1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tổ chức hoạt động nhận thức sáng tạo theo con đường sáng chế trong dạy học vật lí ở trường phổ thông

6 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 562,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần thực hiện được mục tiêu của chương trình, sách giáo khoa môn Vật lí phổ thông mới sau năm 2018. Bài viết trình bày một biện pháp dạy học ở môn Vật lí phổ thông “Dạy học theo con đường sáng chế” nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho HS.

Trang 1

UED Journal of Social Sciences, Humanities & Education – ISSN 1859 - 4603 TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC

* Liên hệ tác giả

Nguyễn Văn Giang

Trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum, tỉnh Kon Tum

Email: vangiang.c36@moet.edu.vn

Nhận bài:

11 – 05 – 2018

Chấp nhận đăng:

27 – 08 – 2018

http://jshe.ued.udn.vn/

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC SÁNG TẠO THEO CON ĐƯỜNG SÁNG CHẾ TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Nguyễn Văn Giang

Tóm tắt: Để góp phần thực hiện được mục tiêu của chương trình, sách giáo khoa môn Vật lí phổ thông

mới sau năm 2018, nhiệm vụ căn bản của mỗi giáo viên (GV) dạy Vật lí phổ thông là phải thật sự đổi mới hình thức, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá nhằm hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực, đặc biệt là lực năng sáng tạo của học sinh (HS) Bài báo trình bày một biện pháp dạy học ở môn Vật

lí phổ thông “Dạy học theo con đường sáng chế” nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho HS

Từ khóa:dạy học; năng lực; sáng tạo; sáng chế; Vật lí

1 Mở đầu

Theo Chương trình Giáo dục phổ thông mới sẽ

được áp dụng từ năm học 2019-2020, ở cấp THCS môn

Vật lí hiện nay được tích hợp trong môn bắt buộc là

môn Khoa học tự nhiên (KHTN), còn ở bậc THPT vẫn

là môn Vật lí (môn tự chọn) Mục tiêu mới trọng tâm

của môn Vật lí phổ thông là hình thành và phát triển

phẩm chất, năng lực, đặc biệt là năng lực sáng tạo của

học sinh (HS)

Để HS đạt được mục tiêu mới của Chương trình

môn Vật lí ở phổ thông, điều căn bản nhất là giáo viên

(GV) phải có khả năng thiết kế và tổ chức các hình thức

hoạt động nhận thức (HĐNT) sáng tạo cho HS (như

hoạt động giải quyết vấn đề trên lớp, hoạt động ngoại

khóa, trải nghiệm sáng tạo, thực hiện đề án khoa học,

khởi nghiệp, ) [1] HĐNT sáng tạo của HS trong học

tập Vật lí ở trường phổ thông có những đặc điểm cơ

bản, đó là: sáng tạo lại cái mà loài người đã biết; thực

chất của sự sáng tạo là tập dượt sáng tạo; cái cần đạt

được trong HĐNT của HS không chỉ là kiến thức, kĩ

năng mới mà quan trọng hơn là hình thành ở các em

phẩm chất và năng lực sáng tạo [3] Hoạt động sáng tạo

trong sáng chế có nhiều cơ hội tổ chức cho HS, nhất là

HS THCS, vì hầu hết kiến thức vật lí ở THCS cũng đòi hỏi có ứng dụng vào thực tiễn, mà ứng dụng là phải sáng chế ra một dụng cụ, thiết bị mới để làm được một việc cụ thể nào đó trong thực tiễn

Năng lực sáng tạo của HS trong HĐNT là năng lực phát hiện và tìm ra vấn đề, nhiệm vụ mới; đề xuất phương án, ý tưởng mới về cách giải quyết vấn đề, nhiệm mới đó; vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã có

để thực hiện các phương án, ý tưởng nhằm phát minh lại những kiến thức mà nhân loại đã có hoặc sáng chế lại (có thể sáng chế mới) các thiết bị, máy móc có thể sử dụng vào trong thực tiễn

2.1 Các con đường nhận thức sáng tạo

Theo các nhà khoa học giáo dục, biện pháp có hiệu quả nhất để phát triển năng lực sáng tạo của HS trong học tập là GV phỏng theo con đường nhận thức sáng tạo của nhà khoa học để tổ chức HĐNT cho HS Trong khoa học vật lí có hai con đường nhận thức sáng tạo đó

là phát minh và sáng chế

trong tự nhiên nhưng trước đây người ta chưa biết Ví dụ các định luật khoa học vật lí như định luật

Acsimet, các định Niutơn, định luật Ôm, Jun-Lenxơ, Faraday, là các phát minh Hoạt động nhận thức sáng tạo theo con đường phát minh có đặc điểm cơ bản đó là: đối tượng nhận thức là một vấn đề (một mâu thuẫn) về

Trang 2

một sự vật, hiện tượng hay quá trình vật lí xảy ra trong

tự nhiên mà chưa tìm ra một quy luật, nguyên tắc vật lí

nào giải quyết được Để giải quyết vấn đề này, đầu tiên

nhà phát minh phải đề xuất giả thuyết, rồi từ giả thuyết

đó, dùng suy luận lô-gic rút ra hệ quả có thể kiểm tra

được bằng thực nghiệm Nếu kết quả thực nghiệm phù

hợp với hệ quả thì giả thuyết đó trở thành một chân lí

khoa học (một khái niệm, định luật hay thuyết vật lí)

Chân lí khoa học đó chính là sản phẩm của hoạt động

sáng tạo bằng con đường phát minh [4]

2.1.2 Sáng chế là đưa ra cái, trước đây chưa

có con người thì chưa có Ví dụ sáng chế ra các

loại máy mới, bóng đèn điện, ô tô, điện thoại, ti vi, chiếc

bàn, chiếc ghế mới, đầu tiên Sáng chế hiểu theo nghĩa

pháp lí là giải pháp kĩ thuật có tính mới, khác cơ bản với

cái đã biết, đem lại lợi ích Nhận thức sáng tạo theo con

đường sáng chế có các đặc điểm cơ bản, đó là:

+ Đối tượng nhận thức: thường là một nhiệm vụ kĩ

thuật đặt ra cần phải nghiên cứu, giải quyết

+ Hình thành ý tưởng Để hình thành ý tưởng, người

sáng chế phải trải qua một quá trình vận dụng tổng hợp

các loại kiến thức (cả kiến thức cơ bản và kiến thức kĩ

thuật), nhiều kinh nghiệm đã có Ý tưởng đó thường được

thể hiện bằng các sơ đồ thiết kế bằng hình vẽ

+ Chu trình nhận thức: Không có tính khép kín Vì

mỗi thiết bị có nhiều nhiệm vụ khác nhau Tuy nhiên,

một nhiệm vụ có thể có nhiều phương án thiết kế khác

nhau (dựa trên một phát minh đã có)

+ Sản phẩm của hoạt động sáng chế: là các thiết bị,

máy móc, một thành phẩm vật chất, một công cụ hay

vật dụng được sản xuất để sử dụng trong thực tiễn Sản

phẩm này bằng chính sự nội lực của người sáng chế sản

xuất ra mà trước đây chưa có trong thực tiễn Ngoài giá

trị về vật chất, sản phẩm mới tạo ra còn chứa đựng yếu

tố sáng tạo về mặt tư duy của người sáng chế Do vậy,

từ ý tưởng ban đầu đến khi đưa ra sản phẩm có khi phải

làm đi làm lại nhiều lần và có khi bị thất bại

+ Về thời gian tồn tại của sản phẩm: Có thể tiêu

vong theo sự tiến bộ của khoa học và công nghệ

Dạy học theo con đường phát minh và con đường

sáng chế đều rất quan trọng để phát triển năng lực sáng

tạo của HS Tuy nhiên, về mặt lí luận và thực tiễn dạy

học Vật lí ở trường phổ thông hiện nay chỉ chú trọng

nhiều đến tổ chức HĐNT sáng tạo cho HS theo con

đường phát minh khoa học (chính là áp dụng phương

pháp thực nghiệm trong dạy học Vật lí) Còn dạy cho

HS HĐNT sáng tạo theo con đường sáng chế thì chưa được chú ý, mà thường coi việc này là nhiệm vụ của môn Công nghệ (ở phần Kĩ thuật công nghiệp) Thực tiễn dạy cho thấy, dạy học sáng tạo theo con đường sáng chế có nhiều cơ hội hơn dạy học sáng tạo theo con đường phát minh Vì hầu hết các kiến thức vật lí ở trường phổ thông (nhất là ở bậc THCS) đều có ứng dụng Mà ứng dụng là phải sáng chế ra một dụng cụ, thiết bị (hay bộ phận của thiết bị) mới để làm được một việc cụ thể nào đó trong thực tiễn Việc ứng dụng kiến thức ở đây có thể hiểu là tìm ra giải pháp để nâng cao hiệu quả các kiến thức vật lí để có thể sử dụng vào trong thực tiễn Do vậy, HĐNT sáng tạo theo con đường sáng chế phù hợp hơn với trình độ năng lực của HS, tận dụng được nhiều kinh nghiệm thực tiễn của HS Dạy học theo con đường sáng chế, HS còn có nhiều cơ hội thực hiện các loại bài tập sáng chế, còn dạy học theo con đường phát minh thì HS ít hoặc không có cơ hội để làm các bài tập phát minh Đặc biệt là trong kỉ nguyên của Cuộc cách mạng 4.0 hiện nay, phải dạy HS có khả năng ứng dụng các kiến thức vật lí vào lĩnh vực kĩ thuật và công nghệ mới (nhất là tự động hoá)

Tuy nhiên, khi tổ chức cho HS thực hiện HĐNT sáng tạo theo con đường sáng chế GV cần xem xét kĩ sự khác biệt giữa quá trình HĐNT sáng tạo của HS với quá trình sáng tạo của nhà khoa học gồm những vấn đề sau:

- Về nội dung: Nhà khoa học phải chế tạo ra thiết bị

mới trước đó nhân loại chưa có, còn HS thì dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV, các em chủ yếu tìm cách thiết

kế, chế tạo ra các thiết bị, máy móc mà nhân loại đã có (tập sáng chế lại) Tuy nhiên, cũng có trường hợp khi

HS tự sáng chế ra các thiết bị mà nhân loại chưa hề có (thực tiễn đã có nhiều sản phẩm mới thuộc lĩnh vực vật

lí - kĩ thuật của HS tham gia các cuộc thi sáng tạo)

- Về thời gian: Nhà khoa học có thời gian dài để

sáng chế và có thể làm đi làm lại nhiều lần, còn HS thì chỉ có thời gian rất ngắn trên lớp, hoặc nghiên cứu ở nhà nên chủ yếu là hình thành ý tưởng sáng chế

- Về nguyên tắc sáng chế: Nhà khoa học có thể vận

dụng rất nhiều nguyên tắc sáng chế (G.S Altshuller đã đưa ra 40 nguyên tắc cơ bản) [3] Còn HS chủ yếu chỉ tập sáng chế trong một số trường hợp đơn giản nên thường chỉ dùng một số nguyên tắc như:

Trang 3

ISSN 1859 - 4603 - Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn & Giáo dục, Tập 8, số 3B (2018), 11-16

+ Nguyên tắc phân nhỏ: Chia đối tượng cần sáng

chế thành các phần nhỏ độc lập, làm cho đối tượng trở

nên tháo lắp được với nhau Ví dụ: để HS thiết kế các

nhà máy phát điện thì GV phải định hướng HS phân nhỏ

nhà máy thành các bộ phận thành phần chính như máy

phát điện, tuabin, cánh quạt, nồi hơi, lò đốt,

+ Nguyên tắc chứa trong: Một đối tượng được đặt

trong đối tượng khác và bản thân nó lại chứa đối tượng

thứ 3 Một đối tượng chuyển động xuyên suốt bên trong

đối tượng khác Ví dụ, ở máy phát điện rôto thường đặt

bên trong stato; ở các nhà máy phát điện tuabin phải

được đặt trong hộp kín để khỏi văng nước ra ngoài

+ Nguyên tắc trung gian: Sử dụng đối tượng làm

bộ phận trung gian, chuyển tiếp Ví dụ: cánh quạt là bộ

phân trung gian biến đổi động năng của gió thành động

năng của rôto máy phát điện, tuabin là bộ phận trung

gian biến đổi động năng của hơi nước, của nước thành

động năng của rôto trong máy phát điện

+ Nguyên tắc tăng cường độ của một đại lượng nào

đó đến mức độ đủ lớn để có thể sử dụng được trong sản

xuất Ví dụ, để máy phát điện gió tạo ra dòng điện có

công suất sử dụng nhất định thì một trong những cách là

thiết kế cánh quạt nhẹ, hơi nghiêng so với hướng gió để

tận dụng được tối đa sức gió

+ Nguyên tắc đảm bảo sự xuất hiện liên tục của

một hiện tượng Ví dụ, để máy phát điện gió hoạt động

liên tục theo mọi hướng gió thì phải có thêm bộ phận lái

cánh quạt

+ Nguyên tắc điều khiển để hiện tượng xảy ra theo

một hướng, ở một thời điểm có lợi cho công việc mà ta

mong muốn Ví dụ, ở đập của nhà máy thủy điện phải có

hệ thống điều tiết nước vào nhà máy để điều khiển công

suất của nhà máy theo lượng nước trên đập

+ Nguyên tắc chuyển được hiệu quả của hiện tượng

xảy ra trong thiết bị ra ngoài để sử dụng Ví dụ, đối với

pin mặt trời điện năng sản xuất ban ngày được nạp vào

ắcqui để sử dụng vào ban đêm,

- Về phương tiện: Nhà khoa học có các thiết bị,

máy móc hiện đại, còn HS, trong điều kiện của trường

phổ thông chỉ có những thiết bị đơn giản HS chủ yếu

chỉ cần biết nguyên tắc sử dụng và thực hiện lắp ráp,

vận hành thiết bị (GV đã chuẩn bị) chứ không đi sâu

vào chi tiết, vật liệu kĩ thuật

2.2 Quy trình và kĩ thuật tổ chức HĐNT sáng tạo theo con đường sáng chế trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông

Thực chất của dạy học sáng tạo theo con đường sáng chế là sau khi HS học một định luật, một khái niệm, tính chất, nguyên tắc vật lí; GV giao cho HS một nhiệm vụ đòi hỏi HS phải nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo

để sáng chế ra một thiết bị máy móc hay một bộ phận của các thiết bị nhằm nâng cao hiệu quả của hiện tượng, nguyên tắc, tính chất vật lí đã học để có thể sử dụng vào trong đời sống, sản xuất Ở đây, hiện tượng, quá trình hay định luật vật lí chi phối hoạt động của các thiết bị, máy móc đó HS đã biết dưới dạng tổng quát Trong phạm vi dạy học Vật lí ở trường phổ thông, chúng ta chỉ chú ý nhiều đến hiện tượng, quá trình vật lí chủ yếu xảy ra khi vận hành các thiết bị máy móc, mà không chú ý nhiều đến các chi tiết giải pháp kĩ thuật phức tạp nhằm nâng cao hiệu quả của thiết bị máy móc Ví dụ, để tổ chức cho HS sáng chế ra các mô hình nhà máy hay trạm phát điện (như trạm phát điện gió, nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện, điện hạt nhân, điện mặt trời, một thiết bị đưa nước từ dưới thấp lên cao mà không tốn năng lượng) thì GV chỉ yêu cầu

HS thiết kế dưới dạng các sơ đồ kết cấu (chỉ ra các cơ cấu chuyển hóa năng lượng) HS chỉ dựa vào những kiến thức về năng lượng, sự bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, về máy phát điện, về áp suất đã học và dựa trên những kinh nghiệm thực tế để thiết kế được cánh quạt, tuabin, sắp xếp các bộ phận chính mà HS không cần phải chú ý đến vật liệu, kích thước, của các bộ phận của nhà máy

Dựa vào quá trình hoạt động sáng tạo trong sáng chế của nhà khoa học, chúng tôi đề xuất quy trình và kĩ thuật tổ chức HĐNT sáng tạo theo con đường sáng chế trong dạy học Vật lí gồm 5 giai đọan như sau [2]:

Giai đoạn 1: Xây dựng tình huống có vấn đề, xác

định nhiệm vụ sáng chế

GV tạo tình huống có vấn đề gần với kiến thức, kinh nghiệm sống của HS bằng một trong những cách sau: kể một câu chuyện, làm một TN biểu diễn, tạo một hiện tượng vật lí xảy ra trong đời sống, kĩ thuật, yêu cầu HS trình bày một vấn đề đã học, một kinh nghiệm đã biết rồi nêu câu hỏi làm nảy sinh ở các em mâu thuẫn nhận thức tạo được nhu cầu nhận thức, những bất ngờ, hứng thú và lôi cuốn HS vào vấn đề

Trang 4

cần giải quyết Từ đó HS phát hiện vấn đề cần phải

giải quyết và xác định nhiệm vụ học tập là phải nghiên

cứu sáng chế ra một thiết bị có thể ứng dụng trong đời

sống, sản xuất

Ví dụ: Dòng điện cảm ứng trong thí nghiệm rất yếu,

làm thế nào để dòng điện đó mạnh lên để đủ thắp sáng

đèn hay chạy máy? Chất lỏng nở vì nhiệt nhiều hơn chất

rắn nhiều lần Điều đó liệu có thể giúp gì cho ta trong

việc phát hiện sự biến đổi nhiệt độ trong môi trường

xung quanh? Làm thế nào để đưa được nước từ dưới

dòng suối lên ruộng cao mà không cần phải tốn năng

lượng, máy móc?

Giai đoạn 2: Đề xuất ý tưởng thiết kế thiết bị cần

sáng chế

Đây là giai đoạn quan trọng nhất, đòi hỏi nhiều

sáng tạo của HS Để tổ chức cho HS sáng tạo đề xuất

được ý tưởng thiết kế một thiết bị hợp lí GV có thể

hướng dẫn HS trải qua những bước sau:

Bước 1 Xác định rõ những kiến thức (quy tắc, định

luật, ) vật lí (thường là những kiến vừa mới học) sẽ

phải sử dụng để thiết kế một kết cấu, thiết bị mới

Kĩ thuật tổ chức: GV nêu câu hỏi để HS nhớ lại con

đường chiếm lĩnh kiến thức (quy tắc, định luật) trừu

tượng, khái quát, từ đó HS có thể tìm ngược lại con

đường đi từ những quy tắc, định luật khái quát đến hiện

tượng cụ thể mà ta cần tạo ra trong thiết bị cần thiết kế

Ví dụ, để sáng chế máy phát điện chạy bằng năng lượng

gió, GV nêu câu hỏi: muốn máy phát điện hoạt động

(quay) sản xuất điện năng thì phải làm thế nào (phải

cung cấp cho nó cái gì)? HS sẽ nhớ lại: phải cung cấp

cơ năng (động năng của gió) cho máy phát điện để làm

quay rôto Điều đó sẽ định hướng cho HS đề xuất ý

tưởng sáng chế một máy phát điện chạy bằng năng

lượng gió bằng cách chuyển động năng của gió thành

động năng rôto của máy phát điện

Bước 2 Đề xuất ý tưởng thiết kế các kết cấu của

thiết bị và nêu tên, chức năng của các kết cấu tạo nên

thiết bị cần sáng chế

Kĩ thuật tổ chức: GV đưa ra một nhiệm vụ mới cụ

thể hơn (thường là một câu hỏi) để HS có thể đề xuất

được một hoặc một số bộ phận mới của thiết bị sáng

chế Ví dụ, sau khi HS đề xuất được ý tưởng sáng chế

một máy phát điện chạy bằng năng lượng gió (như đã

nêu trên), GV nêu tiếp câu hỏi: làm thế nào để biến

động năng của gió thành động năng của rôto (quay được

rôto) máy phát điện? Bằng kiến thức và kinh nghiệm thực tế, HS có thể đề xuất được một kết cấu mới là gắn chong chóng vào trục rôto máy phát điện và nêu chức năng của chong chóng là chuyển động năng của gió thành động năng của rôto Như vậy, HS đã đề xuất được

ý tưởng mới là biến chuyển động của gió thành chuyển động quay của rôto

GV hướng dẫn HS đề xuất phương án thiết kế thiết

bị cần sáng chế hiệu quả nhất Đối chiếu hiện tượng do

các định luật, quy tắc vật lí dự đoán được các hiện tượng yêu cầu thiết bị cần tạo ra để đưa ra các phương

án thiết kế thiết bị với những bộ phận đã đề xuất và chọn phương án thiết kế hợp lí nhất Ở đây, HS cần hướng dẫn HS vận dụng ngững nguyên tắc sáng chế để tìm sơ đồ thiết kế thiết bị phù hợp nhất

Nếu nhiệm vụ giải quyết quá phức tạp thì GV nên tìm cách chia thành những nhiệm vụ thành phần đơn giản hơn, cho phù hợp với trình độ của HS

Giai đoạn 3: Vẽ sơ đồ thiết kế thiết bị

Kĩ thuật tổ chức: Dựa vào ý tưởng thiết kế thiết bị

đã chọn, GV hướng dẫn HS vẽ sơ đồ thiết kế có các bộ phận chính đã chọn, sắp xếp theo một cách thích hợp

Để rèn cho HS kĩ năng này cần thực hiện theo trình

tự sau:

+ Thứ nhất, phải rèn cho HS xây dựng những kí hiệu, những hình vẽ phác thảo để thể hiện ý tưởng thiết

kế của mình Các yêu cầu của hình vẽ phác thảo là phải thể hiện được kết cấu chính của thiết bị, phải đơn giản,

dễ hiểu, có thể vẽ nhanh

+ Thứ hai, là vận dụng kiến thức đã có của mình để

lí giải hoạt động của thiết bị, phân tích chuỗi những diễn biến của hiện tượng, từ tác động ban đầu đặt lên một bộ phận của thiết bị cho đến hiệu quả cuối cùng Nếu phát hiện thấy có chỗ hoạt động nào của thiết bị mà dự đoán không phù hợp với những quy tắc, tính chất, định luật vật lí đã biết thì phải điều chỉnh lại thiết kế

+ Thứ ba, là đưa ra nhiều cách bố trí các bộ phận của thiết bị để chọn lấy một cách bố trí gọn gàng, khả thi và hiệu quả nhất

Giai đoạn 4: Lắp ráp và vận hành thiết bị vật chất theo sơ đồ thiết kế

Dựa trên mẫu thiết kế bằng hình vẽ, HS lắp ráp một thiết bị thật và vận hành thiết bị để quan sát hiệu quả thu

Trang 5

ISSN 1859 - 4603 - Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn & Giáo dục, Tập 8, số 3B (2018), 11-16

được, kiểm tra tính đúng đắn, khả thi của thiết kế Đây

chính là giai đoạn thử nghiệm sản phẩm

Kĩ thuật tổ chức: GV giới thiệu các bộ phận thật

của thiết bị đã chuẩn bị sẵn cho HS (GV đã ước lượng

trước phương án của HS) Các bộ phận có thể do GV

hoặc do HS chuẩn bị trước ở nhà Yêu cầu các nhóm

phân công nhiệm vụ lắp ráp các dụng cụ theo hình vẽ

thiết kế Trước khi vận hành thiết bị, GV yêu cầu các

nhóm kiểm tra, chỉnh sửa cho hợp lí

Đối với một số thiết bị không thể lắp ráp được ngay

trên lớp, GV có thể dùng các mô phỏng, đoạn phim để

trình chiếu cho HS quan sát Ví dụ nhà máy điện hạt nhân

Giai đoạn 5: Kiểm tra, bổ sung, điều chỉnh trên

thiết bị sáng chế để tăng thêm tính hiệu quả và hoàn

chỉnh sáng chế

Kĩ thuật tổ chức: GV có thể đưa ra một thiết bị hay

mô hình cùng loại (cùng chức năng) đang được sử dụng

trong đời sống, kĩ thuật yêu cầu HS quan sát, phân tích

làm rõ một số chi tiết khác với sản phẩm đã sáng chế để

bổ sung, điều chỉnh hoàn chỉnh sản phẩm Thiết bị hay

mô hình đưa ra có thể bằng vật thật hoặc bằng mô

phỏng hoặc là một đoạn phim về hoạt động của thiết bị

trong đời sống

Tóm tắt tiến trình dạy học nội dung "Máy phát

điện gió" Vật lí lớp 9 theo con đường sáng chế

Giai đoạn 1: Đặt vấn đề

- GV: Máy phát điện cho ta dòng điện nghĩa là cho

ta điện năng Vậy muốn thu được điện năng ta phải làm

gì? Phải cung cấp cho máy phát điện năng lượng gì?

- HS trả lời: Phải làm cho rôto quay, nghĩa là phải

cung cấp cho nó động năng

Giai đoạn 2: Đề xuất ý tưởng thiết kế thiết bị cần

sáng chế

- GV: Trong thiên nhiên, ở đâu có nguồn năng

lượng dồi dào? Có cái gì luôn luôn chuyển động, nhất là

ở miền núi chúng ta?

- HS trả lời: Có gió trời và nước ở sông, suối

- GV: Đúng Vậy làm thế nào để biến động năng

của gió thành động năng của rôto máy phát? Nói cách

khác, làm thế nào để gió (từ chuyển động thẳng) có thể

làm quay rôto (chuyển động quay)?

- HS dựa vào kinh nghiệm nêu ra: Cho gió thổi vào

các cánh chong chóng được gắn vào trục quay

Nếu HS không trả lời được thì GV giới thiệu cái đồ chơi chong chóng rồi yêu cầu HS cho biết những cách

để làm chong chóng quay được? Trong đó cách đơn giản mà HS có thể nêu ra ngay là cho hơi (gió) thổi mạnh vào chong chóng

- GV: Chong chóng có kết cấu như thế nào mà lại quay được khi có gió thổi vào?

- HS trả lời: chong chóng có các cánh đặt hơi nghiêng so với hướng của gió thổi vào

- GV giới thiệu hệ thống cánh quạt thật và nêu câu hỏi: bây giờ có cánh quạt rồi thì cần làm gì tiếp để cho rôto của máy phát điện quay?

- HS trả lời: Gắn cánh quạt vào trục quay của rôto

Giai đoạn 3: Vẽ sơ đồ thiết kế thiết bị

- GV: Yêu cầu các nhóm thảo luận vẽ sơ đồ thiết kế một máy phát điện gió cần có những bộ phận nào và hoạt động như thế nào để biến năng lượng gió thành điện năng?

- HS thảo luận nhóm hoàn thành nhiệm vụ được giao

Giai đoạn 4: Lắp ráp và vận hành thiết bị vật chất theo sơ đồ thiết kế

- GV: yêu cầu, hướng dẫn các nhóm nhận dụng cụ

và tiến hành lắp máy phát điện gió theo sơ đồ thiết kế Sau đó vận hành cho máy phát điện gió hoạt động bằng cách thổi mạnh hơi vào cánh quạt để cánh quạt quay tạo

ra dòng điện làm đèn LED sáng

Giai đoạn 5: Kiểm tra, bổ sung, điều chỉnh trên

thiết bị sáng chế để tăng thêm tính hiệu quả và hoàn

chỉnh sáng chế

- GV giới thiệu mô hình thật và video về máy phát điện gió đang hoạt động tại Kon Tum

- HS đối chiếu với sơ đồ thiết kế và máy phát điện gió của mình để điều chỉnh cho hợp lí hơn

Kết quả thực nghiệm: Quá trình hướng dẫn một số

GV vận dụng quy trình dạy học này dạy thử nghiệm một số nội dung ở môn Vật lí THCS tại một số trường THCS trên địa bàn tỉnh Kon Tum và qua việc bồi dưỡng biện phát dạy học này cho giáo viên cốt cán môn Vật lí THCS hè 2016 tại tỉnh Kon Tum; chúng tôi đã thu được những kết quả ban đầu rất khả quan Hầu hết GV đều cho rằng biện pháp dạy học này phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay theo hướng phát huy tính tích cực, phát triển phẩm chất, năng lực sáng tạo

Trang 6

khoa học của HS HS vận dụng kiến thức giải quyết

được nhiều vấn đề trong thực tế Đặc biệt, GV có thể

vận dụng linh hoạt quy trình dạy học này để hướng dẫn

HS thực hiện các dự án, các ý tưởng sáng tạo tham gia

các hội thi sáng tạo khoa học kĩ thuật dành cho thanh

thiếu niên nhi đồng do các cấp tổ chức

3 Kết luận và đề nghị

Thực tế cho thấy, vật lí luôn gắn liền với đời sống

và sản xuất Do vậy, trong dạy học theo chương trình

mới phải luôn chú ý đến mặt ứng dụng của vật lí trong

đời sống, sản xuất Hiện nay, việc dạy học ứng dụng vật

lí vào các lĩnh vực chủ yếu chỉ bằng con đường thông

báo Như vậy, là đã bỏ qua rất nhiều cơ hội HĐNT sáng

tạo của HS Mà sáng tạo theo con đường sáng chế lại rất

thường gặp trong lao động, sản xuất thuộc mọi lĩnh vực

hiện nay (nhất là kỉ nguyên Cuộc cách mạng công

nghiệp 4.0 và khởi nghiệp) Do vậy, quy trình tổ chức

HĐNT sáng tạo theo con đường sáng chế được đề xuất

ở trên có thể coi là một biện pháp dạy học mới nhằm

phát triển năng lực sáng tạo của HS, góp phần thực hiện

mục tiêu mới của giáo dục

Quy trình tổ chức HĐNT sáng tạo theo con đường

sáng chế ở trên được áp dụng tổ chức dạy cho HS sáng

chế ra một thiết bị mới hoàn chỉnh Trong thực tiễn dạy

học Vật lí phổ thông, GV có thể dựa theo đó mà soạn

thảo một số bài tập sáng chế đơn giản hơn, phù hợp với

từng nội dung cụ thể và đa số HS HS có thể cải tiến

một cơ cấu, một thiết bị vật lí để khắc phục nhược điểm

nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng trong thực tiễn GV

cũng có thể dựa vào quy trình này để hướng dẫn HS

thực hiện nghiên cứu khoa học (một đề tài, dự án, một ý tưởng khởi nghiệp) liên quan đến nội dung vật lí

Để thực hiện được ý tưởng dạy học này, ngoài việc phải nắm vững quy trình nêu trên, GV phải có năng lực

sư phạm (nhất là năng lực định hướng HS đề xuất được

ý tưởng thiết kế) và chuẩn bị đầy đủ, hợp lí các phương tiện học tập của HS Để áp dụng quy trình dạy học sáng tạo theo con đường sáng chế đạt được hiệu quả cao thì cần tiếp tục có những nghiên cứu sâu sắc phù hợp với thực tiễn hơn Quy trình tổ chức HĐNT sáng tạo theo con đường sáng chế sẽ được tiếp tục nghiên cứu, áp dụng trong đào tạo sinh viên ngành Vật lí ở trường đại học, cao đẳng

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Trung học,

Dự án phát triển giáo dục phổ thông giai đoạn 2

(2015) Tài liệu tập huấn tổ chức hoạt động tải nghiệm sáng tạo khoa học kĩ thuật và cuộc thi khoa học kĩ thuật dành cho học sinh trung học

[2] Nguyễn Văn Giang (2009) Tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh trong dạy học chương “Sự bảo toàn và chuyển hóa năng lượng vật lí lớp 9” Luận án tiến sĩ Khoa học

Giáo dục, ĐHSP Hà Nội

[3] Phan Dũng (1992) Sổ tay sáng tạo: Các thủ thuật (nguyên tắc) cơ bản Ủy ban Khoa học và Kĩ thuật

Thành phố Hồ Chí Minh

[4] Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm

Xuân Quế (2002) Phương pháp dạy học Vật lí ở trường phổ thông NXB ĐHSP Hà Nội.

THE IMPLEMENTATION OF CREATION CONCEIVABILITY FOLLOWING INVENTION

METHODOLOGY IN TEACHING AND STUDYING PHYSICS IN JUNIOR HIGH SCHOOLS

AND HIGH SCHOOLS

Abstract: In order to achieve the goals of physics program, the new physics textbooks in Junior high schools and High schools

after 2018; the main mission of physics teachers is to innovate the forms and methods of teaching, testing and evaluation Hence, it

aims to establish and develop the competencies and especially creative abilities of students This paper examines a teaching and

studying solution of physics in Junior high schools and high schools: "Teaching and Studying following the invention methodology" to

enhance creative abilities of junior and high school students

Key words: teaching and studying; competency; creation; invention; physics

Ngày đăng: 18/10/2020, 22:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w