Việc nghiên cứu sưu tập địa bạ Bình Định không chỉ chobiết cơ cấu các loại hình ruộng đất, biến đổi sở hữu các loại ruộng đất đó sau 24 năm từ 1815 đến 1839, mà quan trọng hơn là có được
Trang 1PHAN PHƯƠNG THẢO
CHÍNH SÁCH QUÂN ĐIỀN NĂM 1839 Ở BÌNH
ĐỊNH QUA TƯ LIỆU ĐỊA BẠ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn: Hà Văn Tấn
HÀ NỘI - 2003
Trang 21.1.3.1 Tăng cường quyền quản lý ruộng đất thông qua 27 việc đo đạc và lập địa bạ trong cả nước
1.1.3.4 Chính sách đối với ruộng đất công làng xã 32 1.1.3.5 Chính sách đối với ruộng đất tư 34
1.2.1 Vị trí địa lý, diên cách của Bình Định 35
1.3 SƯU TẬP ĐỊA BẠ BÌNH ĐỊNH
1.3.
1
Trang 31.3 2 Những địa bạ được tuyển chọn để khảo cứu
Tiểu kết chương 1
Chương 2: TÌNH HÌNH SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT Ở BÌNH ĐỊNH TRƯỚC
QUÂN ĐIỀN NĂM 1839 QUA ĐỊA BẠ GIA LONG 14 (1815)
2.1 NHỮNG SỐ LIỆU TỔNG QUÁT CỦA ĐỊA BẠ VÀ ĐẶC
ĐIỂM SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT
2.2 TÌNH HÌNH SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT TƯ
2.2.1 Phân bố sở hữu ruộng tư
2.2.2 Sở hữu ruộng của chủ nữ và phụ canh
2.2.3 Sở hữu ruộng của chức sắc
2.2.4 Sở hữu ruộng theo nhóm họ
2.3 ĐẶC ĐIỂM VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH TRẠNG SỞ
HỮU RUỘNG ĐẤT Ở BÌNH ĐỊNH
Tiểu kết chương 2
Chương 3: THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUÂN ĐIỀN NĂM 1839 Ở
BÌNH ĐỊNH QUA ĐỊA BẠ MINH MỆNH 20 (1839)
3.1 TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUÂN ĐIỀN NĂM 1839 Ở
BÌNH ĐỊNH
3.2 TÌNH HÌNH SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT Ở BÌNH ĐỊNH SAU
QUÂN ĐIỀN QUA ĐỊA BẠ MINH MỆNH 20 (1839)
3.2.1 Những số liệu tổng quát trong địa bạ và đặc điểm sở hữu
ruộng đất
3.2.2 Phân bố sở hữu ruộng tư
3.2.3 Sở hữu ruộng của chủ nữ, phụ canh
3.2.4 Sở hữu ruộng của chức sắc
3.2.5 Sở hữu ruộng theo nhóm họ
3.3 CÁCH SUNG CÔNG RUỘNG TƯ TRONG PHÉP QUÂN ĐIỀN
Tiểu kết chương 3
45
48 58 60 61
70 70 73 77 84 89 95 99 99
102
102
109 122 124 128
134 137
Trang 4ĐỊA BẠ TẠI HAI THỜI ĐIỂM 1815 VÀ 1839
4.1.3 Về sở hữu ruộng của chủ nữ, phụ canh 144
4.2 BIẾN ĐỔI SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT QUA NHỮNG CHỦ TRÙNG 152 TÊN TRONG HAI ĐỊA BẠ 1815 VÀ 1839
4.2.1 Số liệu tổng hợp chung về 210 chủ trùng tên 152
4.3.1 Cách chia ruộng công theo lương điền, khẩu phần 160
4.3.2 Quyền lợi do quân điền mang lại và hệ quả của nó ở Bình Định 165 4.4 NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VỀ PHÉP QUÂN ĐIỀN 169 NĂM 1839 Ở BÌNH ĐỊNH
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN TRỰC TIẾP 186 TỚI LUẬN ÁN
PHỤ LỤC (phần phụ lục đóng kèm sau luận án tách thành tập có số trang
riêng)
Trang 59871.2.13.4.5.6 9871 mẫu 2 sào 13 thước 4 tấc 5 phân 6 ly
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ
Trang
Bảng 1.1: Phân bố ruộng đất tỉnh Bình Định 37
Bảng 1.2: Phân bố các thôn của tỉnh Bình Định 48
Bảng 1.3: Danh mục 24 ấp thuộc trấn Bình Định có địa bạ năm 1815 51
Bảng 1.4: Danh mục 24 thôn thuộc tỉnh Bình Định có địa bạ năm 1839 52
Bảng 1.5: Danh mục 24 thôn/ấp năm 1886 -1888 53
Bảng 1.6: Thống kê đất đai và dân số của 24 thôn hiện nay 56
Bảng 1 7: Thay đổi tên gọi của 24 thôn/ấp qua các thời 57
Bảng 2.1 : Chất lượng ruộng tư 65
Bảng 2.2: Phân bố ruộng theo thời vụ 68
Bảng 2.4: Phân bố sở hữu ruộng đất ở một số tỉnh hồi đầu thế kỷ XIX 70
Bảng 2.5: Qui mô sở hữu ruộng tư 71
Bảng 2.6 : Phân bố chủ sở hữu tư điền 74
Bảng 2.7: Qui mô sở hữu của chức sắc 79
Bảng 2.8: Phân bố sở hữu ruộng đất của chức sắc 80
Bảng 2.9a: Qui mô sở hữu ruộng đất của chức dịch 81
Bảng 2.9b: Qui mô sở hữu ruộng đất của sắc mục 81
Bảng 2.10: Tổng hợp tình hình sở hữu ruộng đất của chức sắc 83
Bảng 2.11: Phân bố ruộng theo các nhóm họ 85
Bảng 3.1: Phân bố ruộng đất của 24 thôn 103
Bảng 3.2: Phân bố ruộng đất toàn tỉnh Bình Định 105
Bảng 3.3a: So sánh tỷ lệ công và tư điền cả tỉnh Bình Định 107
Bảng 3.3b: So sánh tỷ lệ công và tư điền của 24 thôn 108
Bảng 3 4: Phân loại ruộng công và tư theo đẳng hạng 108
Bảng 3 5: Phân bố sở hữu tư điền 110
Bảng 3.6: Qui mô sở hữu ruộng tư 111
Trang 7Bảng 3.7: Danh sách 24 chủ có sở hữu tư điền trên 5 mẫu 113
Bảng 3.8: Mức sở hữu của 3 chủ khá giả trong địa bạ 1815 và 1839 115
Bảng 3.9a : Mức sở hữu theo địa bạ Gia Long 14 (1815) 116
Bảng 3.9b : Mức sở hữu theo địa bạ Minh Mệnh 20 (1839) 116
Bảng 3.10: Qui mô sở hữu tư điền thổ 121
Bảng 3.11: Phân bố sở hữu tư điền thổ 122
Bảng 3.12: Phân bố sở hữu ruộng đất của chức sắc 125
Bảng 3.13: Qui mô sở hữu của chức sắc 126
Bảng 3.14a: Qui mô sở hữu của chức dịch 127
Bảng 3.14b: Qui mô sở hữu của sắc mục 127
Bảng 3.15: Tổng hợp tình hình sở hữu ruộng đất của từng loại chức sắc 128
Bảng 3.16: Qui mô sở hữu ruộng tư theo các nhóm họ 129
Bảng 4.1 : So sánh các loại ruộng đất giữa hai thời điểm 141
Bảng 4.2 : So sánh qui mô sở hữu ruộng tư giữa hai thời điểm 146
Bảng 4.3 : So sánh số chủ sở hữu nữ, phụ canh giữa hai thời điểm 146
Bảng 4.4: So sánh sở hữu của các nhóm họ trong địa bạ Gia Long và Minh Mệnh 148
Bảng 4.5: Phân bố 210 chủ sở hữu tư điền theo địa bạ Gia Long 153
Bảng 4.6: Quy mô sở hữu tư điền của 210 chủ trùng tên năm 1815 154
Bảng 4.7: Quy mô sở hữu tư điền của 210 chủ trùng tên năm 1839 (sau quân điền) 155
Bảng 4.8: Quy mô sở hữu tư điền của 210 chủ trùng tên năm 1839 (trước quân điền) 156
Bảng 4.9: Quy mô sở hữu của 92 chủ tư điền năm 1815 và 1839 (trước quân điền) 158
Bảng 4.10: Quy mô sở hữu của 99 chủ năm 1815 và 1839 (trước quân điền) 159
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Trang Bản đồ: Phân bố các thôn/ấp có địa bạ được khảo cứu ở Bình Định 50
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ số chủ khá giả và sở hữu ruộng đất của họ ở một số tỉnh 72
Biểu đồ 2.2: Qui mô sở hữu ruộng tư 73
Biểu đồ 2.3: Phân bố ruộng của 12 nhóm họ có số chủ đông hơn mức bình quân 89
Biểu đồ 3.1: Qui mô sở hữu ruộng tư 112
Biểu đồ 3.2a: Mức sở hữu theo địa bạ Gia Long 14 (1815) 116
Biểu đồ 3.2b:Mức sở hữu theo địa bạ Minh Mệnh (1839) 117
Biểu đồ 3.3: Qui mô sở hữu tư điền thổ 122
Biểu đồ 4.1: So sánh số chủ tư hữu giữa hai thời điểm 145
Biểu đồ 4.2:So sánh diện tích sở hữu giữa hai thời điểm 147
Biểu đồ 4.3:Biến đổi sở hữu ruộng đất của 10 chủ trùng tên 157
Trang 9Tư điềnCông điềnBản ấp tư điền
Hạ vụHạn vụ
Trang 101 Lý do chọn đề tài
Dù đã trải qua hàng nghìn năm phát triển song về cơ bản Việt Nam vẫn
là một nước nông nghiệp với ba đặc điểm mang tính chi phối: kinh tế nôngnghiệp, xã hội nông thôn, cư dân nông dân Tư liệu sản xuất chủ yếu của kinh
tế nông nghiệp là ruộng đất, và gắn với nó là các hình thức sở hữu và sử dụngđất đai mà thông qua đó con người ràng buộc với nhau trong quá trình sảnxuất và phân phối sản phẩm Nghiên cứu chế độ ruộng đất nói chung, mốiquan hệ giữa các hình thức sở hữu ruộng đất nói riêng, là cơ sở khoa học giúpchúng ta hiểu được bản chất các kiểu dạng xã hội trong lịch sử, tìm ra qui luậtcủa lịch sử, lý giải các đặc điểm chung và riêng của Việt Nam trong bối cảnhchung của thế giới và khu vực
Ở Việt Nam, dưới thời phong kiến, chế độ ruộng đất là cơ sở, là nềntảng của nhà nước trung ương tập quyền, là nguồn thu nhập chủ yếu của cácvương triều phong kiến, đồng thời cũng là nhân tố cơ bản chi phối mọi hoạtđộng của xã hội đương thời
Tìm hiểu chế độ ruộng đất ở Việt Nam nói chung, giai đoạn nửa đầu thế
kỷ XIX nói riêng, các nhà sử học rất quan tâm những nguồn sử liệu trực tiếpliên quan đến tình hình sở hữu ruộng đất và việc phân chia ruộng đất của làng
xã qua các thời kỳ mà địa bạ chính là một trong những nguồn sử liệu đó Rấtmay, qua nhiều thăng trầm lịch sử, kho địa bạ đồ sộ vẫn còn được lưu giữ đếnnay Riêng kho địa bạ lưu giữ tại Cục Lưu trữ Nhà nước đã gồm 10.044 tậpvới 16.884 địa bạ của các thôn ấp đời Nguyễn, phần lớn mang các niên đại
Trang 11từ 1805 đến 1839 Địa bạ cung cấp nhiều tư liệu quý giá giúp các nhà nghiêncứu có thể tái tạo lại một phần lịch sử đất nước nói chung, về chế độ sở hữuruộng đất Việt Nam nói riêng, một cách khách quan với những số liệu thống
ấy, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến sưu tập địa bạ của Bình Định Bởi lẽ,Bình Định là một trong những tỉnh có nhiều địa bạ nhất và là tỉnh duy nhấttrong cả nước có địa bạ lập vào hai thời điểm khác nhau trên qui mô toàn tỉnh.Bình Định có 1222 địa bạ theo danh mục, hiện còn lưu giữ 1207 địa bạ, manghai niên đại Gia Long 14 (1815) với 559 địa bạ ấp và Minh Mệnh 20 (1839)với 648 địa bạ thôn Việc nghiên cứu sưu tập địa bạ Bình Định không chỉ chobiết cơ cấu các loại hình ruộng đất, biến đổi sở hữu các loại ruộng đất đó sau
24 năm (từ 1815 đến 1839), mà quan trọng hơn là có được số liệu về ruộngđất của từng thôn/ấp thuộc Bình Định trước và sau khi nhà Nguyễn thực hiệnchính sách quân điền năm 1839
Quân điền là từ chính thức được ghi chép trong Đại Nam thực lục, Minh Mệnh chính yếu khi nói về chủ trương của Minh Mệnh năm 1839 áp
dụng ở Bình Định Đây không phải từ của các sử quan nhà Nguyễn mà lànguyên văn lời tâu của các đại thần và chỉ dụ của vua Minh Mệnh khi chuẩn y
cho thi hành phép chia ruộng ở Bình Định năm 1839 Trong Đại Nam thực
lục dùng cụm từ "việc quân điền" hay "phép quân điền", còn trong Minh Mệnh chính yếu, bản tiếng Việt dịch là “phép chia ruộng”, nhưng nguyên bản
chữ Hán là “quân điền pháp” khi nói về quân điền năm 1839 ở Bình Định
Trong lịch sử chế độ phong kiến nước ta, trước và sau quân điền năm
1839, đã có nhiều lần nhà nước thực hiện quân điền: quân điền thời Lê sơ (thế
kỷ XV), quân điền thời Vĩnh Thịnh (1711), quân điền thời Gia Long (1804),quân điền thời Minh Mệnh (1840) Tuy nhiên, tất cả các lần quân điền đó đều
Trang 12có một tính chất chung là áp dụng trên phạm vi cả nước trong việc quân cấpruộng đất công làng xã cho quan lại, binh lính và xã dân theo khẩu phần, tuy
khẩu phần cụ thể của mỗi lần quân điền có khác nhau Quân điền năm 1839
là phép quân điền đầu tiên trong lịch sử chế độ phong kiến nước ta, ngoài
việc quân cấp ruộng đất công làng xã như những lần quân điền khác, còn thểhiện sự can thiệp sâu sắc nhất của nhà nước đối với quyền tư hữu ruộng đấtbằng cách cắt một nửa ruộng tư ở tất cả các thôn/ấp của Bình Định, những nơi
có tư điền nhiều hơn công điền, sung làm công điền để quân cấp cho quan,binh, dân Cũng chính vì có quân điền năm 1839 nên ở Bình Định, ngoài sưutập địa bạ lập năm Gia Long 14 (1815) như các địa phương khác trong cảnước, nằm trong chủ trương chung của nhà Nguyễn nhằm tăng cường quyềnquản lý ruộng đất thông qua việc đo đạc ruộng đất và lập địa bạ, Bình Định cóthêm một sưu tập địa bạ năm 1839, lập ngay sau khi thi hành quân điền năm1839
Đề tài quân điền năm 1839 của Minh Mệnh ở Bình Định không phải làmột vấn đề mới đối với giới sử học Quân điền năm 1839 đã được nhiều nhànghiên cứu quan tâm, tìm hiểu trong mấy thập kỷ qua Nguồn tư liệu chínhđược các nhà nghiên cứu sử dụng là những ghi chép trong các bộ sử của Quốc
sử quán triều Nguyễn như Đại Nam thực lục, Quốc triều chính biên toát yếu,
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ và quan điểm của họ nói chung đều cho
rằng quân điền năm 1839 của Minh Mệnh nhằm mục đích tăng cường và củng
cố ruộng đất công làng xã, đảm bảo nguồn tô thuế cho nhà nước Nhiều nhànghiên cứu coi quân điền năm 1839 như một cuộc "thử nghiệm" ở Bình Địnhnhưng vì không thu được kết quả khả quan như mong muốn nên sau đó không
áp dụng rộng rãi trong cả nước
Tuy vậy, đi sâu nghiên cứu, phân tích địa bạ Bình Định vào hai thờiđiểm 1815 và 1839 đã đem lại nhiều thông tin rất lý thú về biến đổi sở hữuruộng đất ở Bình Định trước và sau khi thực hiện quân điền năm 1839, vềnhững tác động trực tiếp của quân điền trong việc phân chia lại các loại ruộngđất công và tư ở Bình Định dẫn đến một số vấn đề cần nghiên cứu, làmsáng tỏ về chính sách quân điền năm 1839 Chủ trương này cần được đánh giá
Trang 13như thế nào, có thực sự tiến bộ không trong bối cảnh cụ thể của tình hìnhruộng đất Bình Định nửa đầu thế kỷ XIX? Hơn nữa, thực chất quân điền cóphải chỉ nhằm mục đích tăng cường quyền quản lý ruộng đất của nhà nướcthông qua việc bổ sung, củng cố ruộng đất công làng xã, quân bình lại ruộngđất giữa người giàu và kẻ nghèo như Minh Mệnh đã nói ? Hay quân điền năm
1839 còn có mục đích gì khác?
Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Chính sách quân điền năm 1839 ở
Bình Định qua tư liệu địa bạ” làm đề tài luận án với mong muốn làm sáng tỏ
những vấn đề chưa được giải quyết về quân điền năm 1839 Ngoài các nguồn
tư liệu trong các thư tịch cổ mà các nhà nghiên cứu đi trước đã sử dụng, địa
bạ Bình Định tại hai thời điểm 1815 và 1839 là nguồn tư liệu chính của luậnán
Tuy nhiên, việc nghiên cứu tất cả địa bạ tỉnh Bình Định đòi hỏi phảiđầu tư rất nhiều thời gian, công sức và không thể giải quyết trong phạm vi củamột luận án Vì vậy, trong luận án này, áp dụng phương pháp thống kê chọnmẫu, chúng tôi chọn lựa xấp xỉ 5% tổng số địa bạ, tức là 24/535 cặp địa bạđầy đủ của Bình Định được lập vào hai thời điểm khác nhau nửa đầu thế kỷXIX nêu trên, khai thác triệt để mọi thông tin, đồng thời so sánh với những sốliệu thống kê chung của địa bạ toàn Bình Định đã được công bố Trên cơ sở
đó, có thể đưa ra một số nhận xét về những biến đổi ruộng đất của Bình Định,nhất là biến đổi qui mô sở hữu ruộng đất tư tại hai thời điểm có địa bạ, đồngthời kết hợp với kết quả khảo sát điền dã, luận án muốn tìm hiểu nguyên nhânsâu xa dẫn tới việc Minh Mệnh lựa chọn Bình Định chứ không phải nơi nàokhác để áp dụng quân điền năm 1839, và cụ thể hóa việc thực hiện chính sáchquân điền này so với chủ trương chung của Minh Mệnh Hơn nữa, đối chiếugiữa chủ trương quân điền và kết quả thực hiện, luận án đưa ra một số nhậnđịnh và đánh giá mới
Trang 14Định năm 1839 và 1900, trên cơ sở đó so sánh và đưa ra một vài nhận định vềchính sách quân điền năm 1839.
R.P Souvignet cho biết, năm 1839 “ tỉnh Bình Định chỉ có 5 200 mẫuruộng công mà có tới 71 400 mẫu ruộng tư Đó là sở hữu của người giàu, còn
kẻ nghèo thì không có đất cắm dùi Trong số binh lính chỉ có 5 500 người cólương điền, còn 9 500 người không có” Đến năm 1900 “Bình Định có 81 690mẫu ruộng nộp thuế hàng năm là 24 449 quan 3 tiền bằng bạc và 67 225 hộc 7thăng thóc” Như vậy, sau 61 năm (1839 - 1900) ruộng ở Bình Định chỉ tăng
có 5 090 mẫu
Theo R.P Souvignet, nguyên nhân dẫn tới tỷ lệ ruộng công ở BìnhĐịnh quá ít mà ruộng tư lại quá nhiều là do ảnh hưởng của phong trào TâySơn Trong luận văn của mình, ông có trích dẫn lời của Minh Mệnh “Sốruộng tư ở Bình Định đã tăng lên trong cuộc chiến tranh do anh em Tây Sơngây ra Trong cuộc chiến tranh này, họ đã cả gan lấy tất cả đất đai và ruộngnương tuỳ thích, huỷ các sổ điền thổ để biến ruộng công thành ruộng tư” Rấttiếc tác giả không ghi xuất xứ của câu trích dẫn trên
Đến năm 1951, Nguyễn Thiệu Lâu đăng trong tập san của Viện Viễn
Đông bác cổ Pháp (BEFEO) một chuyên khảo với tiêu đề “Cải cách ruộng
đất năm 1839 tại Bình Định” 3132, 119-129] Đây là một công trình nghiên
cứu quan trọng về chính sách quân điền năm 1839 của Minh Mệnh Chỉ tiếcrằng tác giả chưa khai thác nhiều các tư liệu Hán – Nôm của triều đình Huế có
liên quan đến đề tài Nguồn tư liệu chủ yếu của tác giả là Quốc triều chính
biên toát yếu được dịch ra chữ quốc ngữ và xuất bản năm 1923 Nguyễn
Thiệu Lâu đã dẫn một loạt những lời tâu, trình của các quan lại trong triều về
tỷ lệ giữa ruộng đất công và tư ở Bình Định để đi đến kết luận “cái diện tíchquá hẹp về ruộng đất công ở Bình Định là nguyên nhân của cuộc cải cáchruộng đất vào năm 1839” Nhưng Nguyễn Thiệu Lâu cho rằng “đó chỉ lànguyên cớ được nhà nước viện dẫn”, và “nguyên cớ đó không làm chúng tôithỏa mãn” Theo ông, có hai giả thiết có thể dẫn tới sự chênh lệch giữa ruộngđất công và tư ở Bình Định, mà giả thiết nọ loại trừ giả thiết kia: thứ nhất là
do Tây Sơn, và thứ hai là do nguồn gốc xa xưa của người Chăm Nguyễn
Trang 15Thiệu Lâu nghiêng về giả thiết thứ nhất nhưng ông không có đủ cứ liệu chứngminh cho nhận định của mình Vì vậy, ông mong rằng "ngày nào đó, sẽ cómột sử gia trở lại đề tài này và dành cho nó một công trình triển khai xứngđáng hơn".
Hai chuyên luận trên được coi là những nghiên cứu đầu tiên về chínhsách quân điền năm 1839 ở Bình Định
Ngoài ra, trong những bộ lịch sử Việt Nam như Lịch sử Việt Nam, Lịch
sử chế độ phong kiến Việt Nam, Đại cương lịch sử Việt Nam, hay trong
nhiều chuyên khảo khác, khi nghiên cứu về chế độ ruộng đất thời Nguyễn,không ai không đề cập tới quân điền năm 1839 của Minh Mệnh Có thể kể ravài tác phẩm, tác giả quan tâm khá nhiều về chính sách quân điền năm 1839
như Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX [97] của Vũ Huy Phúc, Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước 1858 của Trần Văn Giàu [51], Việt Nam thế kỷ XIX của Nguyễn Phan Quang [98], hay
Chế độ ruộng đất – Kinh tế nông nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX
[100] của Vũ Văn Quân Trong những tác phẩm trên, các tác giả khai thác
khá kỹ các thông tin về quân điền năm 1839 trong Đại Nam thực lục, Khâm
định Đại Nam hội điển sự lệ, Minh Mệnh chính yếu Tuy nhiên, do hạn chế
của những tư liệu thư tịch này nên khó giải quyết thấu đáo vấn đề nguyênnhân và kết quả của chính sách quân điền năm 1839 ở Bình Định Hầu hết cáctác giả trên đều coi chính sách quân điền này là nhằm khôi phục và tăngcường ruộng đất công làng xã, đối phó với tình hình ruộng đất đầu thế kỷXIX, nhưng sau thử nghiệm thất bại ở Bình Định thì không thể mở rộng racác tỉnh khác Riêng GS Trần Văn Giàu đưa ra nhiều phân tích sâu sắc và phêphán chính sách quân điền năm 1839 ở Bình Định của Minh Mệnh
Từ năm 1992, nhà sử học Nguyễn Đình Đầu bắt đầu khai thác nguồn tưliệu địa bạ và tiến hành nghiên cứu toàn bộ số địa bạ hiện còn của Bình Định[44], [45], [46] Ông tập trung khai thác những số liệu ở phần đầu của mỗi địa
bạ bao gồm đơn vị hành chính, giáp giới bốn phương của mỗi thôn/ấp, tổngdiện tích công tư điền thổ các hạng, từng loại công, tư, điền, thổ , thổ trạchviên trì, cùng một số loại đất đặc biệt khác như tha ma mộ địa, khe,
Trang 16ngòi …, Nhờ vậy, ông đã làm nổi bật những nét chính yếu của chế độ sở hữuruộng đất nói riêng và của nền hành chính đương thời nói chung trên cơ sở sửdụng những số liệu tổng quát của địa bạ từng ấp/thôn cũng như thống kêruộng đất của toàn tỉnh Bình Định Tuy nhiên, Nguyễn Đình Đầu chưa khaithác hết các thông tin trong địa bạ, đặc biệt là các tư liệu về phần tư hữu củatừng chủ sở hữu mà phần này thường chiếm khoảng hơn 80% số trang của địa
bạ Quan điểm của Nguyễn Đình Đầu là rất ca ngợi khi đánh giá về quân điềnnăm 1839
Năm 1997, chúng tôi có khảo sát cụ thể địa bạ Kiên Mỹ (huyện TâySơn, tỉnh Bình Định) lập vào hai thời điểm 1815 và 1839 Trên cơ sở khaithác hầu hết các thông tin của cặp địa bạ đó, so sánh, đối chiếu những số liệu
về các loại ruộng đất công và tư qua hai thời điểm đã cho phép đưa ra một vàinhận xét bước đầu về biến đổi cơ cấu kinh tế – xã hội và ruộng đất của Kiên
Mỹ nửa đầu thế kỷ XIX, cũng như về chính sách quân điền năm 1839 nóichung Tuy nhiên, chỉ thông qua một cặp địa bạ của một thôn/ấp ở Bình Địnhthì chưa thể có được những đánh giá xác đáng và đầy đủ về chính sách quânđiền của Minh Mệnh
Trong luận án, chúng tôi tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo một hướngmới, trên cơ sở khảo cứu kỹ 24 cặp địa bạ của 24 thôn /ấp Bình Định lập vàohai thời điểm 1815 và 1839, kết hợp với các nguồn thư tịch cổ khác và kết quảđiều tra điền dã, rồi tổng hợp, so sánh những đổi thay trong chế độ sở hữuruộng đất tại hai thời điểm trước và sau khi thực hiện chính sách quân điền.Qua đó, có thể hình dung cụ thể hơn về việc đề xuất và thực hiện chính sáchquân điền của Minh Mệnh năm 1839 trên thực tế, đưa ra một số nhận định vàđánh giá mới
3 Cơ sở tư liệu, phương pháp nghiên cứu
Nội dung chính của luận án dựa trên các nguồn tư liệu chủ yếu sau đây:Trước hết là 24 cặp địa bạ của 24 thôn/ấp của Bình Định lập năm 1815
và 1839 Đối với 48 địa bạ này, mọi thông tin về tổng diện tích công tư điềnthổ, cũng như diện tích từng loại ruộng đất đó, cho tới diện tích từng thửaruộng của từng chủ ruộng tư đều được khai thác, sử dụng Khi phân tích tính
Trang 17chất sở hữu của các chủ tư điền, luận án còn phân loại các chủ sở hữu đó theogiới tính (nam, nữ) và theo quê quán của họ (chính canh hay phụ canh) Bêncạnh đó, luận án kết hợp so sánh, đối chiếu với những thông tin tổng quát vềđịa bạ Bình Định đã được nhà sử học Nguyễn Đình Đầu công bố.
Những tư liệu thư tịch cổ đã được dịch ra tiếng Việt, chủ yếu là các bộ
Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Quốc triều chính biên toát yếu, Minh Mệnh chính yếu là nguồn tư liệu thư tịch được tham khảo, sử
dụng rất nhiều trong luận án Ngoài ra, tác giả tham khảo thêm các thông tin
có liên quan trực tiếp tới tỉnh Bình Định trong Đại Nam nhất thống chí, Đại
Nam liệt truyện, Đồng Khánh địa dư chí lược.
Thứ hai là các tư liệu khảo sát điền dã Luận án kế thừa kết quả nghiêncứu của những người đi trước, kết hợp với hai đợt điều tra điền dã do chínhtác giả thực hiện vào mùa hè năm 1997 và tháng 4 năm 2002 Những biến đổi
về hành chính qua các thời kỳ của Bình Định nói chung và 24 thôn/ấp nghiêncứu nói riêng, cũng như đặc điểm về địa hình, cảnh quan, đời sống kinh tế, xãhội, văn hoá của nhân dân Bình Định, những tư liệu do chính quyền địaphương, Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định, Bảo tàng Quang Trung và các cụgià địa phương cung cấp đã được khai thác, sử dụng nhiều trong luận án
Quân điền năm 1839 của Minh Mệnh ở Bình Định là sự kiện xảy racách chúng ta mới hơn 150 năm nên vẫn còn lưu lại những dấu ấn khá đậmnét trong trí nhớ của các cụ già địa phương Phép quân điền được ông, cha các
cụ kể lại, truyền từ đời này sang đời khác với những nét cơ bản nhất, nổi bậtnhất được ghi nhớ và lưu truyền là “sung công chiết cấp” hay “nhất bán vicông, nhất bán vi tư” Nhiều cụ già 70 - 80 tuổi còn kể lại những chuyện cụthể về cách "sung công" ruộng tư, "chiết cấp" ruộng công, cách bốc thăm
"tối", những tranh chấp xảy ra sau quân điền cùng dấu tích, ranh giới nhữngthửa ruộng tư của tổ tiên trong gia đình, dòng họ bị "sung công" Qua tư liệutruyền khẩu có thể nhận thấy việc quân điền năm 1839 còn để lại những dấu
ấn rất đậm trong ký ức dân gian Đặc biệt, nguồn tư liệu gia phả, phân thư,giấy tờ bán ruộng, văn khế chia gia tài ruộng đất …còn lưu giữ được có nhiềutài liệu liên quan tới quân điền Tư liệu văn tự này cùng những lời kể của các
Trang 18cụ già địa phương đã giúp chúng tôi giải đáp một số vướng mắc như cáchphân chia cụ thể ruộng công và tư trong từng thôn/ấp sau quân điền, hoặc nhưhiện tượng tồn tại hai, ba đẳng hạng trên cùng một thửa ruộng… được ghichép trong địa bạ.
Hiện nay, ở Bình Định vẫn còn lữu giữ khá nhiều di tích, dấu ấn vậtchất về quân điền năm 1839 như : một số thửa ruộng tư tuy bị sung làm côngđiền năm 1839 song vẫn giữ nguyên tên của chủ sở hữu cũ và vẫn còn đếnnay, hay mương nước được dùng làm đường ranh giới phân chia ruộng công
và tư trong quân điền đến nay có nơi vẫn còn… Đây là những nguồn tư liệurất phong phú, đa dạng về quân điền mà trong địa bạ không ghi chép
Trong quá trình thực hiện đề tài luận án này, phương pháp tiếp cận củakhoa học lịch sử kết hợp với phương pháp điều tra điền dã của địa lý học lịch
sử và dân tộc học, xã hội học đã được áp dụng Đặc biệt, phương pháp phântích định lượng được ứng dụng rất hiệu quả trong việc xử lý nguồn tư liệuđám đông của địa bạ Phương pháp thống kê chọn mẫu được áp dụng trongviệc lựa chọn và xử lý 24 cặp địa bạ Các số liệu được thống kê và xử lý trênmáy vi tính, kết hợp với một số đồ thị, bản đồ minh họa, trên cơ sở đó đốichứng, so sánh với các nguồn tư liệu khác nhau liên quan đến đề tài
4 Nội dung, bố cục chính của luận án
Luận văn dài 200 trang đánh máy với 189 tài liệu tham khảo Ngoài cácphần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 4 chương Ngoàiphần chính văn, luận án có 152 trang Phụ lục với 24 bản đồ minh họa
Phần Mở đầu được dành để phân tích ý nghĩa khoa học và thực tiễn của
đề tài, lý do chọn đề tài, cũng như nêu những nét chính về bố cục và kết quảchủ yếu của luận văn
Chương 1: “Tình hình sở hữu ruộng đất nửa đầu thế kỷ XIX và chủ
trương quân điền năm 1839 ở Bình Định” Trên cơ sở khái quát chung tình
hình ruộng đất và những chính sách của nhà Nguyễn đối với các loại hình sởhữu ruộng đất trong cả nước nửa đầu thế kỷ XIX, chúng tôi muốn làm nổi bậtđặc điểm riêng về ruộng đất của Bình Định, những bức xúc ruộng đất đã dẫntới quyết định quân điền năm 1839 của Minh Mệnh được tiến hành duy nhất
Trang 19tại Bình Định Sau đó giới thiệu nội dung chủ yếu của chủ trương quân điềnnăm 1839 ở Bình Định theo những ghi chép trong chính sử của triều Nguyễn.
Chương 1 còn dành một phần miêu tả chung về sưu tập địa bạ của BìnhĐịnh, cũng như đưa ra nguyên tắc chọn mẫu 24 trong tổng số 535 cặp địa bạcủa toàn Bình Định ( 5 %) để đi sâu thống kê, phân tích
Chương 2 và 3 của luận án chủ yếu dựa vào nguồn tư liệu mới đượckhai thác là 24 cặp địa bạ Bình Định lập vào hai thời điểm 1815 và 1839 Haichương này tập trung phân tích triệt để các thông tin có trong địa bạ, so sánhvới số liệu tổng hợp của địa bạ toàn Bình Định cùng thời điểm đã đượcNguyễn Đình Đầu công bố, cố gắng phục dựng lại chế độ sở hữu ruộng đấtcủa các thôn/ấp Bình Định nửa đầu thế kỷ XIX, từ đó làm nổi bật tình hìnhruộng đất ở đây trước và sau quân điền năm 1839
Chương 2: “Tình hình sở hữu ruộng đất ở Bình Định trước quân điền
năm 1839 qua địa bạ Gia Long 14 (1815)” Chương này tập trung khai thác
thông tin trong 24 địa bạ của 24 ấp thuộc Bình Định lập năm Gia Long thứ 14(1815) Qua các số liệu thống kê, nêu lên đặc điểm nổi bật của chế độ sở hữuruộng đất ở Bình Định là tuyệt đại đa số diện tích ruộng đất đều là tư điền, tưthổ, nhưng qui mô sở hữu lại nhỏ, manh mún và dàn trải Cả 24 ấp lựa chọnnghiên cứu, phân tích vào thời điểm 1815 đều không có công điền thổ, haychính xác hơn là không có công điền thổ sở tại, chỉ có một ít quan điền thổ vàcông điền thổ của thôn /ấp khác nằm trong địa phận bảtn ấp Đó là đặc điểmkhông bình thường của tình trạng sở hữu ruộng đất ở Bình Định đầu thế kỷXIX Tìm hiểu và giải thích nguyên nhân của hiện tượng này là một nội dungquan trọng của chương 2
Chương 3 : “Thực hiện chính sách quân điền năm 1839 ở Bình Định
qua địa bạ Minh Mệnh 20 (1839) ” Nội dung chính của chương 3 dành cho
việc khảo cứu, phân tích địa bạ 24 thôn của Bình Định lập năm Minh Mệnh
20 (1839) Kết quả thống kê cho thấy, sau quân điền, diện tích ruộng tư giảm
đi xấp xỉ một nửa, trong khi đó, sở hữu công điền sở tại trước đây không cóthì nay lại gia tăng đáng kể, chiếm xấp xỉ 50% tổng diện tích công tư điền thổ
Điều đó chứng tỏ chính sách quân điền năm 1839 mà một số người coi
Trang 20là “cải cách điền địa” đã được thực thi triệt để tới từng ấp/ thôn trong việcphân chia lại tỷ lệ giữa ruộng công và tư Tuy nhiên, đi sâu phân tích mức sởhữu của từng chủ tư hữu cũng như cách sung công một nửa ruộng tư ở cácthôn/ấp cho phép hình dung rõ hơn một số điểm về chính sách quân điền năm
1839 mà trước đây chưa được làm sáng tỏ
Sự có mặt một số không nhỏ các chủ sở hữu là nữ trong địa bạ ở cả haithời điểm 1815 và 1839 cũng ít nhiều gợi ra bức tranh về vai trò người phụ nữ
ở Bình Định nói riêng và ở nông thôn Việt Nam thời phong kiến nói chung.Đặc biệt, hiện tượng chia đều ruộng đất cho con cái không phân biệt nam hay
nữ, dẫn tới có những chủ sở hữu ruộng tư tuy là nữ nhưng lại có mức sở hữu khácao là một đặc điểm đáng lưu ý của Bình Định Bên cạnh đó, tỷ lệ chủ phụ canhcũng như mức sở hữu trung bình của họ bằng và cao hơn chính canh trong cácthôn/ấp Bình Định là vấn đề đáng quan tâm được phản ánh trong địa bạ BìnhĐịnh
Chương 4: Kết quả quân điền năm 1839 ở Bình Định Trong chương 4,
thông qua so sánh các số liệu của địa bạ 24 thôn/ấp vào hai thời điểm 1815 và
1839, luận án muốn làm rõ hơn những biến đổi ruộng đất ở Bình Định sauquân điền năm 1839, đặc biệt là những khác biệt cơ bản giữa phân bố ruộngđất công và tư trước và sau quân điền Bên cạnh đó, chương 4 còn trình bàycách chia ruộng công theo khẩu phần cho quan lại, binh lính và xã dân cùngnhững hệ quả của nó tại Bình Định
Danh sách các chủ trùng tên trong hai địa bạ cùng mức sở hữu ruộngđất của họ là kết quả có được sau những phân tích, đối chiếu 24 cặp địa bạ tạihai thời điểm So sánh qui mô sở hữu cũng như biến đổi ruộng đất của 210chủ trùng tên cho phép lý giải thêm một số vấn đề về quân điền năm 1839trong chương 4
Từ chủ trương chung về quân điền của Minh Mệnh được ghi chép trongcác tư tịch cổ, kết hợp kết quả so sánh địa bạ hai thời điểm 1815 và 1839,cùng các nguồn tư liệu khác, chương 4 trình bày một số nhận xét về nguyênnhân trực tiếp cũng như sâu xa dẫn đến quyết định quân điền năm 1839 ởBình Định của Minh Mệnh
Trang 21Phần Kết luận dành để khái quát những đặc điểm chung của tình hình
sở hữu ruộng đất Bình Định nửa đầu thế kỷ XIX qua tư liệu địa bạ 1815 và
1839, từ đó nêu một số nhận định tổng quát và đánh giá mới về chính sáchquân điền năm 1839
Phần Phụ lục nêu kết quả thống kê địa bạ của 24 thôn/ấp lập vào cácnăm 1815 và 1839 Bên cạnh đó, với mỗi cặp địa bạ kèm theo bản đồ hiệnnay của thôn/ấp đó Trong Phụ lục còn có danh sách 210 chủ trùng tên và bảndịch toàn bộ địa bạ Kiên Mỹ qua hai thời điểm
5 Đóng góp của luận án
Các kết quả chính của luận văn là:
Xử lý triệt để 24 cặp địa bạ của 24 thôn/ấp Bình Định lập vào cácnăm 1815 và 1839, so sánh với các số liệu thống kê chung toàn tỉnh BìnhĐịnh cũng vào hai thời điểm trên, đồng thời đi sâu phân tích phần tư hữuruộng đất cho phép rút ra một số kết luận về tình trạng sở hữu ruộng đất cũngnhư những biến đổi của các loại hình sở hữu ruộng đất ở Bình Định nửa đầuthế kỷ XIX
Kết quả phân tích 24 địa bạ của 24 ấp thuộc trấn Bình Định lập nămGia Long 14 (1815) kết hợp với các tư liệu điền dã cho phép đưa ra bức tranh
cụ thể về tình hình ruộng đất ở Bình Định - cái nôi của phong trào Tây Sơn,sau khi vương triều cuối cùng của Tây Sơn thất bại 13 năm Kết quả phân tíchđịa bạ 1815 cho thấy, sở hữu tư chiếm tuyệt đại đa số, sở hữu công khôngđáng kể, nhưng trong sở hữu tư lại không có tích tụ ruộng đất mà dàn trải ravới những chủ sở hữu nhỏ, mức sở hữu trung bình xấp xỉ 1 mẫu ruộng, người
sở hữu lớn nhất chỉ có hơn 20 mẫu ruộng Đó là những đặc điểm nổi bật trongphân bố ruộng ở Bình Định đầu thế kỷ XIX .Nêu lên và phân tích nguyênnhân của đặc điểm đó, tìm hiểu lý do sâu xa dẫn đến chủ trương quân điềnnăm 1839 của Minh Mệnh là vấn đề mới của luận văn.
Chủ trương quân điền năm 1839 của Minh Mệnh được thi hành triệt
để ở hầu khắp các thôn/ấp của Bình Định, những nơi có tư điền nhiều hơncông điền Phần tư điền sung công điền đem chia cho quan lại, binh dân, theolương điền và khẩu phần Qua phân tích địa bạ kết hợp với tư liệu điền dã và
Trang 22các nguồn sử liệu khác, luận án chỉ ra cách thức cụ thể khi áp dụng chủ trươngquân điền trong việc sung công chiết cấp một nửa tư điền, cũng như cách chiaruộng công theo lương điền và khẩu phần.
Kết quả quân điền năm 1839 của Minh Mệnh ở Bình Định được một
số nhà nghiên cứu coi là một cuộc cách mạng điền địa, nhưng thực chất mụcđích của Minh Mệnh khi thực hiện chính sách này là gì ? Tại sao Minh Mệnhphải đề ra giải pháp đặc biệt với riêng tỉnh Bình Định? Quân điền năm 1839thực sự đã đem lại kết quả, nguồn lợi cho những ai? Cho nhà nước hay chongười dân Bình Định? Đó là những vấn đề đã được luận án lý giải, phân tíchdựa trên trên cơ sở tư liệu địa bạ kết hợp với tư liệu điền dã Từ đó đưa ra một
số đánh giá mới về tác dụng của quân điền năm 1839 của Minh Mệnh
Cuối cùng, với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn GS HàVăn Tấn, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làmluận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thày thuộc Bộ môn Lịch sử Việt Nam cổ
- trung đại, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đạihọc Quốc gia Hà Nội đã chỉ dẫn và góp nhiều ý kiến quí báu trong quá trìnhhoàn chỉnh luận án Đặc biệt, tôi xin cảm ơn TS Vũ Văn Quân và các đồng sự
đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình dịch và kiểm tra các nguồn tư liệu
Hán - Nôm
Tôi xin trân trọng cảm ơn Cục Lưu trữ Nhà nước, Trung tâm Lưu trữQuốc gia I đã hết sức giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được tiếp cận vàkhai thác địa bạ Bình Định
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định,Bảo tàng tổng hợp Bình Định, Bảo tàng Quang Trung, Uỷ ban nhân dân cáchuyện, xã cùng các cụ già địa phương đã hết lòng giúp đỡ, chỉ bảo cho tôitrong quá trình đi khảo sát, thu thập tư liệu tại Bình Định
Trang 23TÌNH HÌNH SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX
VÀ CHỦ TRƯƠNG QUÂN ĐIỀN NĂM 1839 Ở BÌNH ĐỊNH
1.1 NHÀ NGUYỄN TRƯỚC TÌNH HÌNH SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX
1.1.1 Nhà Nguyễn thành lập
Cuối thế kỷ XVIII, phong trào Tây Sơn đã lập được nhiều chiến cônghiển hách, đập tan các thế lực chia cắt Đàng Trong và Đàng Ngoài, bước đầulập lại nền thống nhất đất nước, đánh bại các cuộc xâm lược của quân Xiêm ởphía Nam và Mãn Thanh ở phía Bắc, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc
Sau khi khởi xướng và lãnh đạo phong trào Tây Sơn giành được nhữngthắng lợi trong giai đoạn đầu, Nguyễn Nhạc tự xưng Hoàng đế (1776), lấyhiệu Thái Đức Năm 1786, Nguyễn Nhạc xưng là Trung ương Hoàng đế caiquản vùng đất từ Quảng Ngãi vào nam, Nguyễn Lữ được phong làm ĐôngĐịnh vương, trấn giữ đất Gia Định Còn từ Quảng Nam trở ra bắc do BắcBình vương Nguyễn Huệ cai quản Năm 1788, trước đòi hỏi cấp thiết củacuộc kháng chiến chống Thanh, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, đóng đô tạiPhú Xuân Nhà Tây Sơn gồm có ba chính quyền, hai hoàng đế nhưng chỉ cóchính quyền của Hoàng đế Quang Trung đã đề ra và thực hiện một số chínhsách tiến bộ trên lãnh thổ do ông cai trị
Sau đại thắng quân xâm lược Mãn Thanh (1789), chính quyền non trẻcủa Quang Trung một mặt phải khắc phục những khó khăn do cuộc khủnghoảng kéo dài ở Đàng Ngoài để lại; mặt khác phải khẩn trương xây dựng
Trang 24chính quyền mới và củng cố lực lượng quốc phòng, xây dựng quân đội vữngmạnh, sẵn sàng đối phó với các thế lực chống đối ở Bắc Hà cũng như vớiNguyễn Ánh ở Gia Định Bên cạnh đó, tình hình kinh tế trong nước lúc nàyrất tiêu điều, đặt ra những yêu cầu phải giải quyết Năm 1789, Quang Trung
ban Chiếu khuyến nông, đề ra một số biện pháp tích cực nhằm phục hồi sản
xuất nông nghiệp, ổn định đời sống nhân dân Mặc dù chính quyền Tây Sơnchưa có chính sách giải quyết vấn đề ruộng đất, song trong vòng 3, 4 năm
thực thi Chiếu khuyến nông, tình hình nông nghiệp đã có những chuyển biến
tích cực
Đối với công, thương nghiệp, Quang Trung cũng có những biện phápkhuyến khích sản xuất, mở mang lưu thông hàng hóa, phục hồi và phát triểncác ngành thủ công nghiệp cũng như hoạt động thương nghiệp, kể cả quan hệthông thương với các nước láng giềng
Đất nước đang dần phục hồi và phát triển thì Quang Trung đột ngột từtrần vào năm 1792, người kế nghiệp là Quang Toản còn quá trẻ, không đủ sứcgánh vác trọng trách được giao phó Thêm vào đó, những mâu thuẫn và xungđột nội bộ làm cho vương triều Tây Sơn suy yếu nhanh chóng, ảnh hưởng xấutới sự phát triển chung của cả nước Thực tế khách quan đó cùng với sự bấtlực của Nguyễn Lữ và thái độ mệt mỏi, tự mãn của Nguyễn Nhạc đã tạo điềukiện cho Nguyễn Ánh và các thế lực chống đối gây dựng và phát triển lựclượng ở Gia Định Từ 1790, Nguyễn Ánh bắt đầu phản công, đánh vào nhữngvùng đất thuộc quyền cai trị của Nguyễn Nhạc Cái chết đột ngột của QuangTrung và sự suy yếu của triều Quang Toản đã tạo điều kiện và cơ hội thuậnlợi cho Nguyễn Ánh nhanh chóng chiếm được thành Qui Nhơn (1799), thànhPhú Xuân (1801) và đến 1802 đánh bại vương triều Quang Toản NguyễnÁnh lên ngôi vua (1802), niên hiệu là Gia Long, sáng lập vương triều Nguyễn(1802 – 1945) Lần đầu tiên trong lịch sử, đất nước ta thống nhất và có một hệthống cai trị từ trung ương đến địa phương trên một lãnh thổ rộng lớn baogồm cả Đàng Ngoài và Đàng Trong đã được mở rộng tới tận mũi Cà Mau,gần như tương ứng với lãnh thổ Việt Nam hiện đại
Trang 25Vương triều Nguyễn, nhất là trong giai đoạn đầu thế kỷ XIX, đời GiaLong (1802 – 1819), Minh Mệnh (1820 – 1840) đã có nhiều cố gắng và đạtđược một số thành tựu trong việc xây dựng và củng cố quốc gia thống nhất,trong cải cách hành chính của Minh Mệnh năm 1831 – 1832, trong chính sáchkhẩn hoang và trong nhiều hoạt động văn hóa, xã hội khác Tuy nhiên, đặttrong bối cảnh chung của khu vực và thế giới thế kỷ XIX, nhà Nguyễn cũngbộc lộ những hạn chế và tiêu cực, biểu thị tập trung trong chủ trương tăngcường chế độ quân chủ tập quyền chuyên chế , khôi phục địa vị độc tôn củaNho giáo, duy trì tư tưởng “ức thương” và nhất là trong chính sách xã hội,không có giải pháp hữu hiệu bảm đảm an dân và ổn định xã hội.
Giai đoạn đầu thế kỷ XIX, các cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra liên tục trênkhắp các vùng, từ bắc vào nam, từ đồng bằng, trung du cho đến miền núi Đại
bộ phận các cuộc nổi dậy này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn và trướcsau đều bị nhà Nguyễn đàn áp song đã làm cho triều đình nhiều phen khốnđốn, đe dọa nền thống trị của họ Nguyễn
Diễn biến sôi động của phong trào nông dân đầu thế kỷ XIX phản ảnhtính chất không ổn định của tình hình chính trị xã hội, thể hiện phản ứng củacác tầng lớp xã hội đối với chế độ cai trị của các triều vua Nguyễn Mặt khác,hậu quả không tránh khỏi của các cuộc nổi dậy đó là sản xuất nông nghiệp cónơi, có lúc, bị đình trệ, lực lượng sản xuất bị sa sút Các cuộc khởi nghĩa đãtác động đến chế độ ruộng đất ở một mức độ nào đó Về hình thức, vấn đềruộng đất, khẩu hiệu về ruộng đất không được đặt ra trực tiếp trong các cuộckhởi nghĩa nhưng rõ ràng phong trào nông dân đầu thế kỷ XIX có ảnh hưởngnhất định đến diễn biến của chế độ ruộng đất và chính sách ruộng đất củatriều Nguyễn
1.1.2 Tình hình sở hữu ruộng đất nửa đầu thế kỷ XIX
Tình hình phân bố ruộng đất công và tư nửa đầu thế kỷ XIX giữa cácvùng, các miền trong cả nước rất khác nhau Tuy nhiên, sở hữu nhà nước và
sở hữu tư nhân vẫn là hai loại hình sở hữu chủ yếu của thời kỳ này
1.1.2.1 Sở hữu nhà nước
Trang 26Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước bao gồm hai loại: loại do nhà nướctrực tiếp quản lý và ruộng đất công làng xã.
Ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý : Đầu thế kỷ XIX, loại ruộng
đất này bị thu hẹp nhiều so với thời kỳ trước Ba loại ruộng chủ yếu nằmtrong quyền quản lý trực tiếp của nhà nước là tịch điền, quan điền và đồnđiền
Tịch điền: Là loại ruộng có tính chất lễ nghi Năm 1828, theo
quyết định của Minh Mệnh, 4 mẫu 4 sào đất thuộc hai phường HậuSinh và An Trạch trở thành tịch điền tại kinh đô Huế Năm 1832 cho
mở rộng tịch điền trên phạm vi cả nước, mỗi tỉnh 3 mẫu, lấy ở khu vựcngoài thành của tỉnh hay trấn Người cày tịch điền là nông phu sở tại,được miễn trừ lao dịch [27, tr 22-23] Tuy vậy, số lượng ruộng nàykhông đáng kể và không có mấy tác dụng đối với chế độ ruộng đấtđương thời
Quan điền, quan trại: là loại ruộng đất đã tồn tại từ các thế kỷ
trước Đó vốn là các loại ruộng chế lộc, quan điền, quan trại, quan đồnđiền, thưởng lộc, ngụ lộc, …dưới thời Trịnh – Nguyễn, sau đó đượcnhà Tây Sơn ban cấp cho các quan lại Nhà Nguyễn đã thu hồi các loạiruộng trên lại và gọi chung là quan điền, quan trại, đặt dưới quyền sởhữu trực tiếp của nhà nước Từ năm 1822, Minh Mệnh cho chuyểnquan điền quan trại thành ruộng công làng xã và đến giữa thế kỷ XIXthì về cơ bản loại ruộng này không còn tồn tại nữa [54, tr 76-84].Trong các địa bạ lập vào thời Gia Long, ở vùng Bắc Bộ không thấy ghi
về loại ruộng đất này Nhưng địa bạ Bình Định cũng lập vào thời GiaLong (1815) có ghi rất cụ thể về quan điền Tính trên qui mô toàn trấnBình Định bấy giờ, trong 559/660 địa bạ Bình Định còn lưu giữ thống
kê được 1633.7.08.1.5.7.6 là quan điền, chiếm gần 2,2% tổng diện tích.Sau đó, số quan điền này được nhập vào với công điền và gọi chung làcông điền Đến địa bạ tỉnh Bình Định lập năm 1839 chỉ còn ghi chung
về diện tích công điền, không phân biệt quan điền nữa
Trang 27Đồn điền: phần lớn đồn điền là kết quả khai hoang dưới thời
Nguyễn, chủ yếu tập trung ở vùng Nam Bộ Suốt thời Gia Long và đầuMinh Mệnh vẫn tiếp tục lập đồn điền để lấy thóc gạo nuôi quân Đếnkhi Minh Mệnh quyết định đặt chế độ công điền công thổ thì nhà nướclấy ruộng đất của đồn điền chia cho các làng làm công điền công thổ đểquân cấp cho xã dân theo định lệ chung của toàn quốc [41, tr 141]
Ruộng đất công làng xã: Trên thực tế, cũng như trong các thế kỷ trước,
nói chung làng xã nắm quyền quản lý, phân phối phần ruộng đất này theo qui chế quân điền mặc dù về nguyên tắc đó là sở hữu nhà nước
Nhìn chung, đầu thế kỷ XIX, ruộng đất công trên toàn quốc bị thu hẹpnhiều Tổng diện tích ruộng đất công và tư cả nước (chỉ tính thực trưng) là 3
949 225 mẫu, trong đó ruộng đất công (gồm công điền, quan điền, ruộngmuối và công thổ) chỉ còn 760 872 mẫu, chiếm tỷ lệ 19,26% tổng diện tíchruộng đất công và tư Riêng ruộng công (gồm công điền, quan điền và ruộngmuối) có 580 363 mẫu, chiếm tỷ lệ 17,08% [188]
Tuy nhiên, tỷ lệ ruộng đất công phân bố không đồng đều ở các địaphương Vào khoảng cuối đời Gia Long, theo ghi chép của Phan Huy Chú:
“nước ta duy có trấn Sơn Nam Hạ là có nhiều ruộng công, đất bãi công…Còncác xứ khác thì các hạng ruộng công không có mấy” [7, tr 70] Năm 1852,theo lời Thượng thư Bộ Hộ Hà Duy Phiên: “Thừa Thiên, Quảng Trị thì ruộngcông nhiều hơn ruộng tư, Quảng Bình thì công tư bằng nhau, còn các hạt khácthì ruộng tư nhiều mà ruộng công ít, tỉnh Bình Định càng ít hơn”[35, tr 336]
Sự phân bố không đồng đều tỷ lệ ruộng đất công còn thể hiện trong phạm vitừng miền, từng tỉnh, từng huyện, thậm chí từng tổng, từng xã, thôn Kết quảnghiên cứu địa bạ ở một số tỉnh cũng cho nhận xét như vậy Ở Hà Đông, theođịa bạ năm Gia Long 4 (1805) tỷ lệ công điền chiếm 14,59% so với tổng diệntích ruộng đất các loại nhưng phân bố chênh lệch giữa các huyện: huyện ĐanPhượng 37,99%, huyện Hoài An 4,81%, huyện Sơn Minh 4,55%, huyệnThượng Phúc 16,47%, huyện Từ Liêm 11,14%[66, tr 548, 553, 562, 580,603] Ngay trong một huyện, như huyện Thượng Phúc (Hà Đông), tỷ lệ côngđiền phân bố cũng không đồng đều giữa các tổng: tổng Bình Lãng 8,18%,
Trang 28tổng Chương Dương 35,96%, tổng Cổ Hiền 5,42%, tổng Hà Hồi 50,87%, tổng
La Phù 37,77%, tổng Thụy Phú 30,49%, tổng Thượng Hồng 2,25%, tổng Tín
An 0,38%, tổng Tín Yên 0,22%, tổng Triều Đông 5,94%, tổng Vạn Điểm3,08% [66, tr 565-567; 569-570;572-573; 575-577; 579] Hay ở Thái Bình,cũng theo địa bạ năm Gia Long 4 (1805), tổng diện tích công điền thổ chiếm31,43% tổng diện tích ruộng đất các loại và phân bố ở các huyện như sau:huyện Chân Định 36,24%, huyện Đông Quan 20,75%, huyện Quỳnh Côi17,32%, huyện Thanh Quan 33,45% và huyện Vũ Tiên 56,85% [67, tr 398;
419, 434, 461, 464] Hoặc ở Nam Định, theo số liệu thống kê 100 địa bạ năm
1805 vùng bắc và đông Nam Định, ruộng đất công ở đây chỉ có 40,5%1 ỞHải Phòng, số liệu thống kê của 32 địa bạ năm 1805 (trong tổng số 64 địa bạcủa Hải Phòng thuộc 7/9 tổng) cho biết công điền chiếm 34,66% tổng diệntích2
Hay ở Nam Bộ, nơi mà nhìn chung tỷ lệ ruộng đất công rất thấp nhưng
“đại bộ phận quan điền, quan thổ - mà quan xá thổ là chính, đều ở huyện BìnhDương (dân Sài Gòn xưa hầu hết cư ngụ trên đất công) Trên 80% ruộng ởhuyện Trà Vinh, Tuần Ngãi (nay thuộc tỉnh Cửu Long) là công điền Toàn thểruộng ở huyện Kiên Giang (nay là tỉnh Kiên Giang), và ở huyện Long Xuyên(nay là tỉnh Minh Hải) đều là công điền Trái lại, tỉnh Định Tường (nay là tỉnhTiền Giang) không có công điền mà chỉ có khoảng 0,5% ruộng do bản thônđồng canh Xét chung, những thôn lập từ lâu có rất ít công điền, những thônmới lập thì hầu hết là công điền (địa bộ của những xã thôn lập sau 1836 càngbiện minh cho điều đó)” [40, tr 52] Trong khi đó, phần lớn các địa phươngkhác thuộc Nam Bộ hầu như không có ruộng công và ở Nam Kỳ “ruộng đấtthuộc sở hữu nhà nước (đại đa số do xã thôn quản lý) chiếm khoảng 8% toàndiện tích đo đạc” [40, tr 52-53]
Đặc biệt ở Bình Định, theo số liệu thống kê trong địa bạ Gia Long 14(1815), quan – công điền chỉ chiếm tỷ lệ 8,97% Còn nếu chỉ tính riêng côngđiền thì tỷ lệ còn khiêm tốn hơn nữa ( 6,8%) [44, tr 147] Cũng chính vì tỷ
1 Số liệu thống kê do TS Vũ Văn Quân cung cấp
2 Số liệu thống kê do TS Vũ Văn Quân cung cấp
Trang 29lệ ruộng công và tư ở Bình Định quá chênh lệch nên đến năm 1839, theo lờitâu của các quan lại, Minh Mệnh đã quyết định áp dụng ở đây chính sáchquân điền nhằm hạn chế ruộng tư, tăng cường ruộng công, hay nói một cáchkhác là quân bình lại tỷ lệ ruộng công và tư, củng cố quyền lực của nhà nướcthông qua quyền sở hữu ruộng đất Nhưng kết quả là quân điền năm 1839 chỉđược thực hiện duy nhất tại Bình Định mà sau đó không áp dụng với bất cứnơi nào khác.
Tính chất phân bố không đồng đều của ruộng đất công xuất phát từnhiều nguyên nhân địa lý và lịch sử khác nhau Ở các khu vực đất đai đã đượckhai phá lâu đời, sự thu hẹp của ruộng đất công chủ yếu do quá trình tư hữuhóa Mà quá trình này dù chậm chạp, khó khăn thì đến cuối XVIII, đầu XIXcũng đã đi được những bước căn bản Vì thế phần lớn vùng đồng bằng, trung
du Bắc Bộ và các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh tỷ lệ ruộngcông bị thu hẹp rất nhiều Các tỉnh từ Quảng Bình trở vào đến Thừa Thiên –Huế hầu hết các làng xã mới được thành lập trong quá trình mở rộng lãnh thổ
về phía nam Làng xã vùng này được tái thiết vừa theo mô hình cũ, vừa bảolưu lâu dài tính cố kết cộng đồng Ruộng đất công ở đây vốn tồn tại phổ biến
do kết quả của công cuộc khai hoang mở đất lập làng, cùng với những lý donêu trên nên ít bị đụng chạm đến trong suốt mấy thế kỷ liền Ngoài ra khôngthể không kể đến những tác động của các nhân tố chính trị Khu vực này làthủ phủ của chính quyền chúa Nguyễn và nhà Nguyễn về sau, áp lực hànhchính quân sự của nhà nước trong một chủ trương nhất quán nhằm bảo vệ,duy trì và mở rộng sở hữu công rõ ràng đã phát huy tác dụng Một nhân tố rấtquan trọng chi phối chế độ sở hữu ruộng đất vùng Thuận Hóa - Quảng Nam làchính sách khẩn hoang lập làng của chúa Nguyễn Chính quyền chúa Nguyễnkhuyến khích và tạo điều kiện cho những nông dân di cư và cả những tù binh
bị bắt trong chiến tranh, đi khai phá vùng đất mới, lập thành làng xã, ruộngđất khai khẩn là ruộng đất công, chia nhau cày cấy nộp tô thuế cho nhà nước
Từ năm 1669, ruộng đất khai khẩn thêm mới được công nhận là ruộng đất tư(bản bức tư điền) [20, tr 112]
Trang 30Vùng đất từ nam Trung Bộ cho đến Nam Bộ, do công cuộc mở rộnglãnh thổ về phía nam và chủ trương của chúa Nguyễn cho phép người khaiphá chiếm làm ruộng tư nên sở hữu tư nhân phát triển rất mạnh, ruộng đấtcông làng xã hầu như không có bao nhiêu vào đầu thế kỷ XIX.
Vùng Nam Bộ cũng được khai phá với phương thức thúc đẩy tư nhânkhẩn hoang Ở đây, ngay từ đầu ruộng đất khai phá được đã thuộc sở hữu tưnhân Một ít ruộng công tồn tại ở nửa đầu thế kỷ XIX chủ yếu là kết quả củachính sách đồn điền mà theo đó ruộng đất khẩn hoang được thuộc sở hữu nhànước
Sự phân bố tỷ lệ công điền không đồng đều trong từng miền, từng vùng
do những đặc điểm của địa phương đó qui định Vùng Sơn Nam Hạ, chủ yếu
là khu vực ven biển Thái Bình, Nam Định làng xã ra đời do kết quả của khaihoang Khu vực này, đồng bằng luôn được mở rộng do tích tụ phù sa của sôngHồng, sông Thái Bình, thuận lợi cho việc mở rộng diện tích canh tác, nhưngđất đai lại không ổn định Vùng các làng ven sông, nhất là các sông lớn, dođặc điểm địa lý qui định, đất đai mới được bồi đắp bao giờ cũng là của công(công châu thổ) nên ruộng đất công thường được duy trì với tỷ lệ cao hơn cácnơi khác Bên cạnh đó, sự cố kết làng xã bền chặt là một nguyên nhân làm cho
tư hữu hóa diễn ra khó khăn Ngoài ra, các yếu tố khác như vị trí gần hay xa
so với các trung tâm chính trị, đặc điểm kinh tế của làng (làng nông nghiệp,thủ công nghiệp, thương nghiệp) cũng góp phần qui định tình hình trên
Đầu thế kỷ XIX, tỷ lệ ruộng đất công thu hẹp chứng tỏ loại hình sở hữunày không còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế đất nước Tuynhiên, sự phân bố không đồng đều của ruộng đất công cho thấy vai trò của nó
ở từng vùng, từng địa phương là khác nhau Có những vùng, những làng,ruộng công đã hoàn hoàn mất hết vai trò trong cuộc sống xã hội nhưng ở một sốnơi khác, ruộng đất công vẫn là tư liệu sản xuất chủ yếu của cư dân
Bên cạnh đó, nửa đầu thế kỷ XIX, quá trình tư hữu hóa vẫn tiếp diễn.Tuy vậy, tốc độ của quá trình này không còn mạnh mẽ và quyết liệt như các
Trang 31giai đoạn trước Hai nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình hình trên là do sức cản
từ phía nhà nước và hơn nữa, quĩ ruộng công đến khi đó đã bị thu hẹp nhiều
1.1.2.2 Sở hữu tư nhân
Theo Nguyễn Công Tiệp, đầu thế kỷ XIX, sở hữu tư nhân về ruộng đấtchiếm 80,74% tổng diện tích ruộng đất cả nước (bao gồm 3188 382 mẫu,trong đó 2 816 221 mẫu ruộng và 372 161 mẫu đất [188])
Tuy nhiên, cũng giống như ruộng đất công, sự phân bố tỷ lệ ruộng đất
tư giữa các miền, các vùng không giống nhau
Ở Bắc Bộ, trên địa bàn tỉnh Hà Đông ruộng đất tư chiếm tỷ lệ 65,34%tổng diện tích ruộng đất các loại nhưng phân bố không đều giữa các huyện, cáctổng Hay ở Thái Bình, nếu chỉ tính riêng phần điền thì sở hữu tư nhân chiếm69,7% song quá trình phân hóa ruộng đất tư ở Thái Bình đầu thế kỷ XIX đã diễn
ra với hình thái đi từ tập trung, tích tụ ruộng đất đến mở rộng, phát triển về sốlượng chủ Qui mô sở hữu trung bình ở Thái Bình là 9 mẫu 1 sào, thuộc loại caotrong hoàn cảnh ruộng đất của vùng đồng bằng Bắc Bộ, mặc dù ngay trong tỉnhThái Bình thì mức sở hữu này cũng không đồng nhất
giữa các huyện [67, tr 28-29]
Vùng nam Trung Bộ và Nam Bộ sở hữu tư nhân phát triển rất mạnh,đặc biệt là Nam Bộ Theo thống kê địa bạ Nam Kỳ lục tỉnh năm 1836, tư điềnchiếm 92,43% tổng diện tích ruộng đất thực canh [42, tr 151] Còn tại trấnBình Định, theo địa bạ năm Gia Long 14 (1815), tính trên qui mô toàn trấn thì
tư điền chiếm 91,03% [44, tr 147]
Rõ ràng tư hữu hóa là xu hướng phát triển mang tính tất yếu của lịch
sử Ở Việt Nam quá trình này diễn ra dưới hai hình thức: thôn tính sở hữucông và khai hoang những vùng đất mới Nửa đầu thế kỷ XIX, hình thức thứnhất bị cản trở bởi áp lực chi phối của nhà nước Ngoài ra, còn do nhiềunguyên nhân kinh tế – xã hội khác nên con đường tiến hóa lịch sử này cũngdiễn ra không mấy thuận lợi Tính đến đầu thế kỷ XX, ở miền Bắc sở hữu tưnhân mới đạt 80%, ở miền Trung là 75%, và đến trước cải cách ruộng đất, tiếntrình tư hữu hóa ruộng đất này vẫn chưa hoàn thành
Trang 32Nửa đầu thế kỷ XIX vẫn đồng thời tồn tại các hình thức sở hữu tư nhânlớn, vừa và nhỏ Sở hữu địa chủ, nhất là sở hữu lớn phát triển mạnh ở Nam
Bộ Tuy nhiên, bên cạnh tầng lớp đại địa chủ có trong tay số lượng ruộng đấtlớn vẫn có không ít những người hoàn toàn không có ruộng đất Chủ ruộng LêVăn Hiệu (thôn Bình Xuân, tổng Hoà Lạc, huyện Tân Hoà, tỉnh Gia Định) cótới 1 841 mẫu 5 sào 12 thước 1 tấc ruộng tư Hay chủ ruộng Ngô Văn Lộc(thôn Bình An, cũng tổng Hoà Lạc) có 1 045 mẫu 3 sào 14 thước 6 tấc ruộng
tư [40, tr 53]… Tầng lớp đại địa chủ Nam Kỳ bành trướng thế lực và gópphần quan trọng trong việc giúp Nguyễn Ánh xây dựng căn cứ và cơ sở tiếnhành cuộc chiến tranh chống lại nhà Tây Sơn ngay từ cuối thế kỷ XVIII Vìthế, năm 1802, sau khi bình định xong cả nước, Gia Long đã sai trả lại tiền vàthóc cho những nhà giàu “trước kia…bỏ của ra để giúp việc quân” [21, tr 95].Mặc dù sau này nhà nước chủ trương hạn chế thế lực của tầng lớp địa chủNam Kỳ nhưng nhìn chung không có hiệu quả đáng kể Năm 1836, Kinh lược
sứ Nam Kỳ Trương Đăng Quế đã tâu: “Năm Kỳ chứa chất tệ đã lâu, cườnghào cậy mạnh, bá chiếm, người nghèo không đất cắm dùi…Nay khám đạc lại
…có chỗ trước gọi là một thửa, mà dài rộng, quanh co đi đến nửa ngày đườngmới hết chỗ cày cấy thực” [29, tr 107-108]
Tuy nhiên, xét về số lượng thì ở Nam Bộ loại địa chủ vừa vẫn chiếm tỷ
lệ cao hơn, đặc biệt loại chủ ruộng có 5 – 10 mẫu ruộng chiếm tỷ lệ phổ biến.Sau khi thành thuộc địa của Pháp, quá trình phân hóa diễn ra với cường độmạnh, tình trạng tập trung ruộng đất diễn ra ở trình độ cao dẫn đến sự thu hẹpcủa sở hữu nhỏ Đây là tiền đề thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế hànghóa ở Nam Bộ
Tình hình sở hữu tư nhân ở Bắc Bộ có những đặc điểm khác biệt Qui
mô tư hữu trung bình của Thái Bình khá cao (9 mẫu 1 sào) so với các địaphương khác ở vùng Bắc Bộ, trong đó số chủ sở hữu trên 5 mẫu chiếm tới63.2% nhưng quan trọng là số ruộng của họ chiếm gần hết tổng số ruộng đất
tư hữu (88,9%) Hơn nữa, ruộng đất tập trung chủ yếu vào các lớp chủ sở hữu
có từ 10 mẫu ruộng trở lên (hơn 64%), đặc biệt, đối với lớp chủ sở hữu có
Trang 33trên 50 mẫu ruộng thì tỷ lệ ruộng đất của họ gấp gần 7 lần tỷ lệ phần trăm của
họ so với tổng số chủ [67, tr 29-30]
Bên cạnh đó, cũng trên địa bàn vùng đồng bằng Bắc Bộ, ở một số địaphương khác, sở hữu vừa và nhỏ lại khá phát triển, thí dụ tỉnh Hà Đông Sởhữu trung bình của tỉnh Hà Đông là 3.5.05.2.1.2 và phân bố không đều trongcác lớp sở hữu Loại sở hữu nhỏ (dưới 3 mẫu) chiếm tỷ lệ đông đảo trong sốchủ sở hữu (62,32%) trong lúc đó loại sở hữu được coi là lớn trong tươngquan vùng đồng bằng Bắc Bộ (trên 20 mẫu) chiếm 0,87% Loại sở hữu vừa(từ 3 – 20 mẫu) chiếm 36,8% số chủ nhưng nắm giữ phần lớn ruộng đất(69,97%) [66, tr 26]
Tựu trung, nửa đầu thế kỷ XIX, chế độ ruộng đất ở Việt Nam vẫn đangtrong quá trình phát triển, biến đổi Sở hữu công và sở hữu tư vận động theo
xu hướng bài trừ lẫn nhau mà phần ưu thắng đã thuộc về sở hữu tư Nhưng ởViệt Nam chưa bao giờ hai hình thức này loại bỏ hoàn toàn nhau Sở hữucông dù đã thu hẹp nhưng vẫn tồn tại và trong điều kiện lịch sử nhất địnhđược tái thiết dưới hình thức này hay hình thức khác Bên trong làng xã, cáichung và cái riêng, tập thể và cá nhân, công hữu và tư hữu đan xen lẫn nhau,giằng xé, níu kéo nhau vừa kết hợp, vừa bài trừ tạo nên một thế cân bằngtương đối duy trì sự tồn tại của nó
1.1.3 Chính sách ruộng đất của nhà Nguyễn
Ngay sau khi bình định xong cả nước (1802), nhà Nguyễn đã rất chú ýđến vấn đề ruộng đất Các chính sách ruộng đất của triều đình thể hiện vai tròcủa nhà nước trong chế độ ruộng đất nói chung
1.1.3.1 Tăng cường quyền quản lý ruộng đất thông qua việc đo đạc
và lập địa bạ trong cả nước
Năm 1803, Gia Long bắt đầu cho lập lại địa bạ của các trấn ở Bắc Hà,tức là vùng Đàng Ngoài thuộc quyền cai trị của chúa Trịnh trước đây [21,tr.161] Công việc cơ bản hoàn thành vào năm 1805 Năm 1810, Gia Longquyết định triển khai công việc lập địa bạ các tỉnh từ Quảng Bình trở vào đến
Trang 34nam Trung Bộ [54, tr 120] Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) nghị chuẩn cholập địa bạ ba trấn Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, các địa phương “khôngbiết vì sao” đã có lệnh làm địa bạ từ năm Gia Long thứ 3 (1804) mà “giữachừng lại thôi” [54, tr 123] Riêng Nam Kỳ, đến năm 1836 mới tiến hành đođạc ruộng đất và lập địa bạ [41] Như vậy, tính đến năm 1836, trên phạm vitoàn quốc, trừ những vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh còn nói chung đều có địa
bạ Vì vậy, trong tổng số 18 519 đơn vị địa bạ, hiện đang lưu giữ tại ViệnNghiên cứu Hán – Nôm và Cục Lưu trữ Nhà nước, với số địa bạ có niên đạiGia Long và Minh Mệnh là 17 604 đơn vị, chiếm tỷ lệ 95,06%
Địa bạ là nguồn tư liệu cực kỳ phong phú và có giá trị nghiên cứu trênnhiều lĩnh vực, đặc biệt là về chế độ ruộng đất Tuy nhiên, vì số lượng địa bạquá lớn nên việc khai thác nguồn tư liệu này đến nay mới chỉ là bước đầu.Dẫu vậy, những thành tựu nghiên cứu về địa bạ cũng giúp cho nhận thức vềbức tranh chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX tiến thêm một bước,
và là cơ sở quan trọng để nhìn nhận, đánh giá chính sách ruộng đất của nhànước và lý giải các hiện tượng kinh tế – xã hội thời kỳ này
Việc ban cấp tự điền thực hiện rải rác trong nhiều năm, chủ yếu dướithời Gia Long Đối tượng được cấp tự điền là một số thân vương, tước công,các lăng miếu, chùa chiền Tổng số ruộng ban cấp tự điền suốt cả thời GiaLong và Minh Mệnh chỉ có 14.330 mẫu [100, tr 44], trong khi một thân
3 Ngoài ban cấp tự điền, sử sách còn ghi lại trường hợp ban cấp ruộng đất khác mang tính chất ban thưởng đặc biệt: cấp thưởng cho dân Kinh Bắc 200 mẫu ruộng, dân Thanh Hoa 30 mẫu do công bắt được Nguyễn Quang Toản và Võ Văn Dũng vào năm 1801 [21, 50].
Trang 35vương thời Lê sơ được cấp tới 1790 mẫu ruộng lộc [106, tr 213] Còn đấtdùng để cấp tự điền có thể là quan điền, quan trại hoặc ruộng đất công làng
xã Nếu là loại thứ nhất thì người được ban cấp có quyền sử dụng như ruộng
tư hữu và có thể được miễn hay không được miễn tô thuế tuỳ theo sự ưu đãicủa nhà nước Còn nếu ruộng đất ban cấp là ruộng công làng xã thì ngườiđược cấp chỉ có quyền thu tô thuế
1.1.3.3 Chính sách khai hoang
Do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến thực trạng là đầu thế kỷ XIXmột bộ phận nông dân không có ruộng hoặc không đủ ruộng để cày cấy, bêncạnh đó, một bộ phận không nhỏ ruộng đất lại bị bỏ hoang hóa Chính vì vậy,nhà Nguyễn đã đồng thời áp dụng cả hai chính sách: khai hoang những vùngđất mới và phục hồi những đất bị bỏ hóa
Các vua Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức, đặc biệt là Minh Mệnh rấtchú trọng đến việc khai hoang Ngay sau khi lên ngôi vua, năm 1802, GiaLong đã sai các dinh ở Gia Định chia cấp ruộng hoang cho dân nghèo Hơnnữa, bên cạnh việc cấp ruộng hoang, Gia Long còn cho phép dân nghèo vaythóc giống, đợi đến khi thu hoạch mới phải trả lại cho nhà nước [21, tr 9]
Thời Minh Mệnh khuyến khích khai hoang bằng cách có thưởng, phạtthích đáng đối với quan lại các cấp trong việc tổ chức nhân dân khai pháruộng đất hoang Theo qui định năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), các viên chức
từ xã trưởng, lý trưởng cho đến cai tổng, tri phủ, tri huyện, quan tỉnh, nếu biếtkhuyến khích nhân dân khai khẩn đất hoang, trong 1 năm nếu khai phá được
từ 20 mẫu đã có thưởng, mức độ thưởng càng cao nếu khai hoang được nhiềuruộng đất Nhưng ngược lại, nếu để ruộng đất bỏ hoang, trong một xã thôn,nếu để bỏ hoang từ 1 đến 5 mẫu đã phải chịu hình phạt, và tất nhiên nếu sốlượng ruộng đất bị bỏ hoang càng lớn thì mức phạt càng tăng [29, tr 216-217] Đến năm 1839, Minh Mệnh có qui định lại mức thưởng và phạt So với quiđịnh năm 1836, mức thưởng phạt năm 1839 đều cao hơn Với các qui định vềthưởng phạt trên, Minh Mệnh đã đồng thời áp dụng cả sức ép hành chính lẫnkhuyến khích bằng quyền lợi kinh tế và chính trị để đẩy mạnh
Trang 36công cuộc khẩn hoang Chính vì vậy công việc khai hoang dưới thời MinhMệnh được đẩy mạnh và có hiệu quả.
Sang đầu thời Thiệu Trị, chính sách khuyến khích khai hoang bằngquyền lợi vật chất vẫn tiếp tục được áp dụng Đặc biệt, đối với các tỉnh Nam
Kỳ thì không cứ quan lại mà kể cả nhân dân, hễ cứ mộ được người khai khẩnruộng đất, lập làng xóm thì đều có thưởng
Theo đề nghị của Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương và Phó sứ PhanThanh Giản, năm 1853 Tự Đức cho mở rộng hơn nữa thành phần người chiêu
mộ, bất kể họ là quan lại, nhân dân hay tù phạm, nếu có khả năng mộ đượcdân nghèo (10 người trở lên) cho phép đưa vào Nam Bộ tuỳ chỗ khai hoang,lập ấp và có thưởng Còn đối với dân mộ, nhà nước cũng khuyến khích bằngcách tạm tha không thu tô thuế trong một thời gian nhất định, có thể 3 năm, 6năm hay 10 năm tuỳ theo từng địa phương cụ thể [35, tr 371-373]
Như vậy, chỉ tính trong khoảng thời gian từ 1802 đến 1858, nhàNguyễn đã ban hành 46 quyết định khai hoang [100, tr 50], trong đó khoảng50% số quyết định này là do Minh Mệnh ban hành Địa điểm khai hoang rải
ra trên phạm vi cả nước song vùng đồng bằng Nam Bộ được chú trọng nhất.Lực lượng khai hoang bao gồm binh lính, tội phạm và nhân dân Các phươngthức tổ chức khai hoang bao gồm đồn điền, dinh điền do nhà nước tổ chức vàkhẩn hoang của tư nhân hoặc do nhà nước cấp vốn hoặc tự lo liệu, trong đóloại tư nhân được nhà nước cấp vốn chiếm tỷ lệ lớn nhất [100, tr 53]
Hình thức khai hoang lập đồn điền thực ra đã được Nguyễn Ánh áp
dụng từ khi hoạt động ở vùng Gia Định (1790) với hai hình thức: đồn điền dobinh lính khai khẩn gọi là trại đồn điền và đồn điền do dân khai khẩn gọi làdân đồn điền Nhưng đến 1822 Minh Mệnh quyết định đổi toàn bộ loại đồnđiền thứ hai thành loại thứ nhất và từ đây hình thức dân đồn điền không đượctái lập nữa [24, tr 91]
Ở Nam Bộ, tỉnh nào cũng có đồn điền Còn ở miền bắc và miền trungthì chỉ có một số tỉnh có đồn điền như Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Thừa Thiên,hay 3 xã ven biển Quảng Yên …Lực lượng khai khẩn và canh tác các đồn
Trang 37điền chủ yếu là binh lính và một số tội phạm Ban đầu, họ được nhà nước cấpphát nông cụ và các phương tiện cần thiết Sản phẩm làm ra chủ yếu phải nộpvào kho đồn điền.
Từ năm 1853, khi phép mở đồn điền của Nguyễn Tri Phương được thihành ở Nam Kỳ thì lực lượng làm đồn điền bao gồm cả binh lính, nhân dân và
tù phạm Người lao động trong đồn điền được hưởng một phần sản phẩm làm
ra ngoài phần tô thuế phải nộp cho nhà nước [35, tr 371-373] Người đứng ra
mộ dân đi làm đồn điền thì tuỳ theo số lượng người được chiêu mộ nhiều hay
ít mà có hình thức thưởng tương ứng song không được nhà nước cấp vốn vàcông cụ ban đầu Đây là điểm khác biệt so với hình thức dinh điền mà NguyễnCông Trứ tiến hành ở Kim Sơn, Tiền Hải (năm 1828-1829) Do quyền lợi củangười lập đồn điền được quan tâm nên kết quả khai hoang theo hình thức nàycũng tăng nhanh chóng Chỉ sau một năm đã có 124 ấp mới lập ở vùng GiaĐịnh, Vĩnh Long, An Giang, Định Tường
Đến năm 1855 phương thức khẩn hoang này lại được áp dụng ở KhánhHòa nhưng với mức thưởng còn cao hơn
Hình thức khai hoang thứ hai là dinh điền, được áp dụng chủ yếu ở
vùng duyên hải Bắc Bộ dưới thời Minh Mệnh Dinh điền là hình thức khaihoang có hiệu quả nhất
Năm 1828, Minh Mệnh cho Nguyễn Công Trứ lãnh chức Dinh điền sứ
mộ dân tổ chức khai hoang ở ven biển Thái Bình, Ninh Bình Cuối năm dó,huyện Tiền Hải được thành lập với 2 350 dân đinh và 18 970 mẫu ruộng;ngoài ra còn lập được thêm 2 xã thuộc huyện Nam Trực và 1 tổng thuộchuyện Giao Thuỷ (Nam Định) Tháng 3 năm sau (1829), huyện Kim Sơn cũngđược ra đời với 1 260 người và 14 620 mẫu ruộng [125, tr 42], [130] Nhưvậy, chỉ trong một năm, với phép dinh điền, Nguyễn Công Trứ đã tổ chứckhai hoang, lập được hai huyện Kim Sơn và Tiền Hải với 35 590 mẫu ruộng
và 3 610 dân đinh Sơ dĩ phép dinh điền có hiệu quả như vậy là do nhà nước
đã đáp ứng đúng nhu cầu của đa số dân nghèo, cấp vốn ban đầu (theo đề nghịcủa Nguyễn Công Trứ), tạo điều kiện thuận lợi trong tiêu dùng và mua nông
cụ phục vụ công cuộc khai hoang [125, tr 37] Hơn nữa, ruộng đất sau
Trang 38khi khai khẩn được ở Kim Sơn thì theo lệ "tư điền quân cấp", còn ở Tiền Hảithì 25% là “tư điền thế nghiệp” (mỗi xuất đinh được cấp 2 mẫu ruộng tư điềnthế nghiệp) [70, tr 54], còn lại 75% theo lệ công điền Cách chia ruộng nhưvậy là khá hợp lý đối với người khai hoang, tạo động lực cho công cuộc khẩnhoang phát triển.
Phương thức khai hoang thứ ba là tư nhân tự đứng ra khẩn hoang ruộngđất, gồm hai loại Một loại được nhà nước cấp tiền và đồ dùng cần thiết, đếnkhi thu hoạch mới phải trả lại những thứ đã vay, phần còn lại được hưởng.Hình thức này được áp dụng ở Quảng Trị và Biên Hòa năm 1836 và 1837.Ngoài ra, năm 1838, nhà nước bỏ tiền ra thuê dân ở kinh kỳ mỗi người mỗingày 1 tiền và 1 bát gạo để vỡ hoang những đất còn bỏ không ở kinh đô Saukhi thành ruộng người khai hoang còn được sử dụng cày cấy, 6 năm sau mớiphải nộp tô thuế Đây là một ưu đãi riêng với dân kinh đô Loại thứ hai làngười dân không được cấp vốn, chỉ cần làm đơn xin được khai hoang nơi nàotheo ý muốn, sau 3 năm nhà nước mới đo dạc diện tích và 3 năm sau nữa mớibắt đầu phải nộp tô thuế Quyết định này ra đời năm 1831 Rõ ràng, với hìnhthức khẩn hoang tự do này thường là địa chủ mới có đủ khả năng thực hiệnkhai hoang mà nhà nước cho phép
Ruộng đất khai hoang theo các phương thức kể trên một phần thành sởhữu tư nhân, phần còn lại là sở hữu nhà nước (trong đó có bộ phận do nhànước trực tiếp quản lý, phần còn lại thành ruộng đất công làng xã) Công cuộckhai hoang mở rộng diện tích canh tác diễn ra trong thời gian dài dưới thờiNguyễn nhưng đạt hiệu quả nhất dưới triều vua Minh Mệnh và Tự Đức
Bên cạnh các hình thức khai hoang, nhà nước còn ban hành nhiều biệnpháp nhằm hạn chế tới mức thấp nhất hiện tượng ruộng đất đã được khai khẩnnhưng sau bị bỏ hoang Với ruộng đất của dân xiêu tán thì nhà nước áp dụngbiện pháp khuyến khích họ trở về làng cũ và bảo vệ quyền sở hữu ruộng đấtcủa họ Mãi đến năm 1854 nếu dân lưu tán trước 1802 không chịu trở về quêquán thì ruộng đất của họ mới bị trưng thu [36, tr 30] Như vậy, biện phápnày một mặt thể hiện sự can thiệp của nhà nước đối với sở hữu tư nhân nhưng
Trang 39mặt khác cũng phản ánh chính sách tích cực của nhà Nguyễn đối với nôngnghiệp.
Với ruộng đất tư bị bỏ hoang mà người chủ sở hữu vẫn có mặt tại làngthì nhà nước áp dụng biện pháp mạnh mẽ hơn Lúc đầu nhà nước chỉ khuyênbảo nghiệp chủ cày cấy, song từ năm 1834 trở đi nếu nghiệp chủ nào vẫn bỏhoang ruộng đất thì cho phép dân làng trưng khai khẩn thành ruộng tư
Các chủ trương và biện pháp trên của nhà nước tựu trung đều nhằmmục đích tận dụng tối đa diện tích đất đai canh tác, ngăn chặn các hiện tượng
bỏ hoang ruộng đất
1.1.3.4 Chính sách đối với ruộng đất công làng xã
Nửa đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn tỏ ra nhất quán trong việc duy trì,bảo vệ ruộng đất công làng xã Năm 1803, nhà nước đã ra lệnh cấm làng xãbán đứt hay cầm cố ruộng đất công [54, tr 113-114] Đến năm 1844 triềuđình nhắc lại qui định này
Đồng thời với chủ trương trên, nhà nước còn thì hành nhiều biện phápnhằm tăng cường sở hữu ruộng đất công làng xã bằng cách lấy từ ruộng đất
do nhà nước trực tiếp quản lý, từ kết quả khai hoang và từ ruộng đất tư nhân,trong đó hình thức thứ ba được thực hiện bằng những áp đặt từ trên xuống,điển hình là phép quân điền ở Bình Định năm 1839 [31, tr 149-150]
Ruộng đất nhà nước trực tiếp quản lý chuyển giao cho làng xã bao gồmquan điền, quan trại, đồn điền
Đối với đồn điền, năm 1840, Minh Mệnh đã ban hành qui định đối vớiđồn điền từ Khánh Hòa trở vào nam, “lượng trích những ruộng đã thành điềncho tù phạm quản nhận cày cấy Đến khi thu hoạch, một nửa nộp làm củacông” và đối với những ruộng tù phạm làm không hết thì “cho dân nào cậntiện đấy cày cấy nộp thuế sung làm ruộng công” [32, tr 50-51] Năm 1841,Thiệu Trị ra lệnh cho các sở đồn điền thuộc các tỉnh Sơn Tây, Định Tường,Khánh Hòa và Biên Hòa giao cho xã dân sở tại cày cấy làm ruộng công [33,
tr 265]
Còn đối với quan điền, quan trại thì từ năm 1820 nhà nước cho phépcác loại ruộng này nếu bị bỏ hoang thì cấp trả cho địa phương nhập vào công
Trang 40điền, đem chia cho dân và chịu thuế như ruộng công làng xã Sau đó nhà nướcban hành thêm nhiều qui định khác nữa (năm 1822, 1828 và 1837) mà theo đómột bộ phận rồi dần dần toàn bộ loại ruộng này được chuyển thành ruộng đấtcông làng xã [54, tr 80-83]
Bên cạnh những qui định về việc chuyển một bộ phận ruộng đất do nhànước trực tiếp quản lý thành ruộng công làng xã, nhà Nguyễn còn tăng cườngthêm loại sở hữu này bằng con đường khai hoang Như huyện Tiền Hải saukhi được thành lập (1828) thì 75% ruộng đất là công điền [70, tr 128]; hayruộng đất sau khi khai khẩn được ở huyện Kim Sơn theo lệ "tư điền quâncấp", nhưng thực chất xét về mặt sở hữu thì đây cũng là một loại hình ruộngcông làng xã [97, tr.212]
Nhà nước có thể trích một phần hay toàn bộ ruộng đất do tù phạm haybinh lính khai khẩn được cấp cho xã sở tại để làm công điền [125, tr 44].Năm 1840, Minh Mệnh xuống dụ nêu rõ “Nay cứ quan tỉnh Biên Hòa tâu bày,trước đã phái vát biền binh khai phá ruộng ở Xích Lam thuộc hạt ấy, hiện sốđến 300 mẫu, nên phải chia lợi cho dân …vậy cứ số nguyên trước phát cho tùphạm … còn bao nhiêu chiểu theo các xã thôn cận tiện, sức cho nhận lĩnh càycấy nộp thuế, sung làm ruộng công, chia cấp cho quân dân Lại như các tỉnh
từ Khánh Hòa trở vào nam, tỉnh nào có ruộng mới khai khẩn như thế thì cũngcho theo đây mà làm” [54, tr 152]
Ở Nam Bộ, chế độ công điền công thổ cũng dần dần được áp dụng.Năm 1836, sau khi đo đạc ruộng đất Nam Kỳ, nhà nước qui định cụ thể nhữngruộng đất bị sung làm công điền công thổ, trong đó đáng chú ý là hai trường hợpsau:
những ruộng đất mà địa bạ ghi là do toàn thôn cày cấy
những ruộng đất công tư bỏ hoang
Các biện pháp mở rộng diện tích ruộng đất công làng xã như vừa nêutrên, dù bằng cách này hay cách khác nhưng thực chất vẫn là lấy từ sở hữucông cộng (do nhà nước trực tiếp quản lý hay một bộ phận ruộng mới khaihoang) chứ chưa động đến sở hữu tư nhân Hiện tượng điển hình thể hiện sựcan thiệp sâu sắc của nhà Nguyễn đối với quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất