong số các hư từ cúpháp,không được dùng để diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp của thực từ này hay thực từ khác màdùng để diễn đạt mối quan hệ giữa thực từ với thực từ trong các phát ngôn, nghĩa làdiễn đạt mối quan hệ giữa cá khái niệm trong tư duy trừu tượng [8, tr208]

Nguyễn Anh Quế đã nêu định nghĩa khái quát, chức năng của giới từ trong cuốnsách ―Hư từ trong tiếng Việt hiện đại‖, ông đã định nghĩa giới từ ―là các hư từ nốikết cá yếu tố cóquan hệ chính phụ, thường làcá yếu tố trong đoản ngữ vàcá câucóthành phần phụ phát triển từ cá giới ngữ‖, ông còn miêu tả tỷ mỉ về cá giới từ:

―của, bằng, cho, để, mà, vì, do, bởi, tại, ở, cùng, với, như, rằng‖ Đây làquyển sáchđầu tiên chuyên nghiên cứu về hư từ (giới từ) tiếng Việt hiện đại, cógiátrị tham khảolớn [27, tr158-159]

Diệp Quang Ban không dùng thuật ngữ quan hệ từ màdùng thuật ngữ kết từ để

Trang 36

chỉ từ loại giới từ Ông cho rằng: kết từ chính phụ (giới từ) dùng để nối kết thành tốphụ với thành tố chính, nối kết từ phụ với từ chính, thành phần phụ với thành phầnchính của câu Ông còn chỉ ra ―Kết từ chính phụ gồm hai nhóm nhỏ: kết từ hạnđịnh làkết từ đứng trước thành tố phụ để nối kết thành tố phụ với thành tố chính,gồm cá từ như: ―của, bằng, do, vì, tại, bởi, để, mà, ở, với, cùng, về, trong, ngoài,trên, dưới, như‖; kết từ phụ thuộc làkết từ đứng trước thành phần phụ ở bậc câu(trong quan hệ với thành phần chính) gồm cá từ: để, vì, do, với, tại, đến, từ, trong,ngoài, giữa, dưới, trước ‖ [1, tr550]

Nguyễn ChíHoàtrong cuốn sách ―Ngữ phá tiếng Việt thực hành‖ đã giới thiệu

tỷ mỉ định nghĩa, chức năng của giới từ vàchức năng ngữ phá của cụm giới từ trongtiếng Việt, trong đó có rất nhiều vídụ phong phú [16, tr125-128]

Hoàng Trọng Phiến trong cuốn ―Từ điển giải thích hư từ tiếng Việt‖ đã giảithích tỷ mỉ về 33 giới từ (xin xem phụ lục 1) thường dùng, công trình này làcuốnsách đầu tiên chuyên giải thích về những hư từ thường dùng trong tiếng Việt hiệnđại, có giátrị rất lớn đối với nghiê cứu giới từ tiếng Việt [22]

Từ những định nghĩa trên đây có thể thấy, dùcá nhàViệt ngữ học cónhững địnhnghĩa về giới từ không hoàn toàn tương đồng với nhau, nhưng đều khẳng định sự tồntại của từ loại giới từ trong tiếng Việt Do định nghĩa về giới từ khác nhau nê cánhàViệt ngữ học khi phân định giới từ cũng khác nhau Để tiện lợi cho công việcnghiê cứu, chúng tôi khái quát lại những định nghĩa chính của cá nhà Việt ngữ học

như sau: Giới từ tiếng Việt làmột loại từ không có ý nghĩa từ vựng mà chỉ có ý nghĩa

ngữ pháp, nónối liền hai từ hoặc hai bộ phận câu cóquan hệ chính phụ, giới từ cóthể ngầm chỉ ra thời gian, nơi chốn, phương thức, nguyê nhân, mục đích, đối tượng, tiếp thể (recipient), tác thể (agent) v.v Bên cạnh đó, giới từ không thể dùng độc lập mà phải kết hợp với một thực từ để tạo ra giới ngữ cùng đảm nhiệm thành phần trong câu.

Từ hai định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy dùcách biểu đạt của nhàHán ngữ học vànhàViệt ngữ học hơi khác nhau, nhưng chức năng cơ bản của giới từ tiếng

Trang 37

Hán vàgiới từ tiếng Việt làgiống nhau.

1.2.2.2 Đặc điểm giới từ

Giới từ tiếng Hán vàgiới từ tiếng Việt đều không có ý nghĩa từ vựng màchỉ có

ý nghĩa ngữ pháp, nókhông thể đứng đơn lập màphải kết hợp với một bổ ngữ đểtạo ra giới ngữ cùng đảm nhiệm thành phần trong câu, những giới từ điển hình củatiếng Hán như là: 按 án, 按照 án chiếu, 把 bả, 被 bị, 比 tỷ, 朝 triều, 趁 sấn, 从

tòng, 除 trừ, 当 đương, 对 đối, 对于 đối vu, 给 cấp, 跟 căn, 根据 căn cứ, 将 tương,

离 ly, 关于 quan vu, 和 hòa, 就 tựu, 顺 thuận, 替 thế, 往 vãng, 同 đồng,

hướng, 沿 diên, 以 dĩ, 由 do, 于 vu, 为 vị, 为了 vị liễu, 论 luận, 任 nhậm, 在

tại, 照 chiếu, 至 chí, 自 tự, 自从 tự tòng vànhững giới từ điển hình của tiếng Việt

như là: bằng, chí, cho, của, dưới, để, đến, đối với, giữa, lên, ngoài, nhằm, nhờ, ở,qua, ra, sang, tại, theo, tới, trên, trong, từ, vào, vì, về, với Chúng đã tham gia tíchcực vào việc thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp Căn cứ vào thực tế ý nghĩa và cáchdùng của giới từ tiếng Hán vàgiới từ tiếng Việt, cóthể thấy, chúng có 5 đặc điểm cơbản như sau:

1 Bản thân giới từ không có ý nghĩa từ vựng màchỉ có ý nghĩa ngữ phá

2 Giới từ biểu thị quan hệ chính phụ, cótác dụng nối cá thực từ cóquan hệ

chính phụ với nhau Vídụ: sách của thầy giáo gồm danh từ sách vàdanh từ thầy

giáo được giới từ của chỉ quan hệ sở thuộc nối kết chúng tạo thành cụm từ cóquan

Trang 38

tiếng Hán và ―về, đối với, với‖ trong tiếng Việt.) Môhình giới ngữ là:

Giới từ + bổ ngữGiới từ phải đứng trước bổ ngữ của nó, không thể đứng độc lập, bổ ngữ của giới từ trong giới ngữ không thể giản lược

4 Giới từ không thể tự trả lời câu hỏi như thực từ (chẳng hạn: câu hỏi cái gì

đây? Phải dùng thực từ làdanh từ như sách, áo để trả lời; câu hỏi làm gì đấy? thì dùng động từ/động ngữ như ăn/ăn cơm, xem/ xem tivi để trả lời.

5 Giới từ không mang cá từ ngữ biểu thị ―thì‖(tense) (Nói một cách cụ thể hơn,tức làgiới từ điển hình của tiếng Hán không thể kèm theo từ ―过‖, ―着‖, ―了‖, ―起来‖, ―下去‖ Giới từ điển hình của tiếng Việt cũng không thể xếp vào cấu trúcnhư ― đã chưa‖ hoặc ― rồi‖ )

Đặc điểm thứ 2, cóthể dùng để phân biệt với liên từ Vídụ:

Tiếng Hán:

Trong vídụ 1, ―跟‖ căn (với) làgiới từ, biểu thị người sắp nêu ra làđối tượngcùng có chung hành động ―和‖hòa (và) trong vídụ 2 làliên từ, biểu thị quan hệ liênhợp Ngoài ra, giới từ cóthể cùng với từ phương vị, danh từ vàtrợ từ tiếng Hán tạo ra

mô hình giới ngữ, như: 在 上 (trên…), 在 中 (trong…), 在 下 (dưới…), 在

里 (trong…), 当 的时候 (khi ), 除 以外 (ngoài ra), 就 来说 (đối với mànói),从 来看 (nhì từ ), v.v nhưng liên từ không cómôhình như thế, liên từ thườngkết hợp với một liên từ khác (hoặc phótừ) để tạo ra môhình liên từ, vídụ: 虽然 但是 (tuy nhưng ), 如果 就 (nếu thì ), 即使 也

(dù cũng ), 不论 都 (bất luận đều ), 因为 所以 (bởi vì cho nê ), 只

Trang 39

有 才 (chỉ có mới ), 不仅 而且 (không chỉ màcòn ), 既 又 (vừa vừa / đã… lại…), v.v

Tiếng Việt:

Giả sử như trường hợp ―với‖, ―với‖ vừa làgiới từ vừa làliên từ Xin xem vídụ:(3) Con với mẹ đi siêu thị (liên từ)

(4) Con đi siêu thị với mẹ (giới từ)

Trong vídụ 3, ―với‖ có thể thay bằng liên từ ―và‖, còn ở vídụ 4 thì không được

Ở đặc điểm 4 và5, chúng ta cóthể phân biệt giới từ với động từ Vídụ:

Tiếng Hán:

Trả lời: 去 (đi/ có / có đi) (+)

lời: 玩 (có / có chơi) (+)

không ?)

Trả lời: 跟 (căn/cùng) (-)

Từ vídụ 5, 6, 7, 8 chúng ta cóthể thấy, từ ―去‖khứ (đi) và ―玩‖ ngoạn (chơi)

cóthể tự trả lời câu hỏi, nhưng từ ―自‖ tự (từ) và ―跟‖căn (với) thì không được,chonên, cóthể dựa vào tiêu chí đó mà đưa ra kết luận, ―去‖khứ và ―玩‖ngoạn là động từ,

còn ―自‖ tự và ―跟‖ căn thìlàgiới từ Tuy nhiên, trong cách trả lời, tiếng Việt thườnglựa chọn cách trả lời của dạng câu hỏi lựa chọn, mà không dùng động từ (có

Trang 40

khi làgiới từ) trong câu hỏi để biểu thị ý nghĩa khẳng định Xin xem tiếp vídụ:

Từ vídụ 9 và10, chúng ta cóthể thấy, từ ―睡觉‖thụy giác (ngủ) và ―吃‖ngật(ăn) có thể kèm theo trợ từ động thái (tense particle Trợ từ động thái làthuật ngữ sửdụng trong giới ngôn ngữ học Trung Quốc, giới ngôn ngữ học Việt Nam gọi làphó từhoặc động từ.): ―了‖ liễu (rồi), ―着‖ trước (đang), ―过‖ quá(qua) Nhưng từ ―根

据‖căn cứ (căn cứ / dựa vào) và ―为‖ vị (vì) trong vídụ 12 và13 thìkhông thể mang

theo những trợ từ động thái Từ ―唱‖ xướng (hát) trong vídụ 11 cóthể mang theo

động từ chỉ hướng ―起来‖ khởi lai (lên), nhưng từ ―由‖do (do) trong vídụ 14 thìkhông được Cho nên, từ ―睡觉‖ thụy giác, ―吃‖ ngật, ―唱‖ xướng là động từ, và

từ ―根据‖căn cứ, ―为‖ vị, ―由‖ do làgiới từ Từ đó, có thể nói rằng, giới từ tiếngHán không mang theo cá từ ngữ biểu thị ―thì (tense)‖ và động từ xu hướng (Động từ

xu hướng trong thuật ngữ ngữ phá tiếng Hán gọi là: 趋向动词, vídụ: 起来 lên, 下去xuống, 过来 qua, 过去 đi…)

Tiếng Việt:

Trong tiếng Việt cũng vậy, vídụ:

Trả lời: Đi / có đi / có (+)

Ngày đăng: 19/10/2020, 19:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w