Chính vì thế, TTĐN đã trở thành một trong những công cụ quan trọng, phổbiến được sử dụng trong quan hệ quốc tế và có ảnh hưởng lớn đến các hoạt độngđối ngoại của các quốc gia trên thế gi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN CHÍ THẢO
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2013
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS PGS TS Nguyễn Thị Mai Hoa
Các số liệu trong luận án là trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận án
Nguyễn Chí Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đến PGS TS Nguyễn Thị Mai Hoa đãtận tình, hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thànhluận án này
Tôi đặc biệt cảm ơn các thầy cô lãnh đạo, giảng viên Khoa Lịch sử, PhòngĐào tạo, các khoa, đơn vị thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại họcQuốc gia Hà Nội, đã tạo điều kiện tốt nhất về giảng dạy, học tập, nghiên cứu cũngnhư hỗ trợ, giúp hoàn thành các thủ tục trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoànthành luận án
Tôi chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, nguyên là lãnh đạo, đồngnghiệp, bạn hữu ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Viện Lịch sử Đảng,Viện Quan hệ quốc tế), Ban Tuyên giáo Trung ương (Vụ Thông tin đối ngoại &Hợp tác quốc tế, Tạp chí Thông tin đối ngoại), Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ươngĐảng, Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Lưutrữ quốc gia III, đã động viên, khuyến khích, trao đổi, góp ý, tạo điều kiện giúp đỡ
về nguồn tài liệu qúy báu để tôi hoàn thành luận án này
Đặc biệt, tôi chân thành cảm ơn sự khích lệ, động viên từ đại gia đình nội ngoại, đã luôn sát cánh, ủng hộ, giúp đỡ và dành cho tôi sự quan tâm nhất trongsuốt quá trình thực hiện luận án!
-Tác giả luận án
Nguyễn Chí Thảo
Trang 5MỤC LỤC
Trang 664646872727983106106
Trang 7106108
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
4.2.5.
hóa phương thức thông tin đối ngoại
Khai thác thế mạnh của các loại hình thông tin trên Internet
trong hoạt động thông tin đối ngoại
4.1.1 Về ưu điểm, thành tựu
Nhận thức ngày càng rõ hơn tầm quan trọng của hoạt động thông
tin đối ngoại
Không ngừng hoàn thiện chủ trương về hoạt động thông tin đối
4.1.1.2.
ngoại
Bảo đảm sự chủ động, thống nhất và hiệu quả trong chỉ đạo hoạt
động thông tin đối ngoại
Phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
4.1.1.4.
trong hoạt động thông tin đối ngoại
4.1.2 Một số hạn chế
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy
4.1.2.1 hoạch, kế hoạch hoạt động thông tin đối ngoại chưa đáp ứng
được yêu cầu
Chậm kiện toàn bộ máy chỉ đạo, điều hành quản lý nhà nước về
thông tin đối ngoại
Phương thức thông tin đối ngoại khai thác chưa được hiệu quả
4.2 Một số kinh nghiệm
Hoạch định chủ trương về thông tin đối ngoại trên cơ sở phục vụ
đường lối, chính sách đối ngoại và bám sát, gắn kết với yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng
Thường xuyên hoàn thiện cơ chế phối hợp chặt chẽ, có chiều sâu
Trang 8114116
116
117121124
124130
134
138
142148
151153
Trang 9NVNONN
Trang 10Chính vì vậy, chiến lược phát triển thông tin là một bộ phận quan trọng trongchiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Thành công hay thất bại củamột tổ chức, quốc gia tuỳ thuộc rất lớn vào khả năng làm chủ, chiếm được lợi thếthông tin Để bảo vệ quyền lợi thiết thực của mình trong các hoạt động chung trênthế giới, các quốc gia hay tổ chức quốc tế đang nỗ lực tìm kiếm những thông tin cógiá trị nhất phục vụ cho mục tiêu hoạt động của mình.
Toàn cầu hóa và cách mạng KH-CN phát triển mạnh mẽ thúc đẩy hình thành
xã hội thông tin và kinh tế tri thức Hòa bình, hợp tác và phát triển trở thành xu thếlớn và mỗi quốc gia muốn phát triển cần phải khai thác được các quan hệ giao lưuquốc tế Thông tin chính là một trong những chiếc cầu nối giao lưu giữa các quốcgia, là phương tiện giúp sự hiểu biết lẫn nhau giữa các cộng đồng, là nguồn lực đểphát triển đất nước
Tuy nhiên, trong quan hệ quốc tế và hội nhập hiện nay, cuộc đấu tranh đểbảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trở nên gaygắt, quyết liệt Các nước công nghiệp phát triển có tiềm lực kinh tế, khoa học, côngnghệ đã và đang thực hiện chính sách bành trướng thông tin, độc quyền thông tintheo kiểu áp đặt, bắt các nước nhỏ hoặc kinh tế yếu hơn trở thành khách hàng tiêuthụ thông tin và lệ thuộc vào nguồn tin của họ Cuộc đấu tranh của các
Trang 11nước đang phát triển về một “trật tự thông tin quốc tế mới” đã trở thành một bộphận của cuộc đấu tranh giành độc lập về kinh tế, chính trị, tiến bộ và công bằng xãhội Chính vì thế, TTĐN đã trở thành một trong những công cụ quan trọng, phổbiến được sử dụng trong quan hệ quốc tế và có ảnh hưởng lớn đến các hoạt độngđối ngoại của các quốc gia trên thế giới.
TTĐN là một bộ phận quan trọng trong công tác đối ngoại và tư tưởng củaĐảng, Nhà nước Trong những thời kỳ cách mạng trước đây, TTĐN đã thể hiện vaitrò quan trọng trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp của cuộc đấu tranh chínhnghĩa của dân tộc Việt Nam, tối đa hóa nội lực, tranh thủ sức mạnh của sự hợp tác
và hỗ trợ quốc tế để giành thắng lợi ngày càng to lớn hơn
Cho đến nay, công cuộc đổi mới đã giành được những thành tựu to lớn, có
ý nghĩa lịch sử Nếu như trong thời gian trước, Việt Nam vẫn còn trong tình trạngkhủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng thì nay hướng tới cơ bản sớm trở thànhmột nước công nghiệp theo hướng hiện đại và đang trên con đường thực hiện mụctiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Hình ảnh của ViệtNam, từ một đất nước lạc hậu, khó khăn với những hậu quả nặng nề của chiếntranh, đã dần dần được thế giới biết đến như một quốc gia năng động, đang vươnlên mạnh mẽ, có chính sách đối ngoại hoà bình, hữu nghị, là bạn, là đối tác tin cậy
và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế Mặc dù còn không ít hạn chếtrong quá trình phát triển, nhưng Việt Nam đã từng bước trở thành một địa chỉ thânthiện, một điểm đến hấp dẫn của du lịch và đầu tư nước ngoài
Thực tiễn công cuộc đổi mới thời gian qua cũng như yêu cầu phát triển củađất nước hiện nay cho thấy, TTĐN có tầm quan trọng đặc biệt Ngay từ những nămđầu tiến hành công cuộc đổi mới, cùng với quyết định chuyển hướng chính sách đốingoại nói chung, Đảng chủ trương từng bước đổi mới, đẩy mạnh hoạt động TTĐNnhằm phục vụ hiệu quả các mục tiêu đối ngoại và phát triển của đất nước
Với ý nghĩa ấy, việc tìm hiểu, nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo hoạt độngTTĐN trong thời gian qua trở nên cần thiết, nhằm khẳng định tầm quan trọng củaTTĐN và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động TTĐN, cũng như từ yêu cầucủa quá trình hội nhập khu vực và quốc tế ngày càng sâu rộng hơn trong những năm
tới đây Trên cơ sở đó, nghiên cứu sinh chọn chủ đề “Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động thông tin đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2013” làm đề tài luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản
Việt Nam
Trang 122 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trình bày quá trình lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động TTĐN từ năm
1986 đến năm 2013; đúc rút một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho hiện tại
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, làm rõ những căn cứ xác định chủ trương và yếu tố tác động đếnquá trình Đảng lãnh đạo hoạt động TTĐN từ năm 1986 đến năm 2013
- Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với hoạt động TTĐN những năm 1986-2013
- Rút ra những nhận xét và kinh nghiệm trên cơ sở thực tiễn và khoa học từ
sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động TTĐN những năm 1986-2013
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạtđộng TTĐN, bao gồm chủ trương và sự chỉ đạo đối với hoạt động TTĐN từ năm
Mốc kết thúc nghiên cứu là năm 2013- năm ra đời Nghị quyết số 22-NQ/TW
ngày 10-4-2013 của Bộ Chính trị, BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Về hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu đẩy mạnh hoạt động TTĐN phục vụ hội nhập quốc tế.
Bên cạnh đó, để có cái nhìn tổng thể, liền mạch và xuyên suốt các vấn đề, sựkiện lịch sử thuộc chủ đề của luận án, luận án mở rộng một cách tương đối phạm vinghiên cứu về thời gian cả về trước và sau mốc bắt đầu và kết thúc nghiên cứu
Phạm vi khoa học
Luận án nghiên cứu và làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng, bao gồm nhữngchủ trương và biện pháp, giải pháp mà Đảng đề ra đối với hoạt động TTĐN trên cácphương diện thuộc về hoặc liên quan đến cơ chế quản lý - tổ chức các hoạt độngTTĐN, lực lượng và phương thức TTĐN, nội dung TTĐN
Phạm vi không gian: Trên địa bàn Việt Nam và những quốc gia có liên quan.
Trang 134 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử, luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủyếu
Luận án cũng sử dụng phương pháp phê phán sử liệu nhằm khai thác độ tincậy, khách quan của tư liệu lịch sử liên quan đến nội dung nghiên cứu
Nhằm phân tích, trình bày rõ hơn quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động TTĐN,luận án sử dụng các phương pháp so sánh, hệ thống hóa để xử lý các số liệu, sự kiệndiễn ra trong phạm vi nghiên cứu
Việc quán triệt phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, đối chiếu,thống kê với mục đích phục dựng tương đối đầy đủ những sự kiện quan trọng, thểhiện quá trình không ngừng đổi mới các hoạt động TTĐN gắn liền với vai trò lãnhđạo của Đảng đối với lĩnh vực này
Cách tiếp cận và diễn giải những kinh nghiệm chủ yếu của luận án được dựatrên việc sử dụng các phương pháp logic - lịch sử, phương pháp so sánh, hệ thốnghóa và trừu tượng hóa
Ngoài ra, một số phương pháp khác như so sánh, đối chiếu, thống kê cũngđược vận dụng phù hợp trong giải quyết những nội dung nghiên cứu cụ thể của luậnán
4.2 Nguồn tư liệu
Luận án được thực hiện trên cơ sở tham khảo, sử dụng, kế thừa và tiếp thucác nguồn tư liệu sau:
- Các văn kiện của Đảng qua các thời kỳ; những bài nói, bài viết của cáclãnh đạo Đảng, Nhà nước, Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Thông tin - Truyềnthông, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là tài liệu gốc trong quátrình thực hiện luận án
- Các tài liệu lưu trữ tại Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Đối ngoại Trungương, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch là những tư liệu quan trọng của luận án
- Những công trình nghiên cứu khoa học như sách, tạp chí trong và ngoài nước
đã xuất bản, là nguồn tư liệu bổ trợ quan trọng trong nghiên cứu đề tài luận án
- Quá trình thực hiện luận án còn tham khảo nhiều số liệu, tài liệu thống kê của Tổng cục Thống kê nhằm làm rõ một số nội dung có liên quan
Trang 145 Đóng góp của luận án
- Hệ thống hóa các văn kiện, văn bản và hoạt động liên quan trực tiếp đếnchủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng về hoạt động TTĐN trong giai đoạn1986-2013
- Nghiên cứu, đánh giá, tổng kết thực tiễn lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam đối với hoạt động TTĐN từ năm 1986 đến năm 2013 dưới góc độ lịch sửĐảng
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được vận dụng vào việc thúc đẩyhoạt động TTĐN phát triển ở thời kỳ hiện tại và sử dụng trong nghiên cứu, giảngdạy những vấn đề liên quan
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án bao gồm 4 chương, 8 tiết:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với hoạt động thông tin
đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2000
Chương 3: Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động thông tin đối ngoại từ
năm 2001 đến năm 2013
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục công cuộc đổi mới toàn diện đấtnước trên mọi lĩnh vực, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thì nhiệm vụ đổimới, tăng cường hoạt động TTĐN nhằm đáp ứng các yêu cầu mới là một đòi hỏicấp thiết Những nghiên cứu về hoạt động TTĐN ở Việt Nam cũng như trên thế giới
đã được quan tâm thúc đẩy và đạt được kết quả nhất định Đã có nhiều công trìnhkhoa học, bài viết nghiên cứu, ấn phẩm và tài liệu dịch thuật về chủ đề này đượcnghiên cứu, xuất bản
Là một bộ phận quan trọng của công tác đối ngoại, do vậy khi nghiên cứu vềquá trình đổi mới TTĐN không thể không nghiên cứu về chủ trương, chính sách đốingoại của Đảng và Nhà nước, cũng như việc phải đặt nó trong bối cảnh lịch sử cụthể và các nhiệm vụ ngoại giao của từng thời kỳ nhất định Mặt khác, một số côngtrình có tính chuyên khảo về ngoại giao nói chung, hay những công trình trực tiếpnghiên cứu về chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước cũng gián tiếp đề cậpđến hoạt động TTĐN ở những mức độ khác nhau
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu tiêu biểu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu chung về hoạt động thông tin đối ngoại Trên thế giới, vấn đề sử dụng thông tin và truyền thông trong hoạt động đối ngoại phục
vụ sự phát triển của đất nước không còn là một vấn đề mới, mà đã đượcnhiều học giả quan tâm nghiên cứu Có thể nói, về chủ đề TTĐN với vai trò là mộtmảng hoạt động của công tác đối ngoại và truyền thông của các nước đã có nhiềucông trình được xuất bản, trong đó có một số đã được dịch ra tiếng Việt
Hans N.Tuch and Marvin Kalb trong công trình Communicating with the World: U S Public Diplomacy Overseas (Truyền thông với thế giới: Ngoại giao nhân dân Mỹ ở bên ngoài), Institute for the Study of Diplomacy, St Martin's Press.
New York, Aug 15, 1990, đề cập đến khái niệm, nguồn gốc và quá trình thực hiệnngoại giao nhân dân của chính phủ Hoa Kỳ, trong đó nhiều hoạt động thuộc về lĩnhvực thông tin đối ngoại Tác giả cho rằng, ngoại giao đã thay đổi cơ bản so với 100năm trước đây do sự phát triển của công nghệ thông tin, truyền thông Qua các hoạtđộng của phòng văn hóa - Cơ quan thông tin Mỹ (USIA - United States InformationAgency) trụ sở tại Washington và cơ quan thông tin Mỹ (USIS - United InformationService) ở nước ngoài, một thế giới mới kết nối công nghệ, báo chí và ngoại giaothành một vòng tròn phụ thuộc lẫn nhau Để thực hiện tốt các mục tiêu đối ngoại
Trang 16của quốc gia, các chính phủ phải biết tận dụng sức mạnh của văn hóa và thông tin
tự do như những phương tiện mềm dẻo, nhanh, mạnh mẽ trong ngoại giao
Cuốn Global Journalism Global Journalism: Survey of International Communication (Báo chí toàn cầu - Khảo sát truyền thông quốc tế), Longman
Publishing Group, April 28th 1995, của John Merill, đã nhận định: truyền thôngtoàn cầu cuối thế kỷ XX nằm trong sự thống trị của các hãng thông tấn, các tậpđoàn báo chí lớn Những tên tuổi như General Electric, Time Warner, Disney Corp.,Time Corp., Sony, Thomson Corp.,… cùng các hãng thông tấn như AP, Reuters,AFP không chỉ cung cấp thông tin, các chương trình truyền thông, giải trí, các dịch
vụ tin tức cho toàn thế giới mà còn góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật chotruyền thông nhằm phục vụ các mục tiêu ngoại giao, thương mại của các cườngquốc
Philipppe Breton và Serge Proulx trong cuốn sách Bùng nổ truyền thông: Sự
ra đời một ý thức hệ mới, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội, 1996, tiếp cận ban đầu từ khái niệm “thông tin” Theo đó, “thông tin” có hai hướng nghĩa: thứ nhất, nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình thái (frome); thứ hai, nói về sự truyền đạt
một ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại, mộtnhằm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt Nó thểhiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kỹ thuật và kiến thức Nội dung của cuốn sách còntrình bày các kỹ thuật truyền thông trong lịch sử, các phương tiện truyền thông và
kỹ thuật điện tử trong truyền thông, quảng cáo, tiêu thụ và các phương tiện truyềnthông, kỹ thuật truyền thông hiện đại trên thế giới và sự bùng nổ thông tin
Trong cuốn Mass Media, Mass Culture (Truyền thông đại chúng, truyền thông văn hóa), Fourth Edition, McGraw-Hill, 1998, James Wilson, Stan Le Roy
Wilson khi nêu ra định nghĩa về truyền thông, giúp hiểu hơn về các vấn đề liênquan Nếu coi truyền thông như một vòng tròn lớn, thì trong vòng tròn lớn đó sẽ cócác vòng tròn nhỏ hơn xen và kết nối với nhau Đó là các “vòng tròn” truyền thôngđại chúng, truyền thông đối ngoại, truyền thông quốc tế… với các phương tiện rất
đa dạng như báo in, báo nói, báo hình, phim ảnh, internet, báo trực tuyến trên mạng
và các phương thức hoạt động như thông tin đối ngoại, thông tin đối nội; truyềnthông quản lý xã hội, truyền thông dân số, truyền thông môi trường, truyền thông
du lịch…
Thussu, D K với công trình International Communication: Continuity and Change (Truyền thông quốc tế: Liên tục và thay đổi), London, Arnold, 2000, cho
Trang 17biết, khái niệm “communication” có gốc Latin là “to share” Bởi vậy, truyền thôngquốc tế hàm nghĩa là chia sẻ tri thức, tư tưởng và niềm tin giữa những người khácnhau trên khắp thế giới; và bởi vậy, nó có thể trở thành một trong các yếu tố đónggóp vào việc giải quyết xung đột ở cấp độ toàn cầu và tăng cường hiểu biết lẫn nhaugiữa các dân tộc Tuy nhiên, hiện nay đa phần các kênh truyền thông quốc tế lạikhông được sử dụng vào những mục tiêu trên mà chủ yếu là tập trung vào thúc đẩylợi ích kinh tế và chính trị của các cường quốc trên thế giới - những người đangnắm giữ và kiểm soát phần lớn các phương tiện truyền thông toàn cầu.
Truyền thông quốc tế (còn gọi là thông tin liên lạc toàn cầu hoặc thông tinliên lạc xuyên quốc gia) được định nghĩa là “truyền thông xuyên biên giới” (thecommunication that occurs across international borders) Các nhu cầu thông tin liênlạc quốc tế là do những tác động ngày càng tăng và ảnh hưởng của toàn cầu hóa Làmột lĩnh vực nghiên cứu, thông tin liên lạc quốc tế là một chi nhánh của nghiên cứutruyền thông, liên quan đến phạm vi của “chính phủ với chính phủ”, “kinh doanh-to-kinh doanh”, và “người-với-người” tương tác ở mức độ toàn cầu Cho đến nay,nội dung của khái niệm này đến nay đã rộng ra rất nhiều, từ chính trị, kinh tế, xãhội, văn hóa và quân sự
Joseph S Nye Jr (2008), trong công trình “Public Diplomacy and Soft Power” (Ngoại giao công chúng và sức mạnh mềm), The ANNALS of the
American Academy of Political and Social Science, 616, pp 94-109, đã đề cập đếnnhững vấn đề cơ bản của ngoại giao công chúng, sức mạnh mềm và mối quan hệgiữa chúng trong quan hệ quốc tế hiện đại
Tác giả cho rằng, thông tin là sức mạnh, và ngày nay loài người càng cónhiều cơ hội tiếp cận được sức mạnh này Những tiến bộ trong công nghệ đã giảmthiểu chi phí sản xuất và lưu hành thông tin Việc thúc đẩy các hình ảnh tích cực củamột quốc gia là việc không mới nhưng các điều kiện triển khai sức mạnh mềmtrong những năm gần đây đã thay đổi rất nhanh chóng Trong quan hệ giữa các quốcgia, các chính quyền cạnh tranh với nhau và với các tổ chức khác để tăng cường sựkhả tín của họ và làm suy yếu sự khả tín của các đối thủ
Liên quan đến thông tin và tuyên truyền ra thế giới, tác giả nhấn mạnh vaitrò của ngoại giao công chúng đối với sức mạnh mềm của mỗi quốc gia; việc sửdụng các hoạt động ngoại giao công chúng phải hết sức khôn khéo, phù hợp, để giatăng sức mạnh mềm và sức mạnh thông minh, chứ không phải biến thành nhữngđiều tuyên truyền đơn thuần, mà như thế sẽ không thuyết phục được người khác
Trang 18Junhao Hong đã có nghiên cứu nhan đề From the World Largest Propaganda Machine to a Multipurposed Global News Agency: Factors in and Implications of Xinhua’s Transformation since 1978 (Từ cỗ máy tuyên truyền lớn nhất thế giới trở thành Hãng Thông tấn toàn cầu đa mục đích: Những yếu tố ảnh hưởng và hệ quả trong sự cải cách của Tân Hoa Xã từ năm 1978), Taylor &
Francis Group publishes, online 4- 8-2011,http://www.tandfonline.com/doi/full/10.1080/10584609.2011.572487
Nghiên cứu này đánh giá những thay đổi theo hướng lớn mạnh và vươn rathế giới của Tân Hoa Xã trong ba thập niên vừa qua dựa trên các tiền đề như chiếntranh lạnh kết thúc, những thay đổi lớn diễn ra ở các hãng thông tấn, các tập đoàntruyền thông lớn trên thế giới và tham vọng muốn trở thành một cường quốc củaTrung Quốc Mô hình và phương thức hoạt động của Tân Hoa Xã gợi ý cho các cơquan báo chí truyền thông phải tích cực đổi mới, vừa là cơ quan ngôn luận củachính quyền, vừa cung cấp thông tin cho công chúng trong nước và trên thế giới,đồng thời làm ra lợi nhuận như một tập đoàn thương mại Kết quả này cũng chothấy rằng một mẫu hình truyền thông mang tính chất “pha trộn” đang được triểnkhai một cách lặng thầm nhưng mạnh mẽ ở Trung Quốc thay cho mô hình báo chí
xã hội chủ nghĩa thuần túy trước đây
Hai tác giả William Hachten và James F.Scotton trong công trình The World News Prism - Challenges of Digital Communication (Lăng kính tin tức thế giới - Những thách thức của truyền thông kỹ thuật số), Wiley-Blackwell Publishing , New
Jersey, USA, 8 edition, October 4-2011, khẳng định rằng: trong thời đại internet và
kỹ thuật số, lần đầu tiên trong lịch sử, tất cả các quốc gia, dù xa xôi và khác biệtcách mấy cũng đều có thể bước chân vào thế giới thông tin hiện đại, bởi sự phụthuộc lẫn nhau của các dân tộc và các quốc gia trên thế giới đang gia tăng hơn baogiờ hết Internet và tiếng Anh trở thành phương tiện truyền thông quan trọng toàncầu Các tác giả cho rằng hệ thống phân phối thông tin trên thế giới giống như mộtlăng kính thuỷ tinh, sự thật xuất phát cũng như ánh sáng trắng ban đầu, nhưng qualăng kính, nó có thể chuyển thành rất nhiều màu sắc khác nhau Đây là bản chất củatin tức báo chí trên thế giới Việc các quốc gia cần tự phát triển hệ thống cung cấpthông tin riêng, tận dụng sức mạnh của internet để cung cấp tin tức cho thế giới làđiều cần thiết
Nhìn chung, các công trình trên đi sâu phân tích những vấn đề chung vềthông tin đối ngoại như vai trò trong mối quan hệ giữa các quốc gia, sự tương tácgiữa các cá nhân, tổ chức với nhau, vị trí của thông tin đối ngoại trong chính sách
Trang 19đối ngoại và các cách thức khác nhau để tiến hành các hoạt động thông tin đối ngoạiđem lại hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, hầu hết ở các nước không có thuật ngữTTĐN; vị trí, vai trò cũng như biểu hiện cụ thể cùng các mảng hoạt động của nóthông qua các khái niệm có liên quan trực tiếp TTĐN là một thuật ngữ cần đượchiểu theo các hàm nghĩa khác nhau và bao trùm hay thể hiện qua các hoạt độngkhác nhau của Chính phủ, tổ chức và cá nhân.
Những ấn phẩm của các học giả trên thế giới đã dày công nghiên cứu vềTTĐN - với tư cách là một thuật ngữ khoa học như đã đề cập ở trên - từ nhiều cáchtiếp cận và phương diện khác nhau Một số cuốn sách, bài báo được in và lưu hành
ở nước ngoài, một số được dịch ra tiếng Việt và lưu hành ở Việt Nam Những tàiliệu này giúp tác giả có được nhận thức phong phú hơn, nhất là tiếp cận dưới gócnhìn của người nước ngoài về TTĐN và các hoạt động có liên quan trực tiếp nhưtruyền thông đại chúng, truyền thông quốc tế, chính sách đối ngoại , tầm quantrọng của thông tin, của tuyên truyền trong quá trình thúc đẩy sự hội nhập, mối liênkết giữa quốc gia, tổ chức và cá nhân cũng như triển khai chính sách đối ngoại củamỗi quốc gia Thông tin, tuyên truyền đối ngoại, truyền thông quốc tế trở thànhyêu cầu khách quan trong sự phát triển của thế giới toàn cầu hóa ngày nay
Ở Việt Nam, TTĐN được triển khai rất sớm và mang tính hệ thống Dù vậy,
TTĐN gắn với và phục vụ mục tiêu đối ngoại trong quá trình hội nhập quốc tế củaViệt Nam được tiến hành chưa lâu và hoạt động TTĐN lại rộng lớn, bao trùm nhiềulĩnh vực, nên các công trình nghiên cứu về vấn đề này trong những giai đoạn trướcnăm 2000 chưa có nhiều
Trong cuốn Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000) của tác giả Nguyễn Lương Bích và cuốn Ngoại giao Đại Việt (Nxb Công an nhân dân Hà Nội, 2000) của tác giả Lưu Văn Lợi đều dẫn chứng
2 sự kiện ngoại giao đầu tiên của Việt Nam với Trung Quốc: sự kiện thứ nhất diễn
ra vào năm 2353 trước Công nguyên với việc sứ bộ ngoại giao đầu tiên của nướcViệt Thường (Văn Lang) đến Trung Quốc và tặng vua Nghiêu một con rùa rất lớn;
sự kiện thứ hai vào năm 1110 trước Công nguyên với việc vua Hùng cử sứ giả sangtặng vua Chu Thành Vương một con chim trĩ trắng
Con rùa hay con chim trĩ trắng là những sản vật quý của Việt Nam Việc tặngcác sản vật này mang thông điệp mong muốn của cha ông trong việc giao lưu, thúcđẩy mối quan hệ hòa hiếu, hữu nghị giữa Việt Nam với Trung Quốc nói riêng và cácnước lân bang nói chung
Trang 20Bài viết Thông tin đối ngoại góp sức tích cực thúc đẩy hội nhập quốc tế, trong Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 28, 7-2006 của tác giả Hồng Vinh đã nêu bật
vai trò của TTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là quahoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp trong tiến trình gia nhập các tổ chứcquốc tế lớn
Hoạt động thông tin đối ngoại góp phần quảng bá hình ảnh phong cảnh, con người Quảng Ninh” của Vũ Hồng Thanh, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 3/2008.
Bài viết này đã phân tích kết quả đạt được của tỉnh Quảng Ninh từ sau khi triển khaiChỉ thị số 11-CT/TW của Ban Bí thư (khóa VII) Tác giả cho biết, Sở Ngoại vụ củatỉnh mới thành lập được 3 năm nhưng những kết quả đạt được trong hoạt độngTTĐN rất quan trọng, tích cực góp phần để các nước trên thế giới, đặc biệt cácnước trong khu vực hiểu về Quảng Ninh hơn làm cho họ yên tâm hơn khi đếnQuảng Ninh đầu tư và du lịch, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địaphương trong thời gian qua
Từ thực tiễn của tỉnh Quảng Ninh, tác giả bài viết kiến nghị cần phải tổ chức
bộ máy quản lý nhà nước về TTĐN, xác định rõ cơ quan chủ trì, việc thành lậpPhòng Thông tin đối ngoại cần quy định rõ về biên chế, nhằm khắc phục tình trạngkiêm nhiệm, làm giảm tính chuyên nghiệp trong hoạt động này
Tiếp tục đổi mới tư duy, cách thức, biện pháp triển khai công tác thông tin đối ngoại, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng của Phạm Gia Khiêm, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số (49) 4/2008 Trong bài viết này, tác giả
đã nêu những thành tựu nổi bật của hoạt động TTĐN sau 15 năm thực hiện Chỉ thị
số 11-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) Trong bối cảnh mới,TTĐN của Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội song thách thức cũng rất lớn, cầnphải bám sát vào bốn trụ cột chính của công tác đối ngoại: (1) chính trị đối ngoại,(2) kinh tế đối ngoại, (3) văn hóa đối ngoại, (4) công tác về người Việt Nam ở nướcngoài; và cho rằng, đó là những trọng tâm cần bám sát để không ngừng đổi mới cả
về nội dung lẫn hình thức hoạt động của hoạt động TTĐN (tr 3-7) Bài viết cũngcũng đi sâu vào các nội dung cụ thể của TTĐN trên những trụ cột chính của côngtác đối ngoại
Tiếp tục đổi mới công tác thông tin đối ngoại, của tác giả Đào Việt Trung, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số (49) 4/2008 Bài viết này tổng kết 15 năm thực hiện
Chỉ thị số 11-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) về TTĐN của
Bộ Ngoại giao Những thành tựu đạt được thể hiện rõ trên các mặt cơ bản:
Trang 21một là, công tác phát ngôn và đấu tranh dư luận; hai là, công tác thông tin, tuyên truyền; ba là, công tác phóng viên nước ngoài; bốn là, TTĐN ở ngoài nước Trên cơ
sở nhận định các hạn chế, tác giả đề xuất một số phương hướng để thúc đẩy hoạtđộng TTĐN, trong đó, đặc biệt cần tăng cường cơ chế phối hợp trong Ban Chỉ đạocông tác TTĐN, giữa các cơ quan, địa phương và xây dựng chiến lược quốc gia vềTTĐN, nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới (tr 12-15)
Cuốn Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến 2020, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2010, do Phạm Bình Minh làm Chủ biên, đã trình bày tư tưởng
Hồ Chí Minh về đối ngoại; đưa ra một số đánh giá và khuyến nghị khi nhìn lại quátrình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam những năm qua, đặc biệt là hình ảnh, vịthế của Việt Nam sau 15 năm là thành viên ASEAN, đề ra một số biện pháp nhằmnâng cao hơn nữa hiệu quả tham gia của Việt Nam tại các tổ chức, diễn đàn đaphương
Trên cơ sở nhìn lại bức tranh toàn cảnh thế giới trong những thập niên qua,các tác giả của cuốn Cục diện thế giới đến 2020 , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2010 do Phạm Bình Minh làm Chủ biên, đã phác họa rõ nét tình hình chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội, an ninh… của thế giới biến động hằng ngày, cục diện thế giớicũng thay đổi không ngừng; đồng thời phân tích và dự báo sự phát triển của khoahọc công nghệ trong cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các quốc gia, về tương quan sứcmạnh toàn cầu, về mối quan hệ giữa các trung tâm quyền lực lớn, về hệ thống thếgiới cũng như tình hình và xu hướng phát triển của khu vực Đông Nam
Á Cục diện thế giới đến năm 2020 như thế nào sẽ tác động mạnh đến quá trình hộinhập vào đời sống quốc tế của Việt Nam và đặt ra nhiều vấn đề quan trọng trongđường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam những năm tiếp theo
Tập thể tác giả do Phạm Minh Sơn làm Chủ biên trong Thông tin đối ngoại Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn , Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội,
2011, đã làm rõ thực trạng hoạt động TTĐN của Việt Nam trong quá trình hội nhậpquốc tế, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động TTĐNcủa Việt Nam hiện nay Nội dung của công trình này tập trung nghiên cứu, phântích, làm rõ hoạt động TTĐN từ năm 1992, sau khi Ban Bí thư Trung ương Đảng ra
Chỉ thị số 11/CT-TW về đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại; chú trọng phân tích, khảo sát những vấn đề trong những năm gần đây, nhất là từ khi Việt
Nam gia nhập WTO
Đối ngoại nhân dân góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế của đất nước, của
Vũ Xuân Hồng, Tạp chí Cộng sản, số 821 (3-2011) Tác giả đã điểm lại hoạt động
Trang 22đối ngoại nhân dân của Việt Nam trong năm 2010, nhấn mạnh rằng, đây là một năm
“sôi động” của đối ngoại nhân dân, Việt Nam có điều kiện đẩy mạnh hơn nữa việctuyên truyền hình ảnh, vai trò và vị thế của mình không chỉ trong khu vực ĐôngNam Á mà cả trên các diễn đàn quốc tế
Trên cơ sở đó, bước sang năm 2011, mặc dù tình hình diễn thế giới diễn biếnphức tạp , để thúc đẩy đối ngoại nhân dân, cần tăng cường nắm bắt thông tin, mởrộng các kênh TTĐN, chú trọng việc tăng cường tính chính trị và hiệu quả thông tincủa các hoạt động đối ngoại; tăng cường tiếp cận và thúc đẩy quan hệ với lực lượngcánh tả và Việt kiều ở Mỹ; đưa các quan hệ đi vào chiều sâu, trên cơ sở phân loại,phân nhóm đối tác, đối tượng, cập nhật thông tin (tr 74-80)
Tổng quan truyền thông quốc tế - Dành cho người làm công tác thông tin đối ngoại, do Lê Thanh Bình làm Chủ biên, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà
Nội, 2012, khẳng định: TTĐN là nội dung cơ bản của hoạt động truyền thông quốc
tế Truyền thông quốc tế có nhiệm vụ cơ bản trong việc thực hiện và triển khaiđường lối đối ngoại về chính trị, phục vụ phát triển kinh tế đối ngoại, phục vụ ngoạigiao kinh tế và ngoại giao văn hóa Công trình này đề cập đến các khái niệm, cơ sở
lý luận và thực tiễn của truyền thông quốc tế, các yêu cầu về phẩm chất nghềnghiệp, đạo đức, văn hóa chính trị của người làm công tác truyền thông quốc tế nóichung và nhà báo quốc tế nói riêng; đông thời giới thiệu sự đa dạng và phong phúcác sản phẩm truyền thông quốc tế và các cơ quan làm nhiệm vụ truyền thông quốc
tế tại Việt Nam; phân tích khả năng tác động trong nước và quốc tế của một số sảnphẩm truyền thông quốc tế tiêu biểu Từ đó, đặt ra yêu cầu cho người làm truyềnthông quốc tế, TTĐN cần có những phương pháp đánh giá hiệu quả, hiệu lực củacông tác truyền thông quốc tế, TTĐN, việc này được dựa trên khá nhiều tiêu chí;cuốn sách còn giới thiệu các kỹ năng xây dựng các sản phẩm truyền thông quốc tếcác biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác truyền thông quốc tế, TTĐN
Tập thể tác giả do Lê Thanh Bình chủ biên, trong cuốn sách Báo chí và thông tin đối ngoại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, cho rằng, trước bối cảnh
toàn cầu hóa, vì mục tiêu phát triển và hội nhập, công tác TTĐN ngày càng trở nênquan trọng trong việc quảng bá, nâng cao vị thế, vai trò của quốc gia trên trườngquốc tế Để thực hiện được nhiệm vụ này, không thể không nói đến vai trò quantrọng của truyền thông và các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là báochí Lực lượng báo chí có tác dụng tăng cường quan hệ hữu nghị giữa Việt
Trang 23Nam với các quốc gia, dân tộc trên thế giới, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phục vụ yêu cầu phát triển thông tin đối ngoại trong tình hình mới, của Phạm Minh Sơn, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số (111),
3/2013 Bài viết đã nêu chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với nhiệm
vụ tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên ngành TTĐN
Trong bài viết này, tác giả cho biết tình hình đào tạo nhân lực phục vụ côngtác thông tin đối ngoại tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền Học viện đưa mônTTĐN vào giảng dạy các chuyên ngành khác trong trường như: Quan hệ quốc tế,Chính trị học, Công tác tư tưởng, Quản lý xã hội, Văn hóa học Bài viết góp phầnchỉ rõ yêu cầu, phẩm chất, tiêu chí của cán bộ TTĐN, đó là: có bản lĩnh, sắc sảo vềchính trị, hiểu biết sâu sắc về quan hệ quốc tế và đối ngoại, nhuần nhuyễn kỹ năngnghiệp vụ ngoại giao và nghiệp vụ báo chí, giỏi giang về ngoại ngữ Đó phải vừa lànhà chính trị, vừa là nhà ngoại giao và vừa là nhà báo (tr 24-27)
Nguyễn Thế Kỷ với bài Thông tin đối ngoại với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc trên Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số 7-2013, đã khái
quát những thông tin cơ bản về biển, đảo của đất nước; vấn đề tranh chấp chủ quyềntrên các đảo và biển Việc thông tin, truyên truyền đối ngoại cần chú ý những đặcđiểm cụ thể liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển đang tranh chấp.Nội dung bài viết còn đề cập một cách cụ thể đến phương thức, đối tượng, địa bàn thực hiện các hoạt động TTĐN, nhằm làm sao để góp phần hiệu quả trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (tr 3-5)
Trong công trình Truyền thông quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2014, tác giả Vũ Thanh Vân tiến hành tổng hợp và khái quát những vấn đề cơ bản
về báo chí và truyền thông, trình bày khái niệm, đặc điểm và các yếu tố thúc đẩytoàn cầu hóa thông tin, đồng thời cung cấp cái nhìn toàn cảnh về hiện trạng và đặcthù của ngành kinh doanh truyền thông trên thế giới hiện nay Ngoài ra, tác giả cũnglàm rõ những thách thức trong việc quản lý cơ quan báo chí - truyền thông toàn cầu
và trình bày những vấn đề cơ bản nhất về tập đoàn truyền thông như: khái niệm,con đường hình thành và các loại hình tập đoàn truyền thông
Ngoại giao và công tác ngoại giao, của tác giả Vũ Dương Huân, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2015 dành trọn một chương (chương VIII) đề cập về “công tácthông tin, báo chí và TTĐN” Công trình cung cấp nhận thức chung về báo chí -TTĐN (khái niệm, nội dung, đối tượng, hình thức thông tin, tuyên truyền đối ngoại,lực lượng, chính sách) Tác giả nhận định rằng, việc thành lập Ban Chỉ
Trang 24đạo TTĐN, tuyên truyền đối ngoại là bước đi quan trọng nhằm thống nhất nâng caohiệu quả TTĐN, song cơ chế hoạt động của Ban Chỉ đạo khá lỏng lẻo, chưa phải là
cơ quan chuyên trách về TTĐN
Liên quan đến tổ chức thực hiện, tác giả cho rằng, sự phối hợp đưa tin trênbáo chí Việt Nam còn chưa tốt Theo ước tính, khoảng 60% thông tin mà các hãngthông tấn nước ngoài cung cấp là khai thác trên báo chí Việt Nam Thông tin khôngnên phổ biến vẫn được đăng tải công khai là hiện tượng thường xuyên xảy ra Điều
đó bị báo chí nước ngoài khai thác trở lại tạo ra phản ứng từ chính giới nước liênquan
Văn hoá đối ngoại Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2015 của hai tác giả Vũ Trọng Lâm và Lê Thanh Bình đã hệthống hóa một số vấn đề lý luận về văn hóa và văn hóa đối ngoại, trình bày kinhnghiệm của một số nước về phát triển văn hóa đối ngoại, từ đó rút ra một số bài họckinh nghiệm đối với Việt Nam; đi sâu phân tích thực tiễn hoạt động văn hóa đốingoại ở Việt Nam trong thời gian qua; đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếuthúc đẩy sự phát triển nhanh hơn, bền vững hơn của văn hóa đối ngoại Việt Namtrên cơ sở vận dụng các quan điểm, đường lối, chính sách văn hóa đối ngoại củaĐảng, Nhà nước và thực tiễn hoạt động đối ngoại ở Việt Nam
Trong nhiều công trình, các tác giả đã phân tích nội dung, cách thức tổ chức,những thuận lợi và khó khăn hoạt động TTĐN trên các lĩnh vực khác nhau
ở Việt Nam trong những năm qua Những công trình này giúp thấy rõ hơn thựctrạng hoạt động TTĐN ở một số cơ quan, địa phương chủ yếu tập trung vào trongthời gian từ sau năm 2006 trở lại đây Hoạt động TTĐN trên nhiều khía cạnh khácnhau về nội dung, hình thức, cách thức tổ chức TTĐN ở các nước và những kinhnghiệm có giá trị mà Việt Nam có thể tham khảo để đẩy mạnh hơn nữa hoạt độngTTĐN của mình
Các bài viết đề cập ở trên cũng cho thấy công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộlàm TTĐN cán bộ làm công tác báo chí truyền thông nói chung, TTĐN nói riêngcũng là một mảng nghiên cứu Các bài viết đã phân tích nội dung, cách thức tổchức, những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động này Những nghiên cứu này sẽ
là cơ sở khoa học để đề ra giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động TTĐN của ViệtNam hiện nay Tuy nhiên, số lượng các bài này không nhiều, chủ yếu là sau khi cóChỉ thị số 26-CT/TW, đặc biệt là từ năm 2010 với việc Thủ tướng Chính phủ banhành Quy chế quản lý Nhà nước về TTĐN
Trang 25Hoạt động TTĐN không phải là chủ đề mới, nhưng nghiên cứu nhằm đổimới hoạt động này trong quá trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của ViệtNam vẫn còn là một hướng nghiên cứu cần phải tiếp tục nghiên cứu, vì trên thực tếquá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam được tiến hành chưa lâu và hoạt độngTTĐN lại rộng lớn, bao trùm nhiều lĩnh vực.
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động thông tin đối ngoại
Bải viết Công tác thông tin đối ngoại góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng X, của Phạm Gia Khiêm, đăng trên Tạp chí Thông tin đối ngoại, số (81) 12/2010, đã đánh giá các mặt của công tác TTĐN trong
5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội của Đảng Trong những bài học kinh nghiệmđược đúc kết, tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến nhân tố then chốt quyết định nhữngthành công trong thời gian qua là sự chỉ đạo, quan tâm sâu sát của Bộ Chính trị, Ban
Bí thư, của các cấp ủy Đảng và chính quyền, sự nỗ lực của Ban Chỉ đạo công tácTTĐN, các bộ, ban ngành, địa phương, các cơ quan báo chí, các đơn vị làm côngtác TTĐN Từ những hạn chế tồn tại, tác giả đề xuất một số giải pháp cần thực hiện,trong đó cần tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo dư luận; tổ chức tập huấn các
các ngành, địa phương về công tác TTĐN (tr 7-10, 14).
Nhìn lại 6 năm thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và những vấn đề đặt ra, của Nguyễn Thanh Sơn, Tạp chí Thông tin đối ngoại, sô (81) 12/2010
Bài viết phân tích tồn tại trong hoạt động TTĐN, đó là chưa đủ mạnh để cóthể vươn tới mọi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, có lúc thiếu nhạy bén,chồng chéo, thiếu chính xác; nhiều thông tin trong nước nhất là những vấn đề nhạycảm đến với cộng đồng thường đi qua các luồng không chính thức hoặc bị các phần
tử xấu xuyên tạc Do đó, đổi mới mạnh mẽ hoạt động TTĐN theo hướng nghiêncứu “biện pháp tích cực” từng bước chiếm lĩnh mặt trận truyền thông tiếng Việt ởngoài nước (tr 15-18, 37)
Cuốn Đường lối, chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, do Phạm Bình Minh làm Chủ biên là tập hợp cáccông trình của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực đối ngoại nhằm luận giải nội hàmcác chủ trương định hướng quan trọng của đường lối, chính sách đối ngoại thời kỳđổi mới, đặc biệt là những phát triển mới trong tư duy về đối ngoại của Đảng quanhững văn kiện của Đại hội XI; ngoài ra các tác giả còn đưa ra những cách tiếp cận
và phương pháp triển khai mới để đạt được các mục tiêu quốc gia về phát triển, an
Trang 26ninh và nâng cao vị thế đất nước; những chủ trương mới của hoạt động đối ngoạinhư xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hội nhập quốc tế… trong bối cảnh hiện nay.
Từ đó các tác giả cũng đề xuất một số phương hướng, nhiệm vụ nhằm nâng caohiệu quả công tác đối ngoại, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XIcủa Đảng
Trong bài viết Nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục của các sản phẩm thông tin đối ngoại, đăng trên Tạp chí Thông tin đối ngoại, số (96) 3/2013, tác giả
Lê Hồng Anh từ nhận định về tình hình thế giới và khu vực trong những năm tới, đểtriển khai đồng bộ, toàn diện các hoạt động TTĐN trong Chiến lược phát triểnTTĐN giai đoạn 2011-2020, bài viết đề xuất một số nhiệm vụ trọng tâm trong công
tác TTĐN: thứ nhất, phải đổi mới nội dung tuyên truyền cho phù hợp với yêu cầu mới; thứ hai, kiện toàn cơ chế, chính sách, văn bản pháp quy về TTĐN; thứ ba, đổi mới hơn nữa phương thức TTĐN; thứ tư, củng cố, kiện toàn đội ngũ những người
Bài viết đã thống kê và phân tích cụ thể về những nguồn lực cơ bản của cộngđổng người Việt Nam ở nước ngoài như tri thức, kinh tế Theo đó, với điều kiệnhiện có của mình, với ảnh hưởng ngày càng tăng của cộng đồng đối với chínhquyền sở tại, kiều bào tham gia vận động hành lang thúc đẩy quan hệ của các nướcvới Việt Nam; tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế đối với Việt Nam tại các diễn đànquốc tế Do đó, mọi ngành, mọi cấp, từ Trung ương đến địa phương, cả ở trong vàngoài nước cần thường xuyên thông tin đến kiều bào về tình hình phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước và của các địa phương (tr 79-82)
Tác giả Nguyễn Phú Trọng trong bài viết Công tác đối ngoại phải lấy lợi ích
cơ bản, lâu dài của quốc gia dân tộc làm nền tảng, đăng trên Tạp chí Cộng sản, số (855) 1/2014, đã đánh giá toàn diện những thành tựu nổi bật mà Việt Nam đạt được
từ sau Đại hội XI của Đảng Trong 8 vấn đề đặt ra đối với công tác đối ngoại, tácgiả cho rằng cần phải tiếp tục đẩy mạnh TTĐN, tăng cường phổ biến và đề caonhững giá trị văn hóa của dân tộc, góp phần nâng cao vai trò, uy tín và hình ảnh củaViệt Nam trên trường quốc tế Xây dựng và quảng bá hình ảnh đất nước
Trang 27và con người Việt Nam, chính sách đối ngoại hóa bình, hữu nghị và hợp tác thânthiện của Việt Nam; tranh thủ được thiện cảm và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tếđối với một nước Việt Nam hòa bình, ổn định và phát triển, tạo điều kiện thuận lợicho việc triển khai các hoạt động đối ngoại (tr 6-12).
Công trình Nền ngoại giao toàn diện Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, của tác giả Phạm Gia Khiêm là tập hợp những bàiviết, phát biểu, trả lời phỏng vấn được chọn lọc về việc triển khai và thực hiệnthắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, cũng như công tácxây dựng ngành ngoại giao
Công trình này được sắp xếp theo từng lĩnh vực hoạt động, tương ứng vớicác trụ cột của nền ngoại giao hiện đại Việt Nam, đó là: ngoại giao chính trị, ngoạigiao kinh tế - nhiệm vụ trọng tâm của ngoại giao thời kỳ hội nhập, ngoại giao vănhóa và công tác TTĐN, công tác về người Việt Nam ở nước ngoài Đề cập đến vấn
đề TTĐN, tác giả cho rằng, đây là một bộ phận rất quan trọng trong hoạt động đốingoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam Trong tình hình đất nước và quốc tế cónhiều thay đổi, TTĐN đứng trước những cơ hội và thách thức mới, đòi hỏi phải cónhững biện pháp nhằm tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động này
1.2 Những kết quả có thể kế thừa và vấn đề luận án tập trung giải quyết
1.2.1 Những kết quả có thể kế thừa
Qua khảo sát những công trình khoa học ở trong nước và ngoài nước, có thểthấy nổi bật lên một số điểm mà luận án có thể kết thừa:
Một là, những công trình nghiên cứu giúp nghiên cứu sinh thấy rõ là TTĐN
với tư cách là một hoạt động thực tiễn đã ra đời từ rất sớm Đó là công cụ quantrọng các quốc gia đều ra sức triển khai nhằm ảnh hưởng tới dư luận quốc tế phục
vụ cho những mục tiêu chung hay cụ thể của chính sách đối ngoại Nhiều tác giảnhấn mạnh về tính thiết yếu, không tách rời của TTĐN trong chính sách đối ngoại
và tầm quan trọng của nó cũng quan trọng như sức mạnh quân sự và kinh tế củamỗi quốc gia
Hai là, qua các những ấn phẩm trên, nghiên cứu sinh nhận thấy rằng, cho
đến nay, trên thế giới, theo những lập luận khác nhau của từng cá nhân hoặc tập thể,
có nhiều cách hiểu về thuật ngữ này Với nhiều nước, TTĐN không tồn tại như mộtthuật ngữ, mà nó thể hiện qua chính sách và các hoạt động liên quan đến ngoại giaonhà nước, văn hóa đối ngoại hoặc đối ngoại công chúng Gắn với mục đích củaTTĐN, “đối ngoại hóa” và “đối tượng hóa” là vấn đề được đặc biệt quan
Trang 28tâm trong các hoạt động này Theo hướng tiếp cận đó, TTĐN được hiểu là “nhữnghoạt động chủ động cung cấp thông tin có định hướng để giới thiệu, phổ biến,quảng bá, về một đối tượng cụ thể (một đất nước, một tổ chức, một nhóm người,hoặc một cá nhân, ) nhằm mục đích gây thiện cảm, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡcủa các nhân tố bên ngoài hoặc để đối phó, phản bác đối với những thông tin sailệch, gây bất lợi” [152, tr 24].
Ba là, những công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với TTĐN
phản ánh vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước đối vớihoạt động TTĐN Đường lối đối ngoại, chủ trương về TTĐN trong thời kỳ đổi mới
và hội nhập quốc tế của Đảng được phân tích tương đối toàn diện, đầy đủ Hội nhậpquốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhànước Việt Nam Nhiều tác giả khẳng định tầm quan trọng của hoạt động TTĐN,đồng thời phân tích những thành tựu và yếu kém trong các đơn vị đang phụ tráchlĩnh vực này Hoạt động TTĐN cho cộng đồng NVNONN ngày càng được tăngcường, đặc biệt là sau khi Bộ Chính trị (khóa IX) ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về vấn đề này
Nhìn chung, khối lượng công trình, bài viết nghiên cứu về hội nhập quốc tế
và TTĐN của các học giả trong và ngoài nước cho đến nay khá phong phú và đadạng, tạo nên một bức tranh toàn cảnh, đa sắc màu với những nhận định dưới nhiềugóc nhìn Đây là nguồn tư liệu quý đối với việc nghiên cứu chuyên sâu về hoạtđộng TTĐN cũng như sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động TTĐN trong tiếntrình đổi mới, hội nhập quốc tế của Việt Nam
1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
TTĐN là lĩnh vực hoạt động tổng hợp cao, với sự phối hợp từ các lực lượngtrong và ngoài nước, trong đó chủ thể quan trọng nhất là một số đơn vị trực tiếp phụtrách và lực lượng báo chí truyền thông Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối vớihoạt động TTĐN còn mới ở Việt Nam, là vấn đề lớn, phức tạp Vì thế, trong thựctiễn, việc triển khai các hoạt động TTĐN không dễ dàng, đòi hỏi sự thống nhất cao
Do đó, trong nội dung của từng chương, tiết, luận án tập trung trình bày những hoạtđộng chung gắn liền với một số cơ quan, đơn vị như đã nêu ở trên
Trên thực tế, hoạt động TTĐN không chỉ dừng ở lại việc truyền và nhận tintức một cách thụ động, mà còn bao hàm cả việc phân tích, đánh giá, phát biểu quanđiểm, định hướng xử lý về các thông tin liên quan đến những sự kiện trong nước vàquốc tế nhằm đạt tới những mục đích cụ thể của đường lối đối nội và đối
Trang 29ngoại Những nội dung liên quan đến TTĐN khó định lượng một cách cụ thể, nhiềugiá trị và lợi ích không thể nhìn thấy ngay được, phải trải qua thời gian mới đánhgiá được mức độ nhất định Cho nên, bên cạnh việc tiếp cận để trình theo lịch sửcác hoạt động TTĐN dưới sự lãnh đạo của Đảng khó giải quyết bao nhiêu, thì việcphân tích, xử lý, tổng hợp hay đối chiếu, so sánh để đúc rút ra những nhận xét haykinh nghiệm sẽ khó bấy nhiêu.
Thứ nhất, trong những năm trước đây, mặc dù theo yêu cầu xây dựng và phát
triển của đất nước, hoạt động TTĐN thường xuyên diễn ra, nhưng do nhiều lý dotrong đó có nhận thức và nguồn lực mà mảng hoạt động này ít được quan tâmnghiên cứu đầy đủ, thấu đáo so với các lĩnh vực khác trong công tác đối ngoại Cáccông trình khoa học nghiên cứu về TTĐN dưới nhiều góc độ, nhiều phương thứctiếp cận khác nhau, nhưng những công trình này chủ yếu tiếp cận trên khía cạnhtruyền thông quốc tế, quan hệ quốc tế hoặc chính trị học Với đề tài này, luận án sẽgiải quyết vấn đề dưới góc độ của chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Thứ hai, trước những biến đổi nhanh chóng và phức tạp, có yếu tố khó lường
của tình hình thế giới, khu vực, nhận thức về tầm quan trọng của TTĐN từng bướcđược nâng lên Một số công trình khoa học cũng đã đề cập đến sự lãnh đạo củaĐảng đối với hoạt động TTĐN nhưng còn chung chung, khái quát, chủ yếu tậptrung trong khoảng thời gian từ sau năm 2008 Khắc phục vấn đề này, luận án sẽnghiên cứu từ thời điểm Đảng quyết định chuyển hướng đổi mới đường lối, chínhsách đối ngoại (năm 1986) cho đến năm 2013 Bên cạnh đó, luận án phân tích vàtrình bày theo hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với hoạt động TTĐNtrong giai đoạn nói trên
Thứ ba, lịch sử nghiên cứu vấn đề vẫn chỉ dừng lại là những suy nghĩ, phân
tích về từng mảng, từng lĩnh vực, từng đối tượng của hoạt động TTĐN; thiếu mộtcông trình nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu, có logic, có hệ thống về quá trình lãnhđạo, chỉ đạo hoạt động TTĐN của Đảng Cộng sản Việt Nam Kế thừa những thànhtựu của các công trình nghiên cứu đi trước, trên cơ sở khai thác nguồn tư liệu mới,luận án tập trung làm rõ những thách thức, yêu cầu của hoạt động TTĐN của ViệtNam qua từng bước đổi mới, hội nhập quốc tế Trên cơ sở nhìn nhận khách quanbối cảnh quốc tế, trong nước, luận án hệ thống hóa, phân tích chủ trương và quátrình chỉ đạo của Đảng về hoạt động TTĐN từ năm 1986 đến năm 2013 Từ đó, tiếnhành nhận xét những kết quả đạt được và đúc kết một số kinh nghiệm chủ yếu từthực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động TTĐN những năm 1986-2013
Trang 30Như vậy, với cách tiếp cận và vấn đề đặt ra tiếp tục giải quyết nêu trên, đề tàikhông trùng lặp với những nghiên cứu trước đó và hoàn toàn có thể khai thác, tiếpthu nhiều nội dung, quan điểm, cách đánh giá từ các công trình đã công bố Kết quảnghiên cứu của luận án góp phần thúc đẩy sự phát triển của hoạt động TTĐN ở ViệtNam trong những giai đoạn về sau.
Trang 31Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2000
2.1 Những căn cứ xác định chủ trương và chủ trương của Đảng
2.1.1 Những căn cứ xác định chủ trương
* Bối cảnh quốc tế, trong nước
Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện trong điều kiện:
tình hình thế giới biến đổi hết sức nhanh chóng, sâu sắc, phức tạp và
có những đảo lộn lớn Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủnghĩa Đông Âu đã làm tan rã trật tự thế giới hai cực hình thành từ sauchiến tranh thế giới lần thứ hai và tồn tại trong gần nửa thế kỷ qua thế giới đang trải qua một thời kỳ chuyển tiếp từ trật tự cũ sang trật tựmới Thời kỳ chuyển tiếp có thể kéo dài, và cuộc đấu tranh nhằm thiếtlập trật tự quốc tế mới diễn ra khá phức tạp, chứa đựng những yếu tốbiến động chưa lường trước [145, tr 3]
Trong thời kỳ “quá độ”, “chuyển tiếp” này, trật tự thế giới vẫn đang bị cácquốc gia phương Tây do Mỹ cầm đầu chi phối, ra sức lợi dụng để chống phá CNXH
và độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội Samuel Huntington trong tác phẩm Sự va chạm giữa các nền văn minh, đã cho rằng:
phương Tây đang có ý đồ hội nhập các nền kinh tế của các xã hộingoài phương Tây vào một hệ thống kinh tế toàn cầu do phương Tâychi phối Thông qua Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và một số tổ chứckinh tế quốc tế khác, phương Tây thúc đẩy các lợi ích kinh tế củamình và áp đặt các chính sách kinh tế mà phương Tây cho là phù hợplên các quốc gia khác [137, tr 248]
và còn “thúc đẩy các giá trị và thể chế chính trị phương Tây bằng cách gây sức épđòi các xã hội ngoài phương Tây tôn trọng nhân quyền theo cách hiểu của phươngTây và chấp nhận dân chủ theo đường lối phương Tây” [137, tr 251]
Trong quá trình đó, các nước lớn vừa “tiếp tục cuộc chạy đua quyền lựchòng áp đặt trật tự của mình cho người khác” [39, tr 4], kiềm chế lẫn nhau, cạnhtranh phức tạp; vừa hợp tác để tìm kiếm lợi ích chung và lợi ích của mỗi nước.Quan hệ giữa các nước lớn cùng với các liên kết trong các thiết chế quốc tế của cácnước lớn khác đang chi phối các quan hệ quốc tế đương đại Do đó, thế giới vẫn
Trang 32còn “chứa đựng những khả năng xung đột không nhỏ”, “không an toàn đối với cácdân tộc và cả thế giới Các dân tộc đang điều chỉnh chiến lược của mình hướngvào việc góp phần bảo vệ hòa bình, củng cố độc lập dân tộc, chống lại âm mưu ápđặt trật tự của các cường quốc” [39, tr 4] Xu hướng đối thoại và thỏa thuận đẩy lùidần sự đối đầu và áp đặt, song chưa loại trừ nguy cơ bùng nổ của các mâu thuẫndân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chưa hạn chế được sức ép và sự can thiệp của các nướclớn [129, tr 4] Phần đông các quốc gia trên thế giới đều mong muốn việc xây dựngmột trật tự thế giới mới phải đảm bảo sự ổn định, bảo đảm hòa bình, hợp tác và pháttriển, và do đó, không thể là một trật tự như nó đang tồn tại.
Toàn cầu hóa trên thế giới diễn ra từ lâu, cho đến những thập niên cuối củathế kỷ XX, mối quan tâm và bàn luận về vấn đề này ngày càng trở nên sâu rộng vàphổ biến, lôi cuốn sự chú ý theo dõi của nhiều đối tượng, từ các học giả nghiên cứu,các chính khách, các doanh nhân đến các tổ chức quốc tế, các lực lượng xã hội Đây
là điều tất yếu và tự nhiên, bởi toàn cầu hóa ngày càng diễn ra như một cơn lốc, một
xu thế lớn trong đời sống quốc tế đương đại, tác động hàng ngày hàng giờ đến mọihoạt động và các mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc Nó chứa đựng những cơhội, đồng thời cũng đặt ra không ít thách thức đối với mọi quốc gia Tác giả cuốn
Thế giới phẳng - Tóm lược Lịch sử thế giới thế kỷ 21 (The World is Fat: a brief
history of the twenty-first century) - Thomas L.Friedman, đã cho rằng: Toàn cầuhóa đã làm cho thế giới co từ cỡ nhỏ xuống cỡ siêu nhỏ và đồng thời san bằng sânchơi toàn cầu! Các quốc gia, dân tộc tham gia vào toàn cầu hóa như một điều tấtnhiên, không được phép chần chừ [146, tr 26]
Trên phương diện văn hóa, với những biến đổi, đặc biệt là về văn hóa tinhthần, làm nảy sinh nhiều phức tạp mới, bao hàm cả những yếu tố thống nhất và yếu
tố mâu thuẫn, trong đó có vô số những sự khác biệt và sự xung đột, rõ nhất là vấn
đề hệ tư tưởng, ý thức dân tộc, truyền thống và bản sắc văn hóa giữa các chủ thể khithực hiện mở cửa hội nhập Nhưng cũng qua đó, các dân tộc, thuộc các khu vựckhác nhau có thể làm phong phú, sống động đời sống văn hóa của dân tộc mình nóiriêng, của nhân loại nói chung Hoạt động của các quốc gia trên trường quốc tế, do
đó đòi hỏi cần phải chú trọng đến văn hóa, xem nó như chất xúc tác kết dính cácquốc gia, các dân tộc lại với nhau
Cũng như quá trình toàn cầu hóa, cuộc cách mạng KH-CN tạo ra nhiều điềukiện để các nước đang phát triển như Việt Nam tận dụng cơ hội để phát triển “rútngắn”, hoàn toàn có thể tạo ra bước phát triển đột phá đối với nhiều quốc gia, dântộc Tiến bộ của KH-CN đã phá vỡ sự ngăn cách giữa các quốc gia, dân tộc,
Trang 33mở rộng tầm nhìn, giúp các dân tộc hiểu và xích lại gần nhau Trong thực tế, khoahọc, công nghệ, vốn đầu tư đều do các nước tư bản phát triển chi phối Tuy nhiên,nếu như việc hoạch định chính sách phát triển không gắn liền và không biết cáchkhai thác, sử dụng tiềm năng của những thành tựu KH-CN trong và ngoài nước thìnguy cơ tụt hậu về kinh tế càng ngày càng rõ ràng hơn và đáng lo lắng hơn Sự tụthậu về kinh tế sẽ đẩy Việt Nam vào tình trạng bất ổn định trên tất cả các lĩnh vực,đời sống của người dân sẽ không được cải thiện và đương nhiên, khi đó càng khôngthể nói và bàn tới vấn đề củng cố vị trí, tăng cường ảnh hưởng của Việt Nam trongkhu vực và trên trường quốc tế.
Trong bối cảnh chung đó, cộng đồng NVNONN có những chuyển biến lớn,với sự phát triển nhanh về số lượng và ngày càng đa dạng về thành phần Luônhướng về cội nguồn là nét nổi bật ở cộng đồng, thể hiện qua tâm tư, tình cảm,những đóng góp về vật chất, những cống hiến trí tuệ dành cho đất nước Số lượng
kiều bào về Việt Nam ngày càng tăng [Xem Phụ lục số 6] Có rất nhiều dự án đầu
tư của NVNONN vào trong nước Lượng kiều hối kiều bào gửi về hàng năm năm
sau cao hơn năm trước [Xem Phụ lục số 5] Dù sống ở xa quê, đa số cộng đồng có
tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, có ý thức giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hóa
và luôn hướng về Tổ quốc Phấn khởi và tin tưởng vào thành công của công cuộcđổi mới, các thế hệ kiều bào ngày càng mong muốn được gắn bó, đóng góp nhiềuhơn với sự nghiệp phát triển của dân tộc
Tuy nhiên, cộng đồng NVNONN cũng đứng trước nhiều khó khăn, tháchthức Ở một số nước, địa vị pháp lý của người Việt Nam chưa vững vàng nên rất dễ
bị tổn thương trước những hành động bài xích, phân biệt đối xử, kỳ thị chủng tộc
Sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của kiềubào Ảnh hưởng của văn hóa bản địa và những yêu cầu của cuộc sống hàng ngày lànhững thách thức không nhỏ đối với việc giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống vàtiếng Việt Tại một số địa bàn, kiều bào còn phải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng,chiến tranh, xung đột Ngoài ra, một số nhỏ lực lượng cực đoan, phản động vẫn đingược lại với lợi ích của cộng đồng và đất nước
Nếu như trước thời điểm năm 1986, Việt Nam vẫn còn đang trong tình trạngkhủng hoảng một cách trầm trọng, thì chỉ sau mấy năm đã thu được những kết quảbước đầu, tạo cơ sở bước sang thời kỳ đẩy tới một bước công nghiệp hóa, hiện đạihóa GS Jonathan H.Haughon nhận định rằng: “Việt Nam đã đạt được nhiều thànhtựu đáng kinh ngạc trong những năm đầu của quá trình chuyển sang
Trang 34một nền kinh tế thị trường Trong vòng có bảy năm Việt Nam đã thực hiện đượcnhững bước chuyển to lớn…” và hoàn toàn “có thể tự hào về những thành quả đãđạt được” [164, tr 35] Dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng, chính trị - xãhội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững Trong giai đoạn đổi mới bắt đầu,
sự ổn định chính trị - xã hội là tiền đề quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế vàhội nhập quốc tế của đất nước Đó là một thắng lợi mà tầm quan trọng của nó khôngkém gì những thành tựu phát triển kinh tế [164, tr 114]
Vươn lên từ khó khăn, khủng hoảng, với những thành tựu đạt trong pháttriển kinh tế, tình hình chính trị - xã hội ổn định tạo cho Việt Nam một hình ảnh vềmột quốc gia đang đổi mới, hữu nghị và mến khách Nhiều nước xóa bỏ cấm vậnphi lý và thiết lập, thúc đây quan hệ ngoại giao với Việt Nam Từ khép kín, ViệtNam mở rộng chào đón tất cả tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đến du lịch và đầu tưvào sản xuất kinh doanh Vào năm 2000, số lượng khách quốc tế vào Việt Nam đã
vượt trên 2,1 triệu khách [Xem Phụ lục số 9] Nhiều cá nhân, tổ chức quốc tế nhận
thấy “chính sách đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam xuất phát từ thực tế ViệtNam và được tiến hành từng bước phù hợp với hoàn cảnh và trình độ của bản thânmình, không chịu bất cứ sức một sức ép nào từ bên ngoài và nhất là không ảo tưởngvào một mô hình nào sẵn có” [164, tr 112] “Chính sách đổi mới đã mang lại rấtnhiều lợi ích” [164, tr 190]
Nhờ đổi mới mà nền kinh tế vốn khủng hoảng của Việt Nam đã được khôiphục, sự ổn định kinh tế vĩ mô được tái lập và duy trì một cách vững chắc trong khi
đa số các nền kinh tế chuyển đổi khác lâm vào tình trạng suy thoái và bất ổn địnhkéo dài Việt Nam đã thay đổi rất nhiều sau gần 20 năm đổi mới với thành tích tăngtrưởng cao và rất nhiều người dân đã thoát cảnh đói nghèo Điều này giúp cho ViệtNam ngày càng nhận được sự nể trọng và có ảnh hưởng ngày càng lớn hơn trongcộng đồng quốc tế [66]
Những biến chuyển của bối cảnh quốc tế, trong nước tác động đến hoạt độngTTĐN theo những chiều hướng:
Một là, do trật tự thế giới đến cuối thế kỷ XX vẫn trong quá trình thiết lập,
và vẫn do Mỹ và các nước công nghiệp phát triển khống chế, “cuộc chơi” vẫn chưahoàn toàn công bằng Một số quốc gia mượn danh nghĩa toàn cầu hóa, nhân danhhợp tác, chia sẻ lợi ích để áp đặt, cưỡng bức hình ảnh, mô hình của quốc gia mìnhđối với các quốc gia khác Cho nên, quá trình thực thi đường lối đối ngoại của ViệtNam không hề dễ dàng Tuy nhiên, các quốc gia dù “nhỏ bé” đến
Trang 35đâu đều có tiếng nói riêng của bản thân mình và thực hiện chính sách ngoại giao đaphương hóa, đa dạng hóa theo xu thế chung của thế giới - xu thế hòa bình, hữunghị, hợp tác và phát triển Điều này càng đòi hỏi hoạt động TTĐN phải được tăngcường hơn nữa để cộng đồng thế giới thấy và hiểu rõ hơn về một Việt Nam đangđổi mới, phát triển và quá trình hội nhập quốc tế đồng nghĩa với những đóng góp cótinh thần trách nhiệm trong công việc chung của khu vực và thế giới, hướng đếnhợp tác và phát triển.
Hai là, quá trình toàn cầu hóa hiện nay như nhiều người nói chẳng qua là
quá trình chủ nghĩa tư bản hóa toàn cầu hay bi quan hơn, cũng chỉ là quá trình “Mỹhóa” thế giới, nhưng nhìn nhận thực chất, toàn cầu hóa chính là sự vận động mangtính quy luật của lịch sử xã hội, mang tính khách quan, sự phát triển của KH-CN làmột nấc thang mới trong quá trình phát triển của sức sản xuất của con người Xuấtphát từ quan điểm đó, cần thiết phải ra sức khai thác những điểm thuận lợi mà quátrình toàn cầu hóa và sự phát triển của KH-CN đem lại, dám vượt qua thách thức đểđón lấy, tạo ra những cơ hội mới cho sự phát triển của đất nước Toàn cầu hóa làquá trình cạnh tranh hết sức gay gắt, quyết liệt, không phải ai tham gia cũng đượclợi như nhau mặc dù nó dựa trên “những luật chơi công bằng” Phần lớn thành tựuKH-CN vẫn tập trung chủ yếu ở các nước công nghiệp phát triển Chính vì thế, hoạtđộng TTĐN hiệu quả hay không phản ánh qua cách thức kết hợp giữa sức mạnh dântộc với sức mạnh thời đại Hoạt động TTĐN từng bước đẩy mạnh để các nước, các
tổ chức quốc tế, các tập đoàn xuyên quốc gia biết rõ và tin tưởng vào Việt Nam một đất nước đổi mới, năng động và phát triển, có trách nhiệm với cộng đồng quốc
-tế, từ đó thu hút các nguồn lực đến du lịch, hợp tác đầu tư, kinh doanh vào thịtrường trong nước
Ba là, trong phạm vi trong nước cũng như trên bình diện quốc tế đặt ra vấn
đề cần phải ra sức tập hợp lực lượng, mà trước hết là xây dựng khối đại đoàn kếttoàn dân tộc thành một thể thống nhất vì mục tiêu chung của cả dân tộc là vì một
nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Với ý
nghĩa đó, hoạt động TTĐN cho cộng đồng NVNONN cần được chú trọng, phải xem
là một trong những nội dung quan trọng trong thực tiễn Nếu thực hiện tốt vấn đềnày sẽ góp phần đạt được mục tiêu nói trên
* Hoạt động thông tin đối ngoại trước năm 1986
Sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, ngày 15-9-1945, Tuyên ngôn Độc lập được phát đi trên làn sóng của đài phát sóng Bạch Mai (Hà Nội)
Trang 36bằng hai thứ tiếng nước ngoài là tiếng Anh và tiếng Pháp Vì vậy, ngày 15-9-1945được coi là ngày ra đời của TTĐN Việt Nam.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, hoạt động TTĐN từngbước triển khai nhằm làm cho nhân dân yêu chuộng hòa bình, tự do ở các nước hiểu
rõ hơn mục đích chính nghĩa cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam; qua đó, tranhthủ sự đồng tình, ủng hộ tối đa cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ViệtNam Ngoài ra, từ sau năm 1954, các hoạt động TTĐN còn phản ánh những chínhsách đoàn kết, giữ gìn hòa bình, ổn định đời sống của nhân dân của Đảng và Nhànước Việt Nam Thông qua nhiều kênh khác nhau, TTĐN còn tiến hành giới thiệumọi mặt thành tích của nhân dân Việt Nam và đường lối ngoại giao hòa bình củaNhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra nước ngoài; phản ánh tình hình thời sựthế giới, góp phần giáo dục tinh thần quốc tế vô sản cho nhân dân và cho sự nghiệpcủng cố phe XHCN, đấu tranh cho hòa bình, dân chủ và độc lập dân tộc
Từ sau năm 1975, nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập đã có một vịthế mới trên trường quốc tế Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức củaLiên hợp quốc ngày 20-9-1977 và nhiều tổ chức quốc tế khác, yêu cầu mở rộngquan hệ ngoại giao, hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với các nước trên thế giới,
đã đòi hỏi và tạo điều kiện cho TTĐN Việt Nam bước vào một thời kỳ phát triểnmới Tuy nhiên, các lực lượng chống đối chế độ tìm nhiều cách tuyên truyền gâyhoang mang, hòng làm lung lay niềm tin của nhân dân Việt Nam vào con đườngtiến lên CNXH Lúc này, TTĐN Việt Nam đứng trước nhiều thuận lợi nhưng cũngđối mặt với rất nhiều thách thức mới
Sau chiến thắng hào hùng năm 1975, hình ảnh Việt Nam từ sự khâm phụccủa cộng đồng quốc tế dần chuyển sang là một đất nước bị sa lầy trong cuộc chiếntranh hao người tốn của tại Campuchia, kinh tế bị bao vây cấm vận, đời sống nhândân xuống đến tận cùng khó khăn, nhiều người đã bỏ đất nước để vượt biên ra nướcngoài
Trước tình hình khó khăn, Đảng và Nhà nước xác định nhiệm vụ của côngtác đối ngoại là tranh thủ sự giúp đỡ và hợp tác quốc tế trên lĩnh vực kinh tế, khoahọc - kỹ thuật, viện trợ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, nêu cao danhnghĩa việc Việt Nam giúp Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, tích cực giải quyếtvấn đề thuyền nhân, phá vỡ thế bao vây, cấm vận của phương Tây và Trung Quốc.Mặc dù, hoạt động TTĐN vẫn được tiến hành thường xuyên nhưng thiếu sự
Trang 37định hướng và đường lối, thiếu sự chỉ đạo thống nhất, không kịp thời, chưa xác địnhchủ đề trọng tâm Về chủ quan, hoạt động TTĐN còn mang nặng “tư duy của thời
kỳ chiến tranh lạnh”, quá chú trọng đến vấn đề ý thức hệ tư tưởng TTĐN giai đoạnnày là thông tin một chiều, tô hồng thực trạng xã hội TTĐN chỉ hướng về các nướcXHCN, đồng thời thể hiện ranh giới bạn - thù rõ rệt với các nước không cùng chungquan điểm chính trị Thông tin không phong phú, nặng về tuyên truyền chính trị,tuyên truyền lập trường kiên định cứng rắn về con đường đi lên CNXH cũng nhưnhững ưu việt nổi bật của chế độ XHCN ở Việt Nam Thông tin chính trị chiếmdung lượng lớn, nổi bật nhất là những bài viết của các lãnh đạo Đảng và Nhà nướcmang tính định hướng cao về con đường đi lên CNXH
Báo chí đối ngoại giai đoạn này chỉ có 29 tờ báo và tạp chí, kể cả 8 thứ tiếngkhác nhau của báo ảnh Việt Nam (Trung, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Khơme,Espe’ranto, Nga, Lào), so với báo chí đối ngoại thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứunước, đã giảm 8 tờ [13, tr 272-276] Qua tìm hiểu 24 số báo trong 2 năm 1980-
1981 của tờ Vietnam Courier, những mảng thông tin chính trị chiếm từ 60-65% diện
tích các trang báo Do bối cảnh chính trị quốc tế lúc đó, mảng thông tin về đườnglối, chính sách đối ngoại của Việt Nam chủ yếu tập trung vào Trung Quốc vàCampuchia; còn lại là liên quan đến quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khốiXHCN, đặc biệt là với Liên Xô, Cuba, các nước không liên kết, nhất là Ấn Độ
Trước tình hình đó, hoạt động TTĐN được tiến hành, triển khai trong điềukiện phân tán, thiếu kinh phí, không tranh thủ được sự giúp đỡ của quốc tế nhưtrước Về khách quan, các thế lực thù địch, đặc biệt là Mỹ và các nước phương Tâytrong giai đoạn này sử dụng chiêu thức thổi phồng, bóp méo những vấn đề khókhăn như khủng hoảng kinh tế - xã hội, vấn đề thuyền nhân, vấn đề quân đội ViệtNam ở Campuchia, từ đó làm xấu hình ảnh của Việt Nam trong dư luận thế giới,tăng cường bao vây, cô lập Việt Nam trong quan hệ đối ngoại
Khác với những giai đoạn trước, hoạt động TTĐN đã chú ý nhiều hơn đếnviệc thông tin về tình hình kinh tế, xã hội của Việt Nam Tuy nhiên do “mắc bệnh”thông tin một chiều nên TTĐN Việt Nam giai đoạn 1975-1985 chưa phản ánh đúngmức thực tế những khó khăn mà Việt Nam gặp phải Phần lớn các bài viết đều đứngtrên góc độ ngợi ca các thành tựu mà Việt Nam đạt được, ngợi ca sự ưu việt củaCNXH Vì thông tin không toàn diện, không phản ánh đúng thực trạng cuộc sốngnên sức thuyết phục không cao, không hấp dẫn Hầu như không có các bài viết phảnánh thực trạng đời sống xã hội, khắc họa hình ảnh con người Việt
Trang 38Nam trong đời thường mà chủ yếu phản ánh hoạt động trong các xí nghiệp, nhàmáy, trường học… với thành tích của tập thể là chính Bên cạnh đó, thông tin vềvăn hóa Việt Nam dần xuất hiện nhưng không nhiều Nhìn chung, hoạt động TTĐNgiai đoạn này ngoài luồng dư luận thuận của báo chí các nước XHCN, dư luận quốc
tế về Việt Nam nhìn chung rất tiêu cực
2.1.2 Chủ trương của Đảng
Trước yêu cầu bức bách của cuộc sống, Đại hội VI của Đảng (12-1986) được
tổ chức, đặt nền tảng cho quá trình đổi mới toàn diện đất nước trên cả hai bình diện
lý luận và thực tiễn Tư duy đối ngoại được đổi mới thông qua quá trình xây dựngnhận thức mới về thời đại, về thế giới, xác định mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia
và nghĩa vụ quốc tế cũng như mô hình tập hợp lực lượng phù hợp với bối cảnh quốc
tế Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật về những nguy cơ đe dọa đất nước, Đại hộixác định mục tiêu hàng đầu của công tác đối ngoại là hòa bình và phát triển; nhấnmạnh sự cần thiết phải đổi mới phương cách tập hợp lực lượng Đại hội chủ trương
“Mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình Trêntinh thần bình đẳng, bảo đảm độc lập, chủ quyền và tôn trọng lẫn nhau” [71, tr.225]
Mục tiêu của công tác đối ngoại là:
“giữ gìn an ninh chính trị, làm thất bại cuộc chiến tranh phá hoạinhiều mặt của địch… tranh thủ những điều kiện thuận lợi mới về hợptác kinh tế và khoa học, kỹ thuật, tham gia ngày càng rộng rãi việcphân công và hợp tác trong Hội đồng Tương trợ kinh tế; đồng thờitranh thủ mở rộng quan hệ với các nước lớn khác” [71, tr 99]
Điều này thể hiện nhận thức mới của Đảng về thế giới và khu vực: trước đónhìn thế giới dưới góc độ một vũ đài đấu tranh Nghị quyết số 32-NQ/TW của BộChính trị (7-1986) ghi nhận xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại, đấu tranh trongcùng tồn tại hòa bình trong quan hệ quốc tế Sau Đại hội VI, với Hội nghị lần thứ baBCH Trung ương Đảng (khóa VII), thế giới được nhìn nhận như môi trường cùngtồn tại và phát triển
Với những nội dung trên, Đại hội VI mở đầu quá trình đổi mới chiến lược vàchính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, định hướng đúng đắn chocác hoạt động TTĐN trong các giai đoạn về sau
Sau Đại hội VI, tình hình thế giới biến động nhanh và phức tạp Cuộc khủnghoảng ở các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô ác động xấu đến công cuộc đổi mới
Trang 39của Việt Nam Ở trong nước, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội lên tới đỉnh điểm,đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra không thể ngay lập tức đi vào cuộc sống, đờisống nhân dân cực kỳ khó khăn, lạm phát vẫn ở mức ba con số, đạo đức xã hội bịsuy giảm, tệ nạn xã hội tăng nhanh, trật tự an ninh lỏng lẻo, kỷ cương pháp luật bị
vi phạm… Lợi dụng những khó khăn về kinh tế - xã hội, các thế lực thù địch vànhiều phần tử bất mãn ở trong nước đã tăng cường hoạt động chống phá cách mạng,nhằm cản trở và làm chệch hướng XHCN của công cuộc đổi mới
Về mặt đối ngoại, Việt Nam cũng gặp không ít khó khăn Mỹ tiếp tục xiếtchặt chính sách cấm vận và gây sức ép buộc các nước khác cô lập Việt Nam; đầu tưmột khối lượng lớn những phương tiện thông tin đại chúng và hoạt động tuyêntruyền để chống phá Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế; nuôi dưỡng các tổ chứcphản động lưu vong người Việt ở nước ngoài như Hoàng Cơ Minh ở California(Mỹ) trở về Việt Nam gây bạo loạn; lợi dụng “vấn đề Campuchia” để chống phácách mạng Việt Nam… Bên cạnh đó, các sự kiện do Trung Quốc gây ra liên quanđến biên giới phía Bắc, quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa làm cho quan hệ Việt -Trung thêm căng thẳng
Để công cuộc đổi mới tiến hành thuận lợi, nhu cầu tạo ra một môi trườngquốc tế thuận lợi, phá vỡ thế bị bao vây, cô lập trên trường quốc tế, làm thất bại âmmưu chống phá của các thế lực thù địch, góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh
vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới trở thành nhucầu bức thiết
Tháng 5-1988, Bộ Chính trị (khóa VI) ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW
Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới Sau khi phân tích diễn
biến tình hình thế giới và khu vực, Bộ Chính trị chỉ rõ thách thức mà Việt Nam sẽphải gặp phải khi thua kém về mọi mặt so với nhiều nước trên thế giới nếu nhưkhông tranh thủ cơ hội để giữ vững hòa bình, phát triển kinh tế:
Yếu kém về kinh tế, bị bao vây về kinh tế và cô lập về chính trị sẽthành nguy cơ lớn đối với an ninh và độc lập của đất nước, sẽ ảnhhưởng xấu đến quan hệ giữa ta với Lào, Campuchia, với Liên Xô vàcác nước xã hội chủ nghĩa khác, đến vị trí và vai trò của nước ta, củachủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Á [72, tr 3]
Đây là vấn đề thể hiện rõ vai trò quan trọng của công tác đối ngoại nóichung, TTĐN nói riêng trong việc góp phần phá vây và nâng cao thực lực của nềnkinh tế, hóa giải và mở rộng về chính trị trên trường quốc tế Từ đó, Bộ Chính trị
Trang 40chủ trương vừa nâng cao quan hệ hợp tác với Liên Xô, Lào, Campuchia và cácnước XHCN khác, vừa ra sức đa dạng hóa quan hệ, tăng cường quan hệ với cácnước khác, chú trọng quan hệ với Ấn Độ, Inđônêxia, các nước Đông Nam Á, cácnước Đông Á - Thái Bình Dương, các nước công nghiệp mới; từng bước giảm quân
số và giảm chi phí quốc phòng tới mức tối thiểu cần thiết nhằm biểu thị quyết tâmgiữ vững hòa bình, phát triển kinh tế Trong quan hệ quốc tế, phải “thêm bạn, bớtthù”, ra sức tranh thủ các nước anh em bầu bạn và dư luận rộng rãi trên thế giới,phân hóa hàng ngũ đối phương, làm thất bại âm mưu bao vây, cô lập Việt Nam vềkinh tế, chính trị, kiên quyết và chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đốiđầu sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình [72, tr 5]
Các quan điểm đối ngoại trên đây không chỉ thể hiện bước chuyển biến có
ý nghĩa chiến lược trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, mà còn bổ sung cơ sở cho việc đổi mới hoạt động TTĐN trong tình hình mới
Trong thực tiễn, Đảng và Nhà nước tiếp tục giải quyết những vấn đề tồnđọng về Campuchia sau khi Việt Nam rút hết quân tình nguyện, xúc tiến quá trìnhbình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, khai thông đối thoại Việt - Mỹ… Kết quả
là có thêm sự đồng thuận bên trong và làm giảm bớt áp lực chống đối từ bên ngoài.Những thành tựu đối ngoại thời kỳ này đã “tạo môi trường quốc tế thuận lợi hơncho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy lùi một bước âm mưu baovây, cô lập đối với nước ta, tăng thêm bầu bạn, nâng cao uy tín của nước ta trêntrường quốc tế, mở rộng quan hệ với các nước trong cộng đồng quốc tế” [73, tr 40-41], tạo tiền đề cho các bước phát triển tiếp theo
Đại hội VII của Đảng (6-1991) đề ra chủ trương hợp tác bình đẳng và cùng
có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên
cơ sở nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình Điều này hoàn toàn thích ứng những diễnbiến phức tạp và thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ củalực lượng sản xuất và xu hướng quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới Đại hội yêucầu:
Phát triển sự nghiệp thông tin, báo chí xuất bản theo hướng nâng caochất lượng, đáp ứng nhu cầu thông tin và nâng cao kiến thức mọi mặtcho nhân dân… Coi trọng công tác tuyên truyền đối ngoại Quản lýchặt chẽ công tác xuất bản, thông tin, báo chí, phim ảnh Sắp xếp lại
tổ chức và cải tiến công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt độngvăn hóa, nghệ thuật, thông tin, báo chí, xuất bản [73, tr 85]