1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Hướng dẫn học sinh khai thác và phát triển một số bài tập hình học

26 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài : Toán học là một bộ môn khoa học tự nhiên mang tính logíc, tính trừu tượng cao. Đặc biệt là với hình học nó giúp cho học sinh khả năng tính toán, suy luận logíc và phát triển tư duy sáng tạo. Việc bồi dưỡng học sinh học toán không đơn thuần chỉ cung cấp cho các em một số kiến thức cơ bản thông qua việc làm bài tập hoặc làm càng nhiều bài tập khó, hay mà giáo viên phải biết rèn luyện khả năng và thói quen suy nghĩ tìm tòi lời giải của một bài toán trên cơ sở các kiến thức đã học. Qua nhiều năm công tác và giảng dạy Toán 7 ở trường THCS Buôn Trấp chúng tôi nhận thấy việc học toán nói chung và bồi dưỡng học sinh năng lực học toán nói riêng, muốn học sinh rèn luyện được tư duy sáng tạo trong việc học và giải toán thì việc cần làm ở mỗi người thầy, đó là giúp học sinh khai thác đề bài toán để từ một bài toán ta chỉ cần thêm bớt một số giả thiết hay kết luận ta sẽ có được bài toán mới phong phú hơn, vận dụng được nhiều kiến thức đã học nhằm phát huy nội lực trong giải toán nói riêng và học toán nói chung. Vì vậy tôi ra sức tìm tòi, giải và chắt lọc hệ thống lại một số các bài tập mà ta có thể khai thác được đề bài để học sinh có thể lĩnh hội được nhiều kiến thức trong cùng một bài toán. Với mong muốn được góp một phần công sức nhỏ nhoi của mình trong việc bồi dưỡng năng lực học toán cho học sinh hiện nay và cũng nhằm rèn luyện khả năng sáng tạo trong học toán cho học sinh để các em có thể tự phát huy năng lực độc lập sáng tạo của mình, nhằm góp phần vào công tác chăm lo bồi dưỡng đội ngũ học sinh giỏi toán của ngành giáo dục Krông Ana ngày một khả quan hơn. Chúng tôi xin cung cấp và trao đổi cùng đồng nghiệp đề tài kinh nghiệm: “Hướng dẫn học sinh khai thác và phát triển một số bài tập hình học trong Sách giáo khoa Toán 7”. Đề tài này ta có thể bồi dưỡng năng lực học toán cho học sinh và cũng có thể dùng nó trong việc dạy chủ đề tự chọn toán 7 trong trường THCS hiện nay. Mong quý đồng nghiệp cùng tham khảo và góp ý. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Đây là đề tài rộng và ẩn chứa nhiều thú vị bất ngờ thể hiện rõ vẻ đẹp của môn Hình học và đặc biệt nó giúp phát triển rất nhiều tư duy của học sinh, nếu vấn đề này tiếp tục được khai thác hàng năm và được sự quan tâm góp ý của các thầy cô thì chắc hẳn nó sẽ là kinh nghiệm quý dành cho việc dạy học sinh khá giỏi.Vì đây là đề tài rộng nên trong kinh nghiệm này chỉ trình bày một vài chủ đề của môn Hình lớp 7, chủ yếu là phần đường tròn do chương này gần gũi với học sinh và xuất hiện nhiều trong các kỳ thi. Chỉ có thể thấy được sự thú vị của những bài toán này trong thực tế giảng dạy, những bài toán cơ bản nhưng cũng có thể làm cho một số học sinh khá lúng túng do chưa nắm phương pháp giải dạng toán này. Khi đi sâu tìm tòi những bài toán cơ bản ấy không những học sinh nắm sâu kiến thức mà còn tìm được vẻ đẹp của môn Toán nói chung và phần Hình học nói riêng. Vẻ đẹp đó được thể hiện qua những cách giải khác nhau, những cách kẻ đường phụ, những ý tưởng mà chỉ có thể ở phần Hình học mới có, làm được như vậy học sinh sẽ yêu thích môn Toán hơn. Đó là mục đích của bất kì giáo viên dạy ở môn nào cũng cần khêu gợi được niềm vui, sự yêu thích và niềm đam mê của học sinh ở môn học đó. Nhưng mục đích lớn nhất trong việc dạy học là phát triển tư duy của học sinh và hình thành nhân cách cho học sinh. Qua mỗi bài toán học sinh có sự nhìn nhận đánh giá chính xác, sáng tạo và tự tin qua việc giải bài tập Hình đó là phẩm chất của con người mới. 3. Đối tượng nghiên cứu Một số bài tập hình học trong Sách giáo khoa Toán 7 (tập 1,2). 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu học sinh trường THCS Buôn Trấp, chủ yếu là học sinh khối 7 và tài liệu bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi các cấp qua nhiều năm học. Thời gian thực hiện trong các năm học 2015 2018. 5. Phương pháp nghiên cứu 5.1. Nhóm ph¬¬ương pháp nghiên cứu lý luận Nhóm phư¬¬ơng pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài. Thuộc nhóm phư¬¬ơng pháp nghiên cứu lý luận, có các ph¬¬ương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây: Phư¬¬ơng pháp phân tích tổng hợp tài liệu. Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập. 5.2. Nhóm ph¬¬ương pháp nghiên cứu thực tiễn Nhóm phư¬¬ơng pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm ph¬¬ương pháp nghiên cứu thực tiễn có các ph¬ương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây. Ph¬¬ương pháp điều tra. Ph¬¬ương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục. Phư¬¬ơng pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động. Ph¬¬ương pháp lấy ý kiến chuyên gia. 5.3. Ph¬¬ương pháp thống kê toán học Sử dụng các công thức thống kê và các phần mềm để xử lý số liệu thu được. II. PHẦN NỘI DUNG 1.Cơ sở lí luận Qua việc giảng dạy thực tế nhiều năm ở THCS chúng tôi thấy hiện nay đa số học sinh sợ học phần Hình học. Tìm hiểu nguyên nhân tôi thấy có rất nhiều học sinh chưa thực sự hứng thú học tập bộ môn này vì chưa có phương pháp học tập phù hợp với đặc thù bộ môn, sự hứng thú với phần Hình học là hầu như ít có. Có nhiều nguyên nhân, trong đó ta có thể xem xét những nguyên nhân cơ bản sau: Đặc thù của bộ môn Hình học là mọi suy luận đều có căn cứ, để có kĩ năng này học sinh không chỉ phải nắm vững các kiến thức cơ bản mà còn phải có kĩ năng trình bày suy luận một cách logic. Kĩ năng này đối với học sinh là tương đối khó, đặc biệt là học sinh lớp 7 các em mới được làm quen với chứng minh Hình học. Các em đang bắt đầu tập dượt suy luận có căn cứ và trình bày chứng minh Hình học hoàn chỉnh. Đứng trước một bài toán hình học học sinh thường không biết bắt đầu từ đâu, trình bày chứng minh như thế nào. Trong quá trình dạy toán nhiều giáo viên còn xem nhẹ hoặc chưa chú trọng việc nâng cao, mở rộng, phát triển các bài toán đơn giản ở SGK hoặc chưa đầu tư vào lĩnh vực này, vì thế chưa tạo được hứng thú cho học sinh qua việc phát triển vấn đề mới từ bài toán cơ bản. Việc đưa ra một bài toán hoặc phát triển một bài toán cho phù hợp với từng đối tượng học sinh để có kết quả giáo dục tốt còn hiều hạn chế. Học sinh THCS nói chung chưa có năng lực giải các bài toán khó, nhưng nếu được giáo viên định hướng về phương pháp hoặc kiến thức vận dụng, hoặc gợi ý về phạm vi tìm kiếm thì các em có thể giải quyết được vấn đề. Ngay cả với học sinh khá giỏi cũng còn e ngại với phân môn Hình học do thiếu sự tự tin và niềm đam mê. 2. Thực trạng Trong hoạt động dạy và học Toán nói chung, đối với bộ môn hình học nói riêng thì vấn đề khai thác, nhìn nhận một bài toán cơ bản dưới nhiều góc độ khác nhau nhiều khi cho ta những kết quả khá thú vị. Ta biết rằng ở trường phổ thông, việc dạy toán học cho học sinh thực chất là việc dạy các hoạt động toán học cho họ. Cụ thể như khi truyền thụ cho học sinh một đơn vị kiến thức thì ngoài việc cho học sinh tiếp cận, nắm vững đơn vị kiến thức đó thì một việc không kém phần quan trọng là vận dụng đơn vị kiến thức đã học vào các hoạt động toán học. Đây là một hoạt động mà theo tôi, thông qua đó dạy cho học sinh phương pháp tự học Một nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên đứng lớp . Xuất phát từ quan điểm trên, vấn đề khai thác và cùng học sinh khai thác một bài toán cơ bản trong sách giáo khoa để từ đó xây dựng được một hệ thống bài tập từ cơ bản đến nâng cao đến bài toán khó là một hoạt động không thể thiếu đối với người giáo viên. Từ những bài toán chuẩn kiến thức, giáo viên không dừng ở việc giải toán. Việc khai thác một số bài toán hình học cơ bản trong SGK không những gớp phần rèn luyện tư duy cho HS khá giỏi mà còn tạo chất lượng, phù hợp với giờ học, gây hứng thú cho HS ở nhiều đối tượng khác nhau. + Để giải quyết vấn đề trên trong quá trình giảng dạy cần chú trong các bài toán ở SGK. Biết phát triển các bài toán đơn giản đã gặp để tăng vốn kinh nghiệm vừa phát triển năng lực tư duy toán học, vừa có điều kiện tăng khả năng nhìn nhận vấn đề mới từ cái đơn giản và từ đó hình thành phẩm chất sáng tạo khi giải toán sau này. + Việc phát triển một bài toán phù hợp với từng đối tượng học sinh là rất cần thiết và quan trọng, nó vừa đảm bảo tính vừa sức và là giải pháp có hiệu quả cao trong việc giải toán vì nó không tạo cho học sinh sự nhụt chí mà là động lực thúc đẩy giúp cho học sinh có sự tự tin trong quá trình học tập, bên cạnh đó còn hình thành cho các em sự yêu thích và đam mê bộ môn hơn. Các em phải được tập suy luận từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Phát huy được khả năng sáng tạo, phát triển khả năng tự học, hình thành cho học sinh tư duy tích cực ,độc lập và kích thích tò mò ham tìm hiểu đem lại niềm vui cho các em. +) Các nguyên nhân, các yếu tố tác động ) Học sinh không giải được: Học sinh chưa biết liên hệ giữa kiến thức cơ bản và kiến thức nâng cao. Chưa có tính sáng tạo trong giải toán và khả năng vận dụng kiến thức chưa linh hoạt. ) Học sinh giải được: Trình bày lời giải chưa chặt chẽ, mất nhiều thời gian. Chưa sáng tạo trong vận dụng kiến thức. Số học sinh tự học tập thêm kiến thức, tham khảo tài liệu,…để nâng cao kiến thức chưa nhiều, nên khả năng học môn Toán giữa các em trong lớp học không đồng đều. Bên cạnh đó một bộ phận không nhỏ học sinh còn yếu trong kỹ năng phân tích và vận dụng … Một số bộ phận phụ huynh học sinh không thể hướng dẫn con em mình giải các bài toán hình. Vì vậy chất lượng làm bài tập ở nhà còn thấp. 3. Nội dung và hình thức của giải pháp: a. Mục tiêu của giải pháp: Tìm tòi, tích lũy các đề toán ở nhiều dạng trên cơ sở vận dụng được các kiến thức cơ bản đã học. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài. Giải hoặc hướng dẫn học sinh cách giải. Khai thác bài toán và giúp học sinh hướng giải bài toán đã được khai thác Trang bị cho các em các dạng toán cơ bản, thường gặp. Đưa ra các bài tập tương tự, bài tập nâng cao. Kỹ năng nhận dạng và đề ra phương pháp giải thích hợp trong từng trường hợp cụ thể. Giúp học sinh có tư duy linh hoạt và sáng tạo. Kiểm tra, đánh giá mức độ nhận thức của học sinh thông qua các bài kiểm tra. Qua đó kịp thời điều chỉnh về nội dung và phương pháp giảng dạy. Tạo hứng thú, đam mê, yêu thích các dạng toán hình học, thông qua các bài toán có tính tư duy. b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp Từ bài toán sách giáo khoa toán 7 (Bài 65

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẮK LẮK PHÒNG GD & ĐT KRÔNG ANA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHAI THÁC

VÀ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ BÀI TẬP HÌNH HỌC TRONG SÁCH GIÁO

KHOA TOÁN 7

Trang 2

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài :

- Toán học là một bộ môn khoa học tự nhiên mang tính logíc, tính trừutượng cao Đặc biệt là với hình học nó giúp cho học sinh khả năng tính toán, suyluận logíc và phát triển tư duy sáng tạo Việc bồi dưỡng học sinh học toán khôngđơn thuần chỉ cung cấp cho các em một số kiến thức cơ bản thông qua việc làmbài tập hoặc làm càng nhiều bài tập khó, hay mà giáo viên phải biết rèn luyện khảnăng và thói quen suy nghĩ tìm tòi lời giải của một bài toán trên cơ sở các kiếnthức đã học

- Qua nhiều năm công tác và giảng dạy Toán 7 ở trường THCS Buôn Trấpchúng tôi nhận thấy việc học toán nói chung và bồi dưỡng học sinh năng lực họctoán nói riêng, muốn học sinh rèn luyện được tư duy sáng tạo trong việc học vàgiải toán thì việc cần làm ở mỗi người thầy, đó là giúp học sinh khai thác đề bàitoán để từ một bài toán ta chỉ cần thêm bớt một số giả thiết hay kết luận ta sẽ cóđược bài toán mới phong phú hơn, vận dụng được nhiều kiến thức đã học nhằmphát huy nội lực trong giải toán nói riêng và học toán nói chung Vì vậy tôi ra sứctìm tòi, giải và chắt lọc hệ thống lại một số các bài tập mà ta có thể khai thác được

đề bài để học sinh có thể lĩnh hội được nhiều kiến thức trong cùng một bài toán

- Với mong muốn được góp một phần công sức nhỏ nhoi của mình trongviệc bồi dưỡng năng lực học toán cho học sinh hiện nay và cũng nhằm rèn luyệnkhả năng sáng tạo trong học toán cho học sinh để các em có thể tự phát huy nănglực độc lập sáng tạo của mình, nhằm góp phần vào công tác chăm lo bồi dưỡngđội ngũ học sinh giỏi toán của ngành giáo dục Krông Ana ngày một khả quan hơn.Chúng tôi xin cung cấp và trao đổi cùng đồng nghiệp đề tài kinh nghiệm: “Hướng

dẫn học sinh khai thác và phát triển một số bài tập hình học trong Sách giáo khoa Toán 7” Đề tài này ta có thể bồi dưỡng năng lực học toán cho học sinh và

cũng có thể dùng nó trong việc dạy chủ đề tự chọn toán 7 trong trường THCS hiện

nay Mong quý đồng nghiệp cùng tham khảo và góp ý

Trang 3

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Đây là đề tài rộng và ẩn chứa nhiều thú vị bất ngờ thể hiện rõ vẻ đẹp củamôn Hình học và đặc biệt nó giúp phát triển rất nhiều tư duy của học sinh, nếu vấn

đề này tiếp tục được khai thác hàng năm và được sự quan tâm góp ý của các thầy

cô thì chắc hẳn nó sẽ là kinh nghiệm quý dành cho việc dạy học sinh khá giỏi.Vìđây là đề tài rộng nên trong kinh nghiệm này chỉ trình bày một vài chủ đề của mônHình lớp 7, chủ yếu là phần đường tròn do chương này gần gũi với học sinh vàxuất hiện nhiều trong các kỳ thi Chỉ có thể thấy được sự thú vị của những bài toánnày trong thực tế giảng dạy, những bài toán cơ bản nhưng cũng có thể làm chomột số học sinh khá lúng túng do chưa nắm phương pháp giải dạng toán này Khi

đi sâu tìm tòi những bài toán cơ bản ấy không những học sinh nắm sâu kiến thức

mà còn tìm được vẻ đẹp của môn Toán nói chung và phần Hình học nói riêng Vẻđẹp đó được thể hiện qua những cách giải khác nhau, những cách kẻ đường phụ,những ý tưởng mà chỉ có thể ở phần Hình học mới có, làm được như vậy học sinh

sẽ yêu thích môn Toán hơn Đó là mục đích của bất kì giáo viên dạy ở môn nàocũng cần khêu gợi được niềm vui, sự yêu thích và niềm đam mê của học sinh ởmôn học đó Nhưng mục đích lớn nhất trong việc dạy học là phát triển tư duy củahọc sinh và hình thành nhân cách cho học sinh Qua mỗi bài toán học sinh có sựnhìn nhận đánh giá chính xác, sáng tạo và tự tin qua việc giải bài tập Hình đó làphẩm chất của con người mới

3 Đối tượng nghiên cứu

Một số bài tập hình học trong Sách giáo khoa Toán 7 (tập 1,2)

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu.

Phạm vi nghiên cứu học sinh trường THCS Buôn Trấp, chủ yếu là học sinhkhối 7 và tài liệu bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi các cấp qua nhiều năm học

Thời gian thực hiện trong các năm học 2015 - 2018

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 4

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ

sở lý luận của đề tài Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận, có các ương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu.

- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập.

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng

cơ sở thực tiễn của đề tài Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn có cácphương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây

- Phương pháp điều tra.

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục.

- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động.

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.

5.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng các công thức thống kê và các phần mềm để xử lý số liệu thuđược

II PHẦN NỘI DUNG 1.Cơ sở lí luận

Qua việc giảng dạy thực tế nhiều năm ở THCS chúng tôi thấy hiện nay đa

số học sinh sợ học phần Hình học Tìm hiểu nguyên nhân tôi thấy có rất nhiều họcsinh chưa thực sự hứng thú học tập bộ môn này vì chưa có phương pháp học tậpphù hợp với đặc thù bộ môn, sự hứng thú với phần Hình học là hầu như ít có Cónhiều nguyên nhân, trong đó ta có thể xem xét những nguyên nhân cơ bản sau:

Trang 5

- Đặc thù của bộ môn Hình học là mọi suy luận đều có căn cứ, để có kĩnăng này học sinh không chỉ phải nắm vững các kiến thức cơ bản mà còn phải có

kĩ năng trình bày suy luận một cách logic Kĩ năng này đối với học sinh là tươngđối khó, đặc biệt là học sinh lớp 7 các em mới được làm quen với chứng minhHình học Các em đang bắt đầu tập dượt suy luận có căn cứ và trình bày chứngminh Hình học hoàn chỉnh Đứng trước một bài toán hình học học sinh thườngkhông biết bắt đầu từ đâu, trình bày chứng minh như thế nào

- Trong quá trình dạy toán nhiều giáo viên còn xem nhẹ hoặc chưa chútrọng việc nâng cao, mở rộng, phát triển các bài toán đơn giản ở SGK hoặc chưađầu tư vào lĩnh vực này, vì thế chưa tạo được hứng thú cho học sinh qua việc pháttriển vấn đề mới từ bài toán cơ bản

- Việc đưa ra một bài toán hoặc phát triển một bài toán cho phù hợp vớitừng đối tượng học sinh để có kết quả giáo dục tốt còn hiều hạn chế

- Học sinh THCS nói chung chưa có năng lực giải các bài toán khó, nhưngnếu được giáo viên định hướng về phương pháp hoặc kiến thức vận dụng, hoặcgợi ý về phạm vi tìm kiếm thì các em có thể giải quyết được vấn đề

- Ngay cả với học sinh khá giỏi cũng còn e ngại với phân môn Hình học dothiếu sự tự tin và niềm đam mê

2 Thực trạng

Trong hoạt động dạy và học Toán nói chung, đối với bộ mônhình học nói riêng thì vấn đề khai thác, nhìn nhận một bài toán cơbản dưới nhiều góc độ khác nhau nhiều khi cho ta những kết quảkhá thú vị Ta biết rằng ở trường phổ thông, việc dạy toán họccho học sinh thực chất là việc dạy các hoạt động toán học cho

họ Cụ thể như khi truyền thụ cho học sinh một đơn vị kiến thứcthì ngoài việc cho học sinh tiếp cận, nắm vững đơn vị kiến thức

đó thì một việc không kém phần quan trọng là vận dụng đơn vị

Trang 6

động mà theo tôi, thông qua đó dạy cho học sinh phương pháp tựhọc - Một nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên đứng lớp Xuất phát từ quan điểm trên, vấn đề khai thác và cùng học sinhkhai thác một bài toán cơ bản trong sách giáo khoa để từ đó xâydựng được một hệ thống bài tập từ cơ bản đến nâng cao đến bàitoán khó là một hoạt động không thể thiếu đối với người giáoviên Từ những bài toán chuẩn kiến thức, giáo viên không dừng ởviệc giải toán Việc khai thác một số bài toán hình học cơ bảntrong SGK không những gớp phần rèn luyện tư duy cho HS khágiỏi mà còn tạo chất lượng, phù hợp với giờ học, gây hứng thúcho HS ở nhiều đối tượng khác nhau.

+ Để giải quyết vấn đề trên trong quá trình giảng dạy cần chú trong các bàitoán ở SGK Biết phát triển các bài toán đơn giản đã gặp để tăng vốn kinh nghiệmvừa phát triển năng lực tư duy toán học, vừa có điều kiện tăng khả năng nhìn nhậnvấn đề mới từ cái đơn giản và từ đó hình thành phẩm chất sáng tạo khi giải toánsau này

+ Việc phát triển một bài toán phù hợp với từng đối tượng học sinh là rấtcần thiết và quan trọng, nó vừa đảm bảo tính vừa sức và là giải pháp có hiệu quảcao trong việc giải toán vì nó không tạo cho học sinh sự nhụt chí mà là động lựcthúc đẩy giúp cho học sinh có sự tự tin trong quá trình học tập, bên cạnh đó cònhình thành cho các em sự yêu thích và đam mê bộ môn hơn

- Các em phải được tập suy luận từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

- Phát huy được khả năng sáng tạo, phát triển khả năng tự học, hình thànhcho học sinh tư duy tích cực ,độc lập và kích thích tò mò ham tìm hiểu đem lạiniềm vui cho các em

+) Các nguyên nhân, các yếu tố tác động

*) Học sinh không giải được:

Trang 7

- Học sinh chưa biết liên hệ giữa kiến thức cơ bản và kiến thức nâng cao.

- Chưa có tính sáng tạo trong giải toán và khả năng vận dụng kiến thức chưa

linh hoạt

*) Học sinh giải được:

- Trình bày lời giải chưa chặt chẽ, mất nhiều thời gian.

- Chưa sáng tạo trong vận dụng kiến thức

Số học sinh tự học tập thêm kiến thức, tham khảo tài liệu,…để nâng caokiến thức chưa nhiều, nên khả năng học môn Toán giữa các em trong lớp họckhông đồng đều Bên cạnh đó một bộ phận không nhỏ học sinh còn yếu trong kỹnăng phân tích và vận dụng …

Một số bộ phận phụ huynh học sinh không thể hướng dẫn con em mình giảicác bài toán hình Vì vậy chất lượng làm bài tập ở nhà còn thấp

3 Nội dung và hình thức của giải pháp:

a Mục tiêu của giải pháp:

- Tìm tòi, tích lũy các đề toán ở nhiều dạng trên cơ sở vận dụng được cáckiến thức cơ bản đã học

- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài

- Giải hoặc hướng dẫn học sinh cách giải

- Khai thác bài toán và giúp học sinh hướng giải bài toán đã được khai thác

- Trang bị cho các em các dạng toán cơ bản, thường gặp

Trang 8

Cho ABC cân tại A( A 90 0 )

- Đưa ra các bài tập tương tự, bài tập nâng cao

- Kỹ năng nhận dạng và đề ra phương pháp giải thích hợp trong từngtrường hợp cụ thể Giúp học sinh có tư duy linh hoạt và sáng tạo

- Kiểm tra, đánh giá mức độ nhận thức của học sinh thông qua các bài kiểmtra Qua đó kịp thời điều chỉnh về nội dung và phương pháp giảng dạy

- Tạo hứng thú, đam mê, yêu thích các dạng toán hình học, thông qua cácbài toán có tính tư duy

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp

- Từ bài toán sách giáo khoa toán 7 (Bài 65- trang 137_SGK_Toán 7_tập1_NXB giáo dục 2003)

Bài toán 1:

Cho ABC cân tại A(  0

A 90 ), Vẽ BHAC H( AC), CKAB K( AB) 1.1 Chứng min rằng AH = AK

1.2 Gọi I là giao điểm của BH và CK Chứng minh rằng AI là tia phân giác

của A

Giải:

Phân tích bài toán 1:

- Để chứng minh hai đoạn thẳng bằng nhau hay hai góc bằng nhau, thôngthường ta phải ghép vào hai tam giác chứa hai đoạn thẳng hoặc hai goác đó bằngnhau (Tuy nhiên còn nhiều cách khác) Vậy để chứng minh AH = AK ta phảichứng minh hai tam giác nào bằng nhau?

GT

KL

Trang 9

- Hai tam giác đó bằng nhau theo trường hợp nào?

- Giả thiết đã cho ta được gì rồi? Có thể chứng minh hai đoạn thẳng đó bằngnhau trực tiếp không? Hay phải thông qua các yếu tố trung gian nào?

- Bằng các câu hỏi gợi mở, giáo viên để học sinh thảo luận rồi đưa ra phương

án chứng minh riêng của học sinh

- Giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh theo một trong hai sơ đồ sau:

BC chung; KBC  HCB (ABC cân)

- Tương tự như trên giáo viên nêu hệ thống câu hỏi gợi mở giúp học sinh tìm

ra được lời giải câu 1.2 theo một trong các sơ đồ sau:

Trang 10

AK = AH (c/m ở câu a) ; AI chung +  1

1

C

B (KCBHBC) + AB = AC (ABC cân) + AI cạnh chung

- Theo câu 1.1, ta đã chứng minh được AK =AH, cho ta biết điều gì?

- ABCcân tại A, ta tính số đo góc B như thế nào?

- Hai góc B và K ở vị trí nào? Nhận xét gì về vị trí

của hai cạnh KH và BC ?

Bài toán 1.3 Chứng minh rằng: KH // BC

- AKHlà tam giác cân tại A Do đó học sinh chỉ ra

được

  1800 BACAKH AHK

2(2)

- Từ (1) và (2) suy ra: AKH ABC  , mà hai góc này ở vị trí đồng vị, điều này giúp học sinh chứng minh được: KH // BC

- Nhận xét gì về vị trí tương đối của hai cạnh AI và BC? Ta có bài toán sau:

Bài toán 1.4 Chứng minh rằng: AI vuông góc với BC.

Ở bài toán A (hình 2), ABCcân tại A AB = AC

Học sinh đã chứng minh được A 1  A 2 , có thêm AN là cạnh chung, nên suy ra:

ABNACN c g c( ) N 1  N 2mà N 1  N 2  1800 (kề bù)

 

0 0

Trang 11

Vì học sinh đã chứng minh được KH // BC ( bài toán 3) mà bài toán 2 lại chứng minh được AIBC, nên ta có AIKH

Từ đó giúp học sinh dễ dàng chứng minh được bài toán sau:

Bài toán 1.5 Chứng minh rằng: AIKH

Như đã chứng minh ở bài toán 2 (hình 2): ABNACN c g c( )  BNNC

N là trung điểm của BC:

Từ đó giúp học sinh tìm được lời giải cho bài toán

sau:

Bài toán 1.6 Chứng minh rằng: AI đi qua trung

điểm của BC

Bài toán khác tương tự:

Bài toán 1.7 Chứng minh rằng: AI đi qua trung điểm của KH.

Tổng hợp các bài toán trên (hình 3), học sinh chứng minh được các bài toán tương tự sau:

Bài toán 1.7 Chứng minh rằng: AI vừa là đường

phân giác, vừa là đường cao, vừa là đường trung tuyến,

đường trung trực của ∆ABC

- Với giả thiết của bài toán (hình 4), học sinh đã

chứng minh được AIKH tại D

Mà A 2H 1 (cùng phụ AHD), Mà A 1A 2  A 1 H 1 hay BAI KHB 

 Đến đây học sinh sẽ định hướng cần phải làm gì khi bắt gặp bài toán sau:

Bài toán 1.8 Chứng minh rằng BAI KHB 

 Sau khi chứng minh xong bài toán 7, thì BAIcòn bằng góc nào nữa trong hình vẽtrên

Trang 12

Từ đó ta có bài toán sau:

Bài toán 1.9 Chứng minh rằng BAI HBC 

cmt slt

cmt

cmt

 Để chứng minh được bài 9, thì chúng ta cần phải kẻ thêm đường phụ nào?

- Đây là một bài toán tương đối khó đối với học sinh lớp 7 Tuy nhiên bài toán này có nhiều cách chứng minh khác nhau, nhưng để chứng minh được đòi hỏihọc sinh cần phải linh động vẽ thêm đường phụ

- Nếu ta đảo lại một số dữ kiện ở giả thiết của bài toán ban đầu thì ta sẽ có thêm các bài toán khác nữa Củ thê như sau:

Bài toán 1.11 Cho ∆ABC cân tại A ( 

0

A 90 ), vẽ đường cao BH (HAC) Trên canh AB lấy điểm K sao cho AK = AH Chứng minh rằng:

Trang 13

+ Chứng minh AKB 90  0; dự đoán xem AKB có thể bằng góc nào trong hình vẽ?

+ Chứng minh: AHBAKC; AHC 90  0(gt)  AKB 90  0 (đpcm)

Bài toán 1.12: Cho ∆ABC cân tại A (  0

A 90 ), Một điểm I nằm trong tam giác sao cho IB = IC Chứng minh rằng:

IB IC gt

AB AC gt AI là đường trung trực của đoạnthẳng AB

- Xét ∆ABC cân tại A  (dpcm)

- Nếu ta thay giả thiết A 90 0thì bài toán có chứng minh được hay không? Sựthay đổi đó có cần phải phân chia các trường hợp hay không?

+) Ở các bài toán 1,2,3,4,5,6,8,9,10 nếu thay đổi Athì bài toán không ảnh hưởng, vẫn chứng minh bình thường

+) Đối với bài toán 7 thì có ảnh hưởng Vì khi A 90 0

thì BAI; KHB  bù nhau

- Từ đó ta có bài toán sau:

Bài toán 1.13 Cho ∆ABC cân tại A (  0

A 90 ), có các

đường cao BH, CK (HAC K, AB)cắt nhau tại I Hãy cho

biết mối quan hệ giữa hai góc BAI và HBC

- Nếu BH, CK là các đường trung tuyến thì ta sẽ có một số bài toán sau:

A I

K H

N

Trang 14

Cho ABC cân tại A( A 90 0 )

AH HC H AC , AKKB K( AB)

C/m: 

1 2

Bài toán 2: Cho ∆ABC cân tại A (  0

A 90 ), có các đường trung tuyến BH, CK

(H AC K, AB) Chứng minh rằng: HK = 2

1

BCGiải:

+ GV đặt câu hỏi: làm thế nào để tạo ra được đoạn thẳng bằng 2HK?

- Ta vẽ trên tia đối của HK điểm D sao cho HD = HK;

K

GT

KL

Ngày đăng: 18/10/2020, 21:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

VÀ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ BÀI TẬP HÌNH HỌC TRONG SÁCH GIÁO KHOA TOÁN 7 - biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Hướng dẫn học sinh khai thác và phát triển một số bài tập hình học
7 (Trang 1)
Các bài tập Hình đều phát triển dựa trên những bài toán cơ bản trong sách giáo khoa và sách bài tập nên mục đích cần hướng đến là học sinh trung bình cần phải làm tốt những bài tập này - biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Hướng dẫn học sinh khai thác và phát triển một số bài tập hình học
c bài tập Hình đều phát triển dựa trên những bài toán cơ bản trong sách giáo khoa và sách bài tập nên mục đích cần hướng đến là học sinh trung bình cần phải làm tốt những bài tập này (Trang 20)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w