1. Phân tích điểm khác biệt giữa quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp? 2. Công ty TNHH Thực Phẩm Quốc Anh tại Đà Nẵng đã được Cục sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu số 47452 cho sản phẩm rượu “Hồng Đào” năm 2006. Năm 2007, Công ty cổ phần thương mại Ngọc Linh ở Quảng Nam gửi đơn khiếu nại đến Cục sở hữu trí tuệ yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận đăng ký nhẵn hiệu rượu “Hồng Đào” với lý do “Hồng Đào” là chỉ dẫn địa lý gắn liền với sản phẩm nổi tiếng ở Quảng Nam. Mặc dù “Hồng Đào” không phải là một địa danh của Quảng Nam nhưng rượu Hồng Đào được cho là gắn liền với xứ Quảng Nam theo như câu ca dao: “Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm. Rượu Hồng Đào chưa nhấm đã…say”. Vì vậy, việc công ty TNHH Thực Phẩm Quốc Anh độc quyền sử dụng nhãn hiệu này là bất hợp lý, gây ảnh hưởng đến lợi ích chung của địa phương Quảng Nam. Dựa vào các quy định của pháp luật, anh (chị) cho biết quan điểm về việc Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu “Hồng Đào” có bị hủy hay không? Tại sao?
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Phân tích điểm khác biệt giữa quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp?
2 Công ty TNHH Thực Phẩm Quốc Anh tại Đà Nẵng đã được Cục sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu số 47452 cho sản phẩm rượu “Hồng Đào” năm 2006
Năm 2007, Công ty cổ phần thương mại Ngọc Linh ở Quảng Nam gửi đơn khiếu nại đến Cục sở hữu trí tuệ yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận đăng ký nhẵn hiệu rượu “Hồng Đào” với lý do “Hồng Đào” là chỉ dẫn địa lý gắn liền với sản phẩm nổi tiếng ở Quảng Nam Mặc dù “Hồng Đào” không phải là một địa danh của Quảng Nam nhưng rượu Hồng Đào được cho là gắn liền với xứ Quảng Nam theo như câu ca dao: “Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm Rượu Hồng Đào chưa nhấm đã…say” Vì vậy, việc công ty TNHH Thực Phẩm Quốc Anh độc quyền
sử dụng nhãn hiệu này là bất hợp lý, gây ảnh hưởng đến lợi ích chung của địa phương Quảng Nam
Dựa vào các quy định của pháp luật, anh (chị) cho biết quan điểm về việc Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu “Hồng Đào” có bị hủy hay không? Tại sao?
Trang 2NỘI DUNG
1 Phân tích điểm khác biệt giữa quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp?
Quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp là những bộ phận chính trong chế định quyền sở hữu trí tuệ Bởi đó, giữa hai quyền này có những điểm tương đồng với nhau, cụ thể: Đều là một trong những đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Luật SHTT; Đều là những quyền của các chủ thể sáng tạo hoặc chủ thể sở hữu các sáng tạo đó; Bảo hộ cho quyền và lợi ích của các chủ thể
có quyền và tránh các hành vi xâm phạm đến chủ thể có quyền được bảo hộ Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tương đồng đó thì quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp cũng có sự khác biệt được hệ thống hóa bằng bảng sau:
Quyền tác giả Quyền sở hữu công nghiệp Khái niệm Quyền tác giả là quyền của
tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu (Khoản 2 Điều
4 Luật SHTT)
Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh (Khoản 4 Điều 4 Luật SHTT)
Đối tượng Đối tượng quyền tác giả bao Đối tượng quyền sở hữu công
Trang 3gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá (Khoản 1 Điều 3 Luật SHTT)
nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý (Khoản 2 Điều 3 Luật SHTT)
Căn cứ
phát sinh
Quyền tác giả phát sinh kể
từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố,
đã đăng ký hay chưa đăng
ký (Khoản 1 Điều 6 Luật SHTT)
Quyền sở hữu công nghiệp phát sinh tại từng thời điểm khác nhau tùy thuộc vào đối tượng được bảo hộ
Cơ chế bảo
hộ
Bảo hộ hình thức thể hiện của sự sáng tạo, không bảo
hộ nội dung
Bảo hộ nội dung ý tưởng sáng tạo và uy tín thương mại; một
số đối tượng phải được đánh giá và công nhận, một số đối tượng khác được xác định bảo
hộ thông qua các vụ tranh chấp (Tức là quyền sở hữu công
Trang 4nghiệp bảo hộ cả về hình thức
và nội dung) Hình thức
xác lập
quyền
Theo cơ chế bảo hộ tự động (Không cần phải có văn bằng bảo hộ)
Một số đối tượng bắt buộc phải đăng ký, phải được cấp văn bằng mới được bảo hộ (ví dụ: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu…)
Thời hạn
bảo hộ
Không xác định được rõ ràng: thường là suốt cuộc đời tác giả và 50 (hoặc 60, 70) năm sau khi tác giả qua đời; một số quyền nhân thân của tác giả được bảo hộ vô thời hạn (đặt tên tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh, nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố…)
Thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có xác định được
và thường ngắn hơn so với thời hạn bảo hộ quyền tác giả, tùy thuộc vào từng đối tượng được bảo hộ (Cụ thể: 5 năm đối với kiểu dáng công nghiệp, 10 năm đối với nhãn hiệu, 20 năm đối với sáng chế – có thể gia hạn thêm một khoảng thời gian tương ứng với từng đối tượng) Mục đích
sáng tạo
Thỏa mãn mặt phục vụ tinh thần
Mang tính kinh tế thương mại
Phạm vi
bảo hộ
Được bảo hộ tại các quốc gia khác
Phải đăng ký tại các nước khác mới được bảo hộ
*Đánh giá chung: Thông qua một số điểm khác biệt như trên chúng ta có thể thấy Quyền sở hữu công nghiệp không thể xác định được thông qua các đặc điểm vật chất của đối tượng sở hữu công nghiệp mà nó phải được thể hiện thông qua một dạng vật chất hữu hình hoặc một cách thức cụ thể nào đó để có thể bảo
vệ được Ngược lại Quyền tác giả là quyền của tổ chức, các nhân đối với tác
Trang 5phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Quyền tác giả được ghi nhận cho các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học như sách, bài giảng, tác phẩm âm nhạc Từ
đó cho thấy nếu đối tượng của quyền tác giả luôn mang mang tính sáng tạo, được bảo hộ không phụ thuộc vào giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật thì đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp luôn gắn với hoạt động sản xuất, kinh doanh
Bên cạnh đó, pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức chứa đựng tác phẩm khi nó được tạo ra và thể hiện dưới hình thức nhất định mà không bảo
hộ nội dung sáng tạo tác phẩm Còn đối với sở hữu công nghiệp bảo hộ độc quyền cả về hình thức lẫn nội dung với điều kiện bảo hộ khắt khe hơn đó là đòi hỏi phải có tính mới, tính sáng tạo, tính phân biệt được với các sản phẩm khác
Không những thế, quyền tác giả được xác lập dựa vào chính hành vi tạo ra tác phẩm của tác giả, không phụ thuộc vào thể thức, thủ tục nào Nhưng đối với quyền sở hữu công nghiệp, được xác lập dựa trân quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua việc xét và cấp văn bằng bảo hộ cho chủ sở hữu các đối tượng đó (trừ các đối tượng sở hữu công nghiệp được xác lập một cách
tự động như bí mật kinh doanh, tên thương mại)1 Và việc đăng ký đối với quyền tác giả chỉ mang tính khuyến nghị, còn đối với quyền sở hữu công nghiệp thì mang tính bắt buộc Thêm vào đó theo như luật định thì quyền tác giả thường có thời hạn bảo hộ dài hơn so với quyền sở hữu công nghiệp
2 Giải quyết tình huống
*Tại Khoản 16 Điều 4 Luật SHTT có nêu: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng
để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân khác nhau” 2 Và nhãn hiệu được cấp văn bằng bảo hộ phải đồng thời đáp ứng hai tiêu chí quy định tại Điều
72 Luật SHTT Đó là:
1 Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ
2 Xem: Khoản 16 Điều 4 Luật SHTT năm 2009
Trang 6- Tiêu chí bảo hộ thứ nhất, nhãn hiệu phải hội tụ đủ hai yếu tố: Thứ nhất, là các dấu hiệu có thể nhìn thấy được, có thể “tri giác” được; thứ hai, các dấu hiệu cụ thể xem xét là nhãn hiệu được tồn tại dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình ảnh…(theo khoản 1 Điều 72 Luật SHTT) Theo quy định của pháp luật đặc điểm thứ nhất của nhãn hiệu là các dấu hiệu có thể nhìn thấy được, có nghĩa là con người có thể nhận thức được, nắm bắt được về chúng qua khả năng thị giác của con người
- Tiêu chí bảo hộ thứ hai: Nhãn hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác (theo khoản 2 Điều
72 Luật SHTT và Khoản 1 Điều 74 Luật SHTT)
Như vậy, căn cứ theo Điều luật nêu trên thì công ty TNHH Thực Phẩm Quốc Anh được Cục sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ cho sản phẩm rượu
“Hồng Đào” là đúng theo quy định của pháp luật Bởi vì đáp ứng được đầy đủ các điều kiện về bảo hộ nhãn hiệu và không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 74 Luật SHTT Bên cạnh đó, công ty TNHH Thực Phẩm Quốc Anh khi được cấp văn bằng bảo hộ đối với sản phẩm của mình không có hành vi xâm phạm nhãn hiệu quy định tại Điều 129 Luật SHTT
*Trong điều kiện nền kinh tế hiện đại ngày nay thì chỉ dẫn địa lý là một vấn đề được quan tâm đặc biệt không chỉ từ nhà sản xuất hàng hóa mà còn cả từ phía người tiêu dùng Một hàng hóa với các ưu thế độc đáo về chất lượng, chỉ duy nhất có được từ một vùng lãnh thổ địa phương nhất định bao giờ cũng chiếm
vị trí nổi bật so với các hàng hóa cùng loại khác trên thị trường và chỉ dẫn địa lý
là cách thức để truyền đạt một cách trung thực các thông tin đó từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng Vì vậy, chỉ dẫn địa lý được coi là một loại tài sản sở hữu trí
tuệ có giá trị thương mại lớn Tại Khoản 22 Điều 4 Luật SHTT có nêu: “Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương,
Trang 7vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể”3 Như vậy, chỉ dẫn địa lý giúp cho người tiêu dùng biết được hàng hóa đó đến từ khu vực nào với những nét đặc thù riêng của khu vực đó như thế nào trong quá trình lựa chọn sản phẩm4
Đặc biệt một chỉ dẫn địa lý được bảo hộ là một đối tượng sở hữu công nghiệp nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại Điều 79 Luật SHTT:
“1 Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý;
2 Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định” 5
Căn cứ theo quy định nêu trên thì một chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu đáp ứng được các điều kiện sau:
Thứ nhất, chỉ rõ nguồn gốc của sản phẩm: Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu (có thể là tên gọi, biểu tượng hoặc hình ảnh) nhưng dấu hiệu đó phải thỏa mãn các yêu cầu như:
- Phải gắn với một khu vực, địa phương cụ thể hay nói cách khác tên gọi, biểu tượng hình ảnh đó phải có thực và chỉ thuộc về khu vực địa phương đó mà thôi
- Phải được dùng với mục đích duy nhất chỉ rõ sản phẩm hàng hóa có nguồn gốc sản xuất từ khu vực địa phương đó chứ không phải gắn trên hàng hóa hay bao bì của hàng hóa nhằm mục đích trang trí cho đẹp hay vì bất kỳ mục đích nào khác
Thứ hai, mối quan hệ giữa danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm với điều kiện địa lý: Có mối liên hệ phụ thuộc giữa chất lượng đặc thù, danh
3 Xem: Khoản 22 Luật SHTT năm 2009, tr.12
4 Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, tr 145
5 Xem: Điều 79 Luật SHTT năm 2009, tr 66
Trang 8tiếng của hàng hóa với môi trường địa lý được chỉ rõ trong chỉ dẫn địa lý đó Hàng hóa, sản phẩm đó phải có ít nhất có một tính chất đặc thù về chất lượng hoặc có danh tiếng liên quan đến điều kiện địa lí tự nhiên, con người của địa phương đó Như vậy, yêu cầu tối thiểu là phải chỉ ra được bằng chứng về đặc tính của hàng hóa có sự liên quan phụ thuộc với điều kiện tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó của khu vực, địa phương cụ thể Và vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 81, 82 Luật SHTT năm 2009
Xét tình huống đầu bài đưa ra, dưới một góc độ nào đó theo như lý do ghi trong đơn khiếu nại của Công ty cổ phần thương mại Ngọc Linh gửi đến Cục sở hữu trí tuệ có thể thấy “Hồng Đào” đã được biết đến rộng rãi thông qua câu ca
dao: “Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm Rượu Hồng Đào chưa nhắm đã… say” Bởi vậy, có thể nói rằng rượu “Hồng Đào” vốn đã nổi tiếng một cách
khách quan, vô tư thừ khi công ty TNHH Thực Phẩm Quốc Anh tại Đà Nẵng có
ý tưởng sản xuất loại rượu này Nhìn từ khía cạnh đó, nhiều người cho rằng
“Hồng Đào” với danh tiếng như vậy đã gián tiếp truyền tải những thông tin đến người tiêu dùng trong cả nước cũng như quốc tế về nguồn gốc địa lý của hàng hóa, gián tiếp chỉ dẫn đến chất lượng và đặc tính của hàng hóa này được sản xuất
từ vùng đất Quảng Nam Và công ty TNHH Thực Phẩm Quốc Anh chưa đủ sức
để đưa sản phẩm nổi tiếng đến như vậy với thương hiệu Hồng Đào, mà sự nổi tiếng này là do thừa hưởng lợi, danh tiếng vốn có của nó gắn với vùng đất Quảng Nam thông qua câu ca dao trên
Tuy nhiên, điều quan trọng mà chúng ta xét đến ở đây đó là “Hồng Đào” không phải là một địa danh của đất Quảng Nam Do đó, “Hồng Đào” ở đây sẽ không được xác định là khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý theo Điều 83 Luật
SHTT: “Khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý có ranh giới được xác định một cách chính xác bằng từ ngữ và bản đồ” Căn cứ theo Điều luật này mặc dù
Trang 9“Hồng Đào” được xác định là từ ngữ nhưng nó không được xác định và thể hiện trên bản đồ hành chính của vùng đất Quảng Nam Do vậy, “Hồng Đào” không được coi là chỉ dẫn địa lý, là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm nổi tiếng ở Quảng Nam Bởi nó không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện chung đối với chỉ dẫn địa
lý được bảo hộ như đã phân tích ở trên và được quy định tại Điều 79 Luật SHTT
Cụ thể đó là rượu “Hồng Đào” không phải tên gọi của bất kỳ một khu vực, địa phương trên đất Quảng Nam mà nó chỉ được biết đến thông qua câu ca dao gắn liền với xứ Quảng Nam điều đó không chứng minh được rằng khi nhắc đến
“Hồng Đào” người tiêu dùng sẽ liên tưởng đến xứ Quảng Nam Thông qua câu
ca dao nổi tiếng đó người tiêu dùng cũng có thể nghĩ rằng “Hồng Đào” là một loại nguyên liệu dùng để sản xuất ra rượu mà không mang tính chất chỉ nguồn gốc được xuất xứ tại vùng đất Quảng Nam hoặc ngược lại khi nhắc đến xứ Quảng Nam người ta chỉ nhớ đến câu ca dao đó như trong tác phẩm văn học
Như vậy, cũng theo khoản 1 Điều 96 Luật SHTT quy định thì văn bằng
bảo hộ bị hủy bỏ toàn bộ hiệu lực trong các trường hợp:
“a) Người nộp đơn đăng ký không có quyền đăng ký và không được chuyển nhượng quyền đăng ký đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu;
b) Đối tượng sở hữu công nghiệp không đáp ứng các điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng bảo hộ” 6
Căn cứ theo quy định của Điều luật này và những phân tích ở trên thì công ty TNHH Thực Phẩm Quốc Anh tại thời điểm được cấp văn bằng bảo hộ cho sản phẩm rượu “Hồng Đào” đã đáp ứng các điều kiện bảo hộ theo luật định Và
“Hồng Đào” theo như trong câu ca dao mà công ty cổ phần thương mại Ngọc Linh đã khiếu nại không phải là chỉ dẫn địa lý Do đó, việc Công ty cổ phần
6 Xem: Khoản 1 Điều 96 Luật SHTT năm 2009
Trang 10thương Mại ở Quảng Nam yêu cầu Cục sở hữu trí tuệ hủy bỏ giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu rượu “Hồng Đào” của công ty TNHH Thực Phẩm Quốc Anh
là không có căn cứ Vì vậy, theo quan điểm của em giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu “Hồng Đào” sẽ không bị hủy và vẫn có hiệu lực bảo hộ
KẾT LUẬN
Trên đây là toàn bộ hướng giải quyết bài tập của em Do kiến thức còn hạn chế nên bài làm còn nhiều thiếu xót Kính mong quý thầy (cô) góp ý để bài tiểu luận của em đượ hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình “Luật sở hữu trí tuệ”, NXB
Công an nhân dân, Hà Nội, 2009;
2 Luật sở hữu trí tuệ năm 2009;
3.http://dangkybanquyen.vn/tin-tuc/tranh-chap-nhan-hieu-vi-cau-ca-dao.html