Hiện nay, một hệ thống ĐBCL GDĐH tương đối hoàn chỉnh đang được hìnhthành tại Việt Nam, với cơ quan quản lý nhà nước về công tác ĐBCL giáo dục cấpquốc gia là Cục Khảo thí và Kiểm định ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
TRẦN ANH VŨ
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG BÊN TRONG Ở MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP VIỆT NAM DỰA THEO TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
TRẦN ANH VŨ
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO
CHẤT LƯỢNG BÊN TRONG Ở MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP VIỆT NAM DỰA THEO TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Hoàng Thị Xuân Hoa 2.
TS Nguyễn Thị Thu Hương
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, Ban Giám hiệu Trường Đại học Hà Tĩnh
đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận án.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Thị Xuân Hoa và
TS Nguyễn Thị Thu Hương - những người hướng dẫn khoa học, đã hướng dẫn tác giả tận tình trong suốt quá trình thực hiện luận án.
Tác giả xin chân thành cảm ơn và biết ơn sâu sắc PGS.TS Lê Đức Ngọc và các thầy giáo, cô giáo đã hướng dẫn, hỗ trợ, tư vấn, cung cấp tài liệu học tập và nghiên cứu mang lại cho tác giả tri thức quý báu, thiết thực phục
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp về
sự khích lệ, ủng hộ nhiệt tình, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong việc hoàn thành luận án.
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các thông tin, số liệu trong luận án có nguồn gốc rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Trần Anh Vũ
ii
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục 1
Danh mục các chữ viết tắt 5
Danh mục các bảng 6
Danh mục các hình vẽ 7
Danh mục các hộp 9
MỞ ĐẦU 10
Chương 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 17
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 17
1.1.1 Các nghiên cứu về đảm bảo chất lượng 17
1.1.2 Các nghiên cứu về hoạt động đảm bảo chất lượng bên trong 24
1.2 Cơ sở lý thuyết 39
1.2.1 Tiếp cận lý thuyết hệ thống 39
1.2.2 Tiếp cận lý thuyết tổ chức 41
1.2.3 Chất lượng 42
1.2.4 Chất lượng giáo dục 43
1.2.5 Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học 44
1.2.6 Đảm bảo chất lượng theo AUN-QA 45
1.2.7 Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong trường đại học 60
1.2.8 Đánh giá chất lượng trong giáo dục đại học 61
1.3 Khung lý thuyết nghiên cứu 63
1.4 Tiểu kết Chương 1 65
Chương 2 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 67
2.1 Quy trình nghiên cứu 67
2.2 Thao tác hóa khái niệm 67
2.3 Xây dựng công cụ khảo sát 68
Trang 62.3.1 Xây dựng bộ công cụ 68
2.3.2 Thử nghiệm bộ công cụ 69
2.3.3 Hoàn chỉnh bộ công cụ 70
2.3.4 Thuận lợi và khó khăn trong quá trình triển khai xây dựng bộ công cụ khảo sát 71
2.4 Địa bàn nghiên cứu 71
2.5 Chọn mẫu nghiên cứu 72
2.5.1 Chọn mẫu cho nghiên cứu định lượng 72
2.5.2 Chọn mẫu cho nghiên cứu định tính 73
2.5.3 Giới thiệu về các trường trong mẫu chọn 73
2.6 Phương pháp thu thập thông tin 80
2.7 Phương pháp phân tích, xử lý thông tin 81
2.8 Tiểu kết Chương 2 82
Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG BÊN TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC DỰA THEO TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CỦA AUN-QA 84 3.1 Thông tin chung về các hoạt động đảm bảo chất lượng đang triển khai 84 3.2 Thực trạng chất lượng các hoạt động đảm bảo chất lượng bên trong nhà trường dựa theo tiêu chí đánh giá chất lượng của AUN-QA 88
3.2.1 Hoạt động xây dựng, triển khai chính sách đảm bảo chất lượng; tầm nhìn, sứ mạng và văn hóa; các mạng lưới và quan hệ đối ngoại; hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong 88
3.2.2 Hoạt động xây dựng, triển khai hệ thống giám sát; quản trị; lãnh đạo và quản lý 90
3.2.3 Hoạt động rà soát định kỳ các hoạt động cốt lõi 93
3.2.4 Hoạt động triển khai quy trình đảm bảo chất lượng việc đánh giá người học 95
3.2.5 Hoạt động triển khai quy trình đảm bảo chất lượng cán bộ, viên chức 97
2
Trang 73.2.6 Hoạt động triển khai quy trình đảm bảo chất lượng cơ sở vật chất,
trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập 99
3.2.7 Hoạt động triển khai quy trình đảm bảo chất lượng dịch vụ hỗ trợ người học 101
3.2.8 Hoạt động tự đánh giá 103
3.2.9 Hoạt động thẩm định nội bộ 104
3.2.10 Hoạt động thu thập, phân tích hệ thống thông tin 106
3.2.11 Hoạt động công bố thông tin 107
3.2.12 Hoạt động xây dựng, ban hành sổ tay đảm bảo chất lượng 109
3.3 Mức độ đáp ứng của hoạt động đảm bảo chất lượng bên trong trường đại học dựa theo tiêu chí đánh giá chất lượng của AUN-QA 110
3.3.1 Hoạt động xây dựng, triển khai chính sách đảm bảo chất lượng; tầm nhìn, sứ mạng và văn hóa; các mạng lưới và quan hệ đối ngoại; hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong theo AUN-QA 110
3.3.2 Hoạt động xây dựng, triển khai hệ thống giám sát; quản trị; lãnh đạo và quản lý theo AUN-QA 123
3.3.3 Hoạt động rà soát định kỳ các hoạt động cốt lõi theo AUN-QA 130
3.3.4 Hoạt động triển khai quy trình đảm bảo chất lượng việc đánh giá người học theo AUN-QA 132
3.3.5 Hoạt động triển khai quy trình đảm bảo chất lượng cán bộ, viên chức theo AUN-QA 133
3.3.6 Hoạt động triển khai quy trình đảm bảo chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập theo AUN-QA 134
3.3.7 Hoạt động triển khai quy trình đảm bảo chất lượng dịch vụ hỗ trợ người học theo AUN-QA 135
3.3.8 Hoạt động tự đánh giá theo AUN-QA 136
3.3.9 Hoạt động thẩm định nội bộ theo AUN-QA 136
3.3.10 Hoạt động thu thập, phân tích hệ thống thông tin theo AUN-QA 138
3.3.11 Hoạt động công bố thông tin theo AUN-QA 139
Trang 83.3.12 Hoạt động xây dựng, ban hành sổ tay đảm bảo chất lượng theo
AUN-QA 140
3.4 Tổng hợp mức độ đáp ứng của hoạt động ĐBCL bên trong theo tiêu chí đánh giá chất lượng của AUN-QA 142
3.5 Nhận định về kết quả nghiên cứu của luận án 143
3.6 Đề xuất giải pháp thúc đẩy hiệu quả hoạt động ĐBCL bên trong 145
3.7 Tiểu kết Chương 3 149
KẾT LUẬN 151
Kiến nghị về những hướng nghiên cứu tiếp theo 154
Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án 155
Tài liệu tham khảo 156
Phụ lục 1 Phiếu thăm dò ý kiến 168
Phụ lục 2 Bộ câu hỏi phỏng vấn 179
Phụ lục 3 Trích biên bản phỏng vấn các nhóm đối tượng được khảo sát 208
Phụ lục 4 Thống kê mô tả phiếu giảng viên 211
Phụ lục 5 Thống kê mô tả phiếu sinh viên 225
Phụ lục 6 Thống kê mô tả phiếu cán bộ quản lý 236
4
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ABET Accreditation Board on Engineering and Technology: Hội
đồng kiểm định về kỹ thuật và công nghệ APQN Asia-Pacific Quality Network: Mạng lưới chất lượng Châu Á-
Thái Bình Dương AQAN ASEAN Quality Assurance Network: Mạng lưới đảm bảo
chất lượng Đông Nam Á AUN ASEAN University Network: Mạng lưới các trường đại học
ASEAN AUN-QA ASEAN University Network Quality Assurance: Hệ thống
đảm bảo chất lượng của Mạng lưới các trường đại học ASEAN
INQAAHE International Network for Quality Assurance Agencies in
Higher Education: Mạng lưới quốc tế các tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học
ISO International Organization of Standardization: Tổ chức tiêu
chuẩn hóa quốc tế KĐCLGD Kiểm định chất lượng giáo dục
SEAMEO South East Asian Ministers of Education Organization: Tổ
chức bộ trưởng giáo dục các nước Đông Nam Á
UNESCO United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organization: Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc
5
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Số lượng CBQL, GV, NV và SV được khảo sát 84 Bảng 3.2 Thống kê các nguồn thông tin CBQL, GV và SV biết về hoạt động ĐBCL bên trong nhà trường 86 Bảng 3.3 Thống kê kết quả CBQL đánh giá việc xây dựng, triển khai chính sách ĐBCL 89 Bảng 3.4 Thống kê kết quả CBQL, GV và SV đánh giá việc xây dựng, triển khai hệ thống giám sát 91 Bảng 3.5 Thống kê SV đánh giá chất lượng của hoạt động triển khai quy trình ĐBCL dịch vụ hỗ trợ người học 101 Bảng 3.6 Thống kê CBQL và GV đánh giá chất lượng của hoạt động thẩm định nội bộ 105 Bảng 3.7 Thống kê CBQL và GV đánh giá chất lượng của hoạt động thu thập, phân tích hệ thống thông tin 106 Bảng 3.8 Thống kê CBQL, GV và SV đánh giá chất lượng của hoạt động công bố thông tin 107 Bảng 3.9 Đánh giá về xây dựng, triển khai hệ thống giám sát 126 Bảng 3.10 Đánh giá về rà soát định kỳ các hoạt động cốt lõi 132 Bảng 3.11 Đánh giá về triển khai quy trình ĐBCL việc đánh giá người học 133
Bảng 3.12 Đánh giá về triển khai quy trình ĐBCL cán bộ, viên chức 134 Bảng 3.13 Đánh giá về triển khai quy trình ĐBCL cơ sở vật chất, trang thiết
bị phục vụ giảng dạy, học tập 135 Bảng 3.14 Đánh giá về hoạt động thẩm định nội bộ 136 Bảng 3.15 Đánh giá về hoạt động thu thập, phân tích hệ thống thông tin 138
Bảng 3.16 Đánh giá về hoạt động công bố thông tin 139 Bảng 3.17 Tổng hợp mức độ đáp ứng của hoạt động ĐBCL bên trong theo tiêu chí đánh giá chất lượng của AUN-QA tại 6 trường 142
6
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Hệ thống ĐBCL bên trong trường đại học Việt Nam 19
Hình 1.2 Mô hình ĐBCL giáo dục đại học của Việt Nam 24
Hình 1.3 Các mô hình của AUN-QA (2005) 47
Hình 1.4 Khung ĐBCL của AUN-QA cho cấp trường (2016) 48
Hình 1.5 Mô hình chất lượng cho hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong của AUN-QA 49
Hình 1.6 Khung đảm bảo chất lượng cấp cơ sở giáo dục của AUN-QA (phiên bản 2, 2016) 53
Hình 1.7 Khung lý thuyết nghiên cứu hoạt động ĐBCL bên trong dựa theo AUN-QA 65
Hình 2.1 Quy trình nghiên cứu 67
Hình 2.2 Các bước xây dựng và hoàn thiện công cụ khảo sát 69
Hình 3.1 Tỷ lệ CBQL và GV biết về đối tượng tham gia vào hoạt động ĐBCL bên trong nhà trường 86
Hình 3.2 Tỷ lệ CBQL và GV biết về kiến thức/kinh nghiệm của các hoạt động ĐBCL bên trong nhà trường có được 88
Hình 3.3 Tỷ lệ CBQL và GV đánh giá chất lượng của hoạt động rà soát định kỳ các hoạt động cốt lõi 94
Hình 3.4 Tỷ lệ GV và SV đánh giá chất lượng của hoạt động triển khai quy trình ĐBCL việc đánh giá người học 95
Hình 3.5 Tỷ lệ CBQL và GV đánh giá chất lượng của hoạt động triển khai quy trình ĐBCL cán bộ, viên chức 98
Hình 3.6 Tỷ lệ GV và SV đánh giá chất lượng của hoạt động triển khai quy trình ĐBCL cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập 100
Hình 3.7 Tỷ lệ SV đánh giá chất lượng của hoạt động triển khai quy trình ĐBCL dịch vụ hỗ trợ người học 103 Hình 3.8 Tỷ lệ CBQL và GV đánh giá chất lượng của hoạt động tự đánh giá 104
Hình 3.9 Tỷ lệ CBQL, GV và SV đánh giá chất lượng của hoạt động xây
Trang 12dựng, ban hành sổ tay ĐBCL 109 Hình 3.10 Đánh giá mức độ đáp ứng của hoạt động xây dựng, triển khai chính sách ĐBCL theo AUN-QA 110 Hình 3.11 Điểm trung bình về mức độ đáp ứng của hoạt động xây dựng, triển khai hệ thống giám sát theo AUN-QA 124 Hình 3.12 Đánh giá của các bên liên quan về mức độ đáp ứng của hoạt động xây dựng, triển khai hệ thống giám sát theo AUN-QA 124 Hình 3.13 Trọng số của các bên liên quan đánh giá về hoạt động xây dựng, triển khai hệ thống giám sát theo AUN-QA 124 Hình 3.14 Điểm trung bình về mức độ đáp ứng của hoạt động rà soát định kỳ các hoạt động cốt lõi theo AUN-QA 131 Hình 3.15 Đánh giá của các bên liên quan về mức độ đáp ứng của hoạt động xây dựng, ban hành sổ tay ĐBCL theo AUN-QA 140 Hình 3.16 Đánh giá của các bên liên quan về mức độ đáp ứng của hoạt động đảm bảo chất lượng bên trong trường đại học theo AUN-QA 141
8
Trang 13DANH MỤC CÁC HỘP
Hộp 3.1 Ý kiến của CBQL về xây dựng, triển khai chính sách ĐBCL 90
Hộp 3.2 Ý kiến của CBQL về xây dựng, triển khai hệ thống giám sát 92
Hộp 3.3 Ý kiến của SV về xây dựng, triển khai hệ thống giám sát 93
Hộp 3.4 Ý kiến của CBQL về rà soát định kỳ các hoạt động cốt lõi 94
Hộp 3.5 Ý kiến của SV về triển khai quy trình ĐBCL việc đánh giá người học 96
Hộp 3.6 Ý kiến của CBQL về triển khai quy trình ĐBCL cán bộ, viên chức 97 Hộp 3.7 Ý kiến của GV về triển khai quy trình ĐBCL cán bộ, viên chức 98 Hộp 3.8 Ý kiến của CBQL về thẩm định nội bộ 105
Hộp 3.9 Ý kiến của CBQL về thu thập, phân tích hệ thống thông tin 107
Hộp 3.10 Ý kiến của GV về thu thập, phân tích hệ thống thông tin 107
Hộp 3.11 Ý kiến của SV về thu thập, phân tích hệ thống thông tin 107
Hộp 3.12 Ý kiến của GV về công bố thông tin 108
Hộp 3.13 Ý kiến của SV về công bố thông tin 108
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, nhân loại chứng kiến sự phát triển với tốc độ như vũbão về khoa học, kỹ thuật và công nghệ Điều này dẫn đến nhu cầu phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao trở nên cấp thiết đối với tất cả các quốc gia trên thế giới.Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâurộng, vấn đề đào tạo một đội ngũ nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu đó trởnên cấp bách hơn bao giờ hết Đảng, Nhà nước ta nhận thức rõ GDĐH là nhân tốquan trọng hàng đầu đối với việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao; thể hiện
rõ quan điểm, chủ trương, chính sách thông qua các văn bản mang tính pháp quy.Bởi vậy, việc ĐBCL trong quá trình đào tạo của các cơ sở GDĐH là yếu tố quyếtđịnh đến sự phát triển nhanh và bền vững nguồn nhân lực của đất nước
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiệnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; thực hiện đổimới công tác quản lý, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu của xã hội,trong đó kiểm định chất lượng được sử dụng như một công cụ quan trọng để khuyếnkhích/yêu cầu tất cả các cơ sở GDĐH nâng cao chất lượng thông qua phấn đấu đạtcác tiêu chuẩn chất lượng giáo dục
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009) trong Báo cáo sự phát triển của hệ thống
giáo dục đại học, các giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo đã chỉ ra
những hạn chế chủ yếu của GDĐH: (i) việc quản lí nhà nước về GDĐH còn nhiềubất cập, trì trệ, là nguyên nhân cơ bản của việc chất lượng GDĐH không có cảithiện đáng kể trên diện rộng Nếu không có giải pháp kiên quyết, có tính đột phá,chất lượng GDĐH sẽ ngày càng tụt hậu trước đòi hỏi của phát triển đất nước; (ii)chất lượng GDĐH nói chung còn nhiều hạn chế, đang và sẽ còn gây hậu quả chonền kinh tế trong thời gian tương đối dài Đồng thời, nêu rõ nguyên nhân các hạnchế, yếu kém, đó là: (i) hệ thống giáo dục bị chi phối cùng lúc bởi nhiều loại quyluật: quy luật sư phạm, quy luật quản lý hệ thống, quy luật kinh tế và quy luật xãhội Các cán bộ quản lý GDĐH, nhất là ở cấp quốc gia không được quy hoạch vàđào tạo có hệ thống, để có thể nắm vững các loại quy luật trên, vận dụng sáng tạotrong công tác, do đó yếu kém kéo dài mà không khắc phục được; (ii) hệ thống quản
10
Trang 15lý GDĐH còn nặng chiều chỉ đạo từ trên xuống, xin từ dưới lên, chưa có cơ chếbuộc lãnh đạo cấp trên phải nghe cơ sở, cấp dưới ở mức cần thiết, chưa có cơ chếsàng lọc cán bộ, công chức không hoàn thành nhiệm vụ.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011) cho rằng việc phát triển hệ thống GDĐHquốc gia là điều kiện tiên quyết để đưa đất nước hòa nhập với cộng đồng giáo dụcquốc tế trên nhiều phương diện khác nhau Trong đó, hệ thống ĐBCL giáo dục quốcgia có vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định chiến lược phát triển, duy trì, cảitiến và nâng cao chất lượng đào tạo Xây dựng một hệ thống ĐBCL GDĐH ở cấpquốc gia có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc duy trì các chuẩn mực và khôngngừng nâng cao chất lượng GDĐH của Việt Nam Đối với các trường ĐH, đảm bảo
sẽ tổ chức đào tạo có chất lượng và có hiệu quả tương xứng với các điều kiện hiện
có của nhà trường, đảm bảo SV tốt nghiệp sẽ đáp ứng yêu cầu của thị trường laođộng Vấn đề này bao gồm phát triển hệ thống văn bản quy phạm pháp luật vềĐBCL GDĐH, xây dựng mô hình phát triển và triển khai thực hiện, tranh thủ sự hỗtrợ, hợp tác của quốc tế để có những bước đi căn bản và vững chắc Trong nhữngnăm qua, các văn bản pháp quy về công tác ĐBCL và KĐCLGD đã từng bước được
bổ sung và hoàn thiện, mô hình phát triển cũng đã được định hình rõ nét, bên cạnh
đó hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ĐBCL và KĐCLGD được mở rộng, tạo điều kiệncho các công tác này ngày càng phát triển Trên cơ sở đó, các trường ĐH xây dựngcho mình hệ thống ĐBCL bên trong Từ đó, triển khai các hoạt động ĐBCL nhằmduy trì, cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo
Hiện nay, một hệ thống ĐBCL GDĐH tương đối hoàn chỉnh đang được hìnhthành tại Việt Nam, với cơ quan quản lý nhà nước về công tác ĐBCL giáo dục cấpquốc gia là Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Bộ Giáo dục vàĐào tạo, các Trung tâm/Phòng/Bộ phận ĐBCL bên trong đã và đang được thiết lậptại các trường ĐH Các hoạt động ĐBCL thời gian qua, trên bình diện quốc gia, thểhiện sự lớn mạnh của công tác ĐBCL GDĐH Việt Nam, điều này cũng nằm trong
lộ trình tăng cường năng lực ĐBCL và nhận thức văn hóa chất lượng cho các trường
ĐH Việt Nam Hệ thống ĐBCL bên trong các trường ĐH đã hoạt động khá tích cực
và đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ Các trường ĐH ở Việt Namđang phải đối mặt với các thách thức: đã và đang có sự gia tăng số lượng các trườngĐH; áp lực gia tăng về nhân sự, chi phí giáo dục; có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữacác trường (cả trong và ngoài nước) nhất là về tuyển sinh đầu vào… Những yếu tố
Trang 16đó buộc các trường ĐH phải nỗ lực để có thể đứng vững trong thời đại chất lượng.
Vì vậy, ĐBCL là nhiệm vụ không thể thiếu trong một trường ĐH để tồn tại và cạnhtranh
Tuy nhiên, những thành tựu nói trên của GDĐH chưa vững chắc, chưa mangtính hệ thống và cơ bản, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế
Theo nhận định của các tổ chức quốc tế, hiện nay phong trào ĐBCL GDĐHcủa Việt Nam đang vướng mắc ở một số vấn đề khiến sự phát triển có thể bị chữnglại, đó là: Việc thực hiện ĐBCL bên trong của phần lớn các trường ĐH còn mangtính đối phó với yêu cầu của bên ngoài chứ chưa phải là một nhu cầu từ bên trongvới mục đích tự cải thiện; Các tiêu chuẩn chất lượng chưa thể hiện được quan điểmphân tầng đối với hệ thống GDĐH Việt Nam; Nhân sự hoạt động trong toàn hệthống ĐBCL GDĐH chưa đáp ứng về số lượng và chất lượng; Hệ thống thông tinphục vụ quá trình đánh giá còn yếu và thiếu, tính minh bạch của thông tin còn thấp.Những vấn đề nêu trên cần phải được tập trung giải quyết trong thời gian sắp tới
Ngân hàng thế giới (WB) (2015) đề xuất các khuyến nghị cho kế hoạch pháttriển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020 như sau: (i) buộc các cơ sở đàotạo phải chịu trách nhiệm đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp thông qua hệ thống cơ chếđiều chỉnh chương trình đào tạo phù hợp với thị trường lao động, gắn công tácnghiên cứu với giảng dạy, ưu tiên tại địa phương và phù hợp với quy chuẩn quốc tế.(ii) xóa bỏ các rào cản thể chế: thực hiện Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dụcnghề nghiệp để các cơ sở đào tạo được tự chủ hơn, tăng cường minh bạch và đánh giádựa trên kết quả, khuyến khích hợp tác giữa các cán bộ, các cấp chính quyền và các cơ sởđào tạo nhằm thực hiện tốt các chiến lược phát triển kỹ năng mới
Việc nắm bắt thực trạng hoạt động ĐBCL bên trong các trường ĐH ViệtNam, nhất là đối với các trường công lập, để có cái nhìn tổng thể và chi tiết về côngtác này, đồng thời, đánh giá mức độ đáp ứng của hoạt động ĐBCL bên trong cáctrường ĐH so với chuẩn của Mạng lưới ĐBCL các trường đại học ASEAN (AUN-QA), từ đó đề xuất các giải pháp cải tiến hoạt động ĐBCL bên trong định hướngtiếp cận với chuẩn của khu vực và quốc tế, đặc biệt chuẩn của AUN-QA, là mộtviệc làm rất cần thiết và cấp bách trong bối cảnh GDĐH Việt Nam đang và sẽ đổimới mạnh mẽ, tích cực hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới Hơnnữa, Việt Nam là quốc gia thuộc Cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN),
12
Trang 17trong đó có cộng đồng về giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng, vấn đề trên lạicàng có ý nghĩa thiết thực và cấp bách.
Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài nghiên cứu của luận án: “Đánh giá hoạt
động đảm bảo chất lượng bên trong ở một số trường đại học công lập Việt Nam dựa theo tiêu chí đánh giá chất lượng của AUN-QA”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn về hoạt động ĐBCLbên trong trường ĐH Đánh giá thực trạng hoạt động ĐBCL bên trong một sốtrường ĐH công lập Việt Nam thời gian qua và mức độ đáp ứng dựa theo tiêu chíđánh giá chất lượng của AUN-QA, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp cho việc ápdụng tiêu chí chất lượng của AUN-QA nhằm thúc đẩy hoạt động ĐBCL bên trongcác trường ĐH Việt Nam, hướng đến mục đích cuối cùng là đảm bảo và nâng caochất lượng đào tạo
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với các mục đích như trên, nghiên cứu này triển khai các nhiệm vụ nghiêncứu sau đây:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ĐBCL bên trong các trường ĐH;
- Xác định các thành tố của hoạt động ĐBCL bên trong trường ĐH dựa theo
mô hình của AUN-QA;
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động ĐBCL bên trong của một số trường ĐH công lập Việt Nam;
- Đánh giá mức độ đáp ứng của hoạt động ĐBCL bên trong ở một số trường
ĐH công lập Việt Nam dựa theo tiêu chí đánh giá chất lượng của AUN-QA;
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hiệu quả hoạt động ĐBCL bên trong của các trường ĐH Việt Nam
3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc đánh giá hoạt động ĐBCL bên trong của một số trường ĐH công lập Việt Nam dựa theo tiêu chí chất lượng của AUN-QA
3.2 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động ĐBCL bên trong của một số trường ĐH công lập Việt Nam
13
Trang 184. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 4.1 Câu hỏi nghiên cứu
1) Có những hoạt động ĐBCL bên trong nào đang được thực hiện ở các trường ĐH Việt Nam?
2) Các hoạt động ĐBCL bên trong ở một số trường ĐH công lập Việt Namđược đánh giá như thế nào từ phía CBQL, GV, NV và SV trong trường?
3) Mức độ đáp ứng của hoạt động ĐBCL bên trong ở một số trường ĐHcông lập Việt Nam dựa theo tiêu chí đánh giá chất lượng của AUN-QA như thế nào?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
1) Hoạt động ĐBCL bên trong ở các trường ĐH Việt Nam đang được triểnkhai theo các mặt thực hiện chức năng của nhà trường, phù hợp với mô hình của AUN-QA
2) Các bên liên quan trong trường đánh giá các hoạt động ĐBCL bên trong ởmột số trường ĐH công lập Việt Nam có hiệu quả tích cực thể hiện rõ qua những thayđổi trong tổ chức và các mặt hoạt động của nhà trường
3) Hoạt động ĐBCL bên trong ở một số trường ĐH công lập Việt Nam chưa đáp ứng hoàn toàn dựa theo tiêu chí đánh giá chất lượng của AUN-QA
Để đạt được các mục đích nghiên cứu đã nêu, luận án sử dụng những phươngpháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Trong luận án, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính gồm:
- Khảo cứu các công tình nghiên cứu trong và ngoài nước về hoạt độngĐBCL bên trong trường ĐH, tham vấn ý kiến của người học và các bên liên quanđối với các hoạt động ĐBCL bên trong cụ thể, có liên quan mật thiết đến đề tàinghiên cứu của luận án
- Sử dụng phỏng vấn sâu bán cấu trúc để thu thập ý kiến đánh giá của lãnhđạo trường, CBQL, GV, NV và SV về chất lượng các hoạt động ĐBCL bên trong
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnhvực đo lường và đánh giá trong giáo dục, quản lý giáo dục về những vấn đề của mô hình,
hệ thống ĐBCL bên trong, hoạt động ĐBCL bên trong ở các nước và Việt Nam,
14
Trang 19- Phương pháp quan sát.
5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Trong luận án, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng gồm:
- Phương pháp trưng cầu ý kiến: Khảo sát thực nghiệm bằng bảng hỏi (phiếu thăm dò ý kiến) đối với CBQL, GV, SV
- Phương pháp thống kê mô tả: mô tả các số liệu liên quan để làm rõ thực trạng về hoạt động ĐBCL bên trong một số trường ĐH công lập Việt Nam
- Phương pháp thống kê suy luận: làm sáng tỏ câu hỏi nghiên cứu và kiểm định giả thuyết nghiên cứu
QA ở một số trường ĐH công lập Việt Nam (theo mẫu)
7 Những đóng góp mới của luận án
Luận án có những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn như sau:
7.1 Về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến ĐBCL, hoạt động ĐBCL bên trong trường ĐH;
- Cơ sở lý luận của luận án làm nền tảng cho các nghiên cứu sau;
- Đề xuất khung lý thuyết nghiên cứu đánh giá hoạt động ĐBCL bên trong ở một số trường ĐH công lập Việt Nam dựa theo tiêu chí chất lượng của AUN-QA
7.2 Về mặt thực tiễn
- Xây dựng bộ công cụ khảo sát các hoạt động ĐBCL bên trong trường ĐH(phiếu thăm dò ý kiến và phỏng vấn bán cấu trúc) hỗ trợ các trường thu thập thôngtin, dữ liệu làm cơ sở đánh giá xác định mức độ đạt được của hoạt động ĐBCL bêntrong nhà trường;
- Làm rõ các hoạt động ĐBCL bên trong trường ĐH và tầm quan trọng của
nó đối với việc đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
Trang 20- Kết quả nghiên cứu góp phần tăng cường nhận thức về chất lượng trong giáo dục đối với các khách thể tham gia khảo sát.
- Đề xuất được các giải pháp cơ bản có tính khả thi nhằm nâng cao chấtlượng, hiệu quả hoạt động ĐBCL bên trong góp phần phát triển hệ thống ĐBCL bêntrong cũng như duy trì, cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường ĐH
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị về những hướng nghiên cứu tiếptheo, danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án, tài liệu thamkhảo và phụ lục, luận án được chia thành 3 chương:
Chương 1 Tổng quan và cơ sở lý thuyết
Chương 2 Thiết kế và tổ chức nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng và mức độ đáp ứng của hoạt động đảm bảo chất lượngbên trong trường đại học dựa theo tiêu chí đánh giá chất lượng của AUN-QA
16
Trang 21Chương 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu về đảm bảo chất lượng
Đảm bảo chất lượng bên trong trường ĐH đã và đang được phát triển mạnh
mẽ ở hầu hết các cơ sở GDĐH trên thế giới Ngay từ thế kỷ thứ XIII, đại học Paris
đã tổ chức triển khai công tác ĐBCL bên trong nhà trường Tại Mỹ, kiểm định đượcđưa vào giáo dục y khoa từ cuối thế kỷ thứ XIX và các tổ chức KĐCL cũng ra đời ở
Mỹ nhưng chưa đi sâu vào ĐBCL giáo dục Kể từ năm 1950 đến năm 1989, Mỹ đưa
ra một hệ thống tổng thể về KĐCL, trong khi châu Âu đưa đánh giá chất lượng bênngoài cấp quốc gia vào giữa thập niên 1980 Từ năm 1990 đến nay, ĐBCL trở nênphát triển mạnh mẽ và trở thành vấn đề quan trọng trong GDĐH (Lewis và nhữngngười khác, 2009), (AUN, 2009) Đến năm 2000, ĐBCL bắt đầu khẳng định tầmquan trọng của mình ở mỗi quốc gia trong thị trường cạnh tranh về giáo dục khixuất hiện ngày càng nhiều các cơ sở GDĐH tư nhân
Đảm bảo chất lượng bên trong
Trong ba thập kỷ vừa qua, có nhiều lý thuyết về ĐBCL trong GDĐH xuấthiện ở châu Âu và một vài lý thuyết trong số đó đã trở nên nổi tiếng trên thế giới.Chẳng hạn, lý thuyết của Barnett (1987), Church (1988) cho rằng ĐBCL bao gồmđầu vào, quá trình và đầu ra Lawrence và Dangerfield (2001) cho rằng “giới họcthuật có một lịch sử lâu đời về đo lường chất lượng dựa vào đầu vào nhiều hơn làđầu ra”
Trước đây, mô hình kiểm soát chất lượng thường được sử dụng để kiểm trachất lượng và mô hình này có nguồn gốc từ sản xuất hàng hóa Lý thuyết chủ đạocủa hệ thống ĐBCL xuất phát từ lĩnh vực kinh doanh sau đó được đưa vào giáo dục.Hiện nay, các lý thuyết có liên quan đến ĐBCL như Tiêu chuẩn hóa quốc tế dànhcho các cơ quan, tổ chức (ISO) xuất phát từ kinh doanh và công nghiệp đã được đưavào giáo dục, đặc biệt là GDĐH ISO 9001 là bộ tiêu chuẩn về quản lý chất lượngđược hình thành từ năm 1955 và được soát xét nhiều lần Đến nay, Bộ tiêu chuẩnISO 9001:2008 đã được chính thức ban hành, bao gồm 4 tiêu chuẩn cốt lõi với mụcđích là đảm bảo cung cấp cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ không nhữngđáp ứng được những nhu cầu đã đề ra mà còn cao hơn nữa là thỏa mãn nhu cầu vàmong đợi của khách hàng trong tương lai
Trang 22SEAMEO (2002) nhìn nhận ĐBCL từ sự kết hợp các quan niệm từ năm 1985đến 1998, ĐBCL các mặt hoạt động trong cơ sở giáo dục được duy trì và khôngngừng nâng cao (thể hiện tính chất của TQM) UNESCO (2003) xác định ĐBCLtrong GDĐH là các thủ tục đánh giá và quản lý có hệ thống để giám sát hoạt độngcủa các cơ sở GDĐH INQAAHE (2004) cho rằng ĐBCL là các thái độ, đối tượng,hoạt động và thủ tục cùng các hoạt động kiểm soát chất lượng, đảm bảo chuẩn họcthuật phù hợp đang được duy trì và nâng cao Vlăsceanu và những người khác(2007) cho rằng ĐBCL là một vấn đề của nhận thức và cam kết mà người ta gọi làvăn hóa chất lượng.
Arsovski (2007) cho rằng ĐBCL bên trong GDĐH châu Âu gồm 7 nội dungnhấn mạnh cải tiến chất lượng Gvaramadze (2008) thì cho rằng ĐBCL bên tronggồm 7 nội dung nhấn mạnh trách nhiệm, văn hóa chất lượng và cam kết chất lượng
Theo quan điểm của Reisberg (2010), ĐBCL phải là một quá trình tự điềuchỉnh, phản ánh và cải cách liên tục Mỗi quá trình bắt đầu ở mỗi thời điểm khácnhau dựa trên trải nghiệm riêng của từng cơ sở giáo dục UNESCO (2011) thừanhận ĐBCL là một quá trình xây dựng niềm tin giữa các bên liên quan đến các điềukhoản (đầu vào, quá trình và đầu ra) đáp ứng sự mong đợi hoặc đạt ngưỡng yêu cầutối thiểu ĐBCL liên quan đến sự phát triển liên tục, quy trình đánh giá liên tục gồmđánh giá, giám sát, đảm bảo, duy trì và nâng cao chất lượng Nó mang đặc trưng củaTQM với hai mục đích quan trọng cần tập trung là trách nhiệm giải trình và cải tiếnliên tục Trong hệ thống ĐBCL, UNESCO (2011) nhấn mạnh ba yếu tố: kiểm soátchất lượng, trách nhiệm giải trình và cải tiến (dựa trên ba nguyên tắc chính trongĐBCL của Harvey (1999))
Hệ thống ĐBCL bên trong các trường ĐH Việt Nam
Phạm Xuân Thanh (2011) đưa ra hệ thống ĐBCL bên trong trường ĐH ViệtNam cơ bản dựa trên sự kết hợp hệ thống của châu Âu, châu Á – Thái Bình Dương,AUN và phù hợp với Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường ĐH ViệtNam (ban hành theo Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007 vàThông tư số 37/2012/TT-BGDĐT ngày 30/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục vàĐào tạo) được mô tả như Hình 1.1
18
Trang 23Hệ thống ĐBCL bên trong trường đại học Việt Nam
-Các chủ trương
của nhà trường,
-Kế hoạch cải tiến
chất lượng đào tạo,
-Giám sát vàđịnh kỳ rà soátđánh giá cácchương trìnhđào tạo
-Chiến lượcliên tục cảitiến, nâng caochất lượng đàotạo,
-ĐBCL độingũ giảng dạy
-Công khaicác thông tin
về giảng dạy,chương trình
và kết quảđào tạo
Hình 1.1 Hệ thống ĐBCL bên trong trường đại học Việt Nam
Hệ thống ĐBCL bên trong của các trường ĐH Việt Nam cơ bản phù hợp với
hệ thống ĐBCL của AUN-QA Dựa trên bộ tiêu chuẩn/tiêu chí đã ban hành, cáctrường ĐH có thể bổ sung một số hoạt động ĐBCL phù hợp với bối cảnh của trườngnhằm tăng cường hoạt động ĐBCL bên trong
Tuy nhiên, thang đánh giá chất lượng của AUN-QA có 7 mức (từ không có
gì đến xuất sắc) hướng đến ĐBCL quốc tế, trong khi Bộ tiêu chuẩn đánh giá chấtlượng trường ĐH của Việt Nam lại có 2 mức (đạt và chưa đạt), chưa thể hiện rõràng mức độ chất lượng trường ĐH đạt được
Tác giả Trần Khánh Đức (2009) cho rằng nguyên tắc Chiba (2008) củaAPQN gồm 7 nội dung nhấn mạnh xây dựng và phát triển văn hóa chất lượng Dựatrên hệ thống ĐBCL của AUN-QA, Nguyễn Kim Dung và Lê Văn Hảo (2012) đưa
ra các nhu cầu phát triển hệ thống ĐBCL bên trong của các trường ĐH Việt Nam,những việc làm được, chưa làm được và đề xuất các ý kiến liên quan đến sự pháttriển của hệ thống ĐBCL bên trong trường ĐH
Tác giả Nguyễn Hữu Châu trong Báo cáo tổng kết đề tài B2004-CTĐT (HàNội, 2006) “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng giáo dục và đánh giá chấtlượng giáo dục” đã phân tích một số thành tố chất lượng giáo dục, xác lập bộ tiêuchí và những chỉ số cơ bản đánh giá chất lượng giáo dục của hệ thống giáo dục và
cơ sở giáo dục cũng như sự phù hợp, cần thiết và khả năng đo lường của hai bộ tiêuchí và chỉ số cơ bản đánh giá chất lượng giáo dục
Trang 24Trong báo cáo tổng kết đề tài B2004-CTĐT (Hà Nội, 2006), “Các mô hìnhđảm bảo chất lượng giáo dục đại học trên thế giới”, tác giả Bùi Mạnh Nhị và cáccộng sự đã đề cập đến các mô hình ĐBCL của các quốc gia phát triển trên thế giới,kết quả khảo sát về đánh giá thực trạng chất lượng GDĐH ở Việt Nam hiện nay,đồng thời đề xuất các nhóm giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng GDĐH ViệtNam.
Dựa trên quan điểm của SEAMEO (2002), Lê Đức Ngọc (2008) đưa ra quanđiểm ĐBCL là toàn bộ các hoạt động có kế hoạch, có hệ thống được tiến hành trong
hệ thống chất lượng, và được chứng minh là đủ mức cần thiết để khách hàng thỏamãn các yêu cầu chất lượng Phạm Xuân Thanh (2009) cũng dựa vào quan điểm củaSEAMEO (2002) để đưa ra định nghĩa ĐBCL
Ngô Doãn Đãi (2012) xác định những việc cần làm của các trường ĐH Việt
Nam hiện nay là: i) Có chính sách rõ ràng và những quy trình phù hợp để ĐBCL
các chương trình đào tạo và bằng cấp; ii) Chú ý sự tham gia của GV, NV và SV.
Nguyễn Văn Hiệu (2012) nhận định ĐBCL GDĐH ở Việt Nam cần kết hợp bộ tiêu
chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và bộ tiêu chuẩn của AUN-QA để thực hiện tốt
việc quản lý đào tạo và phát triển theo hướng ĐBCL
Quan điểm về ĐBCL còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng cơ bản vẫn là cáchoạt động ĐBCL bên trong , ĐBCL bên ngoài hoặc ĐBCL bên trong và bên ngoài
cơ sở giáo dục Hơn nữa, một số quan điểm cho rằng ĐBCL bao gồm cả văn hóachất lượng, kiểm định chất lượng, số khác thì cho rằng nó độc lập với các phươngthức, thủ tục khác nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong một hệ thống
Như vậy, thông qua nhận định của các tác giả, cho thấy nội hàm của ĐBCL
hướng theo hai quan điểm chính: (i) ĐBCL nhấn mạnh duy trì và đảm bảo chất
lượng; (ii) ĐBCL nhấn mạnh nâng cao và cải tiến chất lượng Do đó, các định
nghĩa, khái niệm hoặc quan niệm về ĐBCL còn tùy vào lĩnh vực đặc trưng của từngloại hình cơ sở giáo dục, bối cảnh phát triển, quy trình hoạt động và chính sách giáodục của mỗi quốc gia Tựu chung lại, có thể nói rằng, ĐBCL bên trong là các hoạtđộng tự thân chăm lo chất lượng của nhà trường, là toàn bộ mọi hoạt động của các
bộ phận trong nhà trường để hướng đến chất lượng như mong muốn
Đảm bảo chất lượng bên ngoài
Mục đích của ĐBCL bên ngoài là đạt được trách nhiệm giải trình và chứngminh mục tiêu đạt được của cơ sở giáo dục trước xã hội (Parri, 2006) Theo Dill
20
Trang 25(2007), mục tiêu của ĐBCL bên ngoài là thúc đẩy nâng cao chất lượng GDĐH.EUA (2010) cho rằng mục tiêu của ĐBCL bên ngoài là một cách để cân bằng lợi íchhọc thuật và chính sách trong GDĐH.
Vroeijenstijn (2003) nhấn mạnh ĐBCL bên ngoài tạo áp lực trách nhiệm giảitrình và cải tiến ĐBCL bên trong Karkoszka (2009) nhận định rằng hệ thống ĐBCLbên ngoài chỉ hoạt động hiệu quả khi nó có liên quan chặt chẽ với hệ thống ĐBCLbên trong, trong đó cần đảm bảo tính thống nhất, linh hoạt, sáng tạo và cải tiến Hơnnữa, tự đánh giá là cầu nối giữa ĐBCL bên trong và ĐBCL bên ngoài(Wantannatorn, 2004)
Theo AUN (2009), ĐBCL bên trong bao gồm các hoạt động giám sát, đánh
giá và cải tiến chất lượng tự thân của cơ sở giáo dục, ĐBCL bên ngoài bao gồm các
hoạt động đối sánh, thẩm định và đánh giá chất lượng từ bên ngoài cơ sở giáo dục
thể hiện hai nhóm hoạt động tách biệt và độc lập
EUA (2010) nhấn mạnh tính minh bạch của công tác ĐBCL khi chỉ ra rằngcác thủ tục đánh giá ngoài trong nước dẫn đến một số cơ sở giáo dục ít quan tâmđến trách nhiệm bên trong, do đó dễ dẫn đến văn hóa bằng lòng hoặc tuân thủ Vìvậy, những cơ sở giáo dục được đánh giá ngoài bởi cơ quan kiểm định nước ngoàicho kết quả khách quan, minh bạch hơn, thực sự tạo động lực cho cơ sở giáo dục cảitiến và nâng cao chất lượng để đạt được chất lượng như mong muốn hướng đến chấtlượng khu vực và thế giới
Trong Đề án xây dựng và phát triển hệ thống KĐCLGD đối với GDĐH vàtrung cấp chuyên nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2011–2020 nêu rõ khuyến khích các
cơ sở giáo dục đăng ký đánh giá, kiểm định bởi các tổ chức KĐCLGD quốc tế vàtrong khu vực Châu Á–Thái Bình Dương
Lewis (2012) khuyến cáo cần chú trọng ĐBCL để nâng cao chất lượng (thay
vì trách nhiệm giải trình), tăng cường hợp tác với các cơ quan ĐBCL bên ngoài
Như vậy, ĐBCL bên trong và ĐBCL bên ngoài phải tồn tại song song nhằm
hỗ trợ, tác động lẫn nhau theo hướng tích cực, đảm bảo cho các cơ sở giáo dục vàcác tổ chức ĐBCL bên ngoài luôn được cải tiến và nâng cao chất lượng liên tục
Trong xu thế hội nhập và phát triển, chất lượng GDĐH không đơn thuần làvấn đề của riêng một quốc gia mà có tính khu vực và quốc tế Ngày 19/6/1999, các
Bộ trưởng Bộ Giáo dục của 29 quốc gia châu Âu đã họp tại Bologna (Ý) để ký
21
Trang 26Tuyên ngôn Bologna về tương lai GDĐH tại châu Âu, khởi đầu cho một quá trìnhcải cách rộng lớn và quan trọng trong lĩnh vực GDĐH Mục tiêu của các quốc gianày là làm thế nào đến năm 2010 thành lập được không gian GDĐH châu Âu trong
đó GV, SV và những học viên đã tốt nghiệp có thể di chuyển dễ dàng từ nơi nàysang nơi khác trong cộng đồng Điều này có nghĩa là quá trình và chất lượng đào tạocủa họ phải được các quốc gia châu Âu công nhận
Các thập kỷ gần đây, những thay đổi chính đã diễn ra trong GDĐH phươngTây với tốc độ nhanh chóng Các phong trào phát triển này đã đem lại sự thay đổitrong phương pháp dạy và học cũng như trong việc kiểm tra chất lượng các khóahọc Chất lượng, khi xảy ra các thay đổi này, được xem là các vấn đề nổi bật ở cáctrường ĐH châu Âu Các trường ĐH đã cố gắng xây dựng các cơ chế ĐBCL Cónhiều lý do giải thích cho khuynh hướng này, bao gồm cả các nhu cầu sau đây: (i)Chứng minh cho công chúng và chính phủ rằng các trường ĐH có thể cung cấp mộtnền giáo dục cao; (ii) Đảm bảo rằng chất lượng là xứng đáng với các kinh phí nhậnđược từ chính phủ và các nhà hưởng lợi và SV là đối tượng chủ yếu; (iii) Thu hút cả
SV địa phương và SV quốc tế; (iv) Cải tiến hình ảnh của các trường ĐH; (v) Thamgia vào khuynh hướng thị trường hóa GDĐH
Đề cập đến hệ thống ĐBCL cấp quốc gia ở khu vực châu Á-Thái BìnhDương, tác giả Len M.P (2004) trong bài viết “Đảm bảo chất lượng và kiểm địnhchất lượng giáo dục đại học khu vực châu Á - Thái Bình Dương” cho rằng hầu hếtcác cơ quan ĐBCL quốc gia trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương đều do nhànước thành lập, được nhà nước cấp kinh phí và chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ kiểmđịnh chất lượng
Đối với các nước thuộc khối APEC, bài viết “Đẩy mạnh hệ thống ĐBCLGDĐH của các nước nền kinh tế APEC” đã khẳng định hệ thống ĐBCL GDĐH củacác nước thuộc khối APEC được hình thành bằng các cách khác nhau nhưng tựutrung lại có 4 con đường dẫn đến sự hình thành hệ thống ĐBCL của các nước ở khuvực này, bao gồm: (i) Là một tổ chức của chính phủ, có thể là một đơn vị của bộgiáo dục; (ii) Là một đơn vị độc lập với chính phủ, ví dụ như một nhóm các trường
ĐH hình thành tổ chức ĐBCL; (iii) Là một đơn vị gián tiếp hoặc là tổ chức trựcthuộc địa phương mà chính phủ đóng vai trò khi mới thành lập nhưng độc lập vớichính phủ; (iv) Là tổ chức hoàn toàn độc lập với chính phủ, ví dụ như tổ chức kiểmđịnh chuyên nghiệp
22
Trang 27Bài viết “Sự phát triển của công tác ĐBCL và KĐCL GDĐH ở châu Âu hiệnnay”, Williams P (2008) đề cập đến vấn đề ĐBCL bên trong (IQA) (các hoạt độngĐBCL do chính cơ sở giáo dục thực hiện) cũng như ĐBCL bên ngoài (EQA) (docác đối tượng liên quan bên ngoài cơ sở giáo dục thực hiện các hoạt động vềĐBCL) của trường ĐH, trong đó ĐBCL bên trong của trường ĐH bao gồm: chínhsách và các quy trình của việc ĐBCL; việc chấp nhận, giám sát và đánh giá chươngtrình đào tạo và bằng cấp; đánh giá sinh viên; ĐBCL đội ngũ GV; nguồn tài liệu họctập và điều kiện hỗ trợ SV; hệ thống thông tin; công bố thông tin.
Về mặt thực tiễn, trên thế giới hiện nay có nhiều tổ chức tham gia công tácKĐCL và ĐBCL GDĐH như: Mạng lưới quốc tế các tổ chức ĐBCL GDĐH -INQAAHE, Hội liên hiệp châu Âu về đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học -ENQA, Mạng lưới các trường ĐH Đông Nam Á - AUN, Mạng lưới chất lượngChâu Á-Thái Bình Dương - APQN, UNESCO, SEAMEO, Hiệp hội chất lượng cáctrường đại học Úc (The Australian Universities Quality Agency - AUQA), Hội đồngkiểm định giáo dục đại học (Council for Higher Education Accreditation - CHEA),
…
Một số phiên bản của các mô hình ĐBCL đã xuất hiện như Giải thưởng chấtlượng quốc gia Malcom Baldrige ở Mỹ, các giải thưởng chất lượng ở châu Âu hoặcmột số nước khác như Giải thưởng chất lượng Deming (Nhật Bản), Giải thưởngchất lượng Hàn Quốc, Giải thưởng chất lượng Singapore, Giải thưởng chất lượngPhilippines, Giải thưởng chất lượng quốc tế Châu Á-Thái Bình Dương …, đặc biệtmột số giải thưởng đã được áp dụng vào giáo dục
Ở Việt Nam, theo Phạm Xuân Thanh (2011), mô hình ĐBCL GDĐH của Việt Nam dựa trên mô hình châu Âu, châu Á–Thái Bình Dương và AUN
Từ mô hình này, đã hình thành nên hệ thống ĐBCL GDĐH của Việt Nam, có
3 thành phần: Bộ Giáo dục và Đào tạo đóng vai trò cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo côngtác ĐBCL GDĐH ở tầm vĩ mô cấp quốc gia; ban hành các chủ trương, chính sách,các quy trình, thủ tục về ĐBCL áp dụng trên phạm vi toàn quốc Trực tiếp chỉ
đạo hoạt động ĐBCL của các trường ĐH/viện nghiên cứu và các trung tâmKĐCLGD Các trung tâm KĐCLGD thực hiện nhiệm vụ kiểm định chất lượng cấp
cơ sở giáo dục và cấp chương trình đào tạo Mối quan hệ giữa các trường ĐH/việnnghiên cứu và các trung tâm KĐCLGD là mối quan hệ phối hợp
23
Trang 28Bộ GD
và ĐT
Trung tâm
KĐCLGD
Trường ĐH
Hình 1.2 Mô hình ĐBCL giáo dục đại học của Việt Nam
Trong cuốn sách “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học”, tác giảNguyễn Đức Chính (2002) đã khái quát cơ sở lý luận khoa học về đánh giá vàKĐCL GDĐH, những kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới và các nướcphát triển trong khu vực về lĩnh vực này, đồng thời giới thiệu cho người đọc Bộ tiêuchí đánh giá chất lượng và điều kiện ĐBCL dùng cho các trường ĐH Việt Nam
Từ năm 2004, nhiều tài liệu, bài viết, bài báo của các nhà quản lý, nhà khoahọc đăng tải trên các tạp chí khoa học đã đề cập đến các mô hình quản lý chấtlượng, vấn đề ĐBCL GDĐH ở Việt Nam Chẳng hạn, Nguyễn Kim Dung (2007)trên cơ sở so sánh Bộ tiêu chuẩn kiểm định đang áp dụng tại Việt Nam với Bộ tiêuchuẩn của một cơ quan kiểm định chất lượng GDĐH thuộc Hoa Kỳ đã đưa ra sựkhác biệt, đồng thời gợi ý cho sự phát triển của Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượngGDĐH Việt Nam trong tương lai Vũ Thị Phương Anh (2005) đã tóm lược quanđiểm chất lượng trong GDĐH Việt Nam qua các giai đoạn; đề cập đến hệ thống, cơchế, các thành quả và vấn đề còn tồn tại của hoạt động ĐBCL GDĐH tại Việt Namhiện nay, đồng thời chỉ rõ “Việc ĐBCL bên trong còn mang tính đối phó với yêucầu bên ngoài chứ chưa phải là một nhu cầu từ bên trong với mục đích tự cải thiện”
Đã có nhiều hội thảo khoa học bàn về chất lượng GDĐH, KĐCL, ĐBCL ởcác trường ĐH được thực hiện Nhìn chung, nội dung các hội thảo tập trung vàoviệc đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDĐH Việt Nam, đề cập đếncông tác KĐCL, ĐBCL GDĐH thông qua bài học kinh nghiệm từ các nước tiên tiếntrên thế giới và trong khu vực cũng như từ thực tiễn công tác tự đánh giá của cáctrường ĐH Việt Nam
1.1.2 Các nghiên cứu về hoạt động đảm bảo chất lượng bên trong
24
Trang 29Dựa trên quan điểm của AUN-QA về hệ thống ĐBCL bên trong trường ĐH(giám sát, đánh giá và cải tiến) và bộ tiêu chí đánh giá hệ thống đó, qua nghiên cứutài liệu tác giả nhận thấy các nghiên cứu về hoạt động ĐBCL bên trong tập trungvào nghiên cứu các hoạt động có nội hàm trọng tâm xoay quanh yếu tố con người,
đó là: hoạt động giám sát, hoạt động đánh giá người học, hoạt động xây dựng độingũ và hoạt động tự đánh giá
1.1.2.1 Hoạt động giám sát
Trong các trường ĐH, có thể nói, người học là trung tâm của mọi vấn đề liênquan đến GDĐH Vì vậy, người học cần được tham gia vào các hoạt động trongviệc đánh giá chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy, trong đó có việcđánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên thông qua việc lấy ý kiến phản hồi
Trên thế giới, sinh viên đánh giá giảng dạy (student ratings of teaching)
thường được dùng cả trong đánh giá hình thành và đánh giá tổng kết Trong hầu hếtcác trường ĐH ở nước ngoài, đây là vấn đề bắt buộc Đối với mục đích nâng ngạchhoặc đề bạt, các dữ liệu đánh giá bởi sinh viên cần được thu thập nhiều lần và suốtnăm học bằng cách dùng nhiều hình thức khác nhau Dữ liệu được cung cấp sẽ tíchlũy dần trong hồ sơ GV để làm minh chứng cho sự tiến bộ trong giảng dạy Thôngtin thu được từ SV có thể được GV sử dụng để cải tiến công tác giảng dạy, để tìm ranhững điểm mạnh và điểm yếu trong quá trình giảng dạy những môn khác nhau vànhững lớp khác nhau Thông tin thu được từ SV sau một vài năm cũng sẽ hữu íchcho việc bổ sung, cập nhật nội dung các môn học Dữ liệu thu được cũng được dùng
để kiểm tra lại mục tiêu đào tạo của khoa/bộ môn Các bộ câu hỏi có cấu trúcthường được sử dụng đối với trường hợp số SV lớn và đối với các môn học có mụctiêu và phương pháp giảng dạy tương tự Đối với những lớp có số lượng SV ít thì cómột vài câu hỏi mở để thu thập các thông tin trực tiếp hơn về GV và môn học
Tại Australia, việc đánh giá giảng viên ở các trường ĐH đã được thực hiệnkhá lâu và việc lấy ý kiến phản hồi từ SV qua khóa học được xem là một kênhthông tin trong đánh giá GV Tùy vào kết quả phản hồi, trưởng bộ môn và GV sẽthảo luận thêm để tìm cách cho khóa học sau tốt hơn Ngoài ra, số liệu thu thậpđược còn trở thành một phần nội dung những chỉ dẫn dành cho SV Các trường ĐHngày càng sử dụng kết quả phản hồi nhiều hơn cho mục đích marketing cho trườngmình
Trang 30Tại Pháp, cuối mỗi học kỳ, SV đánh giá GV bằng cách ghi vào sổ đánh giá
GV, trong đó có phần dành cho SV nhận xét thêm, thông thường SV Pháp đưa ra ýkiến khá dài, chi tiết và thẳng thắn Việc đánh giá được tiến hành 1 lần/kỳ SVkhông phải điền tên vào sổ Cuối học kỳ, SV nộp sổ đánh giá về văn phòng khoa.Nhân viên sẽ tổng hợp lại và thông báo cho GV và dựa trên cơ sở đó để điều chỉnhchương trình học, cũng như thay đổi GV (nếu cần) cho phù hợp Bên cạnh hệ thốngđánh giá theo “sổ chấm điểm”, SV cũng có thể trực tiếp yêu cầu họp lớp với trưởngkhoa để phản ánh về một môn học nào đó không phù hợp, hoặc GV dạy chưa tốt
Theo Mark L Lawall (1998), tại Trường ĐH Manitoba (Canada) đã sử dụngthang đánh giá hiệu quả giảng dạy của GV gồm 32 items với 9 nội dung: nội dunggiảng dạy, sự nhiệt tình, cách tổ chức, tương tác nhóm, thiết lập mối quan hệ với
SV, sự hướng dẫn, phương pháp kiểm tra, đánh giá, hệ thống bài tập, khối lượngcông việc Ngoài ra, cuối thang đánh giá còn có một phần đánh giá về hứng thú của
SV và đặc điểm của khóa học Thang đánh giá này được dành cho việc sử dụng xếphạng để đánh giá quá trình, trong đó các dữ liệu thu thập được sử dụng để thực hiệncác cải tiến trong giảng dạy và với mục đích chính trong việc đánh giá quá trìnhphát triển GV
Trong nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa phương pháp giảng dạy và sựhài lòng của SV tại Trung tâm hỗ trợ người học ở Đài Loan, Wu,WR (1992) chorằng nếu nhà trường nâng cao chất lượng của các nội dung đánh giá GV, các khóahọc, hiệu quả học tập, và các mối quan hệ giữa các cá nhân thì SV hài lòng vềphương pháp giảng dạy của GV hơn
Tại Việt Nam, để ĐBCL GDĐH, từ năm học 2007-2008 các cơ sở GDĐH đã
thực hiện lộ trình xây dựng quy định về đánh giá, xếp loại GV của Bộ Giáo dục vàĐào tạo Đây là lần đầu tiên Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo, hướng dẫn các trường
ĐH tổ chức lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của GV Căn
cứ kết quả triển khai thí điểm lấy ý kiến phản hồi từ SV về hoạt động giảng dạy của
GV ở một số trường ĐH trong năm học 2008-2009, vào các năm 2010 và 2013, BộGiáo dục và Đào tạo tiếp tục hướng dẫn các trường ĐH, học viện tổ chức lấy ý kiếnphản hồi từ SV, học viên cao học, nghiên cứu sinh về hoạt động giảng dạy của GVnhằm mục đích: (i) Góp phần thực hiện quy chế dân chủ trong cơ sở GDĐH; (ii)Góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của GV trong việc thực hiện mục tiêu đàotạo của cơ sở GDĐH, xây dựng đội ngũ GV có phẩm chất đạo đức, lương tâm nghề
26
Trang 31nghiệp và trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy tiên tiến, hiện đại; tăngcường tinh thần trách nhiệm của người học với quyền lợi, nghĩa vụ học tập, rènluyện của bản thân, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của cơ sở GDĐH;(iii) Tạo thêm một kênh thông tin để giúp GV có thể tự điều chỉnh hoạt động giảngdạy; góp phần vào công tác KĐCL cơ sở GDĐH; giúp cán bộ quản lý trong các cơ sởGDĐH có thêm cơ sở nhận xét, đánh giá GV; góp phần phòng ngừa những tiêu cực tronghoạt động giảng dạy ở cơ sở GDĐH, phát hiện và nhân rộng những điển hình tốt trongđội ngũ GV.
Có thể nói đây là một hoạt động chính thức và rất quan trọng được Bộ Giáodục và Đào tạo quan tâm, nhiều lần chỉ đạo thực hiện ở các trường ĐH trong nhữngnăm qua Vì vậy, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động này
Theo Phạm Văn Quyết & Lê Thị Hồng Duyên (2011), trên thực tế công việcnày đã được triển khai khá bài bản ở nhiều trường ĐH nước ta từ sớm hơn Ngay từnhững năm chín mươi của thế kỷ trước, một số trường ĐH dân lập ở Hà Nội vàthành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức lấy ý kiến phản hồi của SV về việc giảng dạycủa GV để từ đó trường có cơ sở tiếp tục duy trì hoặc dừng hợp đồng giảng dạy vớimột GV nào đó, hoặc sẽ góp ý trực tiếp cho từng GV khi ký tiếp các hợp đồng giảngdạy
Khi công tác lấy ý kiến đánh giá của người học đối với hoạt động giảng dạycủa GV đã được triển khai rộng khắp ở các trường, chúng ta thấy trên các phươngtiện truyền thông đại chúng, nhất là trên các trang báo mạng xuất hiện khá nhiều ýkiến khác nhau về công việc này Một số ý kiến phản đối gay gắt với lý do như thế
là đi ngược lại với đạo lý “tôn sư trọng đạo” của dân tộc, là dân chủ quá trớn, là
“thầy không ra thầy, trò không ra trò” Tuy nhiên, chiếm một số lượng đông đảo lànhững ý kiến ủng hộ hoạt động này một cách tích cực Họ cho rằng lấy ý kiến phảnhồi của SV là hoàn toàn phù hợp với quá trình hội nhập hiện nay, với việc mở rộngquy chế dân chủ trong đời sống xã hội; phản hồi của người học giúp GV tự nhìn lạibản thân và cố gắng hoàn thiện tri thức cũng như nghiệp vụ sư phạm, bên cạnh đó
SV sẽ được tôn trọng và nói chung hoạt động giảng dạy trong trường học sẽ trở nêntốt hơn Các tác giả cũng chỉ ra rằng điều cần nói, cần quan tâm là “các bên”: ngườiquản lý giáo dục (người lấy ý kiến và sử dụng kết quả đánh giá), sinh viên (ngườicho ý kiến đánh giá) và giảng viên (người có hoạt động giảng dạy được đánh giá)cần ứng xử với công việc này như thế nào và cần ứng xử với nhau ra sao để hoạt
Trang 32động này mang lại hiệu quả cao nhất Bài viết này xem xét các khía cạnh: (i) Việcthiết kế công cụ lấy ý kiến cần phải thực hiện như thế nào để làm hài hòa được giữayêu cầu của người quản lý, yêu cầu của khoa học và sự chấp nhận của cộng đồng xãhội, (ii) Việc thu thập ý kiến cần được tổ chức ra sao để người học tự tin, mạnh dạnsong cũng thể hiện hết trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin trung thực, kháchquan, (iii) Các ý kiến đánh giá thu được cần sử dụng như thế nào để người đượcđánh giá dễ chấp nhận, mà vẫn đảm bảo được đầy đủ mục đích của việc lấy ý kiếnđánh giá.
Nghiên cứu khảo sát ý kiến SV thuộc 10 khoa/bộ môn của 4 đơn vị thànhviên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trong đánh giá chất lượng giảngdạy đã chỉ ra những điểm mạnh của chất lượng giảng dạy ở Đại học Quốc gia Thànhphố Hồ Chí Minh bao gồm: việc cung cấp tài liệu học tập vào đầu khóa học, chấtlượng GV nói chung (về kiến thức, sự nhiệt tình, trách nhiệm, việc sử dụng thờigian hiệu quả và việc khuyến khích sự tham gia của SV) Những điểm chưa mạnhlà: sự thiếu thông tin về tài liệu và thiết bị hỗ trợ học tập, nội dung của tài liệu họctập chưa cập nhật, thiếu thiết bị hỗ trợ giảng dạy, thiếu chú trọng phát triển kỹ năngdiễn đạt và tư duy phê phán cho SV, chưa chú trọng đến việc kiểm tra đánh giátrong quá trình học Nhìn chung kết quả nghiên cứu cho thấy “độ hài lòng của sinhviên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đối với chất lượng giảng dạy hiệnnay chỉ mới đạt mức trung bình khá, và không có sự chênh lệch đáng kể nào giữacác đơn vị” (Vũ Thị Phương Anh, 2005)
Một số nghiên cứu trường hợp về hoạt động lấy ý kiến phản hồi từ người học
về hoạt động giảng dạy của GV hay đánh giá chất lượng giảng dạy của GV: Trường
ĐH Nha Trang (Lê Văn Hảo, 2010), Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, Trường ĐH Sưphạm Huế, Trường ĐH Sư phạm Kĩ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Trường ĐHĐiện lực (Trần Đức Hiếu, 2012), Trường ĐH Kinh tế và Quản trị kinh doanh - ĐHThái Nguyên (Trần Xuân Kiên, 2014), Trường ĐH Công nghệ Thành phố Hồ ChíMinh (Nguyễn Thị Sáu, Văn Thị Thanh Tuyền, 2014), Trường ĐH Nguyễn TấtThành (Lê Thị Kim Oanh, 2014)
Điểm chung của các kết quả nghiên cứu này là: (i) Về nội dung lấy ý kiến, cơbản bao gồm: công tác chuẩn bị giảng dạy, nội dung và phương pháp giảng dạy củaGV; học liệu phục vụ giảng dạy, học tập và thời gian giảng dạy của GV; tráchnhiệm và sự nhiệt tình của GV đối với người học; khả năng của GV trong việc
28
Trang 33khuyến khích sáng tạo và tư duy độc lập của người học trong quá trình học tập; sựcông bằng của GV trong kiểm tra đánh giá quá trình và đánh giá kết quả học tập củaSV; năng lực của GV trong tư vấn và tổ chức, hướng dẫn hoạt động học của ngườihọc; tác phong sư phạm của GV; (ii) Về hình thức thực hiện lấy ý kiến: có hai hìnhthức là bằng phiếu hỏi và bằng online, xu thế của các trường hiện nay là lấy ý kiếnbằng online; (iii) Thông qua kết quả nghiên cứu cho thấy, có những tác động tíchcực đến giảng viên, SV và công tác quản lý GV thay đổi tư duy trong quá trìnhgiảng dạy, có ý thức trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảngdạy, nâng cao tinh thần trách nhiệm, xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa thầy vàtrò, nhận thức đúng, đầy đủ và quen dần với hoạt động “trò đánh giá thầy” SV có ýthức trách nhiệm đối với quá trình tham gia học tập tại nhà trường, tạo tính chủđộng trong việc lĩnh hội kiến thức, Nhà trường có căn cứ để xây dựng chiến lượcphát triển đội ngũ GV, đổi mới hoạt động đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đàotạo, góp phần xây dựng hệ thống ĐBCL bên trong, hình thành văn hóa chất lượngtrong nhà trường; (iv) kết quả khảo sát ý kiến phản hồi từ SV chỉ là một kênh thôngtin để tham khảo chứ không phải lấy đó làm kết quả để đánh giá về GV, vì ngoàigiảng dạy GV còn rất nhiều các hoạt động khác.
Bên cạnh đó, một số tác giả cũng đề xuất cần có một mẫu đánh giá thốngnhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo để các trường thuận lợi hơn, đánh giá được toàndiện hơn Ban đầu xử lý kết quả phản hồi không phán xét, nhưng sau đó phải cóbiện pháp chế tài nếu GV vẫn bị đánh giá không tốt nhiều lần Có những quy chếkhen thưởng cụ thể cho những GV được đánh giá tốt, đồng thời phải xem xét GV bịđánh giá kém
Ngoài ra, Hoàng Đình Huề (2011), trên cơ sở kết quả khảo sát SV vừa tốtnghiệp về chương trình đào tạo bác sĩ đa khoa tại Trường Đại học Y Dược - Đại họcHuế đã chuyển tải những ý kiến của SV tốt nghiệp đóng góp giúp nhà trường nângcao chất lượng giáo dục Lê Chi Lan (2015) nghiên cứu tác động của yêu cầu từngười sử dụng lao động đến chương trình đào tạo ở một số trường ĐH tại thành phố
Hồ Chí Minh và đưa ra kết quả: Yêu cầu của người sử dụng lao động có tác độngmạnh đối với việc thay đổi cấu trúc của chương trình đào tạo Yêu cầu của người sửdụng lao động có tác động đến nội dung chương trình đào tạo nhưng mức độ chưacao Nghiên cứu cho thấy, việc phát triển chương trình đào tạo hiện nay chỉ chútrọng về cấu trúc tức là tăng hoặc giảm khối lượng kiến thức, còn nội dung chương
Trang 34trình đào tạo chưa thực sự đáp ứng những mong mỏi từ phía người sử dụng laođộng Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các giải pháp thay đổi chương trình đào tạo đốivới các trường ĐH Tuy nhiên, đây mới chỉ là kết quả nghiên cứu trường hợp tại cáctrường ĐH khu vực thành phố Hồ Chí Minh, chưa thể kết luận được đối với cáctrường trên phạm vi toàn quốc.
Tóm lại, các nghiên cứu về ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảngdạy của GV đều thống nhất chỉ nên coi ý kiến phản hồi từ người học như một kênhtrong rất nhiều kênh thông tin thu được trong hoạt động đánh giá về công việc củangười thầy Nguồn thông tin này chỉ mang tính tham khảo, gợi mở hữu ích giúp cho
GV hoàn thiện bài giảng, nhất là phương pháp giảng dạy, khả năng truyền tải trithức, bổ sung kiến thức mới nhằm đáp ứng nhu cầu của người học, nhu cầu xã hội;giúp cho nhà quản lý nắm được tình hình giảng dạy trong trường, sự phản ứng củangười học, khả năng đáp ứng của người thầy Không nên coi đây là thông tin chủyếu cho việc đánh giá người thầy, nhất là đánh giá về ý thức, tư cách, việc hoànthành nhiệm vụ Đồng thời, cũng khuyến nghị cần tạo ra và tiến tới coi công việcnày như một hoạt động thường nhật, một thói quen, một cách ứng xử bình thường
mà mọi SV và GV phải thực hiện trong từng học kỳ, từng năm học tại các trườngĐH
Việc nắm bắt thông tin phản hồi từ người sử dụng lao động, từ sinh viên tốtnghiệp là những kênh thông tin quan trọng để điều chỉnh chương trình đào tạo tạicác trường ĐH nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu của xã hội
1.1.2.2 Hoạt động đánh giá người học
Theo Tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học của Anh (QAA), đánh
giá kết quả học tập là việc thiết lập một quá trình đo kết quả của SV về các mặt kiếnthức đạt được Đánh giá kết quả học tập cung cấp phương pháp, phương tiện để xếphạng SV; giúp đưa ra quyết định về việc SV đã sẵn sàng học tiếp hay không, họ cóxứng đáng nhận học bổng hay phần thưởng không, hoặc chứng minh năng lực hànhnghề của người học Đánh giá kết quả học tập còn cung cấp cho SV sự phản hồi vềviệc học của họ và giúp họ nâng cao thành tích của mình Nó cũng giúp đánh giáhữu hiệu việc dạy của GV
Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng,không thể tách rời của quá trình dạy học (Phan Bích Ngọc, 2009; Lại Phương Liên,2013; Lê Thanh Oai, 2014; Thái Thị Nga, 2014; Trần Thị Hoài & Phạm Văn Phong,
30
Trang 352015), là khâu then chốt của quá trình dạy học (Phan Bích Ngọc, 2009) Trong khi
Lê Thanh Oai (2014) cho rằng kiểm tra đánh giá là khâu cuối cùng của quá trìnhdạy học thì Phan Bích Ngọc (2009) lại cho rằng kiểm tra đánh giá không chỉ là khâucuối trong chương trình dạy học mà nó còn là khâu mở đầu cho quá trình sau, vì từkết quả này mà đặt ra mục tiêu, nội dung, phương pháp quá trình dạy học mới
Mặt khác, kiểm tra đánh giá còn phát triển năng lực tự đánh giá – một khả năng
quan trọng đối với việc học tập không chỉ trong hoạt động học của SV mà còn cầnthiết cho việc học tập và tu dưỡng suốt đời của mỗi con người trong cuộc sống khiđối chiếu với chuẩn mực xã hội
Việc đánh giá chất lượng học tập của SV không chỉ là cơ sở để phân loại SV(Phan Bích Ngọc, 2009), xác nhận kết quả học tập (Thái Thị Nga, 2014) mà hơn thếnữa nó có vai trò quan trọng trong việc xác định chất lượng đào tạo, giúp cho sựđiều chỉnh nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, hình thức tổ chức,nâng cao chất lượng đào tạo (Phan Bích Ngọc, 2009), cải tiến chất lượng giáo dục(Thái Thị Nga, 2014)
Điểm chung nữa trong các nghiên cứu về vấn đề này là có ba hình thức đánh
giá: đánh giá chẩn đoán, được thực hiện ở giai đoạn đầu của quá trình dạy học;
đánh giá thường xuyên, được thực hiện trong suốt quá trình dạy học; đánh giá tổng kết, được thực hiện ở cuối quá trình dạy học Theo Cấn Thị Thanh Hương & Lê Đức
Ngọc (2010), trước đây, việc kiểm tra đánh giá thường theo hình thức viết và diễn ra
ở cuối học kỳ Ngày nay, xu hướng đánh giá thành quả học tập của người học sửdụng nhiều phương pháp thu thập chứng cứ trước, trong và sau các hoạt động họctập để đánh giá toàn diện hơn năng lực người học Nếu phương pháp đánh giá họctập tốt sẽ mang lại sự thành công cho người học và chương trình đào tạo Việc thuthập thông tin (từ nhiều nguồn khác nhau) giúp GV và nhà quản lý nắm được nộidung, chương trình đào tạo Công việc giảng dạy và đánh giá nên kết hợp đan xenvới nhau sao cho việc cải tiến các phương pháp đánh giá cũng sẽ cải tiến luôn côngtác giảng dạy và học tập Cần có những phương pháp đánh giá phù hợp để đo lường
sự tiến bộ và thành quả của người học trong các môi trường giảng dạy
– học tập khác nhau Tuy nhiên, việc thay đổi quan niệm truyền thống về đánh giá làmột thách thức Vì vậy, cần hỗ trợ GV và chương trình đào tạo việc biên soạn vàtriển khai các phương pháp đánh giá học tập mới Các phương pháp đánh giá (diễn
ra trong quá trình học) giúp GV và người học theo dõi sự phát triển của kiến thức,
Trang 36kỹ năng và thái độ Các phương pháp đánh giá tổng kết mang đến cho GV và ngườihọc cơ hội để có được quan niệm rộng hơn, tổng thể hơn trong việc đạt được cácchuẩn đầu ra Để việc đánh giá kết quả học tập đạt hiệu quả tối đa, trước hết ngườihọc, GV, nhà quản lý phải xác định các mức độ chuẩn đầu ra cần đạt được Chấtlượng đánh giá là động cơ thúc đẩy, duy trì những kết quả đã đạt được hoặc gópphần cải tiến các phương pháp đánh giá, những trải nghiệm giảng dạy-học tập trongtương lai Ở khía cạnh khác, Lại Phương Liên (2013), Thái Thị Nga (2014), Đặng
Vũ Kim Chi & Võ Thị Bích Thảo (2014), Trần Thị Hoài & Phạm Văn Phong(2015) chỉ ra những điểm yếu cơ bản của kiểm tra đánh giá trong các trường ĐHhiện nay như: chưa xác định rõ triết lý đánh giá, thiếu sự phản hồi cho người học,chậm đổi mới các hình thức đánh giá Từ đó, các tác giả đề xuất cần áp dụng kiểmtra đánh giá theo tiếp cận năng lực người học (tập trung vào đánh giá kiến thức, kỹnăng, thái độ và một số năng lực thành phần khác) Thái Thị Nga (2014) cho rằng
để đánh giá năng lực học tập của SV, rõ ràng không thể chỉ dựa vào kết quả bài thicuối kỳ mà cần dựa vào kết quả đánh giá trong quá trình học tập mỗi học phần của
SV, và trong quá trình tích lũy kiến thức, kỹ năng ở trường ĐH Muốn vậy, việccung cấp cho GV một công cụ đánh giá đủ mạnh, hiệu quả là hết sức cần thiết Nếuxây dựng được ngân hàng câu hỏi đáp ứng đầy đủ các tiêu chí nội dung, kỹ thuậtcho mỗi học phần sẽ giúp khắc phục được các điểm yếu đã tồn tại lâu nay, cung cấpcông cụ đánh giá đáng tin cậy giúp GV có thể sử dụng trong toàn bộ quá trình đánhgiá kết quả học tập của SV, từ đánh giá quá trình tới đánh giá tổng kết, vào bất kỳthời điểm nào của quá trình dạy học khi GV cảm thấy cần thiết
Qua đó, có thể khẳng định rằng kiểm tra đánh giá là khâu rất quan trọng củaquá trình dạy học Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập nhất thiết phải căn cứ vàomục tiêu dạy học và được thực hiện trong suốt quá trình dạy học Các nghiên cứuđều thống nhất về mục đích, nội dung và phương pháp kiểm tra đánh giá kết quảhọc tập Kiểm tra đánh giá góp phần thúc đẩy quá trình dạy và học, cải tiến và nângcao chất lượng đào tạo Cần sử dụng nhiều hình thức, phương pháp kiểm tra đánhgiá khác nhau Đặc biệt, các nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải đổi mới kiểm trađánh giá kết quả học tập ở các trường ĐH hiện nay trong bối cảnh đổi mới căn bản
và toàn diện giáo dục, đào tạo Xu hướng của quốc tế cũng như đề xuất của các nhànghiên cứu ở Việt Nam là kiểm tra đánh giá theo tiếp cận năng lực người học Mộtgiải pháp được đưa ra đó là xây dựng ngân hàng câu hỏi thi Xây dựng được một
32
Trang 37ngân hàng câu hỏi có chất lượng sẽ đảm bảo được tính đồng bộ trong đánh giá quátrình và đánh giá tổng kết, nâng cao hiệu quả của hoạt động đánh giá kết quả họctập, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong trường ĐH phù hợp với xu hướnghội nhập quốc tế của GDĐH Việt Nam.
1.1.2.3 Hoạt động xây dựng đội ngũ
Đội ngũ GV các trường ĐH có vị trí, vai trò quan trọng, họ là những ngườiquyết định đến chất lượng, hiệu quả đào tạo trong các nhà trường Thấy rõ vai tròcủa người thầy nói chung, đội ngũ GV trong các trường ĐH nói riêng đối với sựnghiệp giáo dục, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: “Nhà giáo giữ vai trò quyếtđịnh trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục”, “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáodục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế,đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáodục là khâu then chốt”
Các nghiên cứu về hoạt động này đều cho rằng xây dựng đội ngũ GV đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu và chuẩn hóa về trình độ là một trong những nhiệm vụquan trọng nhất của các trường ĐH Có nâng cao được chất lượng đội ngũ GV thìmới có thể nâng cao được chất lượng đào tạo của hệ thống GDĐH
Turney & Wright (1990) nhận định: “Chất lượng dạy học phụ thuộc phần lớnvào chất lượng GV; chất lượng GV phụ thuộc phần lớn vào chất lượng đào tạo GV;chất lượng đào tạo GV phụ thuộc phần lớn vào trình độ của người đào tạo GV”.Thái Huy Bảo (2010) căn cứ vào các văn bản pháp quy của Chính phủ, các văn bảnhiện hành về tuyển dụng GV của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề xuất quy trình tuyểndụng gồm 6 bước: tiếp đón ban đầu và phỏng vấn sơ bộ; sàng lọc qua hồ sơ xinviệc; các trắc nghiệm nhân sự trong tuyển dụng; phỏng vấn tuyển dụng; thẩm tra cácthông tin thu thập được trong quá trình tuyển dụng; ra quyết định tuyển dụng.Thomas Estermann & Terhi Nokkala (2009) xác định các nội dung tự chủ củatrường ĐH trong đó có tự chủ nguồn nhân lực Với quyền tự chủ này, trường ĐHđược quyền quyết định về các vấn đề liên quan đến tuyển dụng, lương bổng, sửdụng nguồn nhân lực các vị trí trong khu vực học thuật và khu vực hành chính Theo Ngô Thanh Trúc (2014), tự chủ trong tuyển dụng GV tại các cơ sở đào tạo đãđược xác định cụ thể tại Luật Giáo dục đại học và các văn bản quy phạm pháp luậtkhác như Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Thủ tướng Chính phủquy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy,
33
Trang 38biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, cùng với một số thông
tư hướng dẫn thi hành GV sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng và tự bồidưỡng thường xuyên để có thể thực hành nghề nghiệp Tuy vậy, chất lượng GV phụthuộc rất nhiều vào công tác tuyển dụng với những yêu cầu cụ thể không chỉ vềtrình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho nhiệm vụ hiện tại, nâng cao trình độ trongtương lai mà còn yêu cầu cao về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống và đặc thùcủa từng trường ĐH Vì thế, muốn có được GV đạt yêu cầu, các trường ĐH cầnđược tự chủ trong tuyển dụng Đây là một trong những nội dung quan trọng và làđiều tất yếu trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý giáo dục nhằm tạo sự chủ động
và nâng cao trách nhiệm xã hội của các trường ĐH
Có một điều đáng lưu ý đã được Trần Xuân Thảo (2006) nêu ra là: “Cáctrường ĐH ở Hoa Kỳ không tuyển dụng những SV tốt nghiệp từ trường mình ngaysau khi tốt nghiệp để tránh hậu quả đóng khung về kiến thức và kinh nghiệm” Điềunày phù hợp với một đề xuất từ nghiên cứu của Quỹ giáo dục Việt Nam (VEF), một
cơ quan độc lập của Mỹ, đã thực hiện dự án “Những quan sát về GDĐH trong cácngành Công nghệ thông tin, Kỹ thuật điện-điện tử-viễn thông và Vật lý tại một sốtrường ĐH Việt Nam” khi đưa ra khuyến cáo: “Tuyển GV từ những SV tốt nghiệpcủa chính trường mình sẽ làm cản trở môi trường nghiên cứu năng động” (VEFtrong Nguyễn Văn Đệ, 2015)
Nguyễn Thiên Tuế (2009) cho rằng cần phải đánh giá GV dựa trên kết quảthực hiện nhiệm vụ của người GV, đó là: giảng dạy, nghiên cứu khoa học và thamgia các hoạt động phục vụ cho sự phát triển của nhà trường Trong khi đó, Thái HuyBảo (2011) chỉ rõ để phát triển đội ngũ GV một cách hiệu quả, cùng với việc tuyểndụng, đào tạo bồi dưỡng, cần phải đánh giá một cách khách quan, khoa học đội ngũ
GV trên 4 lĩnh vực: phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống; giảng dạy; nghiên cứukhoa học; hoạt động phát triển đơn vị, phục vụ xã hội và cộng đồng Đồng thời,khuyến cáo đánh giá GV là công việc hết sức khó khăn và phức tạp, vì đây là vấn đềnhạy cảm, quyết định đến uy tín, danh dự và sự nghiệp của con người, nhất là đốivới người thầy, cần phải tiến hành một cách thận trọng
Đối với việc phát triển đội ngũ GV, đào tạo bồi dưỡng GV, Đoàn Thị ThanhThủy (2008) và Đinh Thị Minh Tuyết (2010) đề xuất cần phải xây dựng và chuẩnhóa đội ngũ GV bằng biện pháp: làm tốt công tác quy hoạch; kế hoạch hóa quy môđội ngũ GV; xây dựng chiến lược đầu tư phát triển và chính sách đối với GV; đổi
34
Trang 39mới chế độ tuyển dụng GV; đổi mới công tác quản lý GV; quan tâm đào tạo, bồidưỡng GV; coi trọng rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống cho GV; thựchiện cải cách tiền lương và các chính sách đối với GV Riêng GV sư phạm, NguyễnThị Hường (2015) cho rằng để nâng cao năng lực cho GV, cần phải: đổi mới côngtác tuyển dụng, đào tạo; ban hành chuẩn nghề nghiệp GV sư phạm; đổi mới chươngtrình đào tạo ở các trường sư phạm; đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, tự bồidưỡng; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học giáo dục trong các trường sư phạm; nângcao trình độ tin học, ngoại ngữ; bổ sung hoàn thiện cơ chế chính sách đãi ngộ vềlương và phụ cấp ưu đãi; xây dựng và thực hiện môi trường văn hóa, thân thiện, dânchủ, bình đẳng và hợp tác Nguyễn Thị Thanh Hồng (2015) bổ sung thêm một biệnpháp phát triển năng lực dạy học cho GV sư phạm, đó là thông qua trao đổi trựctuyến bằng cách thiết lập và duy trì các diễn đàn trực tuyến.
Các nghiên cứu trường hợp về phát triển đội ngũ GV: Các trường ĐH sưphạm kỹ thuật (Hoàng Thị Minh Phương, 2009), Học viện chính trị-hành chính khuvực III (Trương Thị Như Yến, 2010), các trường đại học công an nhân dân (VõThành Đạt, 2014), Trường Đại học Sài Gòn (Thái Huy Bảo, 2010), Trường ĐH sưphạm kỹ thuật Vĩnh Long (Phùng Thế Tuấn, 2015), đều chỉ ra rằng cần thực hiệnmột số giải pháp: xây dựng quy hoạch đội ngũ GV; tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡngtạo nguồn và bổ sung đội ngũ GV; phát triển các GV có trình độ và chức danh cao;tạo môi trường thuận lợi cho phát triển đội ngũ GV; hoàn thiện cơ chế quản lý vàchế độ chính sách đối với đội ngũ GV Một vài nghiên cứu trong số đó còn nêuthêm biện pháp xây dựng cơ chế đánh giá và sàng lọc GV, mở rộng hợp tác quốc tế
để đào tạo và trao đổi GV Cũng là nghiên cứu trường hợp, Cao Tuấn Anh (2010)khi nghiên cứu về bồi dưỡng đội ngũ GV trẻ của Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, cũngđưa ra các biện pháp tương tự như trên Ngoài ra, đề xuất thêm một biện pháp rấtđáng chú ý, đó là khuyến khích GV trẻ tham gia nghiên cứu khoa học để có nhiều
cơ hội được làm việc với các GV có chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm Đây là vấn
đề không mới nhưng thực tế hiện nay rất ít trường ĐH làm tốt công việc này
Ở một khía cạnh khác, trong công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ GVvùng đồng bằng sông Cửu Long, Nguyễn Văn Đệ (2013) đưa ra giải pháp liên kết
đội ngũ GV các trường ĐH trong vùng nhằm đạt được 3 mục tiêu: làm tăng tiềm lựcgiảng dạy, nghiên cứu khoa học, khai thác tối đa khả năng của mỗi GV; thực hiệncông khai và dân chủ hóa cơ chế đào tạo, nâng cao chất lượng, đảm bảo sự phát
Trang 40triển bền vững cho các trường trong khu vực; giúp các trường quản lý khối lượngcông việc và quỹ thời gian lao động của GV.
Thái Văn Thành & Nguyễn Như An (2015) nhìn nhận trưởng bộ môn là GVđứng đầu bộ môn, phải có đủ tiêu chuẩn GV giảng dạy trình độ đại học, có kinhnghiệm giảng dạy, nghiên cứu khoa học, năng lực quản lý Vì vậy, trưởng bộ môn
có vai trò hết sức quan trọng trong việc ĐBCL GDĐH, góp phần đổi mới căn bản vàtoàn diện giáo dục, đào tạo Cũng nghiên cứu về trưởng bộ môn, Thái Văn Thành,Phan Hùng Thư & Vũ Văn Hưng (2014) nhận thấy đội ngũ trưởng bộ môn còn cónhững tồn tại: bất cập về số lượng, cơ cấu và trình độ; chưa thực sự tâm huyết, chưađáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ mới; đa số chưa được đào tạo
có hệ thống về công tác quản lý, trình độ và năng lực điều hành quản lý còn bất cập,tính chuyên nghiệp chưa cao, quản lý chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân nênchất lượng, hiệu quả công tác còn hạn chế, chưa theo kịp với thực tiễn và nhu cầuphát triển của trình độ quản lý trong sự nghiệp đổi mới GDĐH và hội nhập quốc tế;
tư duy quản lý chậm được đổi mới, sự đổi mới trong chỉ đạo điều hành còn hạnchế Các tác giả cho rằng cần phải nhanh chóng xây dựng, phát triển đội ngũtrưởng bộ môn nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới GDĐH Những giải pháp được đưa
ra, đó là: đổi mới công tác quy hoạch, bổ nhiệm, sử dụng trưởng bộ môn; đổi mớicông tác đào tạo, bồi dưỡng trưởng bộ môn theo định hướng tiếp cận năng lực; xâydựng chuẩn trưởng bộ môn và đánh giá trưởng bộ môn theo chuẩn; tạo động lực vàxây dựng môi trường làm việc thuận lợi cho đội ngũ trưởng bộ môn
Về đào tạo và bồi dưỡng GV, theo Freeman (1989), trọng tâm nghiên cứutrong những năm gần đây đã chuyển hướng từ việc tìm kiếm những phương pháp tốthơn trong công tác đào tạo GV sang việc tìm hiểu và mô tả về cách thức mà các GV
tự nâng cao năng lực và chất lượng giảng dạy của mình thông qua việc tự đúc rútkinh nghiệm Gebhard (2006) cho rằng chúng ta có thể thu được nhiều kết quả hơnqua việc khám phá nếu việc khám phá ấy xuất phát từ khao khát muốn khám phá để
mở rộng hiểu biết chứ không phải vì muốn giải quyết vấn đề Quan điểm ở đây làthông qua quá trình tự khám phá, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về công việc giảngdạy của mình qua việc thay đổi phương pháp giảng dạy, thực hiện những thay đổinhỏ trong công việc giảng dạy hay cách ứng xử, đơn giản chỉ là để xem kết quả sẽnhư thế nào Do đó, giải pháp “khám phá” đang được xem là một công cụ giúp GVkhám phá những khả năng thay đổi và hoàn thiện chính bản thân mình
36