1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

25 225 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận chung về thẩm định tài chính dự án tại các ngân hàng thương mại
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 69,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn ở Ấn Độ, khái niệm NHTM được địnhnghĩa là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay tài trợ đầu tư Còn theo pháp luật Ngân hàng ngày 23/05/1990 của hội đồng nhà nước Việt Nam xác đ

Trang 1

Các trung gian tài chínhNHTM, công ty Tài chính, bảo hiểm

- Người nước ngoài

Người cho vay

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TẠI

CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1 Hoạt động cơ bản của NHTM

1.1.1 Khái niệm NHTM

Xuất phát từ nhu cầu cất giữ những đồ đạc cho người sử dụng nó để tránh gây

ra mất mát, Ngân hàng bắt đầu được hình thành và mang nhiều lợi ích cho người gửigửi Các đồ vật cần gửi ở Ngân hàng ngày càng đa dạng hơn, không chỉ là đồ đạc quýhiếm mà còn có các vật dụng có giá trị như tiền, giấy tờ có giá…Khi bước sang nềnkinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bắt đầu xuất hiện mâu thuẫn giữanhững người thừa vốn và những người thiếu vốn, những người có nhu cầu đầu tư sinhlợi nhưng không có tiền và những người có tiền lại không có nhu cầu đầu tư Đứngtrước tình trạng đó, NHTM ra đời với tư cách là một trung gian tài chính để kết nốigiữa những người tiết kiệm và những người đầu tư, dẫn vốn từ nơi thừa vốn sang nơithiếu vốn và như vậy đã làm giảm chi phí giao dịch giữa hai bên

Dưới đây là sơ đồ dẫn vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn trên thị trường tàichính

Tuy không phải là trung gian tài chính duy nhất nhưng NHTM đã chứng tỏđược vai trò to lớn của mình trong hệ thống tài chính của Việt Nam Cũng giống nhưcác tổ chức kinh tế khác trong nền kinh tế, NHTM cũng hoạt động vì mục tiêu lợinhuận song lại ở một lĩnh vực kinh doanh tiền tệ Ở mỗi nước khác nhau thì có nhữngkhái niệm về NHTM khác nhau

Trang 2

Ở Mỹ NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính

và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính Tuy nhiên ở Pháp người ta lại cho rằngNHTM là những cơ sở, xí nghiệp thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hìnhthức kí thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụchiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính Còn ở Ấn Độ, khái niệm NHTM được địnhnghĩa là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay tài trợ đầu tư

Còn theo pháp luật Ngân hàng ngày 23/05/1990 của hội đồng nhà nước Việt

Nam xác định:” NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó

để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán” Như vậy

NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huy động cácnguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay, đầu tư và thực hiện cácnghiệp vụ tài chính khác

1.1.2 Hoạt động cơ bản của NHTM

Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanhnghiệp Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các dịch vụ tàichính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả Sự đa dạngcác loại hình ngân hàng và các hoạt động của ngân hàng đã cho ra đời nhiều hình thứckinh doanh mới Nhiều nghiệp vụ truyền thống vẫn được giữ vững bên cạnh các nghiệp

vụ mới ngày càng phát triển NHTM từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn là chủ yếu đã mởrộng cho vay trung và dài hạn, cho vay để đầu tư vào bất động sản, cho vay tiêu dùng,kinh doanh chứng khoán, cho thuê…Dưới đây là một số dịch vụ chính của ngân hàng

1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn

Với chức năng làm trung gian tài chính của nền kinh tế, NHTM thực hiện việchuy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và sử dụng để cho vay Thông qua hoạtđộng này NHTM đáp ứng phần lớn nhu cầu về vốn cho toàn bộ nền kinh tế Thôngqua các hoạt động của mình như huy động tiền gửi trong dân cư, trong các tổ chức, cánhân hay phát hành các giấy tờ có giá….NHTM đã chủ động tạo lập được nguồn vốn

để thực hiện vai trò của mình: nhận tiền gửi, cho vay, đầu tư

Thực chất nguồn vốn tự có trong mỗi Ngân hàng thường chiếm tỷ trọng rất nhỏ

so với tổng nguồn vốn của Ngân hàng Nguồn vốn tự có được hình thành thông quaviệc góp vốn liên doanh, liên kết, tự tích lũy trong quá trình hoạt động và một phần doNSNN cấp Tuy nhiên do đặc trưng của mình, để có thể cho vay hay đầu tư NHTMtiến hành huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để hình thành các quỹ tiền

Trang 3

tệ tập trung, phương thức huy động vốn hoặc theo thể thức tự nguyện thông qua cơchế lãi suất hoặc theo thể thức bắt buộc thông qua cơ chế điều hành của chính phủ.Với chức năng này các NHTM đã đem lại lợi ích cho chính mình và cho phần lớnnhững người có khoản tiết kiệm, để dành

1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn

Các trung gian tài chính mà hiện thân tiêu biểu nhất là các NHTM đang ngàycàng giữ vị trí quan trọng trong hệ thống tài chính Nó thực sự đem lại lợi ích trọn vẹncho cả người thừa vốn và người thiếu vốn, mang lại lợi nhuận cho chính bản thân cácNHTM và cho cả nền kinh tế nữa Bên cạnh hoạt động huy động vốn thì hoạt động sửdụng vốn chính là để thực hiện mục tiêu cung ứng vốn cho nền kinh tế Trong nềnkinh tế thị trường, người cần vốn là những doanh nghiệp, tổ chức, Chính phủ, các cánhân trong và ngoài nước và NHTM đã đáp ứng phần nào những nhu cầu ấy Domang tính chuyên môn hóa và thành thạo trong nghề nghiệp các NHTM đáp ứng đầy

đủ, chính xác và kịp thời yêu cầu giữa người cần vốn và người thiếu vốn

1.1.2.3 Trung gian thanh toán

Khi thực hiện hoạt động là trung gian thanh toán NHTM đóng vai trò là thủquỹ giữa doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện việc thanh toán theo yêu cầu của kháchhàng như trích tiền gửi từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán cho bên bán hànghóa, dịch vụ hoặc nhập tiền vào tài khoản cho khách hàng khi họ nhận tiền bán hànghóa và dịch vụ Với hoạt động trung gian thanh toán của mình NHTM cung cấp chokhách hàng các phương tiện thanh toán tiện lợi như ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, séc,thẻ thanh toán, tín dụng, thẻ ghi nợ….Do cạnh tranh giữa các Ngân hàng nên nhiềuphương thức thanh toán mới ra đời với mục tiêu thu hút khách hàng tới Ngân hàngmình một cách tối đa Nhờ đó mà các chủ thể trong nền kinh tế không phải giữ tiềntrong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ hay gặp người để thanh toán, họ sẽ không phảiquan tâm tới khoảng cách gần hay xa, tiết kiệm được chi phí và thời gian lại đảm bảokhông găp phải rủi ro, đảm bảo an toàn trong thanh toán Đồng thời giảm được chi phí

in ấn, bảo quản, cất giữ tiền mặt khi số lượng tiền mặt trong lưu thông giảm đi đáng

kể do lựa chọn các hình thức thanh toán của Ngân hàng Thông qua vai trò là cầu nốigiữa người thừa vốn và thiếu vốn, NHTM sẽ vừa là người đi vay nhưng cũng là ngườicho vay để hưởng mức chênh lệch lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay, góp phần tạolợi ích cho các bên và cho chính mình

1.1.2.4 Hoạt động đầu tư

Trang 4

1.1.2.5 Cung cấp các dịch vụ

Một số hoạt động không kém phần quan trọng hỗ trợ các dịch vụ của ngânhàng như uỷ thác và tư vấn, cho thuê thiết bị trung và dài hạn, cung cấp các dịch vụbảo hiểm, đại lý, môi giới và đầu tư chứng khoán…nhằm mục đích tận dụng được hếtcác ưu thế của ngân hàng

Ta có thể nhận thấy các hoạt động của ngân hàng đều có mối quan hệ qua lại,tác động lẫn nhau Khi huy động được nguồn vốn dồi dào với lãi suất thấp, Ngân hàng

có thể tăng cường cho vay đồng thời sử dụng các dịch vụ khác của Ngân hàng nhưthanh toán chuyển tiền Ngược lại khi quy mô, uy tín, chất lượng của Ngân hàng ngàycàng cao sẽ thu hút được một số lượng lớn khách hàng ham gia dẫn đến nguồn vốnhuy động tăng, thị trường cho vay và đầu tư được mở rộng nhất là trong điều kiệncạnh tranh vô cùng khốc liệt giữa các Ngân hàng như hiện nay Nhận thức rõ đượcđiều ấy, các NHTM có xu hướng hoạt động đa năng, xen lấn vào nhiều ngành nghề,nhiều lĩnh vực hơn, tỷ lệ doanh số cũng như lợi nhuận từ các dịch vụ ngày càng tănglên Tuy nhiên không phải vì thế mà vai trò cũng như mức độ quan trọng của hoạtđộng huy động và sử dụng vốn bị thuyên giảm

1.2 Thẩm định tài chính dự án đầu tư trong các NHTM

1.2.1 Sự cần thiết phải thẩm định tài chính dự án

Trong Ngân hàng khả năng xảy ra rủi ro là tổn thất mà Ngân hàng phải gánhchịu khi tiến hành cho vay vốn dẫn đến nguồn thu nhập ngoài dự kiến của Ngân hàng

bị giảm sút Khả năng khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả đầy đủ một phầnvốn và lãi hoặc không trả toàn bộ vẫn có thể xảy ra Khi thực hiện một hoạt động chovay cụ thể ngân hàng không dự kiến là khoản cho vay đó sẽ bị tổn thất, tuy nhiênnhững khoản vay đó luôn hàm chứa rủi ro

Nhất là đối với các dự án lớn kéo dài trong nhiều năm, lượng vốn đáp ứng cho

dự án thì lớn, trong khi điều kiện nền kinh tế Việt Nam còn có nhiều biến động thì nếuNgân hàng không tiến hành các biện pháp thẩm định một cách kĩ lưỡng, khoa học thì

có thể sẽ dẫn tới sự lựa chọn đối nghịch đó là người cần vay thì không cho vay mà lạicho vay người không nên cho vay Hậu quả của nó là Ngân hàng không đòi được cáckhoản nợ trong khi đó đặc trưng của Ngân hàng là huy động tiên gửi để cho vay Dẫn

Trang 5

đến Ngân hàng không có khả năng tài chính tài trợ cho các hoạt động khác và có thểđứng trên bờ vực phá sản

Thẩm định tài chính dự án giúp ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra trong quátrình cho vay vốn của Ngân hàng, việc thẩm định tài chính sai sẽ làm giảm uy tín củangân hàng, mất lòng tin của công chúng khi ngân hàng hoạt động không hiệu quả Dânchúng không tin tưởng vào khả năng hoạt động của ngân hàng sẽ rút tiền, đẩu tư vàocác ngân hàng khác, dự án khác, gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế - xã hội Khilượng vốn huy động chỉ nằm trong ngân hàng, không cho vay ra thị trường, khôngsinh lời, không hỗ trợ đầu tư, mở rộng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, gây rakhó khăn, thua lỗ, phá sản đối với hàng loạt doanh nghiệp, cũng như với bản thânngân hàng Tình trạng tài chính xấu của một ngân hàng có thể tác động đến nhiềungân hàng khác gây phản ứng dây chuyền

Do vậy để tồn tại, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường với đặc điểm là tự docạnh tranh và sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt thì Ngân hàng cũng như các phápnhân khác trong nền kinh tế phải tự tìm kiếm các phương cách, giải pháp cho riêngmình để phòng ngừa rủi ro Thẩm định tài chính dự án trong các ngân hàng chính là mộttrong những biện pháp ngăn ngừa rủi ro trogn quá trình cho vay vốn đầu tư tại Ngânhàng Như vậy, đứng trên góc độ người tài trợ, các Ngân hàng, tổ chức tài chính đánhgiá dự án chủ yếu trên phương diện khả thi, hiệu quả tài chính và xem xét khả năng thu

nợ của Ngân hàng Với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thẩm định dự ánđược xem xét và đánh giá trên góc độ toàn bộ nền kinh tế xã hội của đất nước

Nói một cách tổng quát ta có thể đưa ra khái niệm về thẩm định tài chính dự án

như sau:” Thẩm định dự án đầu tư là rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học, khách quan và toàn diện mọi nội dung của dự án và liên quan đến dự án nhằm khẳng định tính hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án trước khi quyết định đầu tư” Đứng trên giác độ Ngân hàng, các nhà tài trợ, tổ chức cho vay:” Thẩm định dự án đầu tư là rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học, khách quan và toàn diện mọi nội dung của dự

án và liên quan đến dự án nhằm khẳng định tính hiệu quả cũng như tính khả thi của

dự án trước khi quyết định đầu tư”

1.2.2 Quy trình và nội dung thẩm định tài chính dự án

1.2.2.1 Quy trình thẩm định tài chính dự án

Quy trình thẩm định của mỗi Ngân hàng là căn cứ cho cán bộ thẩm địnhthực hiện công việc một cách khách quan, khoa học và đầy đủ Quy trình thẩm địnhtài chính dự án bao gồm các bước sau:

Trang 6

Thông qua quá trình tìm hiểu về người lập dự án, uy tín, kinh nghiệm của họ.Tiếp xúc với chủ dự án và các đơn vị có liên quan để tăng cường tính hiệu quả cho dự

án Thăm hiện trường, nơi làm việc, đối chiếu, kiểm tra sổ sách về tình hình tài chính,báo cáo kết quả kinh doanh ghi trong hồ sơ dự án để nếu cần thiết thì sẽ tiến hành điềuchỉnh

* Thẩm định chính thức

Sau khi đã tiến hành thẩm định sơ bộ xong cán bộ thẩm định sẽ đi vào thẩmđịnh chính thức trên hai khía cạnh là thẩm định tài chính và thẩm định phi tài chính

♣ Thẩm định phi tài chính

Thẩm định doanh nghiệp vay vốn

Mục đích của việc thẩm định doanh nghiệp vay vốn là để xác định xem chủ đầu

tư có khả năng trả nợ cho Ngân hàng không? Nguyện vọng của chủ đầu tư có chínhđáng không?

Tiếp đó xem xét tư cách pháp nhân của chủ đầu tư để biết chủ doanh nghiệp cókhả năng trả nợ không?

Về uy tín của chủ doanh nghiệp: điều này rất quan trọng Thông qua lịch sửmối quan hệ giữa doanh nghiệp với các Ngân hàng khác cũng như với Ngân hàngmình để biết đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp

Cần đánh giá công khai, minh bạch, tránh trường hợp người cần đầu tư thì bỏqua lại cho vay những người có nguy cơ không trả được nợ do khách hàng làm ănkhông hiệu quả

Thẩm định khía cạnh thị trường

Trang 7

Phân tích khả năng cung cấp nguyên vật liệu đầu vào và đầu ra cho sản phẩm.Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới vòng đời của dự án, so sánh giá thành sản phẩm,giá bán sản phẩm với giá thị trường hiện nay cũng như những dự báo về sự biến độnggiá cả giữa thị trường trong và ngoài nước Từ đó đưa ra được sự phù hợp hay khôngcủa dự án mà có biện pháp điều chỉnh kịp thời

Để có thể thực hiện tốt việc thẩm định thị trường, cán bộ thẩm định cần thuthập đầy đủ các thông tin cũng như chính sách, sự phối hợp giữa tình hình thực tế với

số liệu thống kê về các vấn đề có liên quan

Thẩm định khía cạnh tổ chức quản lý

Như chúng ta đã biết vai trò của việc tổ chức quản lý có ảnh hưởng rất nhiềutới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó tác động tới tiến độ,quy mô và phạm vi của dự án Cho nên cần phải kiểm tra, xem xét và đánh giá mộtcách chính xác nhất chất lượng lao động, đảm bảo đáp ứng cho dự án được đi vào hoạtđộng một cách hiệu quả

Thẩm định khía cạnh công nghệ

Với một hệ thống công nghệ kỹ thuật hiện đại sẽ giúp cho việc tiến hành dự ánđược nhanh chóng và tiện lợi hơn Đánh giá tính hữu hiệu của thiết kế dự án để từ đótrả lời cho câu hỏi dự án có thể thực hiện về mặt kỹ thuật hay không?

Thẩm định tình hình kinh tế xã hội

Trên quan điểm so sánh giữa chi phí và lợi ích của việc thực hiện dự án trêngóc độ kinh tế và xã hội Những đóng góp của dự án vào phúc lợi chung của quốc gianhư thu hút được lực lượng lao động tham gia làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, mức độ gây

ô nhiễm môi trường và các giải pháp cải thiện sự ô nhiễm ấy

♣ Thẩm định tài chính

Khi vay vốn, khách hàng phải lập và nộp cho ngân hàng dự án sản xuất kinhdoanh trong đó chỉ rõ tình hình thị trường, dự báo doanh thu, ước lượng chi phí, lợinhuận gộp, lợi nhuận ròng và đánh giá khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi Nói chung vềphía Ngân hàng, các cán bộ thẩm định phải phát hiện được những sai sót, những điểmđáng nghi ngờ hay chưa rõ ràng của dự án và cùng với khách hàng thảo luận, làm sáng

tỏ thêm nhằm đánh giá chính xác, trung thực thực chất của dự án Để có sự phối hộptốt với khách hàng nhân viên tín dụng nói chung hay cán bộ thẩm định nói riêng cầnnắm vững các nội dung để tiến hành thẩm định một dự án

- Xác định tổng nhu cầu vốn đầu tư bao gồm vốn cố định và vốn lưu động

Trang 8

- Xác định phần vốn mà Ngân hàng tài trợ

- Xác định tiến độ cần bỏ vốn

- Kiểm tra xây dựng doanh thu và lợi nhuận của dự án

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án

- Xác định bảng lịch trình thu gốc và lãi

- Tổng hợp và đưa ra kết quả thẩm định, lập báo cáo thẩm định trình lãnh đạoNhư vậy: Một quy trình thẩm định dự án phải đảm bảo đủ các yêu cầu trên.Quá trình này đòi hỏi cán bộ tín dụng phải biết kết hợp tốt giữa kiến thức, trình độ bảnthân và kinh nghiệm của mình

1.2.2.2 Nội dung thẩm định tài chính dự án

*Thẩm định nhu cầu tổng vốn đầu tư

Đặc điểm của các dự án là thường yêu cầu một lượng vốn lớn và sử dụng trongmột thời gian dài Tổng vốn đầu tư nay trước khi trình Ngân hàng thì đã được xác định

và đã được nhiều cấp, ngành xem xét, phê duyệt Tuy nhiên, Ngân hàng vẫn cần phảithẩm định lại trược khi cho vay, bởi vì: Sai lầm trong việc xác định nhu cầu vốn đầu tưcủa dự án có thể dẫn tới tình trạng lãng phí vốn lớn, gây khó khăn trong hoạt động đầu

tư cũng như hoạt động vận hành kết quả đầu tư sau nay, thậm chí gây hậu quả nghiêmtrọng đối với chủ đầu tư Do đó việc xác định hợp lý tối đa tổng mức vốn đầu tư củamột dự án là cần thiết đối với ngân hàng Ngân hàng sẽ thẩm định chi tiết tổng vốn đầu

tư được hình thành như thế nào:

Vốn đầu tư vào tài sản cố định

Vốn đầu tư vào tài sản cố định thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tưcho dự án Các tài sản cố định được đầu tư có thể là tài sản cố định hữu hình hoặc tàisản cố định vô hình Cụ thể là:

- Chi phí xây lắp: Chi phí khảo sát, thiết kế, xây dựng luận chứng kinh tế - kỹthuật, chi phí ban đầu về quyền sử dụng đất, chi phí đền bù, chi phí cần thiết và hợp lýcác thủ tục pháp lý như đăng ký kinh doanh, thuế trước bạ, lệ phí chứng từ,

- Chi phí máy móc thiết bị công nghệ, hệ thống dây chuyền và các thiết bị bánlẻ: Giá mua thiết bị, chi phí bảo quản, vận hành, vận chuyển

- Chi phí dự phòng

- Chi phí khác: Chi phí này phát sinh trong quá trình thực hiện dự án không liên

Trang 9

quan trực tiếp đến việc tạo ra hay vận hành các tài sản cố định.

Vốn đầu tư vào tài sản lưu động

Đây là vốn đầu tư nhằm hình thành các tài sản lưu động cần thiết để thực hiện

dự án Nhu cầu đầu tư vào tài sản lưu động phụ thuộc vào đặc điểm của từng dự án.Bao gồm tài sản lưu động trong sản xuất ( Nguyên liệu, vật liệu, và sản phẩm dởdang) và tài sản trong quá trình lưu thông (Vốn bằng tiền,vốn trong thanh toán, sảnphẩm hàng hoá chờ tiêu thụ )

* Thẩm định phương án tài trợ dự án đầu tư

Các phương án tài trợ cho dự án đầu tư thông thường bao gồm các nguồn chínhlà: Vốn tự có của chủ đầu tư, vốn vay NHTM, vốn vay quỹ hỗ trợ phát triển, vốn doNgân sách cấp, lesing, nguồn vốn khác Nhiệm vụ thẩm định các nguồn vốn tài trợ cho

dự án là để xem xét về số lượng, thời gian, tỷ trọng các nguồn trong tổng vốn đầu tư, cơcấu vốn có hợp lý và tối ưu Mặt khác, cơ cấu nguồn vốn sẽ chi phối việc xác định dòngtiền phù hợp cũng như xác định lãi suất chiết khấu hợp lý để xác định NPV của dự án

Trong quá trình thẩm định các nguồn tài trợ cho dự án, Ngân hàng phải xem xét cơ

sở pháp lý và cơ sở thực tế của các nguồn vốn để có thể khẳng định chắc chắn rằng cácnguồn đó là có thực Trong thực tế, có đơn vị vốn tự có thực tế không đủ hoặc không cótham gia vào dự án nên đã đẩy vốn đầu tư lên mức nhu cầu cao hơn thực tế cần thiết để vaytín dụng bù đắp, nếu không xem xét kỹ thì vô tình Ngân hàng đã tham gia 100% nhu cầuvốn đầu tư Ngân hàng phải đánh giá nhu cầu vốn và mức cân đối vốn từ các nguồn tài trợtrong các giai đoạn thực hiện dự án Từ đó, xây dựng một trình tự cho vay sao cho tiến độ

bỏ vốn phù hợp với tiến độ thi công xây lắp và việc điều hành vốn của Ngân hàng

* Thẩm định hiệu quả tài chính của dự án

Hiệu quả tài chính dự án đầu tư được đánh giá thông qua các phương pháp phân tíchtài chính trên cơ sở dòng tiền của dự án Dòng tiền của một dự án được hiểu là các khoản chi

và thu được kỳ vọng xuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau trong suốt chu kỳ của dự án.Khi lấy toàn bộ khoản tiền thu được trừ đi khoản tiền chi ra thì chúng ta sẽ xác định dòngtiền ròng hàng năm dựa trên lợi nhuận sau thếu, khấu hao, lãi vay và những khoản mục điềuchỉnh khác khi có sự khác biệt trong cơ cấu đầu tư tài trợ cho dự án Nếu sai lầm trong việcxác định các dòng tiền thì có thể dẫn đến tính toán và thẩm định hiệu quả tài chính dự ánkhông còn ý nghĩa nữa Do đó, khi đứng trên góc độ Ngân hàng cần lưu ý những vấn đề sau:

Cơ cấu vốn tài trợ cho dự án

Trang 10

- Lãi suất chiết khấu được lựa chọn là thực hay danh nghĩa: Việc lựa chọn lãi suấtchiết khấu thực hay danh nghĩa phải đảm bảo nguyên tắc nhất quán: Lãi suất chiết khấu thực

áp dụng với dòng tiền thực, lãi suất chiết khấu danh nghĩa áp dụng với dòng tiền danh nghĩa

- Lựa chọn phương pháp tính khấu hao

- Rủi ro

- Những ưu đãi đầu tư của Chính phủ

- Thuế thu nhập doanh nghiệp

Các phương pháp tính toán tài chính được sử dụng trong thẩm định hiệu quả tài chínhbao gồm:

Phương pháp giá trị hiên tại ròng (NPV)

Khái niệm: NPV (Net Present Value) – giá trị hiện tại ròng – là chênh lệch giữa tổnggiá trị của các dòng tiền thu được trong từng năm thực hiện dự án với vốn đầu tư bỏ ra đượchiện tại hóa ở mốc 0 NPV có thể mang giá trị dương, âm hoặc bằng không Đây là chỉ tiêu

cơ bản dùng để đánh giá hiệu quả của một dự án đầu tư vì nó thể hiện giá trị tăng thêm mà

dự án đem lại cho công ty, doanh nghiệp

- Công thức xác định giá trị hiện tại ròng NPV như sau

NPV = ∑

t−0

n CF t

(i+k ) t

Trong đó: CFt là dòng tiền ròng năm thứ t

k là lãi suất chiết khấu của dự án

n là tuổi thọ của dự án

- Ý nghĩa kinh tế của chỉ tiêu NPV như sau:

+ Một dự án có NPV > 0 có nghĩa là dự án có suất sinh lời cao hơn chi phí cơhội của vốn ( suất sinh lời cao hơn suất chiết khấu)

+ Một dự án có NPV = 0 có nghĩa là dự án có suất sinh lời bằng với chi phí cơhội của vốn ( suất sinh lời bằng suất chiết khấu)

+ Một dự án có NPV < 0 có nghĩa là dự án có suất sinh lời thấp hơn chi phí cơhội của vốn ( suất sinh lời nhỏ hơn suất chiết khấu)

Trang 11

Nói chung dự án chỉ đáng đầu tư khi nào có NPV lớn hơn hoặc bằng 0 vì chỉkhi ấy thu nhập từ dự án mới đủ để trang trải chi phí và mang lại lợi nhuận tăng thêmcho nhà đầu tư Dự án bị bác bỏ khi có NPV <0 Khi phải lựa chọn giữa các dự án loạitrừ nhau thì dự án nào có NPV cao nhất sẽ được chọn Trong trường hợp ngân sách bịhạn chế thì sẽ chọn tổ hợp dự án có NPV cao nhất

Phương pháp tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR)

Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó g

iá trị hiện tại ròng NPV của dự án bằng không

Công thức xác định:

IRR = k1 +

NPV 1(k2−k1)

|NPV 1|+|NPV 2|Trong đó: k1 là lãi suất chiết khấu ứng với NPV1 dương gần tới 0

k2 là lãi suất chiết khấu ứng với NPV1 âm gần tới 0

NPV1 là giá trị hiện tại ròng ứng với lãi suất chiết khấu k1

NPV2 là giá trị hiện tại ròng ứng với lãi suất chiết khấu k2

Ý nghĩa của chỉ tiêu IRR: IRR phản ánh khả năng sinh lợi của dự án, chưa tínhđến chi phí cơ hội của vốn đầu tư Tức là nếu như chiết khấu các luồng tiền theo IRR,

PV sẽ bằng đầu tư ban đầu hay nói cách khác, nếu chi phí vốn bằng IRR dự án sẽkhông tạo thêm được giá trị hay không có lãi

Tiêu chuẩn chọn lựa dự án theo IRR: Một dự án được chấp nhận khi suất sinhlời thực tế của nó bằng hoặc cao hơn so với suất chiết khấu Suất sinh lời yêu cầuđược chọn ở đây chính là chi phí sử dụng vốn trung bình WACC

Trang 12

Gọi r là chi phí sử dụng vốn bình quân của dự án.

+ Nếu IRR < r: dự án bị loại

+ Nếu IRR = r: dự án được lựa chọn hay bị loại tùy yêu cầu khác

+ Nếu IRR > r: dự án được chọn

Sử dụng chỉ tiêu IRR để đánh giá dự án có ưu điểm là có tính đến thời giá tiền

tệ, có thể tính IRR mà không cần biết suất chiết khấu và có tính đến toàn bộ ngân lưu.Tuy nhiên chỉ tiêu này có nhược điểm là có dự án có thể có nhiều IRR vì vậy khôngbiết chọn IRR nào Ngoài ra chỉ tiêu IRR còn bị hạn chế khi xếp hạng các dự án loạitrừ nhau, có quy mô khác nhau và thời điểm đầu tư khác nhau gọi là các dự án loại trừnhau về mặt quy mô hoặc các dự án loại trừ nhau về mặt thời gian

Phương pháp chỉ số doanh lợi (PI)

Chỉ số doanh lợi là chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi của dự án, tính bằng tổnggiá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai chia cho vốn đầu tư bỏ ra ban đầu

Trong đó: CFt là dòng tiền của dự án qua các năm

k là suất chiết khấu của dự án

Phương pháp thời gian hoàn vốn (PP)

Thời gian hoàn vốn là khoảng thời gian sao cho các khoản thu nhập từ dự án(khấu hao và lợi nhuận sau thuế) đủ bù đắp vốn đầu tư vào dự án

Công thức xác định thời gian hoàn vốn:

Ngày đăng: 22/10/2013, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w