Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc ký kết, gia nhập các hiệp định thương mại song phương và đa phương, đồng thời với sự thừa nhận của Nhà nước về cơ chế thị trường, sự ra đời của pháp luật về cạnh tranh đã góp phần điều tiết nền kinh tế, tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng và đáp ứng nhu cầu khách quan của hội nhập quốc tế. Có thể thấy, hoạt động tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng ở nước ta đang trở nên ngày càng đa dạng, phức tạp và gay gắt, từ đó dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp đã tìm cách thực hiện các hành vi nhằm hạn chế, kìm hãm tranh chấp trên thị trường. Phương thức giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng gắn với vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đang rất được quan tâm hiện nay. Qua bài tiểu luận này, em sẽ đi sâu vào phân tích đề tài: “Thực trạng pháp luật về các phương thức giải quyêt tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng tại Việt Nam” để làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam về phương thức giải quyết tranh chấp cũng như việc áp dụng các quy định này trong thực tế.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc ký kết, gia nhập các hiệp định thương mại song phương và đa phương, đồng thời với sự thừa nhận của Nhà nước về cơ chế thị trường, sự ra đời của pháp luật về cạnh tranh đã góp phần điều tiết nền kinh tế, tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng và đáp ứng nhu cầu khách quan của hội nhập quốc tế Có thể thấy, hoạt động tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng ở nước ta đang trở nên ngày càng đa dạng, phức tạp và gay gắt, từ đó dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp đã tìm cách thực hiện các hành
vi nhằm hạn chế, kìm hãm tranh chấp trên thị trường Phương thức giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng gắn với vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đang rất được quan tâm hiện nay Qua bài tiểu luận này, em sẽ
đi sâu vào phân tích đề tài: “Thực trạng pháp luật về các phương thức giải quyêt tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng tại Việt Nam” để làm
rõ các quy định của pháp luật Việt Nam về phương thức giải quyết tranh chấp cũng như việc áp dụng các quy định này trong thực tế
Do kiến thức và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên bài làm còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự đánh giá, góp ý của các thầy cô để bài làm được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp theo pháp luật bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam.
1 khái niệm
Thương nhân: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng
Trang 2ký kinh doanh.” (Theo quy định tại Điều 6 Luật Thương mại 2005) Theo khái niệm này, thương nhân bao gồm:
+ Tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp;
+ Cá nhân
Người tiêu dùng: Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức
(Điều 3 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010)
tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân là sự bất đồng chính kiến, sự mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia quan hệ tiêu dùng Theo đó, tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân có thể có những dạng cơ bản sau:
- Tranh chấp về các điều kiện giao dịch chung và hợp đồng theo mẫu của tổ chức, cá nhân cung ứng hàng hóa, dịch vụ;
- Tranh chấp về số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn hàng hóa, dịch vụ được cung ứng;
- Tranh chấp về thực hiện các nghĩa vụ bảo hành, thu đổi hàng hóa, trả lại tiền, thu hồi hàng hóa theo quy định của pháp luật;
- Tranh chấp về hành vi ép buộc, quấy rối người tiêu dùng thông qua tiếp thị hàng hóa, dịch vụ của thương nhân trái với ý muốn của người tiêu dùng;
- Tranh chấp về nghĩa vụ đảm bảo thông tin an toàn, bí mật thông tin của người tiêu dùng khi tham gia giao dịch , sử dụng hàng hóa, dịch vụ;
- Tranh chấp về hành vi lừa dối hoặc gây nhầm lẫn của thương nhân cho người tiêu dùng thông qua hoạt động quảng cáo hoặc che giấu, cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch, không chính xác;
Trang 32 Đặc điểm tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân
chủ thể: trong quan hệ tranh chấp này có 2 bên chủ thể là người tiêu
dùng và thương nhân Loại hình tranh chấp này phải có một bên tham gia là người tiêu dùng là người mua; sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân, gia đình, tổ chức, một bên là thương nhân, người bán, cung ứng dịch dụ
Lĩnh vực phát sinh tranh chấp: Đây là loại hình tranh chấp phát sinh
trong quan hệ tiêu dùng – điểm cuối trong chuỗi phân phối hàng hóa, dịch vụ
Do đó, trong quan hệ tiêu dùng không tồn tại sự phân phối lại Bởi thế, người tiêu dùng luôn phải đối mặt với các rủi ro đối với hàng hóa, dịch vụ được chuyển giao từ các chuỗi phân phối trước đó
Nội dung của tranh chấp: Nội dung các tranh chấp giữa người tiêu dùng
với thương nhân chủ yếu liên quan đến các nghĩa vụ của thương nhân trong quá trình đưa hàng hóa, dịch vụ của mình vào lưu thông
Thời điểm phát sinh tranh chấp: Phát sinh ngay khi hàng hóa, dịch vụ của
thương nhân chưa chính thức tham gia lưu thông ( ví dụ: thuốc chữa bệnh, năng lượng hạt nhân, thực phẩm biển đổi gen,…) Khởi nguồn của những tranh chấp này thường bắt đầu từ những người tiêu dùng tình nguyện (dùng thử) và các tổ chức bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
Hệ quả xã hội của tranh chấp: Tranh chấp giữa người tiêu dùng với
thương nhân có thể dẫn tới những phản ánh tiêu cực từ phía cộng đồng tiêu dùng và toàn xã hội như: tẩy chay tập thể đối với toàn bộ sản phẩm mà thương nhân cung ứng, sản phẩm có xuất xứ từ quốc gia, vùng lãnh thổ, công khai phổ biến các thông tin chưa được kiểm chứng về sản phẩm,…
II Thực trạng pháp luật về các phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân tại Việt Nam
1 Đánh giá tình hình chung
Trang 4Nếu như Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đưa ra các quy định khái quát về mặt nguyên tắc liên quan đến vấn đề bảo vệ người tiêu dùng thì các Nghị định hướng dẫn thi hành chẳng hạn như Nghị định số 99/2011/NĐ
-CP giải thích rõ hơn các quy trách nhiệm, trình tự, thủ tục điều tra và xử lý đối với vụ việc tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân giúp các cơ quan chức năng có căn cứ rõ ràng hơn khi xem xét các vụ việc liên quan đến hành tranh chấp
Song song với việc ban hành quy định điều chỉnh hành bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bộ máy thực thi tại Việt Nam cũng được hình thành với cơ quan chức năng là Bộ Công Thương Liên quan đến các việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Cục quản lý cạnh tranh,Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và huyện có chức năng giúp Bộ công thương thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Gần 10 năm thực thi, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã dần đi vào đời sống Một số quy định về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã có những tác động tích cực đối với môi trường tranh chấp trên các thị trường liên quan trong các vụ việc được điều tra và làm rõ, đồng thời, nhận thức của thương nhân về pháp luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng được nâng lên rõ rệt Các thương nhân đã có sự quan tâm nhất định đến việc tuân thủ các quy định pháp luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Sự thay đổi này một phần do nỗ lực của các cơ quan quản lý trong việc phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm
Bên cạnh đó, cũng phải kể đến hiệu quả hoạt động tuyên truyền pháp luật cho cộng đồng thương nhân và người tiêu dùng của Bộ công thương Trong bối cảnh một số quy định của luật vẫn còn chưa được quy định cụ thể hóa, các báo cáo thường niên về thực thi luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, báo cáo tập trung kinh tế tại Việt Nam và gần đây nhất là hội nghị rà soát các quy định của luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Bộ Công Thương tổ chức “Hội nghị Tổng
Trang 5kết thi hành Luật Bảo vệ người tiêu dùng (2011 – 2018) Ngày 14 tháng 6 năm
2019
2 Các phương pháp giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng theo pháp luật viêt nam
2.1 Giải quyết tranh chấp bằng phương pháp thương lượng
a Khái niệm: Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân không cần đến vai trò của bên thứ ba Đặc điểm cơ bản của thương lượng là các bên cùng nhau trình bày quan điểm, chính kiến, bàn bạc tìm các biện pháp thích hợp, và đi đến thống nhất thỏa thuận để tự giải quyết các bất đồng
b.Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng bằng thương lượng tại Việt Nam
Ở Việt Nam, phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng được ghi nhận chính thức như là một hình thức giải quyết tranh chấp độc lập Đối với quan hệ tiêu dùng, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 thừa nhận thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp, quy định tại Khoản 1
Điều 31 , Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 như sau: “1.Người tiêu dùng có quyền gửi yêu cầu đến tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ để thương lượng khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm” Theo đó, hình thức này chỉ bị hạn chế khi tranh chấp gây thiệt hại đến
lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhiều người tiêu dùng và lợi ích công cộng, Điều này được quy định tại khoản 2 Điều 31 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng “2 Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm tiếp nhận, tiến hành thương lượng với người tiêu dùng trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu” Khi phát sinh tranh chấp, người
tiêu dùng có quyền gửi yêu cầu đến tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ để thương lượng khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm tiếp nhận,
Trang 6tiến hành thương lượng với người tiêu dùng trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu
Mặc dù, tại Điều 32 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 có quy
định: “Kết quả thương lượng thành của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ với người tiêu dùng được lập thành văn bản, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” Nhưng lại không đề cập đến giá trị pháp lý của kết quả
thương lượng nêu trên
Có thể thấy, dù thương lượng có nhiều những ưu điểm như vậy nhưng ở Việt Nam hình thức này không được sử dụng rộng rãi Vì một số nguyên nhân
cơ bản như:
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh không ý thức được trách nhiệm xã hội của mình và thường lợi dụng vị thế bất cân xứng về thông tin trong quá trình cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng;
- Bản thân người tiêu dùng chưa nhận thức được quyền của mình và sử dụng các quyền đó để bảo vệ lợi ích của chính mình;
- Pháp luật Việt Nam thừa nhận hình thức giải quyết tranh chấp thương lượng song lại không thừa nhận khả năng cưỡng chế thi hành những cam kết của các bên trong biên bản thương lượng Đây là rào cản lớn nhất khiến khi tham gia giải quyết tranh chấp bằng thương lượng thành, dễ xảy ra tình trạng thoái thác thực hiện nghĩa vụ đã cam kết
2.2 Giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa giải
a Khái niệm: Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp trong đó các bên trong quá trình thương lượng có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định làm vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết các xung đột nhằm chấm dứt các tranh chấp, bất hòa
b Thực trạng pháp luật giải quyết tranh bằng hòa giải tại Việt Nam
Trang 7Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã quy định khá chi tiết về quyền lựa chọn phương thức hòa giải tại Điều 33 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng năm 2010: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có quyền thỏa thuận lựa chọn bên thứ ba là cá nhân hoặc tổ chức hòa giải
để thực hiện việc hòa giải.” Nguyên tắc hòa giải quy định tại Điều 34 của Luật
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010:
“1 Bảo đảm khách quan, trung thực, thiện chí, không được ép buộc, lừa dối.
2 Tổ chức, cá nhân tiến hành hòa giải, các bên tham gia hòa giải phải bảo đảm bí mật thông tin liên quan đến việc hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”
Tổ chức hòa giải được pháp luật quy định tại Điều 35: “Tổ chức, cá nhân có
đủ điều kiện theo quy định của Chính phủ được thành lập tổ chức hòa giải để giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ” Ngoài ra, còn được quy định tại các Điều 31, 32 và 33 của
Nghị định 99/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Theo đó, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thành lập, giải thể tổ chức hòa giải bao gồm: cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Điều 31) Hòa giải viên phải đáp ứng các điều kiện làm hòa giải viên được quy định tại Điều 32: Là công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, có ít nhất năm (5) năm kinh nghiệm công tác Người đang bị quản chế hành chính, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích không được làm hòa giải viên
Điều 36 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định về nội dung biên bản hòa giải như sau”
“1 Biên bản hòa giải phải có các nội dung chính sau đây:
a) Tổ chức, cá nhân tiến hành hòa giải;
Trang 8b) Các bên tham gia hòa giải;
c) Nội dung hòa giải;
d) Thời gian, địa điểm tiến hành hòa giải;
đ) Ý kiến của các bên tham gia hòa giải;
e) Kết quả hòa giải;
g) Thời hạn thực hiện kết quả hòa giải thành.
2 Biên bản hòa giải phải có chữ ký của các bên tham gia hòa giải và chữ
ký xác nhận của tổ chức, cá nhân tiến hành hòa giải.”
Các bên có trách nhiệm thực hiện kết quả hòa giải thành theo Điều 37 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 trong thời hạn đã thỏa thuận trong biên bản hòa giải; trường hợp một bên không tự nguyện thực hiện thì bên kia có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật Mặc dù hòa giải là phương thức được sử dụng rộng rãi hơn, chiếm 80% các vụ việc khiếu nại của người tiêu dùng Tuy nhiên, kết quả hòa giải nhiều khi không được các bên nghêm túc thực thi do giá trị pháp lý của biên bản hòa giải thành là không cao Như vậy, phương thức hòa giải vẫn có những hạn chế nhất định Ở Việt Nam, giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng bằng hòa giải được dụng rất hạn chế vì:
Một là, chưa tồn tại một khuôn khổ pháp lý đầy đủ cho các hoạt động hòa giải tại Việt Nam mà trước hết là sự lựa chọn người hòa giải; quy trình hòa giải; giá trị pháp lý trong các khuyến nghị của hòa giải viên; hình thức quyết định của các bên; giá trị pháp lý của biên bản hòa giải thành…
Hai là, cũng giống với thương lượng, pháp luật Việt Nam không thừa nhận khả năng cưỡng chế thi hành những cam kết của các bên trong biên bản hòa giải thành Với hạn chế này, cácbên tranh chấp thường quyết định tiếp cận công lý dưới hình thức khác
Trang 92.3 Giải quyết tranh chấp bằng phương pháp trọng tài
a Khái niệm: giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động trọng tài viên, với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp xuất phát từ nhu cầu bảo vệ lợi ích của các thương nhân trong hoạt động kinh doanh
b Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp ằng hòa trọng tài tại Việt Nam Trong trường hợp người tiêu dùng và tổ chức cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ vẫn chưa tìm được tiếng nói chung thông qua các phương thức như thương lượng hoặc hòa giải có thể thỏa thuận lựa chọn phương pháp là gửi đơn lên Trọng tài Theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, trọng tài được
sử dụng như một cách giải quyết tranh chấp phát sinh khi có điều khoản trọng
tài (Thuật ngữ dùng trong Luật Trọng tài thương mại 2010 là “thỏa thuận trọng tài”) Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài giữa người tiêu dùng với thương nhân
được quy định từ Điều 38 đến Điều 40 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
2010 Bên cạnh đó, Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010 cũng quy định:
“1 Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
2 Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại
3 Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài.”
Tuy nhiên, để điều khoản trọng tài có hiệu lực, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải thông báo về điều khoản trọng tài trước khi giao kết hợp đồng và được người tiêu dùng chấp thuận Theo điều 17 của Luật Trọng
tài thương mại 2010 thì: “Đối với các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, mặc dù điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hóa, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn
Trang 10thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng vẫn được quyền lựa chọn trọng tài hoặc tòa án để giải quyết tranh chấp Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện tại trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận” Cách thiết
kế quy định này đảm bảo tính linh hoạt, theo đó,nếu người tiêu dùng hài lòng với điều khoản trọng tài, tranh chấp vẫn được giải quyết bằng trọng tài như hai bên đã thảo thuận theo điều kiện giao dich chung Ngược lại, nếu cảm thấy thiệt thòi bởi thỏa thuận đó, người tiêu dùng cần có cơ hội để xem xét và quyết định, nếu đồng ý với thỏa thuận trọng tài thì xác nhận vào văn bản riêng Đây là một quy định riêng của Luật Trọng tài nhằm bảo vệ người tiêu dùng, bổ sung các nguyên tắc chung khác trong pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Mặc dù việc ra đời các chế tài bảo vệ người tiêu dùng (trong đó có phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài) ở mức cao nhất là rất cần thiết nhưng cũng phải tính tới việc cân bằng lợi ích giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp
Trong điều kiện hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, bên cạnh những thuận lợi, các doanh nghiệp cũng gặp phải rất nhiều vấn đề phát sinh khi thực hiện các hợp đồng.Bởi vậy mà khi xảy ra tranh chấp, phương thức giải quyết bằng trọng tài là phương thức đạt hiệu quả cao nhất Bởi giải quyết bằng phương thức này chỉ giải quyết 1 lần, bằng một hội đồng trọng tài do các lựa chọn nên các bên có thể chọn những chuyên gia giỏi nhất, độc lập, vô tư và khách quan nhất, có thể bảo vệ được các bí mật của thương nhân, thủ tục do các bên tự thỏa thuận và thời gian giải quyết tranh chấp ngắn gọn
2.4 giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân bằng tòa án
a Khái niệm: Giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng toàn án là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩ vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế
b Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng bằng hòa tòa án tại Việt Nam