1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu so sánh nguồn lực phát triển của singapore và hàn quốc giai đoạn 1961 1979 62 31 06

194 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 2,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành công về phát triển của Singapore và Hàn Quốc là do nhiều nguyên nhân: ý chí tự cường quốc gia - dân tộc; tầm nhìn và sự sáng suốt trong quá trình hoạch địnhđường lối phát triển của

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, xuất phát từ yêucầu phát sinh trong công việc để hình thành hướng nghiên cứu Các số liệu trích dẫn

có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc; kết quả trình bày trong luận án đượcthu thập được trong quá trình nghiên cứu là trung thực, chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hường

Trang 4

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Mai Ngọc Chừ - chủ nhiệm Bộmôn Đông Nam Á - Khoa Đông Phương học, PGS.TS Lê Đình Chỉnh - nguyên chủnhiệm Khoa Đông Phương học, TS Lưu Tuấn Anh - chủ nhiệm Khoa Đông Phươnghọc đã tận tình chỉ dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập,nghiên cứu và thực hiện luận án.

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong và ngoài nước đã chia sẻ các thôngtin khoa học và góp ý cho luận án của tôi như GS Park Tae-Gyun (Đại học Quốc giaSeoul), GS Jung Byung-Joon (Đại học nữ Ewha), GS Andrew Kim Eungi (Đại họcHàn Quốc), ông Jee Chang-sun (Korea Foundation), PGS.TS Vũ Minh Khương (Đạihọc Quốc gia Singapore), GS.TS Lê Quang Thiêm (Trường Đại học Khoa học Xã hội

& Nhân văn), GS.TS Hoa Hữu Lân (Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội HàNội), PGS.TS Trần Khánh (Viện Nghiên cứu Đông Nam Á), PGS.TS Hoàng Thị ThanhNhàn (Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới), PGS.TS Đỗ Thu Hà (Khoa Đông Phươnghọc), PGS.TS Nguyễn Tương Lai (Khoa Đông Phương học), PGS.TS Phạm QuangMinh, PGS.TS Hoàng Anh Tuấn, PGS.TS Bùi Thành Nam (Trường Đại học Khoa học

Xã hội & Nhân văn), TS Nguyễn Huy Hoàng (Viện Nghiên cứu Đông Nam Á), TS.Nguyễn Thanh Hải (Australia), Cho Jin-seok (Nhà sách Y Eum Seoul Hàn Quốc) cùngnhiều thầy cô khác

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn các đồng nghiệp trong và ngoài khoa Đông Phươnghọc đã không tiếc thời gian chia sẻ các kiến thức khoa học, góp ý bản thảo luận án chotôi Các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã động viên và chia sẻ với tôi các công việckhác của khoa để tôi có thêm thời gian tập trung cho luận án

Tôi cũng biết ơn Quỹ Korea Foundation và Quỹ học bổng Sakakawa đã cấp họcbổng cho tôi đi tìm kiếm tài liệu tại Hàn Quốc và Singapore trong những năm vừa qua

Cuối cùng, tôi xin dành sự biết ơn tới những người thân trong gia đình đã quan tâm, chia sẻ khó khăn và động viên tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hường

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9

1.1 Tình hình nghiên cứu đề tài 9

1.1.1 Nghiên cứu so sánh nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc 9

1.1.2 Nghiên cứu về nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc 13

1.2 Đánh giá về các công trình nghiên cứu liên quan và nội dung nghiên cứu của luận án 21

1.2.1 Đánh giá về các kết quả nghiên cứu liên quan đến luận án 21

1.2.2 Những nội dung được tiếp tục nghiên cứu trong luận án 21

Tiểu kết 23

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HOẠCH ĐỊNH PHÁT TRIỂN CỦA SINGPORE VÀ HÀN QUỐC ĐẦU THẬP NIÊN 1960 24

2.1 Tổng quan về nguồn lực phát triển 24

2.1.1 Một số lý thuyết phát triển và khái niệm liên quan 24

2.1.2 Vai trò của nguồn lực phát triển đối với tăng trưởng kinh tế 30

2.2 Cơ sở hoạch định phát triển của hai quốc gia đầu thập niên 1960 31

2.2.1 Bối cảnh chính trị, kinh tế - xã hội 31

2.2.2 Những tiền đề phát triển của hai quốc gia 33

Tiểu kết 49

Chương 3 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA SINGAPORE VÀ HÀN QUỐC GIAI ĐOẠN 1961-1979 TỪ GÓC ĐỘ SO SÁNH 51

3.1 Thực trạng nguồn nhân lực của Singapore và Hàn Quốc thời kỳ đầu công nghiệp hóa 51

3.2 Định hướng chính sách và tình hình thực hiện 53

3.2.1 Các định hướng phát triển nguồn nhân lực 53

3.2.2 Tình hình thực hiện phát triển nguồn nhân lực 60

3.3 Phương thức quản lývà sử dụng nguồn nhân lực 79

3.3.1 Chính sách việc làm 79

3.3.2 Chính sách thu hút và trọng dụng người tài 82

3.3.3 Nâng cao chất lượng cuộc sống 86

Tiểu kết 89

Trang 6

Chương 4 NGUỒN VỐN TÀI CHÍNH CỦA SINGAPORE VÀ HÀN QUỐC GIAI

ĐOẠN 1961-1979: TỪ GÓC ĐỘ SO SÁNH 91

4.1 Nhu cầu cấp thiết về nguồn vốn tài chính đối với phát triển kinh tế của Singapore và Hàn Quốc 91

4.2 Chính sách huy động nguồn lực tài chính phục vụ phát triển của hai quốc gia 93

4.2.1 Huy động nguồn lực tài chính trong nước 93

4.2.2 Huy động nguồn lực tài chính bên ngoài 99

4.3 Quản lý và phân bổ nguồn lực tài chính phục vụ phát triển của hai quốc gia 108

4.3.1 Mở rộng các kênh quản lý và cung cấp vốn 108

4.3.2 Phân bổ vốn đầu tư vào các ngành công nghiệp trọng điểm 111

4.3.3 Tăng vốn đầu tư phát triển cơ sở vật chất, máy móc, kĩ thuật 116

Tiểu kết 119

Chương 5 NHẬN XÉT CHUNG VỀ NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN CỦA SINGAPORE - HÀN QUỐC VÀ BÀI HỌC THAM KHẢO CHO VIỆT NAM 121

5.1 Nhận xét chung về nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc 121

5.1.1 Đóng góp của nguồn lực đối với sự tăng trưởng của hai quốc gia giai đoạn 1961-1979 121

5.1.2 Thành tựu phát triển nguồn lực con người và tài chính của hai quốc gia sau gần hai thập niên phát triển 128

5.2 Bài học tham khảo cho Việt Nam về phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn lực 135

5.2.1 Bài học chung 135

5.2.2 Bài học liên quan tới phát triển và sử dụng nguồn lực con người 137

5.2.3 Bài học liên quan tới huy động và sử dụng nguồn vốn tài chính 144

Tiểu kết 151

KẾT LUẬN 152

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN 155

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 156

Trang 7

Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

MNCs

Ratio

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

Trang 8

CPF Central Provident Fund Quỹ Dự phòng Trung ương

ODA

Official Development Assistance

Hỗ trợ phát triển chính thức/ Viện trợphát triển

GNP

Gross National Product

Tổng sản lượng quốc gia hay Tổngsản phẩm quốc gia

GNI

Gross National Income

Tổng thu nhập quốc gia hay Tổng thunhập quốc dân

Trang 9

UNESCO United Nations Educational Scientific Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn

ASEAN Association of South East Asian

Hiệp hội các nước Đông Nam ÁNations

DBUs

ACUs

Công ty Town Jurong

UNDP

Chương trình phát triển của Liên hợp

NUS National University of Singapore Trường Đại học Quốc gia Singapore

PIPS

Ủy ban dịch vụ tư vấn chuyên môn và

CATS Ủy ban chiêu mộ nhân tài ngoại quốc Committee for Attracting Talent to

Singapore

Trang 10

KIST Korea Institute of Science and

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình viện trợ thiết bị và nguyên vật liệu của Mỹ cho Hàn Quốc

cho tới những năm 1950 41

Bảng 3.1 Thực trạng tuyển dụng lao động tại các ngành công nghiệp Hàn Quốc 1955 - 1961 53

Bảng 3.2 Mục tiêu kế hoạch 5 năm phát triển kỹ thuật 55

Bảng 3.3 Ngân sách nhà nước dành cho giáo dục của Singapore giai đoạn 1961-1979 59

Bảng 3.4 Ngân sách nhà nước và ngân sách Bộ giáo dục của Hàn Quốc giai đoạn 1961-1979 60

Bảng 3.5 Số học sinh nhập học tiểu học và trung học ở Singapore 62

Bảng 3.6 Tỷ lệ tăng của học sinh phân cấp theo trường 1952 - 1975 ở Hàn Quốc 63

Bảng 3.7 Thống kê đào tạo nhân lực giai đoạn 1962-1966 66

Bảng 3.8 Thống kê tình hình đào tạo nghề nghiệp của Hàn Quốc 1967-1971 69

Bảng 3.9 Gia tăng dân số Singapore, 1931-1980 78

Bảng 3.10 Tỷ lệ gia tăng lực lượng lao động ở Singapore 81

Bảng 3.11 Tình trạng chảy máu chất xám của Hàn Quốc 85

Bảng 3.12 Tình hình nhà ở của Singapore 87

Bảng 4.1 Tổng tiết kiệm trong nước của một số quốc gia Châu Á giai đoạn 1960-1981 96

Bảng 4.2 Cơ cấu thuế của Singapore 98

Bảng 4.3 Tổng tiết kiệm quốc gia của Singapore 1974 - 1979 98

Bảng 4.4 Chi tiêu của Hàn Quốc dành cho quân sự 1960-1980 99

Bảng 4.5 Tình hình viện trợ cho Hàn Quốc của Mỹ 100

Bảng 4.6 Nợ nước ngoài của Hàn Quốc giai đoạn 1973-1979 102

Bảng 4.7 Đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tích lũy vốn ở Singapore giai đoạn 1967 - 1979 105

Bảng 4.8 Dòng vốn nước ngoài vào Hàn Quốc 1962-1978 106

Bảng 4.9 Đầu tư nước ngoài vào các nước Châu Á thập niên 70 107

Bảng 4.10 Tình hình xuất khẩu lao động Hàn Quốc sang Tây Đức 107

Bảng 4.11 Sự phát triển của 5 chaebol lớn Hàn Quốc 1971-1983 116

Bảng 5.1 Tỉ lệ tăng trưởng GDP của Hàn Quốc theo các kế hoạch 5 năm137 122

Bảng 5.2 Chỉ số phát triển của Singapore 1960 - 1980 124

Bảng 5.3 Các chỉ số xã hội Hàn Quốc, 1970 - 1980 125

Bảng 5.4 Đóng góp tới tăng trưởng GDP thực tế của Singapore và Hàn Quốc 127

giai đoạn 1975-1980 127

Bảng 5.5 Cán cân thanh toán, tiết kiệm, dự trữ, đầu tư và nợ nước ngoài của Singapore và Hàn Quốc 1961-1980 132

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

Hình 2.1 Vị trí địa lý của Singapore 39

Hình 2.2 Vị trí địa lý của Hàn Quốc 40

Hình 2.3 Bức thư pháp “Trí Nhân Dũng” (지지지 - 智仁勇) của Tổng thống Lee Seung-man 42

Hình 2.4 Bức thư pháp “Cần lao Ái quốc” (지지지지 - 勤勞愛国) của Tổng thống Park Chung-hee viết ngày 9/9/1975 43

Hình 2.5 Tháp dân số Singapore năm 1960 44

Hình 2.6 Tháp dân số Hàn Quốc năm 1960 46

Hình 3.1 Khái quát về chiến lược công nghiệp hóa của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961-1979 54

Hình 3.2 Tỷ lệ % chi tiêu giáo dục trong tổng chi tiêu của hai quốc gia 60

Hình 3.3: Mức sinh ở Singapore giai đoạn 1957 - 1979 76

Hình 3.4: Mức sinh ở Hàn Quốc trong so sánh với các nước OECD giai đoạn 1960 - 2008 79

Hình 4.1 GDP Singapore tính theo lĩnh vực công nghiệp 112

Hình 4.2 Cơ cấu kinh tế của Hàn Quốc 1953-1980 114

Hình 4.3 Hình ảnh Lễ thỗng xe đường cao tốc 1968-1969 tại Hàn Quốc 118

Hình 4.4 Hình ảnh Phong trào Làng mới (Saemaul Undong) 118

Hình 5.1 Tăng trưởng GDP giai đoạn 61 - 79 122

Hình 5.2 GDP bình quân đầu người 1961 - 1979 123

Hình 5.3 Trình độ giáo dục của lao động Singapore (6/1980) 128

Hình 5.4 Trình độ giáo dục của lao động Hàn Quốc năm 1980 129

Hình 5.5 Sự biến chuyển trong cơ cấu lao động theo ngành nghề tại Singapore 130

Hình 5.6 Sự biến chuyển trong cơ cấu lao động theo ngành nghề tại Hàn Quốc 130

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu đề tài

Việc huy động hiệu quả nhất các nguồn lực cũng như duy trì lâu dài các nguồnlực đó để phát triển là những vấn đề then chốt trong chính sách phát triển của mọiquốc gia trong mọi thời đại Lịch sử chứng minh rằng, quốc gia nào nhận thức đúngđắn về tầm quan trọng của các nguồn lực cũng như có chính sách phát huy các nguồnlực đó một cách hợp lý, quốc gia đó sẽ phát triển thành công

Với xuất phát điểm không mấy thuận lợi như nhiều quốc gia ở Đông Á vào đầunhững năm 1960, sau hơn hai thập kỷ nỗ lực phấn đấu, tới cuối thập niên 1970,Singapore và Hàn Quốc đã vươn lên thành những nước công nghiệp hóa mới (NewlyIndustrialized Countries - NICs) ở Đông Á

Dưới sự lãnh đạo của Lee Kuan Yew, Singapore tận dụng và phát huy hiệu quảcác nguồn lực phát triển, từng bước biến chuyển nền kinh tế quốc gia, đưa GDP bìnhquân đầu người từ 449 USD năm 1961 lên 4.078 USD vào năm 19791

Cùng thời gian trên, ở bán đảo Triều Tiên, Tổng thống Park Chung-hee vàchính phủ Hàn Quốc cũng tập trung chú ý các nguồn lực vào phát triển kinh tế nhằmđưa đất nước thoát khỏi cảnh tàn phá bởi cuộc nội chiến 1950-1953 Kết quả là, thunhập bình quân trên đầu người của Hàn Quốc đã tăng gấp hơn 20 lần từ 84 USD năm

1961 lên 1.713 USD vào năm 1979, chỉ trong vòng 18 năm2!

Hiện nay, cả hai nước trên vẫn đang nỗ lực không ngừng để có thể sớm thamgia vào câu lạc bộ các nước phát triển nhất thế giới Thành công về phát triển của haiquốc gia này đã thu hút sự chú ý mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là của cácnước đang phát triển, trong đó có Việt Nam

Trải qua nhiều thập kỷ phải tập trung mọi nguồn lực của đất nước cho sựnghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đến năm 1986, Việt Nam vẫn là một trong nhữngquốc gia kém phát triển nhất ở Đông Nam Á Tình trạng đó không chỉ tác động xấu tớiđời sống của mọi tầng lớp nhân dân trong nước, mà ở khía cạnh nào đó, còn làm giảm

ý nghĩa của những thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Nhận thức đượcđiều đó, từ năm 1986 tới nay, Đảng Cộng sản Việt Nam - với tư cách là Đảng cầmquyền - đã phát động công cuộc đổi mới toàn diện đất nước nhằm nhanh chóng biếnViệt Nam thành một nước Xã hội Chủ nghĩa có trình độ phát triển kinh tế cao, xã hội

1 Tham khảo số liệu từ Cổng thông tin điện tử của Phòng Thống kê Singapore

http://www.singstat.gov.sg/docs/default-source/default-document-library/statistics/browse_by_theme/economy/

time_series/gdp.xls [truy cập ngày 9/12/2015]

2 Tham khảo số liệu từ Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thống kê Hàn Quốc

http://kosis.kr/statHtml/statHtml.do?orgId=301&tblId=DT_102Y002&conn_path=I2 [truy cập ngày 17/12/2015]

Trang 14

công bằng, dân chủ, văn minh Hơn hai thập kỷ phấn đấu, Việt Nam đã vượt qua mọikhó khăn, thách thức và vươn lên trở thành nước có mức thu nhập trung bình Tiếp tụcđường lối đổi mới, trong Báo cáo chính trị trình Đại hội XII, Đảng Cộng sản Việt Nam

đã xác định rõ mục tiêu tổng quát của giai đoạn 2016-2020 là “đẩy mạnh toàn diện,đồng bộ công cuộc đổi mới ; xây dựng nền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản trở thànhnước công nghiệp theo hướng hiện đại.” [BCH TW Đảng khóa XI, 2015]

Để đạt được mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, Đảng và Chính phủ đặcbiệt quan tâm tới việc học tập kinh nghiệm của các nước đi trước, đặc biệt là từ nhữngnước tương đồng về văn hóa, lịch sử và có xuất phát điểm kinh tế giống với Việt Namnhư Singapore và Hàn Quốc

Kinh nghiệm phát triển của Singapore và Hàn Quốc được Việt Nam đặc biệtchú ý bởi sự phát triển liên tục, khá bền vững trong suốt nhiều thập kỷ Sự phát triển

đó là cơ sở để hai nước nhanh chóng phục hồi và tăng trưởng trở lại sau Cuộc khủnghoảng tài chính - tiền tệ Châu Á (1997-1998)

Sức hấp dẫn từ kinh nghiệm phát triển của Singapore và Hàn Quốc đối với ViệtNam còn ở chỗ cả hai nước đó đều được dẫn dắt bởi một đảng cầm quyền duy nhất,bất kể thực tế là đã và đang có rất nhiều đảng chính trị khác nhau tồn tại ở hai nướcnày Thực tế phát triển của Singapore và Hàn Quốc cho thấy một quốc gia kém pháttriển có thể trở thành một quốc gia phát triển hay không còn tùy thuộc vào năng lựclãnh đạo của đảng cầm quyền Năng lực đó thể hiện rõ rệt nhất qua sự hoạch định, điềuchỉnh chiến lược phát triển để nó luôn luôn phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước

và khuynh hướng phát triển chung của thời đại; qua sự can thiệp thỏa đáng vào nềnkinh tế thông qua các công cụ điều tiết vĩ mô

Thành công về phát triển của Singapore và Hàn Quốc là do nhiều nguyên nhân:

ý chí tự cường quốc gia - dân tộc; tầm nhìn và sự sáng suốt trong quá trình hoạch địnhđường lối phát triển của các nhà lãnh đạo; khả năng khai thác tài nguyên địa - chính trị,địa - kinh tế và các nguồn lực khác ở trong và ngoài nước…

Những kinh nghiệm phát triển trên đều rất đáng để Việt Nam nghiên cứu, họchỏi Thực tế, ở giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đang tiến hành điều chỉnh cơ cấu kinh

tế nhằm duy trì đà tăng trưởng trong bối cảnh môi trường kinh tế quốc tế và khu vựcđang diễn biến phức tạp, những kinh nghiệm của hai quốc gia trên trong khai thác và

sử dụng các nguồn lực nội sinh và ngoại sinh, nhất là nguồn lực con người và nguồnlực tài chính, rất đáng được các nhà hoạch định chiến lược phát triển của Việt Nam chú

ý Bởi vì, chính những chính sách đúng đắn trong việc khai thác nguồn lực con người

và nguồn lực tài chính của Singapore và Hàn Quốc là một trong những bí

Trang 15

quyết quan trọng nhất, đằng sau các kỳ tích phát triển của hai nước trên trong hai thập

kỷ 60 và 70 của thế kỷ XX

Cũng như Singapore và Hàn Quốc, Việt Nam đã rất coi trọng việc khai thác vàphát huy nguồn lực con người cũng như các nguồn tài chính nội sinh và ngoại sinh đểthực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa Trong những năm qua, Đảng và Nhà nướcViệt Nam đã có rất nhiều cố gắng trong đào tạo, sử dụng nguồn lực trong nướccũngnhư khai thác nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, nguồn FDI và ODA từ bên ngoài Những

cố gắng đó đã góp phần tạo nên thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Namtrong thời gian qua Tuy nhiên, những kết quả trên chưa đáp ứng được nhu cầu pháttriển của đất nước trong thời kỳ mới Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu về cácnguồn lực phát triển, kinh nghiệm khai thác, sử dụng các nguồn lực đó, đặc biệt lànguồn lực con người và nguồn lực tài chính của Singapore và Hàn Quốc sẽ góp phầncung cấp thêm căn cứ khoa học cho việc hoạch định chiến lược phát triển nói chung,chính sách phát triển, thu hút, sử dụng nguồn nhân lực và tài lực của Việt Nam nóiriêng trong những năm sắp tới

Về phương diện khoa học, việc nghiên cứu so sánh các nguồn lực phát triển,

quá trình sử dụng và phát huy các nguồn lực đó giữa Singapore và Hàn Quốc, sẽ làm

rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong chiến lược phát triển của hai nước trên.Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn những đặc điểm cơbản của mô hình phát triển Đông Á và nguyên nhân dẫn tới những phiên bản khácnhau của mô hình đó

Với những nhận thức và lý do trên, nghiên cứu sinh đã quyết định lựa chọn

“Nghiên cứu so sánh nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961

- 1979” làm đề tài luận án Tiến sỹ của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu chung: Trên cơ sở nghiên cứu so sánh sự tương đồng và khác biệt

trong những chính sách khai thác, phát huy và sử dụng các nguồn lực phát triển củaSingapore và Hàn Quốc trong giai đoạn đầu thực hiện công nghiệp hóa (1961-1979), luận

án rút ra một số kinh nghiệm từ việc thực hiện các chính sách trên và đưa ra một vài gợi ýliên quan tới sự vận dụng những kinh nghiệm đó vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Namtrong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay

* Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận án được xác định là:

Trang 16

- Từ góc độ so sánh, làm rõ chính sách khai thác và sử dụng nguồn lực conngười và nguồn lực tài chính mà chính phủ Singapore và Hàn Quốc đã thực hiện trongthập niên 60 và 70 thế kỷ XX.

- So sánh vai trò và tác động của những chính sách đó đối với sự phát triển kinh

tế, xã hội của Singapore và Hàn Quốc trong hai thập niên đầu thực hiện công nghiệp hóa

- Rút ra một số kinh nghiệm khả dụng cho Việt Nam trong quá trình hoạchđịnh và triển khai chính sách phát triển nguồn nhân lực và tài lực phục vụ sự nghiệp côngnghiệp hóa và hiện đại hóa trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, Luận án sẽ thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định chiến lược phát triển của Singapore và Hàn Quốc trong giai đoạn 1961 - 1979

- Làm rõ nhận thức của các nhà lãnh đạo Singapore và Hàn Quốc về tầm quantrọng của nguồn lực con người và nguồn lực tài chính trong quá trình công nghiệp hóacủa dất nước họ

- Từ góc độ so sánh, phân tích thực trạng nguồn lực con người và nguồn lực tàichính của Singapore và Hàn Quốc vào lúc bắt đầu thực hiện công nghiệp hóa

- Phân tích những tương đồng và khác biệt trong chính sách và biện pháp khai thác, sử dụng và phát huy hai nguồn lực trên trong giai đoạn 1961-1979

- Làm rõ những đặc điểm chung và riêng trong chính sách phát triển, sử dụngnguồn lực con người, nguồn lực tài chính của Singapore và Hàn Quốc trong giai đoạnđược nghiên cứu

- Đánh giá vai trò, tác động và hạn chế trong các chính sách trên đối với quá trình phát triển của Singapore và Hàn Quốc từ 1961 tới 1979

- Rút ra một số kinh nghiệm của hai nước trên về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực và tài lực mà Việt Nam có thể tham khảo và áp dụng

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực conngười, nguồn lực tài chính; các giải pháp khai thác, sử dụng các nguồn lực đó củaSingapore và Hàn Quốc trong giai đoạn 1961-1979, xét từ góc độ so sánh

4

Trang 17

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi thời gian nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu vào giai đoạn 1961 - 1979 Đây là giai đoạn xâydựng nền tảng vô cùng quan trọng, tạo tiền đề cho quá trình „cất cánh‟ rồi „hóa rồng‟của Singapore và Hàn Quốc

+ Đối với Singapore: năm 1961 là thời điểm quốc gia này bắt đầu tiến hành Kếhoạch phát triển quốc dân 4 năm (1961 - 1964) và năm 1979 là mốc nước này đạt tới quychế một NIC Đông Á

+ Đối với Hàn Quốc: 1961 - 1979 là giai đoạn Tổng thống Park Chung-hee lêncầm quyền Năm 1979 cũng là mốc thời gian Hàn Quốc được công nhận là một nướccông nghiệp hóa mới ở Đông Á

3.2.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu so sánh về nguồn lực con người, nguồn lực tàichính và các giải pháp khai thác, sử dụng, phát huy các nguồn lực đó trong hai thậpniên đầu của thời kỳ công nghiệp hóa của Singapore và Hàn Quốc

Về nguồn lực tài chính, luận án đề cập chủ yếu tới thực trang nguồn lực tàichính của Singapore và Hàn Quốc trước khi bắt đầu công nghiệp hóa, chính sách khaithác, sử dụng và phát huy nguồn vốn trong nước và nguồn vốn đầu tư trực tiếp củanước ngoài (FDI) trong giai đoạn 1961-1979

4.1 Phương pháp luận

Luận án vận dụng học thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủnghĩa Mác - Lê nin, quan điểm và đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng vàNhà nước như phương pháp luận để nghiên cứu đề tài luận án

4.2 Phương pháp tiếp cận

Vấn đề nguồn lực phát triển, đặc biệt là nguồn lực con người và nguồn lực tàichính thường được tiếp cận dưới góc độ kinh tế học Tuy nhiên, do đề tài luận án thuộcchuyên ngành Đông Phương học, nên nghiên cứu sinh chọn cách tiếp cận liên ngành,kết hợp một cách hợp lý và thỏa đáng các cách tiếp cận của một số ngành khoa học cóliên quan như Khu vực học, Sử học, Kinh tế học và Xã hội học…

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Với phương pháp tiếp cận trên, luận án đã sử dụng một số phương pháp nghiêncứu cụ thể sau:

Trang 18

- Đề tài luận án là một đề tài nghiên cứu so sánh, nên phương pháp so sánh làphương pháp nghiên cứu chính và được sử dụng xuyên suốt trong quá trình đề cập tớicác nội dung khác nhau của luận án.

- Phương pháp phân tích lịch sử được tiến hành dựa trên các dữ kiện liên quanđến đề tài Cụ thể hơn, luận án tiến hành đánh giá, phân tích cách tiếp cận, huy động và

sử dụng các nguồn lực của Singapore và Hàn Quốc qua từng thời kỳ lịch sử trong giaiđoạn 1961-1979

- Phương pháp thống kê và phân tích định lượng cũng được sử dụng trong việc tìm kiếm, phân tích các số liệu cần thiết phục vụ đề tài

- Các thao tác Phân tích SWOT được sử dụng để giúp tìm ra những ưu điểm, hạn chế, cơ hội cũng như thách thức trong việc phát triển và sử dụng các nguồn lực trên

- Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia và một vài phương pháp nghiên cứu cụ thể cần thiết khác

5 Nguồn tƣ liệu sử dụng viết luận án

Nguồn tư liệu sử dụng để viết luận án gồm hai nguồn chính: 1) tài liệu gốc, 2)tài liệu tham khảo Phần lớn các tư liệu này được thu thập tại Thư viện trường Đại họcQuốc gia Singapore, Thư viện Quốc hội Hàn Quốc, Thư viện Đại học Sogang HànQuốc, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á và Thưviện Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam…

-Tài liệu gốc bao gồm:

+ Các văn kiện về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Singapore và HànQuốc, từ khi giành độc lập tới cuối những năm 80 thế kỷ XX, tiêu biểu như Kế hoạchphát triển 1961-1979 (Development Plan 1961-1979) của Chính phủ Singapore, Các

Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế (지지지지 5 지지 지지 - 經濟開發五個年計劃) của Chính

phủ Hàn Quốc

+ Các bài phát biểu của các nhà lãnh đạo hai nước trên liên quan tới phát triển

và chiến lược phát triển của đất nước Đặc biệt, luận án tập trung khai thác các tập hồi kýcủa cố Thủ tướng Lee Kuan Yew và Tổng thống Park Chung-hee

+ Các số liệu thống kê do các cơ quan có thẩm quyền của Singapore và HànQuốc công bố về phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, đặc biệt là của Cục thống kêSingapore và Hàn Quốc

- Tài liệu tham khảo bao gồm:

Trang 19

+ Các công trình khoa học của các học giả trong và ngoài nước về chiến lượcphát triển của Singapore và Hàn Quốc được công bố bằng tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếngNga và tiếng Trung.

+ Thông tin thu thập sau những cuộc trao đổi trực tiếp hoặc qua email với một

số nhà nghiên cứu đầu ngành về Singapore và Hàn Quốc như GS Park Tae-gyun (Đạihọc Quốc gia Seoul), GS Jung Byung-joon (Đại học nữ Ewha), GS Andrew Kim

Eungi (Đại học Hàn Quốc), PGS.TS Vũ Minh Khương (Đại học Quốc gia Singapore),GS.TS Lê Quang Thiêm (Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn), PGS.TS.Hoa Hữu Lân (Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Hà Nội), PGS.TSKH TrầnKhánh (Viện Nghiên cứu Đông Nam Á), PGS.TS Hoàng Thị Thanh Nhàn (Viện Kinh

tế và Chính trị Thế giới), TS Nguyễn Huy Hoàng (Viện Nghiên cứu Đông Nam Á) Những quan điểm, ý kiến của các học giả và các nhà nghiên cứu nêu trên là nguồntham khảo hữu ích giúp tác giả định hướng và thực hiện luận án này

6 Đóng góp mới của luận án

Luận án là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách toàndiện và hệ thống, dưới góc độ so sánh, về nguồn lực, vai trò và chính sách khai thác sửdụng nguồn lực, đặc biệt là nhân lực và tài lực của Singapore và Hàn Quốc trong giaiđoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa (1961-1979)

Những đóng góp mới về khoa học của luận án là:

Thứ nhất, luận án đã làm rõ được những tương đồng và khác biệt về nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc trước khi thực hiện công nghiệp hóa

Thứ hai, luận án đã tiến hành phân tích và so sánh một cách có hệ thống và chitiết việc triển khai các chính sách đào tạo, sử dụng nguồn lực con người cũng như cáchthức thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư nội sinh và ngoại sinh củaSingapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961 - 1979

Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu so sánh và phân tích những thành công và hạnchế trong chính sách về nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn1961-1979, luận án rút ra một số kinh nghiệm khả dụng đối với Việt Nam trong quátrình hoạch định chính sách phát triển, sử dụng nguồn nhân lực và tài lực phục vụ sựnghiệp công nghiệp hóa

Thứ tư, các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ hơn những đặc điểmtrong mô hình tăng trưởng Đông Á, nhất là về vai trò quản lý và điều tiết của nhà nướctrong phát triển kinh tế- xã hội Các kết quả đó cũng góp phần giải thích căn nguyên dẫntới phiên bản Singapore và phiên bản Hàn Quốc của mô hình tăng trưởng Đông Á, cungcấp thêm tư liệu cho việc tiếp tục nghiên cứu về mô hình này trong tương lai

Trang 20

Cuối cùng, các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp thêm cơ sởthực tế cho lýthuyết về mối quan hệ giữa nguồn lực phát triển và tăng trưởng kinh tế.Dựa vào hàm sản xuất tân cổ điển có mở rộng biến, mô hình nghiên cứu của luận ánđược xây dựng gồm các biến là tăng trưởng kinh tế, nguồn lực con người, nguồn vốntài chính, có bổ sung thêm biến kiểm soát là độ mở thương mại Thông qua việc kiểmchứng lý thuyết ngoại sinh qua hai trường hợp cụ thể là Singapore và Hàn Quốc giaiđoạn 1961-1979, luận án khẳng định vai trò và ý nghĩa của nguồn vốn con người vànguồn vốn tài chính trong phát triển kinh tế của quốc gia.

7 Kết cấu luận án

Ngoài phần Mở đầu & Kết luận, luận án gồm 5 chương chính, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này đề cập và đánh giá chung về tình hình nghiên cứu đề tài, từ đó xác định nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của luận án

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn hoạch định phát triển của Singapore và Hàn Quốc đầu thập niên 1960

Ở chương này, luận án phân tích cơ sở lý thuyết, các tiền đề phát triển củaSingapore và Hàn Quốc ở đầu thập niên 1960 Qua đó, làm rõ tầm quan trọng của nguồnlực con người và nguồn vốn đầu tư tới sự phát triển của hai nước trên

Chương 3: Nguồn lực con người của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961 1979: Nhìn từ góc độ so sánh

-Dưới góc độ so sánh, chương này khảo sát một cách có hệ thống về (1) vai tròcủa nguồn lực con người đối với phát triển, (2) các chính sách phát triển nguồn lực, (3)phương thức quản lý - phát huy nguồn lực con người của Singapore và Hàn Quốctrong giai đoạn 1961-1979

Chương 4: Nguồn lực tài chính của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961 1979: Nhìn từ góc độ so sánh.

-Nội dung của chương này bao gồm những phân tích có tính hệ thống về (1) nhucầu nguồn vốn đầu tư đối với việc triển khai chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2)cách thức huy động và (3) cách thức quản lý, phân bổ nguồn vốn đầu tư của Singapore

và Hàn Quốc giai đoạn 1961-1979

Chương 5: Nhận xét chung về nguồn lực phát triển của Singapore - Hàn Quốc

và bài học tham khảo cho Việt Nam

Ở chương cuối cùng này, tác giả sẽ đưa ra những nhận định, đánh giá của mình

về (1) vai trò của nguồn lực con người và nguồn vốn đầu tư đối với sự phát triển của

Trang 21

Singapore và Hàn Quốc, (2) liên hệ và đưa ra một số gợi ý về định hướng phát triểnnguồn lực con người và nguồn lực tài chính để đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đạihóa của Việt Nam trong thời gian tới.

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Với những thành tựu phát triển thần kỳ của các con rồng Châu Á, từ rất lâu, đềtài nghiên cứu về chiến lược phát triển của các quốc gia này đã thu hút sự quan tâmcủa các quốc gia và nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Họ xem xét chiến lượcphát triển của các quốc gia này như là một nguyên nhân trọng yếu đối với quá trìnhxây dựng và phát triển đất nước Mục đích chính của chương này là trên cơ sở (1) xácđịnh chủ đề chủ yếu trong các tài liệu khoa học nghiên cứu so sánh về nguồn lực pháttriển của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961-1979 mà tác giả sẽ đề cập tới (2)những vấn đề nghiên cứu chính của luận án này

1.1 Tình hình nghiên cứu đề tài

1.1.1 Nghiên cứu so sánh nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc

Mặc dù đã có không ít đề tài so sánh về chính sách phát triển của các nướcNICs nhưng thường các tác giả chỉ dẫn dụ về một số khía cạnh nhất định như pháttriển kinh tế, giáo dục, nhân lực Thực tế khảo sát cho thấy, chưa có công trình nàotập trung nghiên cứu nguồn lực phát triển dựa trên sự so sánh những điều kiện giữa haiquốc gia Singapore và Hàn Quốc Hi vọng rằng, việc điểm lại một cách khái quátnhững công trình nghiên cứu hiện có đề cập tới chủ điểm phát triển của hai quốc gia sẽgiúp tác giả lý giải cơ sở lý thuyết sẽ được trình bày ở chương tiếp theo Và để minhchứng cho tầm quan trọng của luận án này, chúng tôi cũng sẽ đề cập tới một số côngtrình nghiên cứu trong và ngoài nước về chủ đề này

1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Những đề tài tập trung nghiên cứu so sánh dường như chỉ có các đề tài thiên vềchiến lược phát triển kinh tế, giáo dục và thường lấy Singapore hoặc Hàn Quốc làmđối tượng so sánh với một quốc gia khác hoặc chỉ là những luận văn ở trình độ thạc sỹ

Trong số đó, đáng chú ý là đề tài Nghiên cứu so sánh chiến lược phát triển kinh

tế của Hàn Quốc và Nhật Bản (Development strategies of Japan and the republic of

Korea: A comparative study) của hai nhà nghiên cứu Tuvia Blumenthal và Chung

Trang 22

H.Lee năm 1985 Các tác giả đã tìm hiểu về điểm tương đồng trong kinh nghiệm pháttriển của Hàn Quốc và Nhật Bản như đường lối phát triển, hệ thống giáo dục, cơ cấucông nghiệp, vai trò của Chính phủ… và điểm khác biệt chính là về mức độ cũng nhưđiều kiện khác nhau khi bắt đầu thời kỳ tăng trưởng cao Tuy nhiên với dung lượng

13 trang, nghiên cứu mới chỉ đề cập một cách khái quát, sơ lược

Năm 1990, "cha đẻ" chiến lược cạnh tranh Michael E.Porter dựa trên nghiên

cứu thực địa tại nhiều quốc gia đã xuất bản cuốn sách The competitive Advantage of Nations (Lợi thế cạnh tranh quốc gia) Tác giả đã cố gắng lý giải nguồn gốc của sự

thịnh vượng bền vững trong nền kinh tế toàn cầu Theo ông, lợi thế so sánh "dựa vàonguồn lực đầu vào như lao động, tài nguyên thiên nhiên và vốn tài chính bản thânnhững yếu tố đầu vào đó ngày càng trở nên ít giá trị trong một nền kinh tế toàn cầuhóa" [Michael, 1990, tr.12] Bằng việc so sánh một số vấn đề của các quốc gia trongnhóm NICs, Michael E.Porter tỏ ra nghi ngờ về khả năng duy trì và mở rộng lợi thếcạnh tranh quốc gia của Hàn Quốc

Trong báo cáo The East Asian Miracle: Economic Growth and Public Policy

(Sự thần kỳ Đông Á: tăng trưởng kinh tế và chính sách công cộng), năm 2003 Ngânhàng Thế giới đã khẳng định:

Sự tăng trưởng đầy ấn tượng của Đông Á nói chung và Hàn Quốc nóiriêng phần nhiều do có sự tích lũy siêu việt nguồn vốn vật chất và conngười Nhưng những nền kinh tế này còn có một khả năng cao hơn cácnền kinh tế khác là sự phân phối các nguồn lực vào các khu vực đầu tư

có hiệu quả Họ đã làm được như vậy với sự kết hợp của chính sách baogồm nền tảng định hướng thị trường và sự khéo léo của chính phủ

Đó là nhận định chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu dữ liệu của thập niên 1980.Thập niên 1960 và 1970 dường như chỉ được điểm qua trong báo cáo này

Cũng trong năm 2003, hai nhà nghiên cứu kinh tế Lawrence J Lau (Đại họcStanford) và Jungsoo Park (Đại học bang New York) trong báo cáo The Sources of East

Asian Economic Growth Revisited (Khảo sát lại nguồn lực của sự tăng trưởng kinh tế các

nước Đông Á) đã nhận định rằng nguồn vốn nhân lực, vốn vật chất chính là nguồn tăngtrưởng kinh tế của các nước Đông Á những năm 60, 70 Tuy nhiên, các tác giả tập trungnghiên cứu tới vai trò của nguồn vốn phi vật chất từ giai

Trang 23

đoạn nửa cuối thập niên 1980 Các tác giả nhấn mạnh rằng, vốn phi vật chất (vốn đầu

tư R&D) đóng góp mạnh mẽ cho sự tăng trưởng ở các quốc gia NIEs Đông Á

Năm 2003, giáo sư Richard H K Vietor - Trường kinh doanh Harvard đã xuất

bản cuốn sách How countries compete: strategy, structure, and government in the global economy (Các quốc gia cạnh tranh như thế nào?” - Chiến lược, Cấu trúc và

Chính phủ trong kinh tế toàn cầu) Từ nghiên cứu thực tiễn 10 quốc gia (Singapore,Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Mê-hi-cô, Nam Phi, Ấn Độ, Italia, Nga và Ả-rập Xê-út), tác giả cho rằng bốn nhân tố cho phát triển kinh tế thành công là: (1) chiến lượcquốc gia, (2) cơ cấu kinh tế, (3) phát triển nguồn lực, và (4) sử dụng hiệu quả cácnguồn lực Trong đó, Richard H K Vietor nhấn mạnh rằng: Chiến lược, dù công khaihoặc không công khai, cũng đều chứa các yếu tố kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô Cơcấu tổ chức là tập hợp các định chế (cả theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp) mà một chínhsách quốc gia được tạo ra để thực thi chiến lược của quốc gia đó Cả chiến luợc và cơcấu phải phát triển được các nguồn lực (nguồn lực tự nhiên, con người, công nghệ vàvốn) và chọn phương thức đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn lực này Giáo sư đánhgiá cao vai trò lãnh đạo và phân bố nguồn lực của chính phủ Singapore Ông cũngkhẳng định rằng, chính phủ Singapore đã biến quốc gia nhỏ bé này sánh ngang bằngvới các nước OECD

Ngân hàng thế giới nhiều năm nay cũng đã chủ trì nhiều công trình nghiên cứu

đề cập tới sự phát triển thần kỳ của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Singapore

và Hàn Quốc Những công trình đó đều thường nhấn mạnh tới vai trò của giáo dục tới

tăng trưởng kinh tế, ví dự như Education Quality and Economic Growth (Chất lượng

giáo dục và tăng trưởng kinh tế) năm 2007

Với bài nghiên cứu công bố năm 2008 Singapore’s Economic Growth Model: Too Much or Little? (Mô hình phát triển kinh tế của Singapore: quá nhiều hay quá ít?),

giáo sư Linda Lim (Đại học Michigan, Mỹ) đã phân tích mô hình phát triển kinh tế củaSingapore trong vòng 40 năm từ 1965 tới 2005 Tác giả cũng đã cố gắng làm rõ một sốđặc điểm của mô hình phát triển kinh tế Singapore trong sự so sánh một số điểm vớimột số quốc gia trong khu vực Châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc Qua đó, tác giả nhấnmạnh tới tính mở của nền kinh tế Singapore, lợi thế cạnh tranh, quá trình hội nhập vàokinh tế thế giới và đề cao sự phát triển bền vững của quốc gia này

Trang 24

Năm 2011, học giả Ryu Jee-seong (Viện Nghiên cứu kinh tế Samsung) đã báo cáokết quả nghiên cứu “지지 지지지지지 지지 지지 - 지지지지지지지 지지지지” (Nghiên cứu so sánh năng lực cạnh tranhnhân tài Hàn - Trung: Tập trung vào nhân tài tài khoa học công nghệ) Tuy nhiên, đề tàichủ yếu phân tích đánh giá dựa trên tư liệu thu thập từ năm 2009 trở đi, chỉ điểm qua tìnhhình phát triển nhân lực của Hàn Quốc đầu thập niên 1960.

Đối với khối tư liệu của các nhà nghiên cứu Singapore về trọng tâm nghiên cứu

so sánh, có thể đề cập tới đề tài nghiên cứu HongKong and Singapore as International Financial Centré: A Comparative Functional Perspective (Hồng Kông và Singapore -

trung tâm tài chính quốc tế: một quan điểm so sánh) của giáo sư Ng Beoy Kui Trường Đại học công nghệ Nanyang, Singapore năm 1998 Tác giả đã phác họa mộtcách khái quát về quá trình hình thành và phát triển của trung tâm tài chính quốc tế ởHồng Kông và Singapore Thông qua việc phân tích 6 chức năng của một trung tâm tàichính quốc tế, giáo sư đã so sánh về các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thứcphát triển (mô hình SWOT) của hai quốc gia này như một đối trọng về dịch vụ tài

-chính Ngoài ra, chuyên khảo Kinh nghiệm phát triển của Singapore (Development

Experience of Singapore) được các nhà nghiên cứu Tan Teck Meng, Low Aik Meng

và Chew Soon Beng (Trường NTU Singapore) biên tập và xuất bản năm 1995 cũng làcông trình có giá trị Cuốn sách đề cập tổng quan về kinh nghiệm phát triển củaSingapore, từ phương pháp quản lý, đào tạo hệ kế toán viên, khai thác tối đa nguồn lựckinh tế, nắm bắt phân tích và sự thay đổi nền kinh tế Singapre; cho đến vai trò của đàotạo đại học, sau đại học ở Sigapore hay các chính sách tỷ giá hối đoái, tiết kiệm, tiềnlương, thuế singapore của Singapore Một số chương của cuốn sách cũng được cáctác giả đối chiếu so sánh liên hệ giữa Singapore với một số nước châu Á, Nhật Bản,Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam Tuy nhiên, các tác giả chủ yếu khai thác

dữ liệu ở giai đoạn sau năm 1980

Đối với khối tư liệu của các nhà nghiên cứu Hàn Quốc về trọng tâm nghiên cứu

so sánh, quá trình tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc và Đài Loan được khái quát qua

đề tài Khủng hoảng và tái cơ cấu của các quốc gia phát triển Đông Á: nghiên cứu so sánh Hàn Quốc và Đài Loan (지지지지 지지지 지 지지지 지지 가 : 지지지 지지 지지지지) của tác

giả Yun Sang-u, năm 2002 Tác giả cho người đọc cái nhìn tổng quan trong sự so sánh

từ chính sách phát triển công nghiệp, chính sách tài chính cho tới chính sách lao độngcủa hai quốc gia

Trang 25

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Nội dung chương 2 “Con đường phát triển của các NIEs Châu Á: những bài học

kinh nghiệm” của cuốn Con đường phát triển của một số nước Châu Á - Thái Bình Dương do PGS.TS Dương Phú Hiệp chủ biên xuất bản năm 1996, các tác giả đã phân

tích những tiền đề của sự phát triển, kinh nghiệm chung về các vấn đề kinh tế; một sốkinh nghiệm phát triển kinh tế đặc thù; kinh nghiệm giải quyết các vấn đề chính trị,pháp luật; kinh nghiệm giải quyết các vấn đề văn hóa, xã hội và giáo dục và nhữngmặt trái của NIEs Châu Á Mặc dù không đặt trọng tâm so sánh song một số nội dung

so sánh cũng được đề cập trong nội dung phân tích

Năm 2001, nhóm tác giả do PGS.TS Phạm Đức Thành chủ biên đã giới thiệu

công trình nghiên cứu Đặc điểm Con đường phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia Châu Á (NXB Khoa học Xã hội) Với 35 trang của chương 4 (phần 2), các tác giả

đã khái quát về đặc điểm Chủ nghĩa tư bản Singapore sau khi đề cập tới đặc điểm vềđất nước, con người và lịch sử và những chiến lược phát triển cơ bản Các tác giả cũng

đã dành một phần để bình luận, đánh giá đặc điểm Chủ nghĩa tư bản của các nướcASEAN và đề cập một vài điểm tương đồng giữa Singapore với các nước trong khuvực

1.1.2 Nghiên cứu về nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc

Khi tìm hiểu về các chiến lược phát triển của Singapore và Hàn Quốc, các họcgiả nước ngoài từ trước tới nay hầu hết đều tập trung nghiên cứu chính sách cải cáchkinh tế, chính sách cải cách giáo dục, phát triển nguồn nhân lực… của hai quốc gianày như là thành tố để phát triển đất nước và biến chuyển xã hội, đặc biệt trong giaiđoạn cận hiện đại

1.1.2.1 Trọng tâm nghiên cứu về nguồn lực phát triển của Singapore

Sự cất cánh của Singapore thập niên 1970 đã tạo nên sức hút nghiên cứu từ giớihọc thuật trên toàn thế giới Tất cả đều quan tâm tìm kiếm nguyên nhân tạo nên thànhcông, biến đảo quốc nhỏ bé với những đầm sình lầy buổi ban đầu thành một trung tâmtài chính của thế giới

Tổng kết lại công trình nghiên cứu Trade, Employment and Industrialisation in Singapore (Thương mại, việc làm và công nghiệp hóa ở Singapore) năm 1982, hai nhà

nghiên cứu Linda Limn và Pang Eng Fong nhấn mạnh tới yếu tố Khổng giáo, chính

Trang 26

sách việc làm cũng như vai trò của chính phủ Singapore trong việc thực thi chiến lượcphát triển.

Trong số những nhà nghiên cứu về Singapore, không thể không nhắc tới nhànghiên cứu WG Huff Từ kinh nghiệm quan sát thực tế ở Singapore, ông đã viết hàng

loạt cuốn sách đề cập tới sự tăng trưởng kinh tế Singapore Trong số đó, cuốn sách The economic growth of Singapore: Trade and development in the twentieth century (Tăng

trưởng kinh tế của Singapore: Thương mại và phát triển trong thế kỷ XX) được pháthành bởi NXB Trường Đại học Cambridge năm 1994 Với dung lượng 472 trang,W.G.Huff cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quan toàn diện về sự phát triển kinh tếcủa Singapore - trung tâm thương mại và tài chính hàng đầu ở Đông Nam Á trong suốtthế kỷ XX Trong nghiên cứu này, tác giả đề cập tới sự phát triển kinh tế Singaporedựa trên một vị trí chiến lược tại ngã tư của châu Á, một nền kinh tế tự do thương mại,

và một truyền thống kinh doanh năng động Huff đánh giá cao sự tương tác các chínhsách của chính phủ và các lực lượng thị trường, và đặt sự chuyển đổi của nền kinh tếSingapore trong bối cảnh cả lý thuyết và kinh nghiệm của những nơi khác ở Đông Áphát triển

Năm 1996, hai tác giả Geoffrey Murray và Andrey Pereta đã phác họa sự pháttriển kinh tế - xã hội của quốc gia - thành phố trong vòng 30 năm (1965 - 1995) qua

chuyên khảo The Global City - State (Quốc gia thành phố toàn cầu) của NXB Palgrave

Macmillan Các tác giả đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của yếu tố ngoại lực và quá trìnhhội nhập quốc tế của Singapore với tư cách là một mắt xích quan trọng trong nền kinh

tế toàn cầu

Một tác phẩm chuyên khảo khác được nhiều độc giả tìm đọc đó là cuốn

Singapore’s Success (Bài học thành công của Singapore) của tác giả Henri Ghesquiere.

Cùng với 2 năm kinh nghiệm làm việc ở vị trí Giám đốc Trung tâm Huấn luyện khuvực của Quỹ tiền tệ Quốc tế tại Singapore, Henri Ghesquiere dường như đã thấu hiểu

và cảm nhận rõ về “sự phát triển thần kỳ” của đảo quốc này Qua 6 phần với những tiêu

đề rất rõ ràng, cụ thể, tác phẩm của ông đi sâu vào phân tích, đánh giá một cách kháchquan những nguyên nhân tạo nên thành tựu thần kỳ đáng kinh ngạc của đảo quốc Sư tử

mà chủ yếu nằm ở các chính sách kinh tế và cơ cấu quản lý điều hành chặt chẽ, khoahọc Tác giả cũng đã chỉ ra cả những cái giá phải trả, những điểm bất cập tồn tại trong

sự phát triển mạnh mẽ của đảo quốc này Tổng kết những điều đã viết,

Trang 27

Henri Ghesquiere đã rất cẩn trọng khi không cho đó như một kiểu mẫu có thể sao chépcứng nhắc, mà nhấn mạnh những nguyên tắc chung mà các quốc gia có thể áp dụngtùy theo hoàn cảnh cụ thể của đất nước mình.

Trong số nhiều bài báo nghiên cứu về chính sách giáo dục, chính phát triển

nguồn nhân lực của Singapore đáng chú ý là: Human Capital Development in Singapore: An Analysis of National Policy Perspectives (Phát triển nguồn vốn con

người ở Singapore: một phân tích từ góc nhìn chính sách quốc gia) của tác giả AAhad

M Osman-Gani, Trường Đại học Công nghệ Nanyang Singapore hay Education and human capital management in a world city: the case of Singapore (Giáo dục và quản

lý vốn nhân lực trong thành phố thế giới: trường hợp Singapore) năm 2011 của cácnhà nghiên cứu K C Ho và Yun Ge (Trường Quốc gia Singapore.) Các bài viết trên

đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị, nhất là giai đoạn sau 1980

Với nhấn định Singapore sẽ tiếp tục triển khai chính phát phát triển nguồn nhân

lực ở thế kỷ XXI, Peng Boo Tan (1997) trong báo cáo Human Resource development for continued economic growth: The Singapore Experience (Phát triển nguồn lực con

người cho sự tăng trưởng kinh tế tiếp tục: Kinh nghiệm Singapore) cho thấy tầm quantrọng của nguồn nhân lực đối với phát triển bền vững của Singapore Bàn về nguồnnhân lực thập niên 1970 của tác giả chủ yếu liên quan tới vấn đề đào tạo phổ thông vàđào tạo hướng nghiệp

Bất cứ ai khi tìm hiểu về Singapore đều không thể bỏ qua cuốn hồi ký dài hai tập

của nguyên Thủ tướng Lee Kuan-yew (1998) Cuốn The Singapore Story (Câu chuyện

Singapore) được cấu trúc thứ tự thời gian, từ đó đưa ra một câu chuyện rất mạch lạc táihiện từ thời thơ ấu của Lee Kuan-yew cho đến năm 1965, khi Singapore tách ra khỏi liên

bang Malaysia Cuốn From Third World to First: The Singapore Story: 1965-2000 (Từ

thế giới thứ ba đến thế giới thứ nhất: Câu chuyện Singapore: 1965-2000) trình bày sựchuyển đổi của Singapore để trở thành quốc gia thuộc thế giới thứ nhất Những khó khăncũng như bối cảnh ở thời kỳ đầu phát triển, những quan điểm và quyết sách phát triểnđược cố thủ tướng nhắc đến một cách sống động và chi tiết Cố Thủ tướng Lee Kuan-yewnhấn mạnh rằng tài nguyên duy nhất của Singapore là người dân và tinh thần làm việchăng say của họ Ông cũng đề cập tới giá trị Châu Á với đặc trưng nổi bật là đề cao cácgiá trị cần cù, hiếu học, tôn trọng các giá trị gia đình và cộng đồng, từ đó có vai trò tíchcực đối với sự phát triển thần kỳ của Singapore cũng như nhiều nước Châu Á từ

Trang 28

những thập niên 70.

Trong giới nghiên cứu Việt Nam quan tâm tới sự phát triển của Singapore,PGS.TSKH Trần Khánh được xem là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên vớiviệc đóng góp nhiều công trình nghiên cứu về quốc gia này Trong số đó có cuốn

Thành công của Singapore trong phát triển kinh tế (NXB Chính trị Quốc gia, năm 1993) Cuốn sách đã đề cập một và khía cạnh của sự thành công trong lĩnh vực kinh tế

song chưa đi sâu phân tích các nguồn lực của sự phát triển của Singapore Bên cạnh

đó, với bài nghiên cứu Kinh nghiệm phát triển sức mạnh quốc gia của Cộng hòa Singapore (đăng số 10/2008, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á), nhà nghiên cứu Trần

Khánh đã khái quát một số kinh nghiệm của Singapore trong phát triển đất nước nhưkhai thác thế mạnh vị trí địa lí, môi trường quốc tế thuận lợi, đề cao ổn định chính trị

và chính sách vĩ mô… Qua phân tích đó, tác giả đã chỉ ra rằng Singapore là một trongnhững trường hợp điển hình về phát triển sức mạnh quốc gia

Với bài báo Tính cộng đồng, tính cá nhân và thành công trong phát triển đất nước của Singapore đăng trên số 4/2004 Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, tác giả Lê

Thanh Hương đã đề cập tới những nguyên nhân tạo nên thành công của Singaporetheo cách tiếp cận lịch sử và tâm lý học văn hóa Giống như phần lớn các nhà nghiêncứu khác, tác giả nhận định: thành công của Singapore là do chính phủ biết nhìn nhận,đánh giá đúng tình trạng đất nước mình và biết học tập sáng tạo những kinh nghiệmcủa các quốc gia có chung điểm tương đồng để tìm ra con đường phát triển riêng trên

cơ sở xác định con người là nguồn quý giá và duy nhất để xây dựng và phát triển quốcgia một đa dân tộc, đa tôn giáo và đa văn hóa

Cuốn sách Singapore - Đặc thù và giải pháp của PGS.TS Dương Văn Quảng3

(2005) đưa đến cho độc giả những thông tin cơ bản về đất nước và con người đangsinh sống, học tập và lao động ở đảo quốc Sư tử Tác giả cũng bày tỏ suy nghĩ và đánhgiá cá nhân về những đặc thù và giải pháp mà Singapore đã tiến hành để khắc phụcnhững “khiếm khuyết” của mình Theo ông, Singapore là một quốc gia đặc thù theonghĩa đầy đủ của từ này: đặc thù về vị trí địa lý, về diện tích, về lịch sử, dân cư và thểchế Tác giả đặc biệt đi sâu phân tích về chiến lược phát triển độc đáo của Singaporevới vai trò của ngoại giao và đề cao yếu tố con người

3 PGS.TS Dương Văn Quảng nguyên là Đại sứ Việt Nam tại Singapore trong thời gian từ tháng 9/2003-7/2007.

Trang 29

Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, tư tưởng chỉ đạo của các nhà lãnhđạo Singapore là đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược xây dựng vàphát triển đất nước Con người quyết định mọi thành bại Vấn đề là đặt conngười vào đúng vị trí của họ, rồi giải phóng và định hướng họ để họ có thể laođộng và sáng tạo theo đúng khả năng và sở trường

Trong số những công trình nghiên cứu vể Singapore của giới nghiên cứu tại

Việt Nam có thể kể tới công trình Chiến lược phát triển của các nước Đông Nam Á do

PGS.TS Nguyễn Thu Mỹ làm chủ biên Tập thể tác giả PGS.TS Nguyễn Thu Mỹ,PGS.TS Phạm Đức Thành, PGS.TS Hoa Hữu Lân, PGS.TSKH.Trần Khánh đã dànhmột trong năm chương của phần đầu tiên viết về chiến lược phát triển của Cộng hòaSingapore Các tác giả đã cho cung cấp cái nhìn tổng quan về tiền đề phát triển, chiếnlược phát triển và thành tựu phát triển của Singapore sau 40 năm kể từ năm 1960 songchủ yếu đề cập tới lĩnh vực phát triển kinh tế

1.1.2.2 Trọng tâm nghiên cứu về nguồn lực phát triển của Hàn Quốc

Năm 2003, trong cuốn Korea’s Economic Miracle: Fading or Reviving? (Kì

tích kinh tế của Hàn Quốc: biến mất hay tái sinh?), Charles Harvie và Lee Hyun-hoon

đã ghi chép và phân tích các yếu tố quan trọng đằng sau phép lạ kinh tế của Hàn Quốc

từ 1962-1989 và những nguyên nhân góp phần vào sự suy thoái kinh tế và khủnghoảng tiếp theo 1997-1998

Cuốn Korea at the Center: dynamics of Regionalism in Northeast Asia (Hàn

Quốc tại vị trí trung tâm: sự năng động của Chủ nghĩa khu vực ở Đông Bắc Á) của tậpthể 4 tác giả gồm Charles K.Amstrong, Gilbert Rozman, Stephen Kotkin, Samuel S.Kim đặt Hàn Quốc trong tương quan lịch sử với các nước lớn trong khu vực như NhậtBản, Trung Quốc… Các tác giả cho rằng vị trí của Hàn Quốc ở trung tâm của ĐôngBắc Á mang lại cho quốc gia này một vai trò quan trọng trong hội nhập kinh tế củakhu vực và sự phát triển năng động của các nước láng giềng hùng mạnh hơn

Trong khi đó, các nhà nghiên cứu Hàn Quốc đã chú tâm nghiên cứu về sự phát

triển của đất nước mình trên nhiều lĩnh vực, có thể kể đến công trình The Role of Foreign Capital in the Korean Economy: A Driving Force of Economic Development

or Financial Crisis? (Vai trò của vốn nước ngoài trong nền kinh tế Hàn Quốc: động

lực của phát triển kinh tế hay khủng hoảng tài chính) năm 1999 Tác giả Bang NamJeon (Trường Đại học Drexel) đã phân tích về vai trò của vốn nước ngoài tới kinh tế

Trang 30

Hàn Quốc với cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 Nhà nghiên cứu đã nhậnđịnh rằng Hàn Quốc đã dựa quá nhiều trên các dòng vốn ngắn hạn để bù đắp cho thâmhụt tài khoản vãng lai hoặc để tài trợ đầu tư và phát triển kinh tế Với dung lượng 23trang, tác giả mới chỉ đề cập sơ bộ về tình hình huy động vốn FDI của Hàn Quốc từnhững năm 60 cho tới cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997.

Năm 2002, Kim Yun-tae trong dự án nghiên cứu của Viện phát triển năng lựcnghề nghiệp Hàn Quốc là 한한 한한한한한한한한한 한한 한 한: 1962-2002 (Phân tích và đánh giá

chính sách phát triển nguồn nhân lực Hàn Quốc: 1962-2002) đã đề cập tới lí do HànQuốc phải trọng dụng giáo dục nguồn lực là thiếu nguồn lực cơ bản để phát triển quốcgia Tác giả đã dành 66 trang trong tổng số 206 trang đề cập tới chính sách phát triểnnguồn nhân lực của Hàn Quốc trong thập niên 60 và 70 và nhấn mạnh tới sự ảnhhưởng của bối cảnh chính trị tới việc quyết định chính sách phát triển

Kim Hyung-a là học giả tiêu biểu nghiên cứu về quá trình công nghiệp hóa củaHàn Quốc với một loạt những ấn phẩm liên quan Trong số đó, với dung lượng 221trang (chưa kể phần chú thích và phụ lục), tác giả đã khai thác rất nhiều nguồn tư liệu

mới qua cuốn sách Korea’s Development under Park Chung Hee (Sự phát triển của

Hàn Quốc dưới thời Park Chung Hee) 4 xuất bản lần đầu năm 2004 Công trình dẫn dắtngười đọc tìm hiểu về tiểu sử của Park Chung-hee và sự phát triển thần tốc của HànQuốc giai đoạn 1961-1979 và ông cho rằng bất kỳ sự phán xét nào về Tổng thống ParkChung-hee không thể tách rời công lao của cố Tổng thống trong bối cảnh chính trịkinh tế xã hội, văn hóa bấy giờ

Hai nhà nghiên cứu Kim So-young - Yang Doo Yong đã tiến hành phân tích

dòng chảy vốn và các chính sách quản lý của Hàn Quốc trong Managing Capital Flows: The Case of the Republic of Korea (Quản lý dòng chảy vốn: trường hợp Hàn

Quốc), tuy nhiên số liệu nghiên cứu chỉ tập trung ở giai đoạn 1980 - 2006

Với báo cáo nghiên cứu dài 30 trang 한한한 한한한 한한한한한 한한: 한한한 한한한 (Mâu thuẫntrong tích lũy vốn thời kỳ Park Chung-hee: phê phán lý luận về quốc gia phát triển),giáo sư Kim Chang-geun (Đại học Yonsei) đã tóm lược quá trình chuyển đổi chiếnlược phát triển kinh tế ở Hàn Quốc từ đầu thập niên 1960 cho tới nửa

4 Là một trong năm công trình trong Tuyển tập nghiên cứu Đông Á do Hiệp hội nghiên cứu Châu Á - Australia (ASAA) chủ trì.

Trang 31

đầu thập niên 1980 cũng như quá trình tích lũy vốn, biến Hàn Quốc thành quốc gia vay

nợ ở giai đoạn sau đó Nhà nghiên cứu nhấn mạnh đến vị trí địa chính trị của HànQuốc thời kỳ chiến tranh lạnh và cho đó là nguyên nhân khiến Hàn Quốc nhận đượcnhiều sự chi viện của Mỹ và không bị rơi vào khủng hoảng tài chính như một số nướcNam Mỹ những năm 19805

Giáo sư Lee Young-hoon của Đại học Quốc gia Seoul đã có báo cáo nghiên cứu

한한한한한 한한한한한 한한한한 한한 (Bối cảnh lịch sử kinh tế của chính sách phát triển thời kỳ ParkChung-hee) năm 2011 Báo cáo khẳng định nguyên nhân tạo nên “kỳ tích sông Hàn”(지지지 지지) chính là những “tiềm năng tăng trưởng” (지지지 지지지) được tích lũy từ nội tại xãhội và kinh tế của Hàn Quốc Ông nhấn mạnh tới ý chí phát triển (지 지 지 지 - will-todevelop) của các chính trị gia xuất thân từ quân đội của Hàn Quốc và nguồn vốn xã hội(지지지 지지) cũng như vốn nhân lực (지지 지지) liên tục được tích lũy trong xã hội Hàn Quốchơn là năng lực doanh nghiệp (지지 지지 가 )

Năm 2011, sự ra đời của cuốn sách Park Chung Hee ERA: The Transformation

of South Korea (Kỷ nguyên Park Chung-hee và quá trình phát triển thần kỳ của Hàn

Quốc) đã tạo nên một tiếng vang lớn, góp phần “giải mã” câu chuyện phát triển thần

kỳ của Hàn Quốc của hai học giả Kim Byung-Kook6 và Ezra F Vogel Nội dung Kinh

tế và Xã hội (Economy and Society) ở phần 3 phân tích sự phát triển về kinh tế, xã hội nông thôn và Quan hệ quốc tế ở phần 4 (International Relations) thảo luận về quan hệ

Mỹ-Hàn trong bối cảnh của cuộc Chiến tranh Việt Nam Công trình đã làm sáng tỏcách thức để Hàn Quốc trở thành một cường quốc kinh tế mạnh mẽ với một nền dânchủ sôi động trong 18 năm cầm quyền của tổng thống Park Chung Hee

5 Khủng hoảng nợ của Châu Mỹ La-tinh thập niên 80 được biết đến với cái tên “Thập kỷ mất mát” và đã manh nha từ những năm 1970 Cơn bão khủng hoảng bắt đầu từ Mexico vào năm 1982 khi quốc gia này tuyên bố vỡ nợ, kéo theo hầu hết các quốc gia khác trong khu vực cũng vỡ nợ theo như Brazil, Venezuela, Argentina…Thời kỳ đó, các nước Mỹ La-tinh như Brazil, Argentina và Mexico đã có những bước phát triển khá ấn tượng, chủ yếu do vay

nợ nước ngoài quy mô lớn với mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp trong nước và cải thiện cơ sở hạ tầng Tuy nhiên đến đầu thập niên 1980, các nước này bắt đầu gặp khó khăn trong việc trả nợ Từ giữa 1975-1982, các khoản

nợ công của các nước Mỹ La-tinh đối với các tổ chức tài chính và ngân hàng thế giới đã tăng lên đến 20% Cùng với

đó là việc Mỹ và châu Âu theo đuổi chính sách thắt chặt, dẫn đến lãi suất tăng cao khiến các khoản nợ của các nước

Mỹ La-tinh gia tăng chi phí trả lãi vay Các nước này phải huy động các nguồn lực

để trả nợ vay, hệ quả là sản lượng trong nước và tiêu dùng suy giảm [Kaminsky Graciela L & Carmen M Reinhert (1998), Financial crises in Asia and Latin America: Then and now, Washington DC, pp.]

6 Giáo sư Kim Byung-Kook từng làm việc trong Ban Biên tập Hankukilbo (1994-1995), Ủy ban của Tổng thống

về hoạch định chính sách (1994-1998) và là Thư ký Cấp cao Ngoại giao và An ninh Quốc gia dưới thời Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung Bak vào năm 2008.

Trang 32

Ngoài ra, những tác phẩm của các nhà lãnh đạo Hàn Quốc cũng có giá trị thamkhảo tốt Có thể điểm tên những cuốn sách của cố Tổng thống Park Chung-hee - nhàlãnh đạo có công lớn trong việc dẫn dắt Hàn Quốc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước Thông qua một loạt tác phẩm xuất hiện vào những năm 70, thế kỷ XX

như The Country, the Revolution and I, Our Nation’s Path (1970) (Đất nước, cuộc cách mạng và tôi, con đường của dân tộc chúng ta); To build a Nation (Hướng tới xây dựng một quốc gia) (1971); Korea Reborn: A Model for Development (Sự hồi sinh của

Hàn Quốc: một mẫu hình cho sự phát triển) (1979), độc giả được cung cấp cái nhìnxuyên suốt cả quá trình phát triển của Hàn Quốc, từ những khó khăn, thiếu thốn nguồnlực phát triển cho tới những quyết sách mạnh mẽ trong thời kỳ cất cánh lần thứ nhất

Tại Việt Nam, theo trào lưu nghiên cứu về sự thành công của kinh tế Hàn Quốc

trên thế giới, năm 1996, TS Vũ Đăng Hinh đã xuất bản cuốn Hàn Quốc: nền công nghiệp trẻ trỗi dậy (NXB Khoa học xã hội) Tác giả đồng tình với ý kiến của giới

nghiên cứu bấy giờ về tầm quan trọng của những yếu tố khách quan - những yếu tố đãtạo nhiều thuận lợi cho sự phát triển của Hàn Quốc, song nhấn mạnh rằng nỗ lực chủquan của chính phủ nước này mới đóng vai trò quyết định

Trong tình trạng khan hiếm tư liệu tham khảo về kinh tế Hàn Quốc, cuốn sách

Hàn Quốc: câu truyện kinh tế về một con rồng (Korea: The Economic Story of A

Dragon) xuất bản năm 2005 của PGS.TS Hoa Hữu Lân đã được đông đảo độc giả đónnhận Tác giả đã cố gắng khái quát con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của HànQuốc từ năm 1950 đến những năm đầu thế kỷ XXI, trong đó tập trung phân tích về cơcấu kinh tế - xã hội thông qua các giai đoạn phát triển, đồng thời rút ra một số bài họckinh nghiệm và nêu lên triển vọng kinh tế Hàn Quốc trong những năm đầu của thế kỷXXI

Phát triển từ luận án tiến sĩ ngành Lịch sử học, tác giả Hoàng Văn Hiển đã xuất

bản cuốn sách Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc (1961-1993) và kinh nghiệm đối với Việt Nam gồm 363 trang chia làm 3 chương Chương 1 và chương 2

trình bày có hệ thống toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc trongnhững năm 1961-1993 với hai mô hình chiến lược hướng nội và hướng ngoại qua haigiai đoạn cất cánh kinh tế lần thứ nhất và thứ hai Qua mỗi giai đoạn, tác giả cũng đãnêu lên những thành tựu tiêu biểu về kinh tế - xã hội và những hạn chế cơ bản của HànQuốc trong hơn ba thập niên công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Ở chương thứ ba,

Trang 33

tác giả tập trung phân tích những nguyên nhân và triển vọng phát triển kinh tế - xã hộicủa Hàn Quốc Qua đó, tác giả đã đưa ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội Hàn Quốc

1.2 Đánh giá về các công trình nghiên cứu liên quan và nội dung nghiên cứu của luận án

1.2.1 Đánh giá về các kết quả nghiên cứu liên quan đến luận án

Thứ nhất, qua những công trình mà tác giả tiếp cận được, cho tới thời điểm hiện

nay, chưa có một nghiên cứu so sánh nào lấy đối tượng trực tiếp là Singapore và HànQuốc

Thứ hai, những công trình của các nhà nghiên cứu Singapore và Hàn Quốc

được đầu tư nghiên cứu một cách công phu trên nhiều lĩnh vực, khía cạnh ở những giaiđoạn khác nhau Tuy nhiên, do là các học giả bản xứ nghiên cứu các chiến lược, chínhsách phát triển của quốc gia mình, nên nhiều khi, cách giải thích, nhìn nhận của họchưa thực sự khách quan

Thứ ba, đã có một số công trình đề cập tới cơ sở hoạch định chiến lược phát

triển của Singapore và của Hàn Quốc ở thời kỳ sau độc lập Song, những nội dungnghiên cứu này nhưng chưa đề cập một cách đầy đủ tới các tiền đề phát triển chủ quan

và khách quan Nhiều công trình trong số đó chỉ mới dừng lại nghiên cứu ở cấp độthạc sỹ

Cuối cùng, đa số công trình đề cập tới thành tựu và hạn chế trong chiến lược

phát triển của Singapore và Hàn Quốc được nghiên cứu và công bố sau năm 1997, tức

là sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á Do vậy, những hạn chế được các nhànghiên cứu đề cập tới thường tập trung nhiều vào vấn đề quản lý tài chính, tiền tệ

1.2.2 Những nội dung được tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Trên cơ sở tiếp thu thành quả nghiên cứu của các công trình trước, luận án tậptrung làm sáng tỏ một số vấn đề sau:

Một là, phân tích những nhân tố tác động tới quá trình định hình nội dung vàthực thi chiến lược phát triển của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961-1979, lý giảinguyên nhân hai nước trên coi trọng nhân tố nguồn lực con người và nguồn lực tàichính trong phát triển

Hai là, nghiên cứu một cách cụ thể chiến lược đào tạo và sử dụng nguồn lực con ngườicũng như thu hút - hoạt dụng nguồn lực tài chính của Singapore và Hàn Quốc giaiđoạn 1961-1979 Trên cơ sở đó, làm rõ những tương đồng và khác biệt 21

Trang 34

trong chính sách huy động và sử dụng nguồn nhân lực, tài lực cho phát triển của haiquốc gia trong cùng một khung thời gian và không gian chính trị, kinh tế, văn hóaĐông Á.

Ba là, đánh giá vai trò của nguồn lực con người và nguồn lực tài chính đối với

sự phát triển của Singapore và Hàn Quốc cuối thập niên 1970

Cuối cùng, rút ra một kinh nghiệm phát triển chung và riêng của Singapore vàHàn Quốc mà Việt Nam có thể tham khảo và áp dụng

Trang 35

Tiểu kết

Điểm qua nhiều nguồn tài liệu phong phú trong và ngoài nước liên quan đến luận

án, tác giả nhận thấy đã xuất hiện nhiều những tác phẩm, tác giả nghiên cứu hoặc trìnhbày về chính sách phát triển kinh tế, giáo dục của hai quốc gia Tuy nhiên, trong số đóchưa có một công trình nào được viết dưới hình thức trình bày tổng thể từ lý luận đến thựctiễn một cách đầy đủ và có hệ thống, xâu chuỗi về các nội dung trong các chiến lược pháttriển mà mới chỉ dừng ở một vài khía cạnh, rải rác, sơ lược ở khía cạnh này hoặc khíacạnh khác trong sự kết hợp với vấn đề này hoặc vấn đề khác Hơn nữa, vẫn chưa có tácphẩm, tác giả nào đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong sự đối chiếu so sánh những đặc điểmnguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc để rút ra những bài học kinh nghiệm tiêubiểu, đưa ra những kết luận khoa học, đóng góp cả về nhận thức và thực tiễn cho các nhàhoạch định chính sách nói chung, cho Việt Nam nói riêng

Trong luận án này, chúng tôi kế thừa những kết quả nghiên cứu nói trên, đi sâuphân tích xem xét với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé vào việc luận giải

có hệ thống về nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc, trọng tâm là nguồnlực con người và nguồn lực tài chính trong sự tương quan so sánh hai quốc gia Từ đó,luận án hướng tới tìm ra những bài học tham khảo hữu ích cho Việt Nam trên chặngđường xây dựng một quốc gia hiện đại

Trang 36

Nội dung chương 2 của luận án đề cập tới những cơ sở lý thuyết và thực tiễn liênquan tới chủ đề và giai đoạn nghiên cứu Cụ thể, sẽ trình bày nội hàm của một số kháiniệm cơ bản và lý thuyết phát triển được giới khoa học xã hội quốc tế chấp nhận; phântích bối cảnh kinh tế, xã hội và cơ sở nội tại cũng như ngoại sinh tác động tới quanđiểm, chiến lược phát triển của Singaproe và Hàn Quốc đầu thập kỷ 60.

2.1 Tổng quan về nguồn lực phát triển

2.1.1 Một số lý thuyết phát triển và khái niệm liên quan

2.1.1.1 Lý thuyết phát triển

Trong các lý thuyết phát triển kinh tế trước đây, khi đề cập tới các yếu tố tácđộng tới tăng trưởng kinh tế, các nhà nghiên cứu thường nhắc tới 4 yếu tố nguồn lựcchủ yếu là vốn, lao động, tài nguyên đất đai và công nghệ nghèo sẽ phát triển nhanhkhiến cho dòng vốn chảy ra khỏi nước giàu Vì lý do đó mà sẽ có sự hội tụ quốc tế vềtốc độ tăng trưởng và thu nhập, nghĩa là khoảng cách giữa nước giàu và nghèo ngàycàng thu hẹp dần Tuy nhiên, do thiếu bằng chứng thuyết phục cũng như thực tế chothấy khoảng cách giữa các quốc gia giàu và nghèo ngày càng tăng nên mô hình Solowsau đó bị từ bỏ

* Lý thuyết tăng trưởng Nội sinh (Endogenous Growth Theory) được Mankiw,

Romer và Weil phát triển từ lý thuyết phát triển ngoại sinh và công bố năm 1992 Đây

là mô hình được coi trọng hiện nay, ngoài biến số lao động thông thường và công nghệ,các nhà nghiên cứu đã thêm vào biến số về vốn nhân lực Mô hình giải thích sự chênhlệch thu nhập giữa nước nghèo và nước giàu và cho rằng quá trình hội tụ về thu nhậpgiữa các nước chỉ xảy ra có điều kiện Kết quả của mô hình là tại trạng thái dừng 24

Trang 37

(steady state) của hai quốc gia dù có cùng tỉ lệ tiết kiệm, tỉ lệ tăng dân số nhưng thunhập của hai quốc gia vẫn có thể khác nhau nếu có tích lũy vốn nhân lực khác nhau.

Qua đây chúng ta có thể nhận thấy, trong các lý thuyết về phát triển các nhànghiên cứu thường sử dụng biến số con người (lao động) và nguồn vốn tài chính Đầuthập niên 60, Singapore và Hàn Quốc có điểm chung là nghèo tài nguyên thiên nhiên,đất canh tác hẹp và kĩ thuật công nghệ chưa cao Khi hoạch định chiến lược phát triển,chắc chắn chính phủ hai quốc gia đều phải tính toán tới khả năng vận dụng hai yếu tốcòn lại Do đó, luận án sẽ sử dụng Lý thuyết nghiên cứu Tân cổ điển trên cơsởmở rộngcác biến ngoaịsinh Mô hình nghiên cứu gồm các biến nhưtăng trưởng kinh tế ;

nguồn vốn đầu tư phát triển; nguồn lưc ̣ con ngư ời và độ mởthưong maị Trong mô

2.1.1.2 Các khái niệm liên quan

Để làm rõ đối tượng nghiên cứu của đề tài, ở mục này chúng tôi đề cập tới một

số khái niệm chính yếu

Mặc dù thuật ngữ “nguồn lực phát triển” được rất nhiều nghiên cứu đề cập tới, tuynhiên, những quan điểm ban đầu về nguồn lực phát triển thường không được trình bày rõràng, có sự khác biệt hoặc thiếu sự gắn kết với quá trình phát triển kinh tế Điều này phụthuộc vào quan điểm, cách nhìn nhận của mỗi nhà nghiên cứu Thêm vào đó, nhóm xã hộivới đặc trưng về cộng đồng văn hóa và tôn giáo có thể đặt ra những giá trị khác nhau đốivới nguồn lực, dẫn tới sự khác biệt trong quan niệm về nguồn lực Để cắt nghĩa cho cụm

từ này, cần thiết phải tiến hành khảo sát ý nghĩa của các thuật ngữ liên quan

Trang 38

ii Phát triển (development):

Trong từ điển bách khoa Việt Nam, khái niệm “Phát triển” được định nghĩa nhưsau: “Phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ratrong thế giới… Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái

bất biến, mà trải qua một loạt các trạng thái từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong” [Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, 2003, tr.424] )

Về điều này, V.I Lê-nin cũng từng nhận định “Sự phát triển là một cuộc đấutranh giữa các mặt đối lập” [Cowen, 2003, tr.78] trong khi UNESCO nhấn mạnh rằng,khái niệm phát triển phải bao gồm các nhân tố kinh tế và xã hội, cũng như các giá trịđạo đức và văn hóa, quy định sự nảy nở của phẩm giá con người trong xã hội Nếu nhưcon người là nguồn lực của phát triển, nếu như con người vừa là tác nhân lại vừa làngười được hưởng, thì con người phải được coi chủ yếu như là sự biện minh và là mụcđích của phát triển… [Don Adams & Janet Adam, 1968, tr.243)

Qua đây có thể nhận thấy, định nghĩa của UNESCO không chỉ bao hàm nộidung kinh tế, xã hội mà còn chú trọng tới nội dung đạo đức và văn hóa, nhấn mạnh tớichủ thể con người

Gerard Crellet trong cuốn sách “Cơ cấu và chiến lược phát triển kinh tế” (1989)

đã định nghĩa: “Phát triển là quá trình một xã hội đạt đến thỏa mãn các nhu cầu mà xãhội đó coi là cơ bản” (tr.7) Với định nghĩa này Gerard Crellet cho rằng phát triển làmột quá trình và xã hội chỉ được coi là phát triển khi nó biết sử dụng nguồn của cải đểthỏa mãn những nhu cầu cơ bản Qua đó, ta có thể nhận thấy định nghĩa này không chỉbao hàm nội dung kinh tế mà còn hàm ý cả nội dung xã hội Đây là định nghĩa phùhợp và sẽ được chúng tôi sử dụng phân tích về sự phát triển của Singapore và HànQuốc

iii Nguồn lực phát triển (development resources):

Từ khái niệm “nguồn lực” và “phát triển” ở trên, khi nói đến “nguồn lực pháttriển” thì người ta thường nghĩ ngay tới nguồn lực phát triển kinh tế, tức là những yếu

tố được sử dụng trong sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ Nói cách khác, người

ta đồng tình với quan điểm của các học giả phương Tây Họ cho rằng nguồn lực pháttriển là những yếu tố đầu vào được sử dụng để tạo ra của cải hay giúp cung cấp dịch

vụ nhằm đạt tới mục tiêu phát triển Việc khai thác các nguồn lực này từ góc độ lợi thế

so sánh tuyệt đối đã là “nguồn gốc của cải của các dân tộc” (Adam Smith) hay góc độlợi thế so sánh là cơ sở của sự thịnh vượng dựa trên ngoại thương (David Ricardo)

Trang 39

Bàn về giá trị sức lao động, về địa tô, vốn tư bản và khoa học kĩ thuật, C Mác cũng đã

đề cập tới trong phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa

Nguồn lực kinh tế có thể được chia thành các nguồn lực con người như laođộng, quản lý và các nguồn lực không phải con người như đất đai, tư liệu sản xuất,vốn và công nghệ Nhiều nhà nghiên cứu phân chia nguồn lực gồm hai loại là nội lực

và ngoại lực, trong đó nội lực quyết định đối với sự phát triển, trong khi ngoại lực cóvai trò quan trọng, bổ sung cho nội lực Nội lực được phát huy mới thu hút và sử dụnghiệu quả được ngoại lưc Nội lực được tăng cường mới đảm bảo cho sự độc lập tự chủ

về kinh tế và thực hiện thành công hội nhập kinh tế quốc tế Hoặc có những ý kiến chorằng, trong số các nguồn lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên được xếp vào dạng nguồnlực bất biến, trong khi nguồn lao động, nguồn vốn đầu tư, khoa học - công nghệ đượccoi là nguồn lực khả biến

Trong tác phẩm Tìm hiểu bản chất và nguồn gốc của cải của các dân tộc xuất

bản năm 1776, Adam Smith đã nhận định nguồn lực chủ yếu gồm ba loại là: yếu tố sảnxuất, bao gồm vốn, sức lao động và đất đai Nhiều trường phái và học thuyết kinh tế -chính trị sau này đều đồng thuận với quan điểm của Smith và bổ sung thêm các nguồnlực mới cũng như đánh giá mức độ của từng nguồn lực đối với quá trình phát triển

kinh tế C Mác với tác phẩm Tư bản đã phân tích kinh tế với chính trị, triết học và đưa

ra những kết luận về phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa, trong đó nhấn mạnh đếngiá trị thặng dư (gắn với lao động), năng suất lao động (gắn với tiến bộ kỹ thuật),những lợi thế so sánh (địa tô)… Theo đó, các nguồn lực có thể là của cải vật chất, làtài nguyên thiên nhiên, là sức lao động hoặc là các tài sản vật chất khác Ngoài ra, thực

tế cũng tồn tại ý kiến phân chia nguồn lực phát triển thành 4 yếu tố chủ yếu là vốn, laođộng, tài nguyên đất đai và công nghệ kĩ thuật Tác giả luận án sẽ đề cập đến những ýkiến này khi phân tích các lý thuyết phát triển ở trên

iv Nguồn lực con người và nguồn vốn đầu tư

Đầu thập niên 1960, trong bối cảnh cả Singapore và Hàn Quốc hoạch định pháttriển trong điều kiện khó khăn về tài nguyên thiên nhiên với sự yếu kém về công nghệ

kỹ thuật Ở luận án này, chúng tôi tập trung nghiên cứu nguồn lực con người (vốnnhân lực) và nguồn vốn đầu tư

- Nguồn lực con người hay Vốn nhân lực (Human Capital):

Liên Hợp Quốc nhận định, nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của

Trang 40

mỗi cá nhân và của đất nước Trong khi đó, Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhânlực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi

cá nhân Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnhcác loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên Quan điểmcủa chúng tôi là không nên coi toàn bộ lao động là vốn bởi sức lao động chỉ trở thànhvốn khi nó được sử dụng để sản xuất ra các yếu tố đầu vào cho quá trình tái sản xuất

Khái niệm vốn nhân lực (Human Capital) được đề cập đầu tiên bởi chuyên giakinh tế học cổ điển Adam Smith (1723-1790) trong tác phẩm “An Inquiry into theNature and Cause of the Wealth of Nations”: “Sự tích lũy những tài năng trong quátrình học tập, nghiên cứu hoặc học việc thường đòi hỏi chi phí Đó là tư bản cố định đãkết tinh trong con người Những tài năng đó tạo thành một phần tài sản của anh ta vàcủa xã hội” [Adam Smith, 2007, tr.217]

Johann Henrich Von Thunen (1783-1850) từng nhận định “Một dân tộc có nhiềungười học tập cao sẽ tạo ra nhiều thu nhập hơn là một dân tộc không được học tập Mộtdân tộc được học tập nhiều hơn cũng sở hữu một tư bản lớn hơn, lao động đó đem lạinhiều sản phẩm hơn” [theo Gara Latchanna & Jeilu Oumer Hussein, 2007, tr.7 ]

Qua đây ta có thế thấy vốn con người được định nghĩa như tập hợp những nănglực sản xuất mà một cá nhân thu được nhờ tích luỹ những hiểu biết tổng quát hay đặcthù, những kỹ năng và sự thành thạo Khái niệm “vốn” diễn tả ý niệm một dự trữ phivật thể quy cho một người, có thể tích luỹ và hao mòn

- Nguồn vốn (Capital)

Thuật ngữ “vốn” được giải thích trong Từ điển kinh tế hiện đại như sau:

Capital - tư bản/vốn: một từ dùng để chỉ một yếu tố sản xuất do hệ thống kinh tếtạo ra Hàng hoá tư liệu vốn là hàng hoá được sản xuất để sử dụng như yếu tố đầu vàocho quá trình sản xuất sau Vì vậy, tư bản này có thể phân biệt được với đất đai và sứclao động, những thứ không được coi là do hệ thống kinh tế tạo ra Do bản chất khôngđồng nhất của nó mà sự đo lường tư bản trở thành nguyên nhân của nhiều cuộc tranhcãi trong lý thuyết kinh tế [Từ điển kinh tế học hiện đại, 1999, tr 129]

Vốn là biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tư Các phạm trùvốn, tài sản và đầu tư tồn tại đan xen nhau Có vốn mới thực hiện được đầu tư và kếtquả của đầu tư lại tạo ra tài sản và vốn Vốn đầu tư là toàn bộ những chi tiêu để làmtăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định Vốn đầu tư thường

Ngày đăng: 19/10/2020, 19:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w