1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểu “bước qua” cho học sinh lớp 9 trường PTDT nội trú THCS huyện krông ana

21 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 262,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài:: Giáo dục thể chất trong trường học là một bộ phận hết sức quan trọng của phong trào thể thao quần chúng nói chung, nhưng do đối tượng là tuổi trẻ, học sinh, sinh viên đông đảo, được học và tập luyện theo chương trình bắt buộc, có bài bản và nề nếp cho nên giáo dục thể chất trong trường học được coi là một thành phần, một bộ phận cơ bản của nền thể dục thể thao. Giáo dục thể chất trong trường học còn có tác dụng tạo ra tiềm năng lớn về lực lượng vận động viên năng khiếu, cung cấp cho đất nước ngày càng nhiều tài năng thể thao. Lúc sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta rất quan tâm tới công tác giáo dục thể chất trong trường học. Năm 1964 Đảng ta có chủ trương “Phải thực hiện giáo dục toàn diện: Đạo đức, trí tuệ, thể dục, mỹ dục và lao động cho thanh thiếu niên trong trường học” .Và quyết định: “Bắt đầu đưa việc dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của các trường phổ thông, chuyên nghiệp và đại học”(Nghị quyết TW VIII khóa III) Trong thời kỳ mới hiện nay, Đảng ta chủ trương phải phấn đấu: “Thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học”(Chỉ thị 36CTTW của ban bí thư TW Đảng khóa VII) Trong chương trình giáo dục trung học phổ thông có rất nhiều môn thể thao đã được đưa vào giảng dạy như: Đá cầu, Cầu lông, Thể dục cơ bản… nhất là điền kinh. Tập luyện điền kinh không đòi hỏi các sân bãi dụng cụ phức tạp nên đã trở thành môn thể thao cơ bản được đưa vào giảng dạy trong nhà trường với những nội dung như: Chạy, Nhảy cao, Nhảy xa… Điều này đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của cơ thể học sinh, chưa thúc đẩy sự phát triển toàn diện ở các em, kết quả đạt được còn thấp, nó thể hiện rõ qua việc đánh giá kết quả học tập ở cuối học kì, cuối năm học. Và đặc biệt là qua các kì hội khỏe phù đổng thành tích nhiều môn thể thao điền kinh chưa cao. Vì vậy các bài tập bổ trợ chuyên môn là yếu tố quan trọng của quá trình hình thành kỹ thuật động tác. Bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm tác động có hiệu quả, có chủ đích vào việc phát triển các tố chất thể lực (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo và mềm dẻo cùng khả năng phối hợp vận động) và kỹ xảo động tác của các môn thể thao. Trong kỹ thuật nhảy cao nói chung và kỹ thuật nhảy cao kiểu “bước qua” được giảng dạy ở hai năm cuối cấp. Một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến thành tích nhảy cao kiểu “bước qua” là việc nắm bắt đúng kỹ thuật, để thực hiện được yêu cầu này các giáo viên đều sử dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn để củng cố và nâng cao kỹ thuật cho học sinh. Những bài tập bổ trợ nhảy cao kiểu “bước qua” có vai trò quan trọng, tác động có chủ đích, hiệu quả vào các giai đoạn của kỹ thuật. Qua kiểm tra đánh giá kết quả học tập nội dung Nhảy cao Kiểu “bước qua” của học sinh chúng tôi nhận thấy tỷ lệ % học sinh nắm bắt kỹ thuật còn kém, dẫn đến thành tích nhảy cao chưa cao như mong muốn. Từ những vấn đề nêu trên, tôi thực hiện nghiên cứu: Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, với thực tế của trường, bản thân tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: Một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểu “bước qua” cho học sinh lớp 9 Trường PTDT Nội Trú THCS Krông Ana – Huyện Krông Ana – Tỉnh Đăk Lăk ” 2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu: a, Mục tiêu nghiên cứu: Thông qua kết quả nghiên cứu lựa chọn được một số bài tập nhằm nâng cao thành tích trong môn nhảy cao phù hợp với học sinh. Từ đó nâng cao hiệu quả công tác giáo dục ở nhà trường phổ thông. b, Nhiệm vụ nghiên cứu: Để giải quyết mục đích nghiên cứu trên chúng tôi thực hiện hai nhiệm vụ nghiên cứu sau: Nhiệm vụ 1: Xác định các chỉ số biểu thị trình độ và lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao thành tích trong môn nhảy cao kiểu “bước qua” cho học sinh lớp 9 Trường PTDT Nội Trú THCS Huyện Krông Ana. Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu ứng dụng các bài tập nhằm nâng cao thành tích trong môn nhảy cao kiểu bước qua cho học sinh lớp 9 Trường PTDT Nội Trú THCS Huyện Krông Ana. 3. Đối tượng nghiên cứu: Một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểu “bước qua” cho học sinh lớp 9 Trường PTDT Nội Trú THCS Huyện Krông Ana. Chúng tôi chọn đối tượng là 38 em học sinh lớp 9 chia làm hai nhóm. Nhóm thực nghiệm: gồm 19 em học sinh lớp 9 thời gian tập luyện mỗi tuần 1 buổi, mỗi buổi 1 tiết nội dung tập luyện do chúng tôi đưa ra theo các bài tập đã xác định. Nhóm đối chứng: Chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên 19 em học sinh nam lớp thời gian tập luyện giống như nhóm thực nghiệm mỗi tuần 1 buổi, mỗi buổi 1 tiết nội dung tập luyện theo phân phối chương trình hiện hành Thời gian tổ chức thực hiện 11 tuần. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu là học sinh lớp 9 Trường PTDT Nội Trú THCS Huyện Krông Ana. Phạm vi áp dụng học sinh các trường THCS trên toàn huyện. Địa điểm nghiên cứu: Trường PTDT Nội Trú THCS Krông Ana Huyện Krông Ana. 5. Phương pháp nghiên cứu. Để giải quyết được nhiệm vụ của đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau đây. a. Phương pháp tham khảo tài liệu: tham khảo các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Sách Sinh lý học thể dục thể thao. Sách lý luận và phương pháp giáo dục thể chất. Giáo trình giảng dạy điền kinh Đại Học Vinh Sách Phương pháp nghiên cứu khoa học thể dục thể thao. Sách phương pháp toán học thống kê trong thể dục thể thao. Các văn kiện nghị quyết Trung Ương Đảng, hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. b. Phương pháp dùng bài kiểm tra (Test). Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, để đánh giá trình độ tố chất, sức mạnh tốc độ của học sinh Trường PTDT Nội Trú THCS Huyện Krông Ana chúng tôi đã sử dụng bài thử được thừa nhận trong thực tế thể dục thể thao được tác giả Nguyễn Kim Minh áp dụng trong công trình nghiên cứu khoa học của mình (1986). Bài thử gồm: Chạy 30m xuất phát cao: Để đánh giá tốc độ. + Tư thế chuẩn bị: Đứng chân trước, chân sau (chân trước dẫm lên vạch xuất phát) người hơi cúi về trước, trọng tâm dồn về chân trước, mắt nhìn thẳng về phía trước. + Cách thực hiện: Khi nhận được tín hiệu xuất phát người tập nhanh chóng chạy hết cự ly 30m với tốc độ nhanh nhất. + Cách đánh giá: Thành tích được tính bằng thời gian chạy hết cự ly, đơn vị đo bằng giây đồng hồ Bật cao tại chỗ: Đánh giá sức mạnh tốc độ của chân + Tư thế chuẩn bị: Trước tiên cho người tập đứng sát bờ tường, đứng nghiêm không kiểng gót và đưa hai tay lên cao rồi đánh dấu ở điểm cao nhất lên bờ tường. + Cách thực hiện: Từ tư thế chuẩn bị người tập khuỵu gối hạ thấp trọng tâm, góc đọc giữa đùi từ 1100 – 1200 thân người gập ở khớp hông, người hơi gập về trước, trọng tâm dồn đều vào hai chân, hai tay đưa ra sau. Sau đó duỗi hết các khớp, khớp hông, khớp đầu gối, khớp cổ chân tác dụng xuống đất một lực lớn nhất, nhanh chóng bật lên cao. Đồng thời tay đánh từ sau ra trước với lên cao và đánh dấu vào bờ tường ở điểm cao nhất. + Cách đánh giá: Thành tích được tính bằng khoảng cách từ điểm trước lúc bật nhảy đến điểm sau bật nhảy đã đánh dấu vào bờ tường đơn vị đo là cm, mỗi người được bật hai lần, thành tích được lấy lần bật cao nhất. c. Phương pháp thực nghiệm sư phạm. Để giải quyết đề tài này chúng tôi thực hiện theo phương pháp thực nghiệm song song. Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã phân thành hai nhóm: Nhóm thực nghiệm: gồm 19 em học sinh nam lớp 9 thời gian tập luyện mỗi tuần 1 buổi, mỗi buổi 1 tiết nội dung tập luyện do chúng tôi đưa ra theo các bài tập đã xác định. Nhóm đối chứng: Chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên 19 em học sinh nam lớp 9 thời gian tập luyện giống như nhóm thực nghiệm mỗi tuần 1 buổi, mỗi buổi 1 tiết nội dung tập luyện theo phân phối chương trình hiện hành Thời gian tổ chức thực hiện 11 tuần. II. PHẦN NỘI DUNG 1. Cơ sở lí luận: Tập luyện nhảy cao có ý nghĩa rất lớn trong công tác giáo dục và bồi dưỡng học sinh trong nhà trường. Qua đó nhằm hình thành các phẩm chất ý chí và đạo đức của con người mới góp phần vào giáo dục và nâng cao trí tuệ, giáo dục lao động và giáo dục thẩm mỹ cho các em. Nhảy cao là hoạt động phức tạp được thực hiện liên tục bắt đầu từ chạy đà cho đến lúc kết thúc là vượt qua xà rơi xuống đất. Thành tích nhảy cao phụ thuộc vào kỹ thuật và sức lực của người nhảy. Về kỹ thuật các yếu tố quyết định thành tích nhảy cao là: tốc độ ban đầu (tốc độ tổng hợp của chạy đà và giậm nhảy); góc độ bay (góc tạo bởi phương của tốc độ ban đầu và phương nằm ngang) và tư thế qua xà của người nhảy tư thế nào có tổng trọng tâm gần xà hơn sẽ có điều kiện đạt thành tích cao hơn. Dạy học cho học sinh chính là quá trình rèn luyện để có kỹ thuật nhảy đúng và góp phần phát triển thể chất cho các em. Hiện tại, nhảy cao đã có tới 5 kỹ thuật qua xà, gồm: bước qua, cắt kéo, nằm nghiêng, úp bụng và lưng qua xà. Tương ứng với mỗi kỹ thuật qua xà có một cách chạy đà và các bước kỹ thuật khác nhau. Trong đó kỹ thuật nhảy cao kiểu bước qua tuy thành tích không cao bằng kiểu úp bụng hay lưng qua xà, nhưng đối với học sinh THCS thì kỹ thuật bước qua là tối ưu. Đây là kỹ thuật rất thông dụng, thích hợp cho mọi đối tượng tập luyện. Thực tế giảng dạy môn Thể dục ở các trường

Trang 1

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài::

Giáo dục thể chất trong trường học là một bộ phận hết sức quan trọng củaphong trào thể thao quần chúng nói chung, nhưng do đối tượng là tuổi trẻ, họcsinh, sinh viên đông đảo, được học và tập luyện theo chương trình bắt buộc, cóbài bản và nề nếp cho nên giáo dục thể chất trong trường học được coi là mộtthành phần, một bộ phận cơ bản của nền thể dục thể thao

Giáo dục thể chất trong trường học còn có tác dụng tạo ra tiềm năng lớn

về lực lượng vận động viên năng khiếu, cung cấp cho đất nước ngày càng nhiềutài năng thể thao Lúc sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta rất quan tâm tớicông tác giáo dục thể chất trong trường học

Năm 1964 Đảng ta có chủ trương “Phải thực hiện giáo dục toàn diện:

Đạo đức, trí tuệ, thể dục, mỹ dục và lao động cho thanh thiếu niên trong trường học” Và quyết định: “Bắt đầu đưa việc dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của các trường phổ thông, chuyên nghiệp và đại học”(Nghị quyết TW VIII khóa III)

Trong thời kỳ mới hiện nay, Đảng ta chủ trương phải phấn đấu: “Thực

hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học”(Chỉ thị 36CT/TW của ban

bí thư TW Đảng khóa VII)

Trong chương trình giáo dục trung học phổ thông có rất nhiều môn thểthao đã được đưa vào giảng dạy như: Đá cầu, Cầu lông, Thể dục cơ bản… nhất

là điền kinh Tập luyện điền kinh không đòi hỏi các sân bãi dụng cụ phức tạpnên đã trở thành môn thể thao cơ bản được đưa vào giảng dạy trong nhà trườngvới những nội dung như: Chạy, Nhảy cao, Nhảy xa… Điều này đã ảnh hưởnglớn đến sự phát triển của cơ thể học sinh, chưa thúc đẩy sự phát triển toàn diện ởcác em, kết quả đạt được còn thấp, nó thể hiện rõ qua việc đánh giá kết quả họctập ở cuối học kì, cuối năm học Và đặc biệt là qua các kì hội khỏe phù đổngthành tích nhiều môn thể thao - điền kinh chưa cao Vì vậy các bài tập bổ trợchuyên môn là yếu tố quan trọng của quá trình hình thành kỹ thuật động tác Bàitập bổ trợ chuyên môn nhằm tác động có hiệu quả, có chủ đích vào việc pháttriển các tố chất thể lực (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo và mềm dẻocùng khả năng phối hợp vận động) và kỹ xảo động tác của các môn thể thao

Trong kỹ thuật nhảy cao nói chung và kỹ thuật nhảy cao kiểu “bước qua” được

giảng dạy ở hai năm cuối cấp Một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến

thành tích nhảy cao kiểu “bước qua” là việc nắm bắt đúng kỹ thuật, để thực hiện

được yêu cầu này các giáo viên đều sử dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn để

củng cố và nâng cao kỹ thuật cho học sinh Những bài tập bổ trợ nhảy cao kiểu

“bước qua” có vai trò quan trọng, tác động có chủ đích, hiệu quả vào các giai

đoạn của kỹ thuật Qua kiểm tra đánh giá kết quả học tập nội dung Nhảy cao

Kiểu “bước qua” của học sinh chúng tôi nhận thấy tỷ lệ % học sinh nắm bắt kỹ

thuật còn kém, dẫn đến thành tích nhảy cao chưa cao như mong muốn Từ

Trang 2

những vấn đề nêu trên, tôi thực hiện nghiên cứu: Xuất phát từ những vấn đề nêu

trên, với thực tế của trường, bản thân tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: Một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểu “bước qua” cho học sinh lớp 9 Trường PTDT Nội Trú THCS Krông Ana – Huyện Krông Ana – Tỉnh Đăk Lăk ”

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu:

a, Mục tiêu nghiên cứu:

Thông qua kết quả nghiên cứu lựa chọn được một số bài tập nhằm nâng caothành tích trong môn nhảy cao phù hợp với học sinh Từ đó nâng cao hiệu quả côngtác giáo dục ở nhà trường phổ thông

b, Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để giải quyết mục đích nghiên cứu trên chúng tôi thực hiện hai nhiệm vụnghiên cứu sau:

- Nhiệm vụ 1: Xác định các chỉ số biểu thị trình độ và lựa chọn một số bài

tập nhằm nâng cao thành tích trong môn nhảy cao kiểu “bước qua” cho học sinh

lớp 9 Trường PTDT Nội Trú THCS Huyện Krông Ana

- Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu ứng dụng các bài tập nhằm nâng cao thành tích

trong môn nhảy cao kiểu bước qua cho học sinh lớp 9 Trường PTDT Nội TrúTHCS Huyện Krông Ana

3 Đối tượng nghiên cứu:

Một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểu “bước qua” cho học sinh lớp 9 Trường PTDT Nội Trú THCS Huyện Krông Ana.

Chúng tôi chọn đối tượng là 38 em học sinh lớp 9 chia làm hai nhóm

- Nhóm thực nghiệm: gồm 19 em học sinh lớp 9 thời gian tập luyện mỗi

tuần 1 buổi, mỗi buổi 1 tiết nội dung tập luyện do chúng tôi đưa ra theo các bàitập đã xác định

- Nhóm đối chứng: Chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên 19 em học sinh nam lớp

thời gian tập luyện giống như nhóm thực nghiệm mỗi tuần 1 buổi, mỗi buổi 1tiết nội dung tập luyện theo phân phối chương trình hiện hành

- Thời gian tổ chức thực hiện 11 tuần

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu là học sinh lớp 9 Trường PTDT Nội Trú THCSHuyện Krông Ana

- Phạm vi áp dụng học sinh các trường THCS trên toàn huyện

- Địa điểm nghiên cứu:

Trường PTDT Nội Trú THCS Krông Ana - Huyện Krông Ana

5 Phương pháp nghiên cứu.

Trang 3

Để giải quyết được nhiệm vụ của đề tài này chúng tôi đã sử dụng cácphương pháp sau đây.

a Phương pháp tham khảo tài liệu: tham khảo các tài liệu có liên quan

đến đề tài nghiên cứu

- Sách Sinh lý học thể dục thể thao

- Sách lý luận và phương pháp giáo dục thể chất

- Giáo trình giảng dạy điền kinh Đại Học Vinh

- Sách Phương pháp nghiên cứu khoa học thể dục thể thao

- Sách phương pháp toán học thống kê trong thể dục thể thao

Các văn kiện nghị quyết Trung Ương Đảng, hiến pháp nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam

b Phương pháp dùng bài kiểm tra (Test).

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, để đánh giá trình độ tố chất, sức

mạnh tốc độ của học sinh Trường PTDT Nội Trú THCS Huyện Krông Anachúng tôi đã sử dụng bài thử được thừa nhận trong thực tế thể dục thể thao đượctác giả Nguyễn Kim Minh áp dụng trong công trình nghiên cứu khoa học củamình (1986) Bài thử gồm:

Chạy 30m xuất phát cao: Để đánh giá tốc độ

+ Tư thế chuẩn bị: Đứng chân trước, chân sau (chân trước dẫm lên vạchxuất phát) người hơi cúi về trước, trọng tâm dồn về chân trước, mắt nhìn thẳng

- Bật cao tại chỗ: Đánh giá sức mạnh tốc độ của chân

+ Tư thế chuẩn bị: Trước tiên cho người tập đứng sát bờ tường, đứngnghiêm không kiểng gót và đưa hai tay lên cao rồi đánh dấu ở điểm cao nhất lên

Trang 4

+ Cách đánh giá: Thành tích được tính bằng khoảng cách từ điểm trướclúc bật nhảy đến điểm sau bật nhảy đã đánh dấu vào bờ tường đơn vị đo là cm,mỗi người được bật hai lần, thành tích được lấy lần bật cao nhất.

c Phương pháp thực nghiệm sư phạm.

Để giải quyết đề tài này chúng tôi thực hiện theo phương pháp thựcnghiệm song song Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã phân thành hainhóm:

- Nhóm thực nghiệm: gồm 19 em học sinh nam lớp 9 thời gian tập luyện

mỗi tuần 1 buổi, mỗi buổi 1 tiết nội dung tập luyện do chúng tôi đưa ra theo cácbài tập đã xác định

- Nhóm đối chứng: Chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên 19 em học sinh nam lớp

9 thời gian tập luyện giống như nhóm thực nghiệm mỗi tuần 1 buổi, mỗi buổi 1tiết nội dung tập luyện theo phân phối chương trình hiện hành

- Thời gian tổ chức thực hiện 11 tuần

II PHẦN NỘI DUNG

Dạy học cho học sinh chính là quá trình rèn luyện để có kỹ thuật nhảyđúng và góp phần phát triển thể chất cho các em

Hiện tại, nhảy cao đã có tới 5 kỹ thuật qua xà, gồm: bước qua, cắt kéo,nằm nghiêng, úp bụng và lưng qua xà Tương ứng với mỗi kỹ thuật qua xà cómột cách chạy đà và các bước kỹ thuật khác nhau Trong đó kỹ thuật nhảy cao

kiểu bước qua tuy thành tích không cao bằng kiểu úp bụng hay lưng qua xà,

nhưng đối với học sinh THCS thì kỹ thuật bước qua là tối ưu Đây là kỹ thuật rấtthông dụng, thích hợp cho mọi đối tượng tập luyện

Trang 5

Thực tế giảng dạy môn Thể dục ở các trường THCS vấn đề dụng cụ, sânbãi còn đơn giản nhưng để có được thành tích trong tập luyện và thi đấu đòi hỏiquá trình giảng dạy giáo viên phải hướng dẫn học sinh tuân thủ nghiêm túc cácnguyên tắc quy định, giúp các em nắm bắt và thực hiện kỹ thuật động tác mộtcách chính xác, thuần thục.

Nếu tập luyện kỹ thuật nhảy cao kiểu bước qua cho học sinh THCS mộtcách đầy đủ, chính xác, khắc phục được những sai lầm thường mắc, đưa ra cácbiện pháp thích hợp, khả thi thì chắc chắn rằng chất lượng học tập của bộ mônđiền kinh nói chung và môn nhảy cao nói riêng sẽ được nâng cao

Nhảy cao kiểu bước qua có kỹ thuật tương đối đơn giản, tuy nhiên khithực hiện kỹ thuật này các em vẫn mắc phải những sai lầm với nhiều nguyênnhân khác nhau Đặc biệt là ở mức xà cao, các em luôn ở trạng thái sợ hãi, thiếutập trung dẫn đến thực hiện động tác kỹ thuật giật cục, thiếu tính nhịp nhàng.Mặt khác với quy định của phân phối chương trình môn Thể dục 2 tiết/tuần làtương đối ít để các em có thời gian lĩnh hội, tiếp thu động tác kỹ thuật một cáchnhuần nhuyễn, thuần thục Vì vậy vấn đề đặt ra cho giáo viên dạy học môn Thểdục là phải tìm ra những biện pháp tối ưu nhất để gây hứng thú cho học sinh tậpluyện, giúp các em khắc phục những sai lầm, hoàn thiện kỹ thuật và đạt kết quảcao về thành tích

Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh trung học cơ sở:

Học sinh các trường THCS thường ở lứa tuổi 14 - 15 Để có cơ sở khoahọc cho việc lựa chọn các bài tập phát triển sức mạnh tốc độ chúng ta cần tìmhiểu một số đặc điểm cơ bản về tâm sinh lý của lứa tuổi 14 - 15 có liên quan tớiviệc tập luyện TDTT nói chung và với việc phát triển sức mạnh tốc độ nói riêng.

Đặc điểm sinh lý lứa tuổi 14 -15

Học sinh các trường THCS thường ở lứa tuổi 14 -15 Để có cơ sở khoahọc cho việc lựa chọn các bài tập phát triển sức nhanh - mạnh tốc độ chúng tacần tìm hiểu một số đặc điểm cơ bản về tâm sinh lý của lứa tuổi 14 -15 có liênquan tới việc tập luyện TDTT nói chung và với việc phát triển sức nhanh - mạnhtốc độ nói riêng

* Đặc điểm phát triển của hệ thống thần kinh

Do hệ thống thần kinh là một hệ thống phát triển sớm của cơ thể, vì vậy ởlứa tuổi 14 -15 trọng lượng não của các em đã đạt mức từ 1460 gam đến 1470gam tương đương với trọng lượng não của người trưởng thành Chức năng củacác trung khu như: Thị giác, thính giác, xúc giác, cảm giác, trung khu vậnđộng tương đối hoàn thiện Vì vậy các em có thể nhanh chóng học hỏi nângcao tri thức và các kỹ năng của cuộc sống, trong đó có kỹ năng vận động thểthao Cũng chính do hệ thống thần kinh được hoàn thiện tương đối nên ở lứatuổi 14 -15 các em có thể hình thành tư duy trừu tượng và tư duy lô gíc Quá

Trang 6

trình hưng phấn và ức chế được cân bằng hơn Tuy vậy cường độ quá trình hưngphấn vẫn cao hơn Đó là điều kiện rất tốt để phát triển các tố chất thể lực nhất làsức mạnh, sức bền Đồng thời cũng dễ dàng nắm vững được các kỹ thuật khó,tạo tiền đề cho việc nâng cao thành tích thể thao

* Đặc điểm phát triển của cơ quan vận động

Cơ quan vận động của cơ thể chủ yếu gồm cơ bắp, xương khớp và dây chằng

Về hệ xương: Do quá trình phát triển của cơ thể thường kéo dài tới 20 - 24tuổi Vì vậy ở tuổi 14 -15 vẫn còn ở trong thời kỳ phát triển mạnh của xương.Tuy vậy thành phần hữu cơ trong xương giảm dần và thành phần vô cơ tăng dầnlàm cho xương cứng và chịu tải tốt hơn

Ở lứa tuổi 14 -15 chiều cao trung bình hàng năm của nam chỉ khoảng 1,7

cm còn ở nữ thấp hơn

Hệ cơ: Nhìn chung ở giai đoạn 14 -15 sự phát triển của hệ cơ ở nam và nữđều có xu hướng phát triển hoàn thiện các nhóm cơ nhỏ, tăng thiết diện cácnhóm cơ lớn, các bó cơ trong quá trình luyện tập phát triển ngày một săn chắchơn làm cho sức mạnh tăng lên

Riêng dây chằng và khớp của VĐV ở lứa tuổi này nếu không duy trì tậpmềm dẻo thường xuyên hợp lý có thể làm cho linh hoạt khớp bị giảm xuống Từ

đó làm giảm biên độ động tác, thường xuyên luyện tập mức độ dẻo dai tăngđáng kể, nhất là các VĐV thể dục dụng cụ

* Đặc điểm phát triển hệ thống tim mạch

Ở tuổi 14 -15 tim phát triển to hơn, thành cơ tim dày lên, van tim pháttriển tốt làm cho cơ tim bóp mạnh hơn làm cho cung lượng tim lớn hơn

* Đặc điểm phát triển hệ thống hô hấp

Ở tuổi 14 -15 hệ thống hô hấp đã phát triển gần đạt trình độ của ngườitrưởng thành

Đặc điểm tâm lý lứa tuổi

Đặc điểm nổi bật về tâm lý của lứa tuổi là chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của

cả 2 nhân tố bên trong và bên ngoài

* Nhân tố bên trong: Gồm các yếu tố như sự khát vọng ham muốn hiểubiết, khám phá thế giới trong đó có sự thử sức với các hoạt động TDTT Vì vậyTDTT đã có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với các em

* Nhân tố bên ngoài: Ở tuổi 14 -15 là giai đoạn các em luôn muốn thểhiện mình là "người lớn" nên mọi hành động của các em đều bắt chước ngườilớn Chính điều này đã tạo ra động lực cho các em hưng phấn trong quá trìnhhoạt động, khám phá và tìm hiểu thế giới xung quanh

Trang 7

Ở tuổi 14 -15 quá trình nhận thức của các em cũng được nâng cao rõ rệt.Các em có thể nhận thức được cái hay, cái đẹp của sự vật, cái đúng, cái sai củamột vấn đề một cách bản chất hơn Tuy nhiên, những nhận thức này còn có tỷ lệchuẩn mực chưa cao và độ sâu sắc chưa đạt mức của người trưởng thành

Tóm lại, sự phát triển và lớn lên về mặt sinh lý cũng là một quá trình làm chotâm lý của các em được hoàn thiện Quá trình phát triển về sinh lý và tâm lý củacác em có tính giai đoạn Nắm vững được đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các

em để sử dụng các đối sách giảng dạy huấn luyện hợp lý là tiền đề của sự nângcao hiệu quả giảng dạy huấn luyện của các giáo viên và huấn luyện viên thểthao

Vài nét về tình hình giảng dạy và học tập môn nhảy cao ở các trường trung học cơ sở:

Nhảy cao là môn thể thao không đòi hỏi nhiều về trang thiết bị, kĩ thuậttương đối đơn giản, dễ phổ cập, phù hợp với mọi lứa tuổi, giới tính, do đó nhảycao là một nội dung cơ bản trong chương trình giáo dục thể chất

Trong các kì Hội Khỏe Phù Đổnghoc sinh giỏi TDTT từ cấp trường đếncấp quốc gia đều có thi đấu nhảy cao, các học sinh nói chung và các vận độngviên nói riêng đã lập được những thành tích đáng khen ngợi Tuy nhiên thànhtích nhảy cao của học sinh nước ta so với thành tích của học sinh các nước trênthế giới còn ở mức chênh lệch quá lớn

Ở cấp Trung học cơ sở các em được làm quen và tập luyện với kĩ thuật nhảycao ở mức độ đơn giản Việc giảng dạy môn nhảy cao trong nhiều năm qua đãđược chú trọng và đạt kết quả nhất định, song vẫn còn phải phấn đấu nhiều hơnnữa mới đáp ứng được phong trào ngày càng mạnh mẽ Để giảng dạy tốt hơn nữamôn nhảy cao cho học sinh, cần phải nắm chắc được đối tượng và không ngừngchọn lựa cải tiến, các biện pháp, nội dung giảng dạy cho phù hợp, gây ảnh hưởngtốt đến sự phát triển toàn diện các bộ phận cơ thể học sinh

Tác dụng của tập luyện môn nhảy cao trong trường học:

Nhảy cao là một môn thể thao khá phổ biến, được nhiều người ưa thích vàtham gia tập luyện

Tập luyện nhảy cao có tác dụng rất lớn trong việc phát triển các tố chất thểlực, nâng cao khả năng tập trung sức, tự chủ và rèn luyện lòng dũng cảm, tính kiêntrì và khắc phục khó khăn trong rèn luyện Thông qua các bài tập kĩ thuật của chạy

đà và giậm nhảy, làm tăng cường và phát triển các tố chất sức nhanh, sức mạnh vàsức mạnh tốc độ của người tập Thực hiện tốt các kỹ thuật trên không và rơi xuốngđất, đã rèn luyện được sự khéo léo, tính chính xác, nâng cao khả năng phối hợp vậnđộng, giúp cho người tập nâng cao sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần, phục vụđắc lực cho lao động sản xuất và chiến đấu

Sức mạnh và sức mạnh trong nhảy cao:

Trang 8

Khái niệm về sức mạnh cho đến nay vẫn còn có những cách hiểu khác nhau.Nhưng theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn :“Tố chất sức mạnh có thể phânthành sức mạnh tuyệt đối, sức mạnh tương đối, sức mạnh tốc độ, sức mạnh bền”.trong đó:

- Sức mạnh tuyệt đối là năng lực khắc phục lực cản lớn nhất

- Sức mạnh tương đối là sức mạnh tuyệt đối của vận động viên trên 1 kg thểtrọng của họ

- Sức mạnh tốc độ là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh

- Sức mạnh bền là năng lực khắc phục lực cản nhỏ trong thời gian dài.Bên cạnh đó, ở nhiều trường hợp còn gặp một dạng sức mạnh rất quan trọngđược gọi là “sức mạnh bột phát”: Dạng sức mạnh này xuất hiện và giữ vai trò quantrọng trong các môn có hoạt động bật nhảy, được tính theo công thức

max

max

F I

T

Trong đó I là chỉ số đánh giá sức mạnh, tốc độ hay sức mạnh bột phát, Fmax

là lúc sức mạnh tối đa, Tmax là thời gian để đạt sức mạnh tối đa

Nhảy cao là nội dung nằm trong hệ thống các môn không có chu kỳ, gồmnhiều động tác liên kết lại với nhau, thành một kỹ thuật hoàn chỉnh, người tachia thành 4 giai đoạn: chạy đà, giậm nhảy, tư thế bay trên không và tiếp đất.Trong bốn yếu tố đó, yếu tố giậm nhảy có ảnh hưởng nhiều nhất tới việc hìnhthành kỹ thuật động tác và quyết định thành tích ở môn này Nhưng khâu giậmnhảy lại có quan hệ rất lớn với tốc độ chạy đà, thời gian chống đỡ khi giậmnhảy, góc độ giậm nhảy… Như vậy, có thể thấy sức mạnh trong nhảy cao làdạng sức mạnh hỗn hợp, mà ta có thể phân ra một cách tương đối, gắn liền vớiquá trình thực hiện kỹ thuật bao gồm:

- Sức mạnh tốc độ: Dạng sức mạnh này thể hiện trong động tác chạy đà.

- Sức mạnh bột phát: Dạng sức mạnh thể hiện trong động tác giậm nhảy

(sức bật)

Theo “Tính chu kỳ trong huấn luyện thể thao” hầu hết các môn thể thao đềucần sức mạnh, những tố chất sức mạnh cần thiết cho từng môn thể thao khácnhau gọi là sức mạnh đặc thù của môn nào đó Sức mạnh tối đa đóng vai tròquan trọng nếu không nói là quyết định trong việc tạo ra sức mạnh đặc thù củamôn thể thao

5 Yếu tố quyết định đến độ cao một lần nhảy.

Để người tập có được một thành tích tốt khi thực hiện các kỹ thuật nhảy cao thìngoài các yếu tố chủ quan như là chiều cao, thể lực tốt thì ta cần phải quan tâmchú ý đến việc giáo dục các tố chất vận động cho họ Đặc biệt là sức mạnh tốc

Trang 9

độ của chân để phục vụ cho giai đoạn dậm nhảy được tốt, phải lựa chọn áp dụngcác bào tập có lượng vận động tác động lớn đến cơ thể, ưu tiên đến sự phát triểncác nhóm cơ ở chân để cho người tập có được một sức bật tốt nhất trong nhảycao nói riêng và các môn thể thao khác nói chung.

Tóm lại những vấn đề lý luận, sinh lý cũng như các yếu tố quyết định

thành tích nhảy cao nêu trên là cơ sở ban đầu để xác định hướng tác động, lựa

chọn áp dụng các bài tập có cường độ hợp lý, với các đặc điểm của người tập

cũng như tính ưu việt của chúng trong việc phát triển các tố chất thể lực chuyên

môn (sức mạnh tốc độ) cho học sinh tham gia tập luyện và thi đấu môn nhảycao

2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:

* Thuận lợi :

Được sự quan tâm chỉ đạo của nhà trường các tác tổ chức trong và ngoàinhà trường và đội ngũ cán bộ giáo viên tâm huyết với nghề Đa số học sinh đềuchăm ngoan, tham gia nhiệt tình các phong trào TDTT Hằng năm trang thiết bịphục vụ cho giảng dạy và học tập không ngừng đầu tư mua sắm, hiện nay có 1sân bóng chuyền, 1 hố nhảy, xà đệm nhảy cao

* Khó khăn:

Bên cạnh những thuận lời trên thì trong quá trình giảng dạy còn có một sốkhó khăn như học sinh đa số là con em các dân tộc nên việc tập luyện TDTT rấtkhó khăn, hoàn cảnh gia đình còn khó khắn nên các em còn khó khăn khi thamgia hoạt động TDTT

* Thành công:

Trong nhiều năm qua tình hình TDTT nói chung và môn thể dục nói riêngtại Trường PTDT Nội Trú THCS Krông Ana đã có nhiều chuyển biến tích cựcnhư thể trạng và thể lực của học sinh đã được nâng cao rõ rệt góp phần vào giáodục toàn diện của nhà trường Hằng năm số lượng học sinh giỏi và đạt huychương các loại tại HKPĐ cấp huyện và cấp tỉnh không ngừng được nâng cao.Đồng thời việc áp dụng các bài tập vào giảng dạy cũng gớp phần tạo hứng thú,tích cực học tập giờ TDTT được nâng cao

Trang 10

* Mặt yếu:

Trong quá trình áp dụng đề tài: “Ứng dụng một số bài tập nhằm nâng caothành tích nhảy cao kiểu bước qua Cho hoc sinh lớp 9 Trường PTDT Nội TrúTHCS Krông Ana “ đã đạt được một số thành công những để tạo đồng bộ chotoàn thể bộ môn thể dục cần một quá trình nghiên cứu sâu rộng

3 Nội dung và cách thức của giải pháp:

a Mục tiêu của giải pháp:

“Một số bài tập nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểu “bước qua” chohọc sinh lớp 9 Trường PTDT Nội Trú THCS Krông Ana ” Từ yêu cầu đó tôi đãtiến hành khảo sát để thống kê thực trạng học tập ở môn nhảy cao kiểu “ bướcqua” để từ đó giải quyết các nhiệm vụ của nghiên cứu như sau:

Bảng 3.1 Kết quả học tập môn nhảy cao kiểu “bước qua” của nam học sinh lớp 9 Trường PTDT Nội Trú THCS Huyện Krông An ở 3 năm 2014– 2015; 2015 – 2016; 2016-2017.

Năm học Tổng số Giỏi Khá

Đạt yêu cầu

Chưa đạt yêu cầu

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp.

Xác định các chỉ số biểu thị trình độ, sức mạnh tốc độ của nam học sinh Trường PTDT Nội Trú THCS Huyện Krông Ana

Để đánh giá kết quả học tập môn nhảy cao kiểu “bước qua” của năm họcsinh lớp 9, vấn đề đầu tiên đặt ra trước nhà sư phạm là phải có các chỉ tiêu đánhgiá Để giải quyết vấn đề trên, chúng tôi tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Thu thập, thống kê các chỉ tiêu đã được sử dụng để đánh giá

thành tích môn nhảy cao kiểu “bước qua” của học sinh trong các tư liệu nghiêncứu của nhà khoa học trong nước hiện có

Bước 2: Dùng phiếu phỏng vấn để lấy ý kiến của các giảng viên, huấn

luyện viên, các nhà chuyên môn, qua đó để tuyển chọn những chỉ tiêu có giá trị

sử dụng cao và có tính khả thi trong thực tiễn

Ngày đăng: 18/10/2020, 21:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG: 3.5. SO SÁNH THÀNH TÍCH CHẠY 40M XUẤT PHÁT CAO HAI NHÓM TRƯỚC VÀ SAU THỰC NGHIỆM - biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Một số bài tập bổ trợ  nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểu “bước qua” cho học sinh lớp 9 trường PTDT nội trú THCS huyện krông ana
3.5. SO SÁNH THÀNH TÍCH CHẠY 40M XUẤT PHÁT CAO HAI NHÓM TRƯỚC VÀ SAU THỰC NGHIỆM (Trang 15)
T(tính) = 3,55> T(bảng) = 2,878 (P < 1%) - biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Một số bài tập bổ trợ  nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểu “bước qua” cho học sinh lớp 9 trường PTDT nội trú THCS huyện krông ana
t ính) = 3,55> T(bảng) = 2,878 (P < 1%) (Trang 17)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w