Đây là tiểu luận, báo cáo kết thúc chương trình đào tạo chuyên viên. với nội dung đề tài: “Người lao động là yếu tố quyết định trong lực lượng sản xuất . Liên hệ với vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay”. Tiểu luận là tài liệu có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo tốt cho những cán bộ, viên chức đào tạo chuyên viên
Trang 1Trong một phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất là yếu tố thường xuyên vận động và phát triển Sự phát triển của lực lượng sản xuất được đo bằng
sự phát triển của các yếu tố cấu thành nó như tư liệu sản xuất và người lao động Người lao động chính là yếu tố quyết định của quá trình sản xuất vật chất vì suy cho cùng, tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất đều cần có bàn tay và khối óc của con người Bởi vậy, để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, người lao động chính là yếu tố then chốt, giữ vai trò quan trọng bậc nhất
Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ; lực lượng sản xuất đã không ngừng phát triển với trình
độ ngày càng tiên tiến, hiện đại; đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Với tư cách là nhân tố quan trọng, đóng vai trò quyết định của lực lượng sản xuất, người lao động cũng không ngừng biến đổi và phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự phát triển lực lượng sản xuất hiện đại Vì vậy trong lực lượng sản xuất hiện đại, người lao động có nhiều đặc điểm rất khác so với người lao động trong lực lượng sản xuất của những giai đoạn trước như lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với sự phát triển của khoa học, công nghệ trong thời đại ngày nay; người lao động không phải là con người nói chung và không phải người nào có sức mạnh thể chất và tinh thần cũng được coi là người lao động;
Những năm gần đây trung bình hàng năm có khoảng 1,2 đến 1,3 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động Theo báo cáo của Tổng cục Dạy nghề số lượng người qua đào tạo không ngừng tăng lên, nhưng chủ yếu là lao động được đào tạo ngắn hạn, nên rất thiếu lao động có trình độ tay nghề giỏi, công nhân kỹ thuật bậc cao Với số người bước vào tuổi lao động hàng năm như trên là nguồn tuyển sinh rất lớn cho các cơ sở đào tạo, nhưng trong thực tế số người theo học tại các cơ sở dạy nghề rất ít, chất lượng đào tạo không tốt, nhiều ngành nghề không đáp ứng yêu cầu xã hội đang gây ra sự lãng phí về sự đầu tư của người dân và xã hội, làm mất cơ hội nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực Qua số liệu thống kê cho thấy, hiện nay, Việt
Trang 2Nam có số người trong độ tuổi lao động trên tổng dân số chiếm tỷ lệ 75,2% là nước đang ở giai đoạn dân số vàng, nhưng số lao động qua đào tạo có bằng chuyên môn kỹ thuật chỉ chiếm tỷ lệ chỉ 17,9% (nông thôn 11,2%) Cho thấy, chất lượng nhân lực ở nước ta còn thấp, cơ cấu lao động bất hợp lý, đang mất sức cạnh tranh trên thị trường lao động, cần sớm có những giải pháp tháo gỡ
Từ những lý do trên, học viên chọn nghiên cứu đề tài thực tế: “Người lao động là yếu tố quyết định trong lực lượng sản xuất Liên hệ với vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay” làm bài thu hoạch kết thúc môn học.
Bố cục bài thu hoạch gồm 3 phần:
I Người lao động trong lực lượng sản xuất
II Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực hiện nay
III Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 3NỘI DUNG
I Người lao động trong lực lượng sản xuất
1.1 Khái niệm
- Lao động là nguồn của mọi của cải và mọi văn hoá, và vì lao động có ích thì chỉ có thể có được trong xã hội và do xã hội, cho nên thu nhập do lao động đem lại là thuộc về tất cả mọi thành viên trong xã hội một cách không bị cắt xén, theo những quyền ngang nhau
- Người lao động là một trong các chủ thể của quan hệ pháp luật lao động, là một trong yếu tố cấu thành nên lực lượng sản xuất Yếu tố không thể thiếu khi tham gia vào sản xuất
+ Trước hết, chúng ta tìm hiểu về mặt lý luận xã hội, người lao động trong quan hệ với cách hiểu là lực lượng sản xuất
Khái niệm lực lượng sản xuất dùng để chỉ tổng thể các yếu tố cấu thành nội dung vật chất, kỹ thuật, công nghệ,… của quá trình sản xuất, tạo thành năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người Với nghĩa như vậy, lực lượng sản xuất cũng đóng vai trò phản ánh căn bản trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người Các yếu tố (nhân tố) tạo thành lực lượng sản xuất gồm có: tư liệu sản xuất (trong đó, công cụ sản xuất là yếu tố phản ánh rõ ràng nhất trình độ chinh phục tự nhiên của con người) và người lao động (trong đó năng lực sáng tạo của nó là yếu tố đặc biệt quan trọng)
Yếu tố con người trong lực lượng sản xuất này là người lao động trong quan hệ lao động yếu tố rất quan trọng chi phối được hiệu quả công việc Người lao động là yếu tố có trí tuệ, có sức khỏe, sáng tạo ra những kiến thức, những vật dụng, những thứ mà có thể phục vụ cho chính nhu cầu của con người và xã hội
+ Về mặt pháp lý, theo khoản 1 điều 3 Bộ luật lao động 2012 thể hiện
“1 Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.”
Trang 4Người lao động theo quy định của pháp luật phải có điều kiện, Để đảm bảo các quyền, lợi ích của người lao động (có thể nói là bên hơi yếu thế) không bị xâm phạm, hay bị lạm dụng thì luật phải quy định điều kiện tối thiểu
về sức khỏe, sự hiểu biết thì mới tham gia vào quan hệ lao động Các điều kiện đó thể hiện như:
Một là, người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên;
Hai là, có khả năng lao động ở đây có thể hiểu điều kiện người lao động phải có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động
Có thể thấy rằng khái niệm khả năng lao động chỉ là vấn đề định tính,
do đó cần phải cụ thể hóa phẩm chất chung “ có khả năng lao động” thành những tiêu chuẩn có tính định lượng để các bên lấy đó làm cơ sở đánh giá lao động phục vụ cho việc tuyển dụng lao động đồng thời giúp cho người lao động tự đánh giá mình khi muốn tham gia vào quá trình tuyển dụng lao động Theo quan điểm khoa học pháp lí thì “ khả năng lao động ” của người lao động được thể hiện qua năng lực pháp luật và năng lực hành vi
Năng lực pháp luật lao động của công dân là khả năng mà pháp luật
quy định hay ghi nhận cho công dân quyền có việc làm, được làm việc, được hưởng quyền, đồng thời thực hiện các nghĩa vụ của người lao động Các quy định này có thể trở thành thực tế hay không lại phụ thuộc vào khả năng của mỗi công dân (hay năng lực hành vi của họ)
Năng lực hành vi lao động của công dân là khả năng bằng chính hành
vi của bản thân họ tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật lao động, tự hoàn thành mọi nhiệm vụ, tạo ra và thực hiện quyền, hưởng mọi quyền lợi của người lao động Năng lực hành vi lao động được thể hiện trên hai yếu tố có tính chất điều kiện là thể lực và trí lực Thể lực chính là sức khỏe bình thường của người lao động để có thể thực hiện được một công việc nhất định trí lực
là khả năng nhận thức đối với hành vi lao động mà họ thực hiện và với mục đích công việc họ làm Do đó, muốn có năng lực hành vi lao động, con người phải trải qua thời gian phát triển cơ thể (tức là đạt đến một độ tuổi nhất định)
Trang 5và có quá trình tích lũy kiến thức và kỹ năng lao động (phải được học tập và rèn luyện…)
Ba là, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản
lý, điều hành của người sử dụng lao động Người lao động và người sử dụng lao động ký kết hợp đồng theo thỏa thuận trong khuôn khổ pháp luật, làm công việc được giao và hưởng theo lợi ích, được trả lương theo quy định, có nghĩa vụ đối với người sử dụng lao động, chịu sự điều hành của người sử dụng lao động
1.2 Người lao động là yếu tố quyết định trong lực lượng sản xuất
Trong các yếu tố của LLSX, “LLSX hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân là người lao động” Con người là nhân vật chính của lịch sử, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển xã hội Nhân tố con người vừa là phương tiện sáng tạo ra mọi giá trị của cải vật chất và tinh thần, sáng tạo và hoàn thiện ngay chính bản thân mình đồng thời vừa là chủ nhân sử dụng có hiệu quả mọi tài sản vô giá ấy Trên phương diện đó vai trò nhân tố con người lao động trong LLSX là yếu tố động nhất sáng tạo nhất của quá trình sản xuất Nhân tố trung tâm của con người chính là sức lao động bao gồm thể lực và trí lực Không có người lao động nào trong quá trình sản xuất vật chất lại không cần đến lao đông thể lực hay lao động cơ bắp Chính những người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kĩ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất Cùng với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con người không ngừng được tăng lên, đặc biệt là trí tuệ của con người ngày càng phát triển Trong quá trình đó không những con người sử dụng trí tuệ nội tại của mình mà còn được
kế thừa những kinh nghiệm qua học hỏi lẫn nhau giữa những người lao động cho nên có thể nói kinh nghiệm cũng là một LLSX Kinh nghiệm được tích luỹ dần trở thành kỹ năng và cao hơn nữa nó có thể trở thành tri thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ
Trang 6LLSX bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội
Chính những người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kĩ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động trước hết
là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất Bước kinh tế tri thức, sự phát triển của LLSX biểu hiện ở hai mặt:
- Trí lực đóng vai trò chủ đạo, tức là sẽ xuất hiện một tầng lớp lao động trí óc đông đảo hợp thành chủ thể trong đội ngũ những người lao động
- Những nhân tố mới thúc đẩy LLSX sẽ được phát triển rộng khắp
Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Con người không thể SXVC mà không cần đến những yếu tố sẵn có trong tự nhiên như đất, nước, khoáng sản, không khí, … Đó chính là những đối tượng lao động Đặc trưng nổi bật của công cụ sản xuất và đối tượng lao động biểu hiện chủ yếu ở sự gia tăng hàm lượng khoa học và công nghệ, cuối cùng là hàm lượng tri thức được kết tinh trong sản phẩm ngày càng nhiều
Còn tư liệu lao động là những phương tiện, công cụ lao động mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, sản xuất ra của cải vật chất Thông qua các công cụ của họ đã chứng tỏ họ có hoạt động lao động và đây cũng chính là ranh giới tách người ra khỏi giới sinh vật nói chung, thế giới động vật nói riêng
Vai trò của con người trong LLSX
Con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ thời cổ đại đến hiện đại Trong đó quan niệm của triết học Mac-Lênin về con người và bản chất con người, xuất phát từ giác độ khái quát nhất, đứng trên lập trường duy vật biện chứng, làm cơ sở phương pháp luận cho việc giải quyết những vấn đề khác của con người, có thể nói là đúng đắn nhất cho tới ngày nay
Trước hết con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên Con người là một bộ phận của tự nhiên.Con
Trang 7người không thể tồn tại mà thoát ly khỏi quá trình tất yếu đó là sinh ra, phát triển rồi chết đi Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người
Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là mặt xã hội Thông qua hoạt động lao động sản xuất con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ đời sống của mình hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy, xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội
Con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành
và phát triển của con người luôn bị quyết định bởi các hệ thống quy luật khác nhau nhưng thống nhất với nhau Chúng cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội Mối quan hệ sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành các nhu cầu về sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở, nhu cầu tái sản xuất xã hội, nhu cầu tình cảm, nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu hưởng thụ các giá trị tinh thần Như vậy ta thấy rõ mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất nhất để phân biệt con người với loài vật Hai mặt trên thống nhất với nhau để tạo nên con người tự nhiên- xã hội hay một thực thể song trùng
Trong đời sống con người, xét trên ba phương diện khác nhau: quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội và chính bản thân con người, suy đến cùng đều mang tính xã hội Nhưng có thể nói quan hệ giữa con người với con người là quan hệ bản chất nhất bao trùm lên các mối quan hệ khác Thực tế lịch sử đã chứng minh không có một cá nhân nào có thể tự đáp ứng đầy đủ nhu cầu của bản thân cũng như không thể lao động một cách độc lập tuyệt đối
để SXVC mà phải liên kết lại với nhau, phân công lao động và trao đổi sản phẩm cho nhau Từ đó hình thành các quan hệ xã hội, điều chỉnh và chi phối
Trang 8hoạt động, hành vi của con người Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ đó, con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất của mình Trong điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người sản xuất ra của cải vật chất đồng thời hoàn thiện bản thân mình
II Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực hiện nay
2.1 Một số hạn chế của nguồn nhân lực
Qua nghiên cứu cho thấy nguồn nhân lực của tỉnh hiện nay còn có một
số những hạn chế nhất định như:
Thứ nhất, thể chất của lực lượng lao động còn yếu: Về cơ bản, thể chất
của người lao động đã được cải thiện, nhưng còn thấp so với yêu cầu của các nước trong khu vực, thể hiện ở các khía cạnh tầm vóc, sức khoẻ, sức bền, khả năng chịu áp lực…
Thứ hai, trình độ của người lao động còn nhiều hạn chế, bất cập, do
chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địa phương của nguồn nhân lực chưa phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và nhu cầu của xã hội, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội
Thứ ba, thiếu đội ngũ công nhân, kỹ thuật viên lành nghề để đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của xã hội phát triển các ngành kinh tế chủ lực của tỉnh
Thứ tư, về cơ bản đội ngũ lao động trong tỉnh chỉ giỏi lý thuyết, nhưng
kém về năng lực thực hành và ứng dụng công nghệ cao vào quá trình lao động, kém về ngoại ngữ và hạn chế trong việc thích nghi môi trường có áp lực cạnh tranh cao
Thứ năm, khả năng làm việc theo nhóm, tính sáng tạo, chuyên nghiệp
trong quá trình lao động còn nhiều hạn chế, khả năng giao tiếp, năng lực giải quyết xung đột trong quá trình lao động còn yếu kém
Thứ sáu, tinh thần trách nhiệm trong công việc, đạo đức nghề nghiệp,
đạo đức công dân, văn hoá doanh nghiệp, ý thức tuân thủ kỷ luật lao động của một bộ phận đáng kể người lao động chưa cao
2.2 Nguyên nhân của những hạn chế
Trang 9Còn một số tồn tại hạn chế trên có thể kể đến những nguyên nhân cơ bản sau:
Một là, quản lý Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực còn nhiều vấn
đề bất cập so với yêu cầu Chưa có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực toàn diện và dài hạn, mang tầm quốc gia để định hướng các cơ quan, đoàn thể cùng phố hợp hành động
Hai là, hệ thống giáo dục từ cấp phổ thông, đến đào tạo nghề, đại học,
sau đại học là lực lượng nòng cốt trong quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực còn bộc lộ nhiều hạn chế, dù đã trải qua rất nhiều cải cách, đổi mới
Ba là, quá trình hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực phát triển
nguồn nhân lực chưa theo kịp quá trình hội nhập kinh tế, văn hoá, xã hội ngày càng sâu rộng của Việt nam Hệ thống giáo dục chưa bắt kịp với mô hình hệ thống giáo dục và đào tạo nhân lực phổ biến của các nước trong khu vực và thế giới Đào tạo ngoại ngữ của Việt Nam còn nặng tính hình thức, lý thuyết nhưng lại yếu kém trong thực hành
Bốn là, nguồn lực quốc gia và khả năng đầu tư cho phát triển nhân lực
của phần lớn các gia đình còn hạn chế, chưa đáp ứng điều kiện tối thiểu để bảo đảm chất lượng các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao
III Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Vĩnh Phúc 3.1 Yêu cầu đối với nguồn nhân lực Vĩnh Phúc trong bối cảnh hội nhập
Nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, từ bối cảnh trong nước, quá trình phát triển nguồn nhân lực của tỉnh đang đứng trước những yêu cầu cấp thiết sau:
- Bảo đảm nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột phá cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã được đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020: chú trọng phát triển theo chiều sâu, tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế; tăng năng suất lao động, tiết kiệm trong sử dụng mọi nguồn lực
Trang 10- Nguồn nhân lực phải có năng lực thích ứng với tình trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm và sự sụt giảm các nguồn đầu tư tài
chính; phải được đào tạo đầy đủ và toàn diện để có khả năng cạnh tranh và
tham gia lao động ở nước ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời có đủ năng lực để tham gia với cộng đồng quốc tế giải quyết những vấn
đề mang tính quốc gia
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Vĩnh Phúc trong thời gian tới
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của nguồn nhân lực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao lợi thế cạnh tranh của tỉnh trong thu hút đầu tư, những năm qua, Vĩnh Phúc luôn làm tốt công tác phát triển nguồn nhân lực Tập trung vào các giải pháp cụ thể như sau:
Một là, tiếp tục đổi mới quản lý Nhà nước Tập trung hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nguồn nhân lực, đổi mới phương pháp quản lý, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động bộ máy quản lý về phát triển nguồn nhân lực Đổi mới các chính sách, cơ chế, công cụ phát triển và quản lý nguồn nhân lực bao gồm các nội dung về môi trường làm việc, chính sách việc làm, thu nhập, bảo hiểm, bảo trợ xã hội, điều kiện nhà ở và các điều kiện sinh sống, định cư, chú ý các chính sách đối với bộ phận nhân lực chất lượng cao, nhân tài
Hai là, bảo đảm nguồn lực tài chính Phân bổ và sử dụng hợp lý Ngân sách Nhà nước dành cho phát triển nhân lực quốc gia đến năm 2020 Cần xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách nhà nước theo hướng tập trung đẩy mạnh thực hiện các chương trình, dự án đào tạo theo mục tiêu ưu tiên và thực hiện công bằng xã hội Đẩy mạnh xã hội hoá để tăng cường huy động các nguồn vốn cho phát triển nhân lực Tỉnh ủy, UBND tỉnh có cơ chế, chính sách để huy động các nguồn vốn của người dân đầu tư và đóng góp cho phát triển nhân lực bằng các hình thức:
- Trực tiếp đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục, đào tạo, cơ sở y tế, văn hoá, thể dục thể thao