Thiếu hụt axit folic trước giai đoạn bắt đầu tam cá nguyệt (TCN) II gây ảnh hưởng xấu lên sức khỏe cho cả thai phụ và thai nhi. Bài viết trình bày xác định tỷ lệ thai phụ có bổ sung axit folic theo khuyến nghị của FIGO và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Hùng Vương và Từ Dũ.
Trang 1BỔ SUNG AXIT FOLIC THEO KHUYẾN NGHỊ CỦA FIGO
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI 2 BỆNH VIỆN KHU VỰC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: MỘT NGHIÊN CỨU CẮT NGANG
Nguyễn Thị Thanh Tiên * , Nguyễn Duy Phong * , Trương Thị Thùy Dung *
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Thiếu hụt axit folic trước giai đoạn bắt đầu tam cá nguyệt (TCN) II gây ảnh hưởng xấu lên sức
khỏe cho cả thai phụ và thai nhi Mặc dù, việc bổ sung axit folic đã được nghiên cứu rộng rãi và cụ thể trên phạm
vi quốc tế, nhưng các nghiên cứu gần đây báo cáo tỷ lệ thai phụ có bổ sung axit folic theo các khuyến nghị trong hiệu quả phòng ngừa dị tật ống thần kinh còn khá thấp và chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố liên quan
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ thai phụ có bổ sung axit folic theo khuyến nghị của FIGO và các yếu tố liên quan
tại Bệnh viện Hùng Vương và Từ Dũ
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 400 thai phụ từ tuần
thai thứ 14 trở lên (TCN II, TCN III) trong khoảng thời gian từ tháng 03 – 06/2019 Bộ câu hỏi tự phát triển được chỉnh sửa hoàn chỉnh thông qua phỏng vấn thử 20 thai phụ tại mỗi bệnh viện Sau khi đồng ý tham gia nghiên cứu, thai phụ được phỏng vấn mặt đối mặt bằng bộ câu hỏi hoàn chỉnh để đưa vào phân tích Các yếu tố ảnh hưởng đến việc bổ sung axit folic theo khuyến nghị của FIGO được xác định bằng mô hình hồi quy Poisson
đa biến
Kết quả: Tỷ lệ thai phụ bổ sung axit folic gồm: 28,3% trước mang thai; 92,8% bổ sung trong TCN I, nhưng
chỉ có 26,3% theo khuyến nghị của FIGO Mô hình hồi quy poisson đa biến xác định các yếu tố liên quan đến tăng tỷ lệ bổ sung axit folic theo FIGO: từng nghe/đọc axit folic; dự định và khám tiền mang thai; trình độ học vấn thai phụ (≥THPT); Thu nhập gia đình (≥10 triệu); Nơi ở (Tỉnh thành)
Kết luận: 26,3% thai phụ đáp ứng đúng nhu cầu về bổ sung axit folic cho thời kỳ mang thai Các phát hiện
nhấn mạnh sự cần thiết của việc truyền thông giáo dục sức khỏe, hệ thống chăm sóc tiền sản và nhân viên y tế cần khuyến nghị việc bổ sung axit folic phù hợp cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản hướng đến một nhu cầu dinh dưỡng phù hợp cho thai kỳ khỏe mạnh
Từ khóa: axit folic, dị tật ống thần kinh, thai kỳ, bổ sung
ABSTRAST
FOLIC ACID SUPPLEMENTATION ACORDING TO FIGO RECOMMENDED
AND DETERMINANTS AMONG PREGNANT WOMEN IN TWO HO CHI MINH CITY HOSPITALS:
A CROSS SECTIONAL STUDY
Nguyen Thi Thanh Tien, Nguyen Duy Phong, Truong Thi Thuy Dung
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 24 - No 1- 2020: 73 - 81
Background: Right before the second trimester, folic acid supplementation has a significant impact on the
health of both pregnant women and their unborn babies Although folic acid usage for prevention of NTDs were studied internationally; but, the proportion of folic acid supplementation among pregnant women acording to recommendations for effective prevention of NTDs is still low affected by related factors
Objectives: To investigate the status of folic acid (FA) supplementation acording to recommended by
International Federation of Gynecology and Obsteries (FIGO) and determinants among pregnant women
*Khoa YTCC Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: CN Nguyễn Thị Thanh Tiên ĐT: 0379350214 Email: thanhtienduong2204@gmail.com
Trang 2Method: An institution based cross-sectional study was conducted on 400 pregnant women who visted
Hung Vuong and Tu Du Hopitals Women in second and third trimester of pregnancy were included in the study, from March to June, 2019 Right after pregnant women signed the consent form, questionaires were used
to collect information of paticipants and FA supplementation Indepent variables were analysed as predictors of intake using chi-square statistical test and mutinomail poisson regression
Results: Percentage of folic acid supplementation includes: 28.3% before pregnancy; 92.8% during the first
trimester; but, only 26.3% of pregnant women took the supplement by FIGO recomemended at a protective period against neural tube defects In mutinomail poisson regression: heard/read about FA, prenancy intention, preconception health visit, education status (≥Secondary School), family monthly income (≥10 milions), residence were significantly associated with folic acid usage acording to recommended by FIGO
Conclusion: There are 26.3% pregnant women meet the need for folic acid for pregnancy The findings
highlight the need for health education communication, antenatal care systems, and health workers to recommend women of reproductive age towards a proper nutritional needs for a healthy pregnancy
Key words: folic acid, neural tube defects, pregnancy, supplementation
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thiếu hụt axit folic là một trong những thiếu
hụt vitamin phổ biến ở phụ nữ trong độ tuổi
sinh sản (PNTĐTSS) và mang thai(1) Nhiều bằng
chứng về dịch tễ và lâm sàng cho thấy thiếu hụt
axit folic trước giai đoạn bắt đầu tam cá nguyệt
(TCN) II gây những ảnh hưởng xấu lên sức khỏe
cho cả thai phụ và thai nhi: như khó khăn trong
việc thụ thai(2); thiếu máu nguyên hồng cầu
to(3,4,5); tăng nồng độ homocystein trong máu liên
quan đến các kết quả thai kỳ kém ở cả thai phụ
và thai nhi như tiền sản giật - sản giật, sinh non,
nhẹ cân(6,7,8,9), dị tật bẩm sinh (DTBS) hay cụ thể
dị tật ống thần kinh (DTOTK)(10,11,12) Bên cạnh đó,
việc bắt đầu bổ sung axit folic từ sau TCN I chưa
tìm thấy hiệu quả đối với thai kỳ và đồng thời có
thể gây ra những tác hại đáng kể đến sức khỏe ở
cả bà mẹ và trẻ: tăng nguy cơ tự kỷ(13) và dị ứng ở
trẻ(14), tăng sinh khối u và suy giảm nhận thức ở
bà mẹ(15)
Theo khuyến cáo của Hiệp hội Sản phụ khoa
quốc tế (FIGO), cho thấy sự cần thiết trong việc
bổ sung axit folic trước khi mang thai ít nhất 1
tháng và duy trì liên tục hàng ngày cho đến cuối
3 tháng đầu thai kỳ(16) Tuy nhiên, nhóm nghiên
cứu chỉ ghi nhận được 2 nghiên cứu gần đây tại
Ethiopiavà Trung Quốc về tỷ lệ thai phụ có bổ
sung axit folic theo khuyến nghị trong phòng
ngừa DTOTK(1,17) Đồng thời, thực trạng có bổ
sung axit folic theo khuyến nghị trên với tỷ lệ còn khá thấp và chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố liên quan (cá nhân, gia đình, môi trường) Tại Việt Nam, các thông tin về axit folic liên quan đến thai kỳ chưa được phổ biến rộng rãi và rõ ràng trong cộng đồng(18) Việc bổ sung axit folic phụ thuộc chủ yếu vào các nhân viên y tế được tập huấn về dinh dưỡng thai kỳ Các nghiên cứu
về axit folic chưa được quan tâm nhiều, chủ yếu được lồng ghép trong các chủ đề dinh dưỡng Một số nghiên cứu độc lập về axit folic được tìm thấy, tuy nhiên việc bổ sung axit folic không tuân theo các khuyến nghị về thời gian cần bắt đầu và kết thúc trong hiệu quả với thai kỳ và thai nhi(18)
Xuất phát từ những lý do trên, nhóm nghiên cứu quyết định thực hiện nghiên cứu tại Bệnh viện Hùng Vương và Từ Dũ Đây là 2 bệnh viện đầu ngành về chăm sóc và quản lý thai kỳ ở khu vực phía Nam, tập trung đa dạng các đối tượng thai phụ đến khám thai mỗi năm Nghiên cứu nhằm đưa ra những số liệu cụ thể về tỷ lệ thai phụ có bổ sung axit folic theo khuyến nghị của FIGO, cũng như đánh giá thực trạng hiện tại những yếu tố liên quan ảnh hưởng đến tỷ lệ này Nghiên cứu là
cơ sở để góp phần làm tốt hơn trong công tác
tư vấn ở thai phụ, cũng như đề ra các chiến lược can thiệp phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng trong công tác quản lý thai kỳ,
Trang 3chăm sóc trước sinh tại bệnh viện và cộng đồng
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỷ lệ thai phụ bổ sung axit folic theo
khuyến nghị của FIGO và các yếu tố liên quan ở
thai phụ đến khám thai tại 2 bệnh viện Từ Dũ và
Hùng Vương
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Thai phụ đến khám thai tại 2 bệnh viện
Hùng Vương (khám thường khu B và khám dịch
vụ A) và Từ Dũ (khu chăm sóc trước sinh M) từ
tháng 03/2019 – 06/2019
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang
Cỡ mẫu
Nghiên cứu sử dụng công thức ước lượng
một tỷ lệ với xác suất sai lầm loại 1 là 5% và tỷ lệ
thai phụ bổ sung axit folic trong hiệu quả phòng
ngừa DTOTK tại Thiên Tân – Trung Quốc là
14,1% Với k=2, tính ra cỡ mẫu cần thiết là 400
thai phụ
Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
trong việc lựa chọn phòng khám và chọn mẫu
không xác suất (thuận tiện) khi lựa chọn thai
phụ tham gia vào nghiên cứu (vì phụ thuộc vào
tuổi thai)
Cỡ mẫu được chia đều cho mỗi bệnh viện,
khu khám và phòng khám Mỗi bệnh viện có 200
thai phụ thỏa tiêu chí được đưa vào phân tích
(từ 18 tuổi trở lên, mang thai từ tuần thứ 14 trở
lên, có khả năng giao tiếp, đủ sức khỏe, hoàn
thiện các câu hỏi về bổ sung axit folic)
Phương pháp thu thập số liệu
Tiến hành nghiên cứu thử trên 20 thai phụ
đến khám tại mỗi bệnh viện (Hùng Vương, Từ
Dũ) từ tháng 02 – 03/2019 để kiểm tra và điều
chỉnh bộ câu hỏi cho phù hợp Sau nghiên cứu
thử, nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu
thông qua phỏng vấn mặt đối mặt bằng bộ câu
hỏi tự soạn sẵn có cấu trúc trong khoảng 20
phút Mẫu được lấy cả buổi sáng và chiều (trừ
thứ bảy, chủ nhật, các ngày lễ) Thai phụ được tiếp cận tham gia nghiên cứu trong các khâu của quy trình khám thai: chờ tới lượt khám sau khi đăng ký khám; chờ quay lại lượt khám đọc các kết quả cận lâm sàng và kết thúc khám Chỉ thu thập thông tin thai phụ, không thu thập thông tin từ người thân
Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi tự soạn có cấu trúc được duyệt thông qua Hội đồng Y đức của Trường Đại học
Y Dược TP Hồ Chí Minh Bộ câu hỏi gồm các phần sau:
Yếu tố cá nhân ở thai phụ và chồng/bạn tình (gồm 11 câu);
Tiền sử sản khoa (gồm 10 câu);
Đặc điểm trong thai kỳ lần này (gồm 3 câu); Kiến thức cơ bản về axit folic (gồm 6 câu); Chăm sóc thai kỳ về khám thai và bổ sung axit folic theo FIGO (gồm 14 câu)
Sổ khám thai của thai phụ: xác nhận tuổi thai, PARA, tiền sản phụ khoa khác và toa thuốc
có chứa axit folic trong TCN I (nếu có)
Phân tích số liệu
Tần suất, tỉ lệ (%) được sử dụng để thống kê
mô tả cho các biến số định tính
Đối với biến số định lượng có phân phối bình thường: dùng trung bình, độ lệch chuẩn Đối với biến số định lượng có phân phối không bình thường: dùng trung vị, khoảng tứ phân vị
Các kiểm định Chi bình phương, Fisher, poisson đơn biến được dùng khi phù hợp
Mô hình hồi quy poisson đa biến được thực hiện với các biến có giá trị p <0,1 và hạn chế missing trong mô hình đơn biến
Tất cả phân tích được thực hiện bằng phần mềm Stata phiên bản 14.1
Y đức
Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh số: 18/ĐHYD-HĐĐĐ ngày 21/02/2019
Trang 4KẾT QUẢ
Độ tuổi của thai phụ tham gia nghiên cứu
dao động trong độ tuổi sinh sản, khoảng từ
18–46 tuổi Phần lớn thai phụ là dân tộc Kinh và
không theo tôn giáo Thai phụ phân bố gần như
đồng đều nhau ở khu vực TP Hồ Chí Minh và
tỉnh thành khác Thai phụ trong nghiên cứu hầu
như đã từng mang thai Trong thai kỳ hiện tại: tỷ
lệ thai phụ ở giai đoạn TCN II; III khá đồng đều,
khám thai dịch vụ chiếm chủ yếu Phương tiện
truyền thông là nguồn thông tin tiếp cận được
axit folic nhiều nhất Tuy nhiên, thai phụ cần cẩn
thận với nguồn thông tin này vì độ chính xác từ
nhiều nguồn còn hạn chế
Axit folic (FA) trong nghiên cứu được bổ
sung vào các thời điểm khác nhau trong thai kỳ
Trước khi mang thai ít nhất 1 tháng, thai phụ bắt
đầu bổ sung axit folic chiếm tỷ lệ rất thấp với
28,3% Phần lớn thai phụ đều bắt đầu bổ sung
khi phát hiện có thai (TCN I) và theo toa của
NVYT Chính vì thế, việc bổ sung axit folic theo
khuyến nghị của FIGO còn khá thấp (26,3%)
(Hình 1, 2)
Hình 1: Tỷ lệ bổ sung axit folic theo giai đoạn
Hình 2: Nguồn bổ sung axit folic
Mô hình hồi quy đơn biến với các yếu tố liên quan
Thai phụ với nhóm tuổi từ 25-29 và 30-34 có
tỷ lệ bổ sung axit folic cao hơn lần lượt là 3,11 và 3,18 lần so với thai phụ ≤24 tuổi Tuy nhiên, chưa ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa thai phụ trên 35 tuổi Thai phụ sống ở khu vực thành phố của Tỉnh khác có tỷ lệ bổ sung axit folic cao hơn nhóm sống tại khu vực TP Hồ Chí Minh Tỷ lệ bổ sung axit folic tăng tỷ lệ thuận với mức độ trình độ học vấn ở thai phụ và chồng/bạn tình Thai phụ với nghề nghiệp kinh doanh hay nhân viên văn phòng/công nhân viên chức và thu nhập cá nhân trên mức lương tối thiểu quy định (>3.980.000 VNĐ/tháng) hay thu nhập gia đình (thai phụ và chồng/bạn tình) từ 10.000.000 VNĐ/tháng có mối liên quan tích cực với việc bổ sung axit folic Trình độ học vấn, nghề nghiệp và thu nhập ở thai phụ là một trong những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến điều kiện, khả năng tiếp cận dịch vụ khám thai và sàng lọc
sớm trong thai kỳ (Bảng 1)
Bảng 1: Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân với tỷ lệ thai phụ bổ sung axit folic theo khuyến nghị của FIGO
Nhóm tuổi
≤ 24 tuổi 7 (10,94) 57 (89,06)
0,001
1
Từ 25 – 29 tuổi 47 (34,06) 91 (65,94) 3,11 [1,49-6,51]
Từ 30 – 34 tuổi 41 (34,75) 77 (65,25) 3,18 [1,51-6,67]
≥ 35 tuổi 10 (12,50) 70 (87,50) 1,14 [0,46-2,84]
28.3
92.8
26.3
Trước mang thai
Trong giai đoạn TCN I
Theo khuyến nghị FIGO
Trang 5Đặc tính Bổ sung axit folic Đơn biến
Nơi ở Tỉnh thành 57 (32,02) 121 (67,98)
0,019 1,48 [1,07-2,06]
Khu vực Thành phố 28 (43,75) 36 (56,25)
0,012 1,72 [1,13-2,62]
TĐHV
<THPT 11 (9,02) 111 (90,98)
0,001
1 THPT 26 (23,01) 87 (76,99) 2,04 [1,60-2,59]
>THPT 68 (41,21) 97 (58,79) 4,15 [2,58-6,69]
Nghề nghiệp Nội trợ/Nông dân/Thất nghiệp 12 (12,77) 82 (87,23)
0,001
1 Công nhân 27 (21,43) 99 (78,57) 1,68 [0,9-3,14] NVVP/Công chức 46 (38,98) 72 (61,02) 3,05 [1,72-5,43] Kinh doanh 20 (32,26) 42 (67,74) 2,53 [1,33-4,8]
Thu nhập Trên MLTT 93 (31,00) 207 (69,00)
0,001 2,58 [1,48-4,51]
TĐHV chồng/bạn tình Thấp 13 (10,32) 13 (10,32)
0,001
1 Trung bình 33 (28,70) 33 (28,70) 1,73 [1,40-2,14]
Thu nhập
< 10 triệu 7 (11,29) 55 (88,71) 0,006 1
< 30 triệu 86 (28,01) 221 (71,99) 1,75 [1,28-2,39]
≥ 30 triệu 12 (38,71) 19 (61,29) 3,07 [1,64-5,72]
Bảng 2: Mối liên quan giữa các đặc điểm trong thai kỳ với tỷ lệ thai phụ bổ sung axit folic theo khuyến nghị của
FIGO
Từng bổ sung
Có 60 (28,17) 153 (71,83)
0,025 2,04 [1,04-4,02]
Điều trị vô sinh*
0,001 3,92 [3,31-4,64]
Dự định *
Có 104 (33,55) 206 (66,45)
0,001 30.19 [4,27-213,36]
Tìm hiểu SKSS/DD
Có 90 (32,26) 189 (67,74)
0,001 2,60 [1,57-4,30]
*: Kiểm định Fisher exact
Thai phụ từng bổ sung viên thuốc chứa axit
folic trong ít nhất 1 lần mang thai trước đây và
được điều trị vô sinh hiếm muộn trước thai kỳ
lần này có mối liên quan thuận với việc bổ sung
axit folic theo khuyến nghị của FIGO Thai phụ
có dự định mang thai được tiên đoán là yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ bổ sung ở thai phụ nhiều nhất Đồng thời, thai phụ có tìm hiểu các kiến thức về sức khỏe sinh sản/dinh dưỡng cho thai
kỳ từ nhiều nguồn thông tin khác nhau với khả
Trang 6năng bổ sung axit folic (Bảng 2)
Thai phụ từng nghe/đọc về axit folic thì tỷ lệ
bổ sung axit folic cao hơn gấp 4 lần so với nhóm
chưa từng nghe/đọc Đồng thời, thời điểm
nghe/đọc khi có thai lần trước hoặc trước mang thai lần này có tỷ lệ bổ sung cao hơn gấp 10 lần
so với thời điểm nghe/đọc ở TCN I trong thai kỳ
lần này (Bảng 3)
Bảng 3: Mối liên quan giữa các yếu tố về kiến thức axit folic với tỷ lệ thai phụ bổ sung axit folic theo khuyến nghị
của FIGO
Từng nghe/đọc
Có 90 (37,50) 150 (62,50)
0,001 4,00 [2,41-6,65]
Thời điểm nghe đọc Trước TCN I 86 (51,81) 80 (48,19)
Trong TCN I 4 (5,41) 70 (94,59) 0,10 [0,04-0,27]
Bảng 4: Mối liên quan giữa chăm sóc thai kỳ trước giai đoạn TCN II với tỷ lệ thai phụ bổ sung axit folic theo
khuyến nghị của FIGO
Khám trước mang thai
Có 60 (68,97) 27 (31,03)
0,001 4,8 [3,54-6,51]
NVYT tư vấn trước mang thai
Có 44 (84,62) 8 (15,38)
0,001 1,85 [1,27-2,70]
NVYT tư vấn trong TCN I
Có 44 (39,29) 68 (60,71)
0,001 1,8 [1,31-2,47]
Thai phụ có khám tiền mang thai và được
NVYT tư vấn thì có khả năng bổ sung axit folic
cao hơn nhiều so với thai phụ không khám tiền
mang thai hoặc không được tư vấn Đồng thời,
khi phát hiện có thai, thai phụ được NVYT tư
vấn trong thời điểm ở TCN I có liên quan thuận
với việc bổ sung axit folic (Bảng 4)
Mô hình hồi quy poisson đa biến với tỷ lệ thai
phụ bổ sung axit folic theo FIGO
Mô hình hồi quy poisson đa biến được xây
dựng với các yếu tố có giá trị p <0,1 và hạn chế
missing trong mô hình hồi quy poisson đơn biến
ban đầu Sau khi kiểm định sự phù hợp của mô
hình, mô hình đa biến cuối cùng (8 yếu tố) ghi
nhận được 6 yếu tố ảnh hưởng tích cực đến khả
năng bổ sung axit folic theo khuyến nghị ở thai
phụ như: sống tại khu vực Tỉnh thành; TĐHV
thai phụ ở mức trung bình (THPT) trở lên; Thu
nhập gia đình từ 10 triệu đồng/tháng; từng
nghe/đọc về axit folic, dự định mang thai và khám trước khi có thai lần này Với cùng các đặc tính có trong mô hình đa biến, nghiên cứu ghi nhận thấy thai phụ với dự định mang thai có khả năng chủ động, tiếp cận chăm sóc thai kỳ tốt hơn rất nhiều hay cụ thể về việc bổ sung axit
folic (Bảng 5)
Bảng 5: Mô hình hồi quy poisson đa biến về mối liên
quan giữa tỷ lệ thai phụ bổ sung axit folic theo
khuyến nghị FIGO với các yếu tố liên quan p <0,1
Nơi ở hiện tại TP.HCM
0,010 1 Tỉnh thành khác 1,41 [1,09-1,84]
TĐHV thai phụ Thấp
0,001
1 Trung bình 1,55 [1,19-2,03] Cao 2,40 [1,42-4,12]
Thu nhập MLTT 0,552 1
Trang 7Đặc tính p PR hiệu
Trên MLTT 1,37 [0,49-3,82]
Nghề nghiệp Nông dân/Nội trợ/Thất
nghiệp 0,830 1
Công nhân 0,818 1,12 [0,41-3,07]
NVVP/Công chức 0,548 0,89 [0,32-2,47]
Kinh doanh/Khác 0,830 0,74 [0,27-1,99]
Thu nhập gia đình
< 10 triệu
0,016
1
10 đến dưới 30 triệu 1,41 [1,07-1,80]
≥ 30 triệu 1,99 [1,14-3,24]
Dự định mang thai Không
0,002 1
Có 21,41 [3,16-144,95]
Từng nghe/đọc axit folic Không
0,001 1
Có 2,52 [1,57-4,05]
Khám trước mang thai Không
0,001 1
Có 2,72 [1,98-3,73]
BÀN LUẬN
Tỷ lệ thai phụ bổ sung axit folic
Hiệp hội Sản phụ khoa quốc tế (FIGO) đã
khuyến nghị phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nên
được bổ sung 400 µg/ngày trước khi mang thai ít
nhất 30 ngày và duy trì liên tục hàng ngày cho
đến TCN I cho một thai kỳ khỏe mạnh(18) Tuy
nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi chưa
khảo sát được liều lượng bổ sung axit folic thích
hợp Bởi vì, thứ nhất là các chế phẩm thuốc chứa
axit folic rất đa dạng về loại và liều lượng mỗi;
thứ hai, phác đồ tùy thuộc CSYT và loại dịch vụ
theo BHYT hay tự chi trả Kết quả nghiên cứu
chỉ ghi nhận được 26,3% thai phụ bổ sung axit
folic phù hợp theo khuyến nghị FIGO Kết quả
có thể tương đương so với nghiên cứu cắt ngang
của tác giả Yan Jing và cộng sự tại Thiên Tân –
Trung Quốc (14,4%) – dựa theo bổ sung theo
khuyến nghị của Uỷ ban Quốc gia về Kế hoạch
hóa gia đình và Sức khỏe sinh sản (NHFPC) với
ít nhất 3 tháng trước khi có thai và đến cuối TCN
I(1) Tuy nhiên, kết quả của tác giả Dessie MA tại
Ethiopia có 1,92% bổ sung ít nhất 1 tháng trước
khi có thai đến cuối TCN I(17) Có thể, do mức độ
nhận thức của thai phụ trong nghiên cứu tại
Ethiopia về axit folic rất thấp: 78,7% chưa nhận được thông tin và 9,4% có nhận được một số thông tin nhưng không đầy đủ, khuyến nghị có
bổ sung axit folic ở các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản chưa được quan tâm trong các hoạch định chính sách y tế nên axit folic không được kê toa bởi các NVYT tại đây
Nhóm nghiên cứu chỉ ghi nhận được 28,3% thai phụ bắt đầu bổ sung axit folic ít nhất 1 tháng trước khi có thai lần này Kết quả này tương đồng với nghiên cứu tại Ý(19), nhưng cao hơn so với các nghiên cứu ở Ethiopia(17); Nigeria(20); An Giang(18) Bởi vì, nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận thấy thai phụ được điều trị
vô sinh, đã từng sinh con, dự định và khám tiền mang thai có bổ sung axit folic trước mang thai cao hơn Chính vì vậy, nguồn bổ sung axit folic ở thời điểm này chủ yếu từ bản thân thai phụ và NVYT
Thai phụ tham gia nghiên cứu chủ yếu bắt đầu bổ sung vào các thời điểm khác nhau trong giai đoạn TCN I của thai kỳ, phù hợp với tỷ lệ thai phụ khám thai lần đầu ở TCN I và nguồn bổ sung hầu hết từ NVYT Kết quả này khá tương đồng so với nghiên cứu tại Ý(19); Trung Quốc(1);
An Giang(18) Đồng thời, nghiên cứu của chúng tôi chỉ ghi nhận được 9 trường hợp khám thai lần đầu và bổ sung axit folic ở thời điểm TCN II Kết quả này thấp hơn nhiều so với nghiên cứu tại Ethiopia(17) và Nigeria(20), bởi vì phần lớn thai phụ khám thai lần đầu ở TCN II và TCN III
Mô hình đa biến với các yếu tố liên quan với
bổ sung axit folic theo khuyến nghị FIGO
Dựa theo mô hình đa biến, các yếu tố nguy
cơ như nhóm thai phụ sống tại Tỉnh khác; trình
độ học vấn ở thai phụ (≥THPT); Thu nhập gia đình (≥10 triệu/tháng); đã từng nghe/đọc về axit folic; dự định và khám trước khi có thai lần này làm tăng tỷ lệ bổ sung axit folic theo khuyến nghị của FIGO Có thể vì thực tế một phần thai phụ sống tại TP HCM chủ yếu tạm trú, với mục đích tìm kiếm công việc (lao động tay chân) và TĐHV ở mức thấp và trung bình Mặt khác, phần lớn thai phụ đang sống ở Tỉnh khác đang
Trang 8khám thai tại Bệnh viện Từ Dũ và Hùng Vương
tại TP Hồ Chí Minh là nhóm chủ động tìm kiếm
dịch vụ chăm sóc thai kỳ cao hơn Yếu tố quyết
định nhiều nhất tới tỷ lệ bổ sung axit folic theo
FIGO chủ yếu ở thai phụ có dự định và khám
trước khi có thai Nghiên cứu gợi ý khi bản thân
thai phụ mong muốn, chủ động có thai và nhận
được chăm sóc sớm trước khi có thai tại CSYT
thì nhận thức và bổ sung axit folic cao hơn Kết
quả nghiên cứu ghi nhận mối liên quan giữa thu
nhập gia đình với bổ sung axit folic theo FIGO,
khá tương đồng với kết quả trong nghiên cứu
của tác giả Yan J tại Thiên Tân – Trung Quốc(1)
Mặt khác, nghiên cứu tại Thiên Tân cũng ghi
nhận thêm các yếu tố làm tăng tỷ lệ bổ sung axit
folic trong phòng ngừa DTOTK, nhưng chưa ghi
nhận được trong mô hình đa biến ở nghiên cứu
này: độ tuổi từ 30-34; có việc làm và mang thai
lần đầu; TĐHV ở chồng/bạn tình (CĐ/ĐH)(1)
KẾT LUẬN
Dựa vào kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên
cứu nhấn mạnh sự cần thiết của việc truyền
thông giáo dục sức khỏe, hệ thống chăm sóc tiền
sản và nhân viên y tế để khuyến nghị phụ nữ
trong độ tuổi sinh sản (PNTĐTSS) có nguy cơ và
mong muốn có thai được hướng đến một nhu
cầu dinh dưỡng phù hợp cho thai kỳ khỏe
mạnh Nhằm tăng tỷ lệ bổ sung axit folic theo
FIGO: khuyến nghị PNTĐTSS cần khám SKSS
trước khi dự định có thai và khám thai sớm
trong những tuần đầu ngay khi phát hiện có
thai, để được thăm khám sức khỏe, tư vấn chế
độ dinh dưỡng, thuốc bổ sung các VCDD cần
thiết cho một thai kỳ khỏe mạnh; CBYT cần tư
vấn axit folic thường quy tránh chỉ tư vấn về
Sắt/Canxi hay bổ sung axit folic đơn chất trong
những tuần đầu thai kỳ tránh tác dụng phụ;
truyền thông và tư vấn trực tiếp về các biện
pháp tránh thai, dễ sử dụng, an toàn, hiệu quả
trong phòng ngừa mang thai ngoài ý muốn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Yan J, Yu ZZ, Lu CJ, Yu LY, Wen L, Guo HW (2017)
Periconceptional Folic Acid Supplementation in Chinese
Women: A Cross-sectional Study Biomedical and Environmental
Sciences, 30(10):737-748
2 Ebisch IMW, Thomas CMG, Peters W HM, Braat DDM, Steegers-Theunissen RPM (2007) The importance of folate, zinc and antioxidants in the pathogenesis and prevention of
subfertility Oxford Academic, 13(2):163-174
3 Hibbard BM (1964) The Role of Folic Acid in Pregnancy With Particular Reference to Anaemia, Abruption and Abortion
International Journal of Obstetrics and Gynaecology, 71(4):529-542
4 Nguyễn Tấn Bỉnh (2015) Huyết học lâm sàng, pp.62-63 NXB Y
học Thành phố Hồ Chí Minh
5 Phạm Thị Minh Thư, Lê Thị Thủy (2015) Hóa Sinh, pp.187-190
NXB Y học Thành phố Hồ Chí Minh
6 James GA, Stacey BJ, Guan Y, Yu H (2011) Folic Acid Supplementation and Pregnancy: More than Just Neural Tube
Defect Prevention Reviews in Obstetrics & Gynecology, 4(2):52-59
7 Leeda M, Riyazi N, Vries JIP, Jakobs C, Geijn HPV, Dekker AG (1998) Effects of folic acid and vitamin B6 supplementation on women with hyperhomocysteinemia and a history of
preeclampsia or fetal growth restriction American Journal of
Obstetrics Gynecology, 179(1):135-139
8 Bukowski R, Malone FD, Porter FT, Nyberg DA, Comstock CH, Hankins GDV, et al (2009) Preconceptional Folate Supplementation and the Risk of Spontaneous Preterm Birth: A
Cohort Study PLOS Medicine, 6:5
9 Sholl TO, Hediger ML, Khoo JI, Fischer RL (1996) Dietary and
serum folate: their influence on the outcome of pregnancy The
American Journal of Clinical Nutrition, 63(4):520-525
10 Liu J, Zhang L, Li Z, Jin L, Zhang Y, Ye R, et al (2016) Prevalence and trend of neural tube defects in five counties in
Shanxi province of Northern China, 2000 to 2014 Clinical and
Molecular Teratology, 106(4):267-274
11 Santos LMP, Lecca RCR, Escalante JJC, Sanchez MN, Rodrigues
HG (2016) Prevention of neural tube defects by the fortification
of flour with folic acid: a population-based retrospective study
in Brazil Bulletin of the World Health Organization, 94(1):22-29
12 Rakaf MSA, Kurdi AM, Ammari AN, Hashem AMA, Shoukri
MM, Garne E, et al (2015) Patterns of folic acid use in pregnant
Saudi women and prevalence of neural tube defects — Results
from a nested case–control study Preventive Medicine Reports,
2:572-576
13 Wu WS, Rennicks RW, Rybak N, Gaudet LM, Robson S, Hague
W, et al (2018) Effect of high dose folic acid supplementation in pregnancy on pre-eclampsia (FACT): double blind, phase III,
randomised controlled, international, multicentre trial BMJ,
pp.362
14 Johns Hopkins Bloomerg School of Public Health (2016) Too Much Folate in Pregnant Women Increases Risk for Autism, Study Suggests URL: https://www.jhsph.edu/news/news- releases/2016/too-much-folate-in-pregnant-women-increases-risk-for-autism-study-suggests.html
15 Wooldridge AL, Bischof RJ, Liu H, Heinemann GK, Hunter DS, Giles LC, et al (2017) Late-gestation maternal dietary methyl donor and cofactor supplementation in sheep partially reverses
protection against allergic sensitization by IUGR American
Journal of Physiology-Regulatory Integrative and Comparative Physiology, 314(1):22-33
16 FIGO International Federation of Gynecology and Obstetrics
https://www.figo.org/sites/default/files/uploads/OurWork/FIG
O%20GCPMFM%20WG%20-%20Folic%20Acid%20Suplemntation.pdf
Trang 917 Dessie MA, Gebeye EZ, Bitew SW, Worku AB (2017) Folic acid
usage and associated factors in the prevention of neural tube
defects among pregnant women in Ethiopia: cross-sectional
study BMC Pregnancy & Childbirth, 17:313
18 Néang Oanh Ly (2018) Tỷ lệ sử dụng axit folic và các yếu tố liên
quan ở phụ nữ mang thai đến khám tại Bệnh viện Tri Tôn tỉnh
An Giang Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Y tế Công Cộng, Đại học Y
Dược TP HCM, pp.28-30
19 Nilsen RM, Leoncini E, Gastaldi P, Allegri V, Agostino R,
Faravelli F, et al (2016) Prevalence and determinants of
preconception folic acid use: An Italian multicenter survey
Italian Journal of Pediatrics, 42:65
20 Akeem LT, Olufemi AA (2014) Determinants of folic acid intake during preconception and in early pregnancy by mothers in
Ibadan, Nigeria Pan African Medical Journal, 19:113
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 26/11/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2020