1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho người khuyết tật về xã hội: Mô hình và thách thức khi ứng dụng tại Việt Nam

9 96 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 599,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tập trung phân tích thực trạng khuyết tật, khó khăn của người khuyết tật về mặt xã hội, giới thiệu mô hình được đúc kết bởi Tổ chức Y tế Thế giới cũng như bàn luận về thách thức và gợi ý hướng ứng dụng tại Việt Nam.

Trang 1

PHỤC HỒI CHỨC NĂNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VỀ XÃ HỘI:

MÔ HÌNH VÀ THÁCH THỨC KHI ỨNG DỤNG TẠI VIỆT NAM

Lê Thị Nhung * Tóm tắt

Chương trình Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (PHCNDVCĐ) được khởi xướng sau Tuyên bố

Alma-Alta (1978) đang phát triển thành một chiến lược đa ngành của Công ước về Quyền của Người

khuyết tật (NKT)tại gần 90 quốc gia với mục tiêu giải quyết nhu cầu đa dạng của người khuyết tật trên

cơ sở tận dụng tối đa nguồn lực địa phương kết hợp các ngành nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và

tăng cường sự tham gia, hòa nhập xã hội của NKT Quá trình triển khai chương trình PHCNDVCĐ cho

NKT tại Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nhất định, tuy nhiên, còn chưa hài hòa khi tập trung chủ

yếu vào các hoạt động y tế và gần đây là một số hoạt động sinh kế và giáo dục nhưng gần như bỏ ngỏ

nhu cầu xã hội của NKT Dựa trên những nghiên cứu, bài viết tập trung phân tích thực trạng khuyết tật,

khó khăn của NKT về mặt xã hội, giới thiệu mô hình được đúc kết bởi Tổ chức Y tế Thế giới cũng như

bàn luận về thách thức và gợi ý hướng ứng dụng tại Việt Nam

Từ khóa: người khuyết tật, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, Công ước về các Quyền của Người

khuyết tật, mặt xã hội

Abstract

Community-based rehabilitation (CBR) resulting of the Declaration of Alma-Ata (1978) has been

promoted to be a multisectoral strategy for implementation of the Convention on the Rights of Persons

with Disabilities (CRPD) in about 90 countries to solve broader needs of people with disabilities through

rehabilitation services by making optimum use of local resources in collaboration of multi-parties for the

purpose of improving their quality of life, ensuring their participation and promoting inclusion in

society Vietnam has been at one side developing the CBR program with much achievement but in the

other side with certain limitations in unbalancing components Much more effort has been put in medical

care and recently livelihood and education but lesser attention to the social component The writing

comes up with introduction about current context of disability and in particular difficulties of persons

with disability in social aspects, then about the model of CBR guidelines in social component based on

WHO position paper and discussion about how to implement the model in Vietnam

Keywords: Persons with disability, community- based rehabilitation, Convention on the Rights of

Persons with Disabilities, social component.

1 Giới thiệu

Theo báo cáo về Khảo sát Sức khỏe Thế giới

và Gánh nặng Toàn cầu về Bệnh tật

(2002-2004), thì cộng đồng người khuyết tật (NKT)

là cộng đồng lớn nhất (WHO, 1981), với quy

mô lên tới1 tỷ người, chiếm hơn 15,3% dân số

thế giới (WHO, World Bank, 2011: 29), trong

đó 80% NKT sống tại các nước đang phát

triển (United Nations, 2006) Thống kê từ

Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009

(TĐTDS 2009)1

cho thấy Việt Nam có khoảng 6,1 triệu NKT (tương ứng với 7,8 % dân số từ

05 tuổi trở lên), trong đó có 385 nghìn NKTN

* Thạc sĩ, Phòng Khoa học & Hợp tác quốc tế, Trường Đại học Lao động - Xã hội Cơ sở II 1

Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 là cuộc tổng điều tra dân số đầu tiên thu thập thông tin về tình trạng khuyết tật của người dân, sử dụng Khung phân loại Quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (ICF) của Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 2

Với quy mô dân số đã đạt 90,7 triệu người vào

năm 2014 (ASEANStats, 2015), tác giả cho

rằng trên thực tế tỷ lệ người khuyết tật tại Việt

Nam có thể còn cao hơn

Người khuyết tật là một trong những nhóm dễ

bị tổn thương và yếm thế nhất (WHO,

2010:9) NKT gặp nhiều khó khăn cả về kinh

tế và xã hội Tại các nước đang phát triển, 15-

20% NKT đồng thời là người nghèo; trong khi

tại các nước có thu nhập thấp thì NKT là

những người nghèo nhất (Elwan, 1999: 15

-16) Họ cũng thường xuyên bị bệnh tật, phân

biệt đối xử đồng thời bị hạn chế trong việc tiếp

cận các cơ hội chăm sóc y tế, giáo dục và sinh

kế (WHO, 2010:9)

Tại Việt Nam, chương trình PHCNDVCĐ

được giới thiệu lần đầu vào năm 1987 Từ đó

đến nay, PHCNDVCĐ luôn là một trong

những chiến lược quan trọng góp phần giải

quyết những vấn đề liên quan đến khuyết tật

Hàng triệu lượt NKT đã được hỗ trợ để cải

thiện chức năng, nâng cao chất lượng cuộc

sống và hòa nhập xã hội (Bộ Lao động-

Thương binh & Xã hội, 2013)

Tuy chương trình PHCNDVCĐ không phải là

mới ở Việt Nam nhưng còn bộc lộ nhiều hạn

chế về nhận thức, về phối hợp liên ngành,

thiếu thông tin (Bộ LĐ-TB&XH, 2013)

Theo tác giả, một hạn chế lớn, và cũng là

nguyên nhân gốc rễ, đó là sự thiếu thống nhất

trong nhận thức và quan điểm về

PHCNDVCĐ, từ đó dẫn đến sự mất cân bằng,

thiếu hài hòa theo khung can thiệp chung trên

5 phương diện (y tế, giáo dục, sinh kế, xã hội

và trao quyền), làm cho chương trình nghiêng

hẳn về mặt y tế (WHO, 2010:1) Gần đây, đã

có một số chuyển biến trong việc thay đổi

hướng tiếp cận khi có thêm các hoạt động

hướng nghiệp, sinh kế Tuy nhiên, các nhu cầu

xã hội của người khuyết tật vẫn còn bị bỏ ngỏ

(WHO, 2010:1)

Bài viết tập trung phân tích thực trạng khó

khăn của người khuyết tật về mặt xã hội, giới

thiệu mô hình PHCNDVCĐ với hợp phần xã hội và đưa ra bàn luận một số vấn đề đặt ra trong ứng dụng thực tế tại Việt Nam

2 Thực trạng khó khăn của người khuyết tật về mặt xã hội:

Kết quả TĐTDS 2009 cho thấy NKT ở Việt Nam đặc biệt là NKTN rất dễ bị tổn thương trên hầu hết mọi mặt của cuộc sống (UNFPA, 2011:38) Trong sắp xếp cuộc sống và tình trạng hôn nhân, NKT sống độc thân chiếm đến 50% hoặc thường sống trong hộ gia đình có quy mô nhỏ (UNFPA, 2011: 26) Nhóm NKT và NKTN cao tuổi sống đơn thân lần lượt là 14% và 19% (Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội, 2013:36) Tỷ

lệ góa ở người cao tuổi trong nhóm NKT (chiếm khoảng 50%) cao hơn rất nhiều so với nhóm NKKT (UNFPA, 2011: 26)

Theo nghiên cứu tại Thụy Điển (1980), NKT đơn thân bị hạn chế về khả năng lao động và hoạt động trong cuộc sống nhiều hơn so với những người NKT sống với những thành viên khác (Elwan, 1999: 9) Một nghiên cứu khác tại Việt Nam cho thấy NKT cao tuổi tuy

có nhu cầu lớn về hỗ trợ từ những thành viên khác trong gia đình nhưng rất nhiều người trong số họ lại không có ai để giúp đỡ và, vì vậy, những khó khăn bất lợi của họ tăng lên gấp bội (Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, 2013:6)

Các chủ đề như các mối quan hệ, hôn nhân và nuôi dạy con cái được coi là quá nhạy cảm hay quá khó khăn để giải quyết (WHO, 2010:1) Trong một số trường hợp, duy trì gia đình với một bạn đời đột nhiên ốm nặng hay bị tai nạn

là điều cực kì khó khăn (Peter, 2012) Bên cạnh đó, do NKT phải đối mặt với nhiều rào cản xã hội nên họ thường ít có cơ hội tiếp cận, tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí, và cả tư pháp (WHO, 2010:1) Phong trào văn hóa, thể thao của NKT mới chỉ phát triển bước đầu và chủ yếu ở khu vực thành thị, còn khu vực nông thôn, miền núi

Trang 3

chưa được quan tâm đúng mức (Bộ

LĐ-TB&XH, 2009)

Một nghiên cứu khác của Tổ chức UNICEF

tại tỉnh Đồng Nai và An Giang (2011) cho

thấy trẻ khuyết tật bị hạn chế khi tiếp cận các

dịch vụ giải trí và công cộng Các hoạt động

giải trí phổ biến cho trẻ khuyết tật gồm nhảy

dây, bóng đá, và các trò chơi lăn bóng (cả ở

trường và cộng đồng) Hầu hết các dịch vụ

công cộng ở hai tỉnh nghiên cứu không có

các đặc điểm phù hợp cho NKT trừ một

công viên trung tâm ở An Giang và một

chiếc xe buýt không phải mua vé cho trẻ

khuyết tật ở Đồng Nai

3 Mô hình phục hồi chức năng dựa vào

cộng đồng cho người khuyết tật hợp về mặt

xã hội

Trước thực trạng mất cân bằng trong các hoạt

động hỗ trợ NKT khi tập trung nhiều ở các

mảng y tế và gần đây giáo dục và sinh kế (đã

trình bày ở Mục 1) trong khi NKT còn gặp rất

nhiều khó khăn về mặt xã hội (đã trình bày ở

Mục 2), bài viết xin giới thiệu tóm lược các

điểm chính về mô hình can thiệp đối với hợp

phần xã hội (WHO, 2010)

Các yếu tố trong hợp phần xã hội

Trợ giúp cá nhân

Trợ giúp cá nhân nhằm hỗ trợ NKT có thể đáp

ứng nhu cầu bản thân, sống tích cực, đầy đủ và

tự quyết định (WHO, 2010:9)

Nhiệm vụ của trợ giúp cá nhân không chỉ hỗ trợ NKT thực hiện các công việc riêng tư (vệ sinh, ăn uống), tại nhà (làm việc nhà, chăm sóc, nuôi dạy con cái) mà còn hỗ trợ các hoạt động trong các môi trường khác nhau: trường học (học tập, hoạt động tập thể), nơi làm việc (công việc, giao lưu với đồng nghiệp), công cộng (mua sắm, sử dụng phương tiện)

Các phương án hỗ trợ bao gồm chính thức từ

các dịch vụ về sức khỏe, xã hội cung cấp bởi các tổ chức chính phủ, phi chính phủ và tư

nhân và phi chính thức từ các mạng lưới tự

nhiên: bạn bè, gia đình, hàng xóm, đồng nghiệp, thành viên câu lạc bộ (Wilken, 2009:

2), tạo nên hệ thống trợ giúp tại cộng đồng

Mô hình trực tiếp can thiệp với NKT (Kham T., 2011) bao gồm: i) can thiệp khủng hoảng;

ii) trao quyền, biện hộ; iii) quản lý ca; iv) kiến tạo xã hội Tổ chức WHO (2010) nhấn mạnh thêm về các hoạt động: i) hợp tác với các tổ chức NKT nhằm tạo hiểu quả thay đổi hơn khi NKT làm việc chung; ii) xây dựng kế hoạch

hỗ trợ cá nhân đáp ứng nhu cầu về giới tính, tuổi tác và phù hợp bối cảnh văn hóa - xã hội;

iii) đào tạo với NKT giúp họ thêm tự tin và kỹ năng quản lý trợ giúp cá nhân của bản thân và với người trợ giúp cá nhân hỗ trợ NKT;

iv) Chuẩn bị và quản lý các tình huống khủng hoảng cho NKT và gia đình NKT

Ở Vương quốc Anh, Serbia có dịch vụ trợ giúp cá nhân do NKT tự chi trả, tự kiểm soát

Những NKT tham gia chương trình này có thể điều hành một hiệp hội NKT hoặc trở thành tập huấn viên cho nhóm đồng đẳng dưới sự hỗ trợ của trợ lý cá nhân

Các mối quan hệ, hôn nhân và gia đình

Vai trò của chương trình PHCNDVCĐ ở khía cạnh mối quan hệ, hôn nhân và gia đình nhằm

hỗ trợ NKT có mối quan hệ tốt với các thành viên của gia đình và cộng đồng trên cơ sở nhận thức đầy đủ các vị trí và vai trò của NKT (WHO, 2010:19)

Trang 4

Mối quan hệ cá nhân (bạn bè, người yêu và

thành viên gia đình) đóng vai trò quan trọng

trong quá trình trưởng thành và phát triển của

mỗi cá nhân Nhà triết học C.Mác (1845-

1847) nhận định “bản chất của con người là

tổng hòa những mối quan hệ xã hội” Các mối

quan hệ xã hội của NKT thường hạn hẹp dẫn

đến khó có thể hình thành các mối quan hệ

mới (Sarah, 2012)

Gia đình mang lại cảm giác an toàn cho các

đối tượng dễ bị tổn thương (trong đó có

NKT), đáp ứng nhu cầu theo thuyết của

Maslow Gia đình có 05 chức năng quan

trọng bao gồm: thỏa mãn tình cảm giữa các

thành viên, sinh sản, giáo dục, xã hội hóa và

kinh tế (Lan N., Mai B., 2011) Như đã đề

cập, gia đình còn là nguồn hỗ trợ phi chính

thức và là tác nhân thay đổi mạnh mẽ để

đảm bảo hòa nhập của NKT

Tình dục chiếm giữ vai trò quan trọng trong

sức khỏe và hạnh phúc. NKT bị dán nhãn

phi giới tính bởi vì họ thường bị xem là ngờ

nghệch, xấu xí, không thể có mối quan hệ

khác giới thân mật, có ít nhu cầu về tình dục

(WHO, 2010:20) Ngược lại, vấn đề tình

dục là rất thực tế, không thể làm ngơ (World

Bank, 2004)

Hôn nhân và làm cha mẹ là điều hiển nhiên và

thậm chí được coi là nhiệm vụ của một người

trưởng thành Tuy nhiên, tồn tại quan niệm sai

lầm và phổ biến cho rằng NKT sẽ sinh ra

những đứa trẻ khuyết tật hoặc họ không có

khả năng chăm sóc, hỗ trợ con cái một cách

độc lập (WHO, 2010:20) Kết hôn và xây

dựng gia đình riêng, tự do quyết định và có

trách nhiệm trong việc sinh con là một trong

các quyền của NKT được khẳng định tại Điều

23 trong Công ước về Quyền của người

khuyết tật (CRPD)

Các hoạt động trong chương trình

PHCNDVCĐ bao gồm i) hỗ trợ và nâng cao

nhận thức cho các bậc cha mẹ khuyết tật và

cha mẹ của NKT thông qua các dịch vụ địa

phương về kiến thức sinh sản và làm cha mẹ; ii) phối hợp gia đình thúc đẩy tính độc lập của NKT thông qua cung cấp thông tin, thay đổi nhận thức về vị trí, vai trò, khả năng của NKT,

hỗ trợ NKT giao tiếp và tự biện hộ; iii) Giúp

đỡ để ngăn chặn bạo lực thông qua nâng cao năng lực cán bộ, thiết lập mối liên kết giữ các bên liên quan, quản lý ca, hỗ trợ NKT chia sẻ tâm tư, tiếp cận các dịch vụ sức khỏe và xây dựng kế hoạch hành động; iv) hỗ trợ những người có mạng lưới xã hội hạn chế thông qua kết nối mạng lưới hỗ trợ thích hợp trong cộng đồng (nhóm tự lực, câu lạc bộ, các tổ chức NKT), phối hợp tổ dân để NKT được tham gia

và hòa nhập trong đời sống cộng đồng, hỗ trợ NKT có nơi cư trú thích hợp

Tác giả cho rằng cần có thêm các hoạt động

để hỗ trợ NKT trong lập gia đình và hôn nhân, mở rộng các mối quan hệ với bạn khác giới để giải quyết nhu cầu tình dục và quyền có gia đình riêng của NKT Ở Hà Lan, nghề mại dâm được hợp pháp hóa, đã

có chiến dịch kêu gọi cho những công dân

bị khuyết tật có quyền nhận một khoản trợ cấp chính phủ đủ để sử dụng dịch vụ mại dâm 12 lần mỗi năm (Sarah, 2013)

Văn hóa và nghệ thuật

Vai trò của chương trình PHCNDVCĐ nhằm phối hợp với các bên liên quan để cho phép NKT thụ hưởng và tham gia các hoạt động văn hóa và nghệ thuật, thực thi Điều 30 của Công ước CRPD (WHO, 2010:5)

Văn hóa bao gồm nhiều khía cạnh như trang

phục, thực phẩm, ngôn ngữ, giá trị và niềm

tin, tôn giáo, nghi lễ và thông lệ Nghệ thuật

thường gắn liền với văn hóa, bao gồm hội họa,

âm nhạc, múa, văn hóa, điện ảnh và nhiếp ảnh (WHO, 2010:25)

NKT có thể tham gia với vai trò tích cực như trực tiếp sản xuất, tổ chức, đạo diễn, viết hoặc với vai trò thụ hưởng, thưởng thức phim ảnh,

ca kịch, mặc trang phục truyền thống (WHO, 2010:27)

Trang 5

Các hoạt động trong chương trình

PHCNDVGĐ bao gồm i) thúc đẩy sử dụng

văn hóa, nghệ thuật cho sự thay đổi xã hội

thông qua phương tiện truyền thông (sự kiện,

phim ảnh, âm nhạc, hài với hình tượng tích

cực về NKT); ii) hỗ trợ khuyến khích NKT và

gia đình tham gia vào các sự kiện, địa điểm

văn hóa (đám cưới, nhà hàng, rạp chiếu phim)

thông qua các nhóm tự lực, đồng cảnh/ đồng

đẳng; iii) làm việc với các tổ chức và các

nhóm lồng ghép để phát triển kỹ năng và sự tự

tin của NKT thông qua thay đổi về mặt thể

chất, nơi ăn nghỉ, đi lại, sinh hoạt hợp lý mà

NKT có thể tiếp cận được, khuyến khích NKT

tham gia với vai trò tích cực trong các chương

trình văn hóa nghệ thuật

Ví dụ, triển lãm nghệ thuật “Nhìn trong đêm”

tại Bangladesh do nhóm người khiếm thị,

khuyết tật thể chất và nghệ sĩ cùng tham gia,

mô phỏng các rào cản đối với NKT trong cuộc

sống hàng ngày; Palestine có chương trình trại

hè cho trẻ em khuyết tật, sản xuất phim Cô bé

Lọ lem (chuyển thể từ truyện cổ tích nổi tiếng)

do một cô gái khuyết tật thủ vai chính

Vui chơi, giải trí và thể thao

Mục tiêu của chương trình PHCNDVCĐ

nhằm thúc đẩy sự tham gia chủ động của NKT

vào các hoạt động vui chơi, giải trí và các hoạt

động thể thao trên cơ sở bình đẳng với những

người khác, đồng thời tăng năng lực cho các tổ

chức cung ứng dịch vụ thích hợp và dễ tiếp

cận, thực thi Điều 30 của Công ước CRPD

(WHO, 2010:35)

Các hoạt động giải trí (bơi lội, đi bộ, thiền,

đọc sách, chơi trò chơi…) giúp mọi người thư

giãn, khiến cuộc sống trở nên thú vị khi không

phải làm nhiệm vụ hàng ngày Các hoạt động

thể thao là các hoạt động thể chất có tổ chức

(kéo co, thể dục nhịp điệu, bóng đá,…) Các

hoạt động vui chơi, giải trí giúp nâng cao sức

khỏe, phòng chống bệnh tật, phát triển kỹ năng

cá nhân, tập thể, giảm kỳ thị và trao quyền

Các hoạt động đề xuất bao gồm: i) xác định các hoạt động giải trí, thể thao đã có tại địa phương thông qua các nhóm, CLB (thanh niên, phụ nữ, NKT); ii) tạo điều kiện để NKT tham gia thông qua cung cấp thông tin, liên kết với các CLB, lựa chọn hỗ trợ cá nhân, phương tiện truyền thông và lồng ghép trong các chương trình chính thống; iii) sử dụng các hoạt động giải trí, thể thao để nâng cao nhận thức về hòa nhập của NKT với số lượng lớn khán giả thông qua các sự kiện lớn và phương tiện truyền thông; iv) phát triển các chương trình dành riêng đảm bảo NKT đóng vai trò lãnh đạo trong thiết kế, xây dựng và triển khai các chương trình vui chơi, giải trí, thể thao phù hợp nhu cầu của họ cũng như kết nối các địa phương để tổ chức các cuộc thi

Ví dụ, tại Eritrea, các thương binh khuyết tật được đào tạo để trở thành huấn luyện viên và quản lý các đội bóng của hơn 2.000 trẻ em;

giải khúc côn cầu thế giới cho người mù tại Pakistan; CLB cờ vua Braille cho người khiếm thị tại Bangladesh

Tư pháp

Chương trình PHCNDVCĐ có mục tiêu thúc đẩy NKT và gia đình được tiếp cận tư pháp trên cơ sở bình đẳng để đảm bảo được thụ hưởng và tôn trọng đầy đủ các quyền hợp pháp cũng như thay đổi nhận thức cộng đồng

về quyền NKT (WHO, 2010:43)

NKT là người nắm quyền hợp pháp (y tế, giáo

dục, việc làm, nhà ở, vui chơi, giải trí, kết hôn,…) và các tổ chức, cá nhân thuộc chính

phủ và phi chính phủ là người thực hiện nghĩa

vụ NKT cần được thừa nhận về năng lực pháp lý, là chủ thể của quyền, được tự ra quyết

định và chịu trách nhiệm trước pháp luật Tiếp

cận tư pháp đề cập đến khả năng tiếp cận các

hệ thống, thủ tục, thông tin và các địa điểm quản lý nhà nước (Lord và cộng sự, 2007)

Các hoạt động đề xuất bao gồm: i) xác đính bối cảnh địa phương sinh sống của NKT (tìm hiểu pháp luật, cách thực thi pháp luật, nguồn

Trang 6

lực có sẵn); ii) nâng cao nhận thức về quyền

thông qua phổ biến thông tin, đào tạo vấn đề

khuyết tật cho các ngành, người ra quyết

định các cấp cộng đồng; iii) thúc đẩy tiếp

cận tư pháp theo cơ chế không chính thức

thông qua làm việc với trường học, lãnh đạo

cộng đồng, tổ trưởng tổ dân, ngân hàng, bác

sỹ địa phương; iv) hỗ trợ các hoạt động

pháp lý (nếu thích hợp) thông qua xây dựng

các mối quan hệ liên minh với các thành

viên trong cộng đồng pháp lý, nhờ tư vấn

pháp luật tìm pháp luật phù hợp, tôn trọng

quyền quyết định của NKT

Ví dụ, chương trình phòng chống bệnh phong

dựa vào cộng đồng đã phối hợp với người lớn

tuổi và lãnh đạo tôn giáo để đưa một người bị

bệnh phong trở lại sống với cộng đồng ở Ấn

Độ; dự án thúc đẩy quyền hợp pháp của NKT,

giảm thiểu rủi ro bạo lực tình dục và

HIV/AIDS ở Ethiopia

4 Các vấn đề đặt ra trong ứng dụng mô

hình PHCNDVCĐ cho người khuyết tật về

mặt xã hội tại Việt Nam

Năm 2010, hướng dẫn chung về PHCNDVCĐ

với 05 hợp phần trong đó có hợp phần xã hội

được WHO, ILO và UNESCO phê chuẩn và

dự kiến đưa vào thực tiễn năm 2020 Các

chương trình PHCNDVCĐ không mong đợi

sẽ thực hiện tất cả các hợp phần và thành tố

của ma trận PHCNDVCĐ (WHO, 2010: 1:

22) Luật Người khuyết tật được Quốc hội

thông qua năm 2010, Đề án Trợ giúp người

khuyết tật giai đoạn 2012-2020 của Thủ tướng

Chính phủ (2012) cũng đã xác định

PHCNDVCĐ là một chiến lược để đạt các

mục tiêu đề ra Khi áp dụng mô hình

PHCNDVCĐ cho NKT về mặt xã hội nói

chung, Việt Nam có thể gặp một số thách thức

sau đây:

Thứ nhất, một số văn bản hướng dẫn dưới

Luật NKT chưa có sự thống nhất xuyên suốt

về quan điểm PHCNDVCĐ theo đa phương

diện mà tập trung về mặt phục hồi y khoa khi

chủ yếu đề cập đến các “cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng”

Thứ hai, thiếu tính toàn diện, gắn kết và

phối hợp đa ngành (Bộ LĐ-TB&XH, 2013) Vai trò, chức năng các ban ngành vẫn được cho là còn chồng chéo trong khâu quản lý dẫn đến cơ chế phối hợp còn chưa nhịp nhàng Về phía cộng đồng và cơ sở dịch vụ,

họ chưa nhận thức đầy đủ về quyền, vai trò bình đẳng của NKT trong sự phát triển chung cũng như trách nhiệm của mình với

cương vị người thực hiện nhiệm vụ cung cấp

những hỗ trợ liên quan

Thứ ba, NKT còn thụ động và tham gia vào

chương trình còn ở mức thấp trong khi bản thân và gia đình họ được xem là yếu tố hạt nhân của mọi can thiệp (Bộ LĐ-TB&XH, 2013) PHCNDVCĐ là một hình thức “trị liệu cộng đồng” với các dịch vụ được chuyển dần sang cộng đồng nhưng khách hàng vẫn đóng vai trò “người thụ hưởng bị động” (Wirz, 2000)

Thứ tư, còn thiếu những nghiên cứu, đánh giá

tổng thể về hoạt động PHCNDVCĐ trên phạm vi toàn quốc, thiếu các cơ hội để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và thực hành về PHCNDVCĐ, do đó, thiếu những bằng chứng

để hoạch định chính sách và nhân rộng những thực hành tốt về PHCNDVCĐ (Bộ LĐ-TB&XH, 2013)

Thứ năm, sự phân bổ dự án, chương trình, vốn

đầu tư phát triển hệ thống dịch vụ cho NKT bị mất cân bằng, tập trung nhiều vào các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, hoặc ở cấp tỉnh thành, rất ít chương trình tại các cấp địa phương, các vùng nông thôn Trong khi đó, đa

số NKT sống tại khu vực nông thôn (4,6 triệu người, chiếm 75,7% tổng dân số khuyết tật), còn lại 1,5 triệu NKT sống tại khu vực thành

thị (UNFPA, 2009)

Thứ sáu, sự phân bổ nguồn hỗ trợ chưa cân

đối khi một số nhóm đối tượng chưa được đáp ứng với những hỗ trợ ở mức nhiều hơn hoặc

Trang 7

chuyên sâu hơn NKT cao tuổi có nhu cầu hỗ

trợ xã hội từ Chính phủ và ngoài gia đình rất

lớn vì có một tỷ lệ tương đối lớn trong số họ

(11,8% số người cao tuổi) sống độc thân

(UNFPA, 2011 :25)

Các rào cản trong các thành tố cụ thể của

hợp phần xã hội

Thứ nhất, các hoạt động hỗ trợ cá nhân có thể

gặp các thách thức về nhận thức, nhu cầu trợ

giúp cá nhân của bản thân NKT, gia đình, các

tổ chức NKT còn hạn chế; thiếu các chương

trình đào tạo, tập huấn cho các trợ lý cá nhân;

chưa có chính sách bảo trợ xã hội để hỗ trợ cá

nhân ngoài khoản bảo trợ xã hội với mức rất

thấp để đảm bảo đời sống, dao động từ

180.000 - 540.000 VNĐ/tháng (Chương IV,

Nghị định số 28/2012/NĐ-CP); chưa có các

tiêu chuẩn và thủ tục để giám sát về trợ giúp

cá nhân (WHO, 2010: 11)

Thứ hai, các hoạt động trợ giúp NKT về khía

cạnh các mối quan hệ, hôn nhân và gia đình

đối mặt với sự tự ti rất lớn của NKT cũng như

sự phân biệt, kỳ thị vẫn đang tồn tại phi chính

thức làm cho NKT gặp khó khăn trong giao

tiếp, mở rộng các mối quan hệ xã hội khác

ngoài gia đình, tìm kiếm bạn đời và được gia

đình bạn đời chấp nhận; thiếu các dịch vụ mai

mối, giới thiệu hôn nhân, hoạt động kết nối

của các nhóm tự lực, CLB; thiếu kiến thức

quản lý khủng hoảng gia đình và kiến thức

làm cha mẹ

Thứ ba, các hoạt động văn hóa và nghệ thuật

đối với NKT gặp rào cản về nhận thức nhu

cầu và khả năng của NKT, sự sáng tạo, thể

hiện bản thân là không cần thiết đối với NKT;

rào cản vật lý để tiếp cận các địa điểm tổ chức

hoạt động; thiếu thông tin và truyền thông về

các hoạt đông văn hóa, nghệ thuật của NKT

Thứ tư, các hoạt động vui chơi, giải trí và thể

thao gặp rào cản khi thời gian vui chơi chưa

được xác định hay ưu tiên do hoàn cảnh kinh

tế khó khăn; chưa có các địa điểm vui chơi

giải trí đa dạng tại các cộng đồng nghèo và

thậm chí tại thành thị; việc áp dụng các chính sách ưu đãi nhà nước về thực tế chưa được phổ biến, áp dụng rộng rãi hay thực hiện đúng tiến độ tại các cấp địa phương và cộng đồng mặc dù Chính phủ đã đưa ra quy định khá rõ

về việc miễn, giảm giá vé, giá dịch vụ văn hóa, thể thao, giải trí và du lịch cũng như thực hiện lộ trình cải tạo công trình công cộng, phương tiện giao thông tiếp cận tại Chương IIII, Nghị định số: 28/2012/NĐ-CP

Thứ năm, tiếp cận tư pháp đối với NKT có

những thách thức như thiếu nhận thức về nhu cầu tiếp cận tư pháp của NKT; rào cản vật lý (đi lại) không thể tiếp cận được Công an phường, toà án, UBND; hạn chế trong giao tiếp với cán bộ tư pháp, luật sư, người trợ giúp pháp lý do chưa có phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu hay thiếu thiết bị trợ thính; thiếu thông tin

về hệ thống, quy trình tư pháp, các cơ quan liên quan, các đơn vị cung cấp dịch vụ; thiếu kinh tế do lệ án phí, phí thuê luật sư, ăn ở đi lại (WHO, 2010:14)

5 Kết luận và đề xuất

Như đã đề cập, chương trình PHCNDVCĐ được coi là chiến lược để thực hiện Công ước CRPD Việt Nam chính thức phê chuẩn Công ước theo Nghị quyết Số: 84/2014/QH13 của Quốc hội (2014), đồng nghĩa với yêu cầu phải thực thi đúng cam kết Công ước trên tất cả các lĩnh vực Trên quan điểm cá nhân, mô hình PHCNDVCĐ nói chung và đối với hợp phần

xã hội nói riêng cần được đẩy mạnh với các trọng tâm sau:

- Sửa đổi, bổ sung và làm rõ các khái niệm, hoạt động của chương trình PHCNDVCĐ theo hướng tiếp cận đa ngành trong các văn bản pháp luật, trong đó có xây dựng cơ chế phối hợp rõ ràng với vai trò, nhiệm vụ của các ban, ngành từ cấp trung ương đến địa phương trên cơ sở tham khảo, lồng ghép các yếu tố từ hướng dẫn của Tổ chức WHO

Trang 8

- Có những nghiên cứu, đánh giá tổng thể

về hoạt động PHCNDVCĐ trên phạm vi toàn

quốc nhằm thực hành dựa trên những bằng

chứng để hoạch định chính sách, tổ chức chia

sẻ thông tin và nhân rộng thực hành tốt

(WHO,2010:27)

- Nên tập trung các chương trình can thiệp

hỗ trợ NKT nhiều hơn vào khu vực nông thôn

để tăng phạm vi đối tượng thụ hưởng

- Cần có nhiều hơn các hỗ trợ của nhà

nước và các tổ chức đối với nhóm người cao

tuổi khuyết tật và có nguy cơ khuyết tật về

mặt xã hội

- Cần có thêm các dịch vụ cung cấp cho gia

đình NKT như giải quyết khủng hoảng, kỹ

năng trợ giúp, giao tiếp, tạo niềm tin cho gia

đình và người chăm sóc (UNICEF, 2011: 9)

- Tiếp tục thúc đẩy, giám sát chặt chẽ tiến

độ cải tạo các công trình công cộng dễ tiếp cận

đối với NKT ở các cấp địa phương, hướng tới

nơi ở hợp lý tại nhà và cộng đồng để tháo gỡ

các rào cản vật lý nhằm tạo điều kiện cho

NKT tham gia vào các hoạt động văn hóa,

nghệ thuật, giải trí, thể thao

- Cần đẩy mạnh vai trò truyền thông kết

hợp sử dụng nghệ thuật khuyết tật (về khuyết

tật, do người khuyết tật) để thay đổi nhận thức

xã hội về các quyền của NKT không chỉ bản

thân NKT và gia đình họ mà đối tượng hướng

tới là cộng đồng, các cấp lãnh đạo chính thức

và phi chính thức

- Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm

công tác xã hội, các cấp ngành làm việc với

NKT thông qua tập huấn về chương trình, mô

hình, quản lý PHCNDVCĐ theo hướng đa

ngành và tận dụng các nguồn lực có sẵn ở địa

phương

Tóm lại, chương trình PHCNDVCĐ với sự

phát triển hài hòa theo ma trận 5 thành tố (y tế,

sinh kế, giáo dục, xã hội và trao quyền) cũng

như thúc đẩy mô hình trợ giúp trong hợp phần

xã hội để cân bằng với các thành tố còn lại

không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống

cả về vật chất và tinh thần mà còn tăng cường

sự hòa nhập xã hội, bình đẳng đối với NKT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 ASEANStats (tháng 9 năm 2015) Thông cáo báo chí của ASEANstats: Dân số Việt Nam 2014 vượt mốc 90 triệu người Tổng

cục Thống kế

2 Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội

(2009) Báo cáo số 62/BC-LĐTBXH Tổng kết tình hình thi hành Pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản pháp luật liên quan

3 Bộ Lao động- Thương Binh & Xã hội

(2013) Phát triển phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại Việt Nam, tại

http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiett in.aspx?IDNews=18954

4 C.Mác, Ph.Ăng-ghen (1845- 1847) Toàn tập Tập 3 Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia 1995

5 Kham T (tháng 11, 2011) Mô hình xã hội

về khuyết tật và công tác xã hội với người khuyết tật ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo

Khoa học Công tác xã hội - kết nối và chia

sẻ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,

Đại học Quốc gia TP.HCM, 312-313

6 Lan N., Mai B (2011) Công tác xã hội Cá nhân và Gia đình Hà Nội: NXB Lao động

- Xã hội 248-249

7 Quỹ Dân số Liên hợp quốc-UNFPA

(2011) Thông tin tóm tắt người khuyết tật

ở Việt Nam: Bằng chứng từ tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009, tại

http://www.un.org.vn/images/stories/pub_t rans/Factsheet_Disability_Vie.pdf

8 Thủ tướng Chính phủ (2012) Nghị định số

28/2012/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật Hà Nội, ngày 10 tháng

04 năm 2012

9 Thủ tướng Chính phủ (2012) Quyết định

số 1019/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật

Trang 9

giai đoạn 2012 – 2020 Hà Nội, ngày 05

tháng 8 năm 2012

10 UNICEF (2011) Nghiên cứu định tính về

trẻ khuyết tật tại An Giang và Đồng Nai:

Kiến thức,Thái độ và Thực hành, tại

http://www.unicef.org/vietnam/vi/resource

s_15659.html

11 Tổ chức Y tế Thế giới (2010) Phần Giới

thiệu: Hướng dẫn phục hồi chức năng dựa

vào cộng đồng Việt Nam 1-27

12 Tổ chức Y tế Thế giới (2010) Hợp phần

xã hội: Hướng dẫn phục hồi chức năng

dựa vào cộng đồng Việt Nam 14-43

Tiếng Anh

13 Elwan A (1999)

Poverty and disability: a survey of the literature

Washington DC: The World Bank, 15 -16

14 LaPlante., M.P., Carlson, D., Kaye, H.S.,

disabilities in the United States, Disability

Statistics Report, (8), U.S Department of

Education, National Institute on Disability

and Rehabilitation Research, Washington,

D.C., 1996

15 Peter R (2012) Love, marriage, and

disability - four ways to keep your

relationship strong despite chronic pain

and disability, tại

http://www.foxnews.com/opinion/2012/02/

19/love-marriage-and-disability-four-ways-

to-keep-your-relationship-strong-despite.html

16 Sarah W (tháng 11 năm 2012) "A touch

of kindness" Sydney Morning Herald

17 I want a world where disabled people are

valid sexual partners

18 Sarah D (tháng 1 năm 2013) "Grant

visits" Worcester News, tại

http://www.theguardian.com/society/2013/

feb/12/disabled-people-valid-sexual-partners?CMP=EMCNEWEML6619I2

19 United Nations (2006)

Convention on the Rights of Persons with Di

sabilities: some facts about disability New

York

20 Wilken J.P (tháng 4/2009) Support and inclusion of citizens in vulnerable positions new roles of social professionals, tại

http://www.participatiezorgenondersteunin g.nl/CmsData/Articles/Working-on-Social-Inclusion-Dubrovnik-April-2009.pdf

Personnel, in Thomas M, Thomas MJ

(eds) Selected Readings in Community Based Rehabilitation Series 1, Bangalore, 96-108

22 World Health Organization.(1981).Disability prevention and rehabilitation: report of the WH

O expert committee on disability prevention an drehabilitation Geneva 10

HIV/AIDS: at a glance Washington, DC

24 World Health Organization, World Bank

(2011) World report on disability Malta

9, 296

Ngày đăng: 18/10/2020, 18:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3. Mô hình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho người khuyết tật hợp về mặt  xã hội  - Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho người khuyết tật về xã hội: Mô hình và thách thức khi ứng dụng tại Việt Nam
3. Mô hình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho người khuyết tật hợp về mặt xã hội (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w