1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề xuất sửa đổi một số quy định liên quan đến nhượng quyền thương mại

11 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 330,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết phân tích những nội dung cơ bản của nhượng quyền thương mại, như trợ giúp, kiểm soát và sự độc lập của các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại; nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên nhượng quyền; các đối tượng sở hữu công nghiệp trong hợp đồng nhượng quyền thương mại; mối quan hệ giữa nhượng quyền thương mại và pháp luật cạnh tranh.

Trang 1

Nhượng quyền thương mại (NQTM)

chịu sự điều chỉnh của nhiều văn

bản khâc nhau, trong đó, ba văn bản

có liín quan trực tiếp lă Luật Thương mại

năm 2005 (câc điều từ Điều 284 đến Điều

291); Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngăy

31/03/2006 của Chính phủ (Nghị định 35)

quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt

động NQTM (một số nội dung đê được sửa đổi bởi Nghị định số 120/2011/NĐ-CP của Chính phủ (Nghị định 120) vă Thông tư số 09/2006/TT-BTM (Thông tư 09) ban hănh ngăy 25/05/2006 của Bộ Thương mại về việc hướng dẫn đăng ký hoạt động NQTM; Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngăy 15/11/2013 của Chính phủ (Nghị định 185)

ĂÏÌ XUÍỊT SÛÊA ĂÖÍI MÖƠT SÖỊ QUY ẮNH LIÏN QUAN ĂÏỊN

NHÛÚƠNG QUÝÌN THÛÚNG MAƠI

Ngô Quốc Chiến*

*TS Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại thương, thănh viín Trung tđm

Nghiín cứu phâp luật chđu Đu vă Quốc tế (GERCIE), ĐH Tours, CH Phâp.

Thông tin băi viết:

Từ khoâ: nhượng quyền

thương mại, độc quyền.

Lịch sử băi viết:

Nhận băi: 12/09/2016

Biín tập: 28/09/2016

Duyệt băi: 04/10/2016

Article Infomation:

Keywords:

franchising, monopoly.

Article History:

Received: 12 Sep 2016

Edited: 28 Sep 2016

Approved: 04 Oct 2016

Tóm tắt:

Băi viết phđn tích những nội dung cơ bản của nhượng quyền thương mại, như trợ giúp, kiểm soât vă sự độc lập của câc bín trong hợp đồng nhượng quyền thương mại; nghĩa vụ cung cấp thông tin của bín nhượng quyền; câc đối tượng sở hữu công nghiệp trong hợp đồng nhượng quyền thương mại; mối quan hệ giữa nhượng quyền thương mại vă phâp luật cạnh tranh Những nội dung năy hiện đang được quy định trong nhiều văn bản khâc nhau nín dẫn tới hiện tượng chồng chĩo vă đôi khi mđu thuẫn Trín cơ sở phđn tích câc hạn chế của phâp luật Việt Nam vă so sânh với câc quy định của một số nước về cùng vấn đề, tâc giả đưa ra một số khuyến nghị nhằm tâi phâp điển hóa cả về nội dung vă hình thức những quy định điều chỉnh nhượng quyền thương mại.

Abstract:

This paper provides analysis the essential of franchising, such as support, control and independence of the parties to the franchise agreement; the franchisor’s obligation of information provision; subjects of industrial property in the franchise agreement; the relationship between franchising and competition law These matters are currently being regulated in several different legal documents, which lead to overlaps and sometimes contradictions By analyzing the limitations of Vietnamese legislation and comparing with the regulations of a number of countries on the same issue, the author gives out recommendations in order to re-codify both the contents and the form of the provisions governing franchising.

Trang 2

xử phạt hành chính trong hoạt động thương

mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm

và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Bên

cạnh các văn bản này, hoạt động NQTM còn

chịu sự điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ

(SHTT), Luật Cạnh tranh và các luật chuyên

ngành khác (tùy thuộc vào loại hàng hóa,

dịch vụ kinh doanh là đối tượng của hợp

đồng NQTM)

Các văn bản này hiện đang có một số

nội dung chồng chéo và các quy định còn

mâu thuẫn nhau Để các văn bản này phát

huy hiệu quả tốt hơn trong thực tế, cần tiến

hành song song việc tái pháp điển hóa về nội

dung, sửa đổi những quy định không phù

hợp, loại bỏ chồng chéo, mâu thuẫn; và pháp

điển hóa hình thức, tập hợp các văn bản

khác nhau vào trong một văn bản duy nhất

1 Trợ giúp, kiểm soát và sự độc lập của

các bên trong hợp đồng nhượng quyền

thương mại

NQTM là một trong những loại hệ

thống kinh doanh được đơn giản hóa và quy

chuẩn hóa cả về tổ chức lẫn hoạt động Nếu

như sự độc đáo của mô hình kinh doanh là

yếu tố đảm bảo sự thành công ban đầu của

hệ thống NQTM thì duy trì tính đồng nhất

là yếu tố then chốt giúp hệ thống tồn tại lâu

dài Một trong những công cụ hữu hiệu nhất

để đảm bảo tính đồng nhất của hệ thống

NQTM chính là trợ giúp kỹ thuật và kiểm

soát hệ thống

Hệ thống NQTM không phải là một

tập đoàn được tổ chức thành các công ty con

và các chi nhánh, mà là một mạng lưới các

công ty đồng nhất và độc lập, vì thế nội

dung và phương thức kiểm soát hệ thống

cũng phải khác so với kiểm soát các hệ

thống phân phối nói chung Trong NQTM, nếu như nhãn hiệu và bí quyết kinh doanh đóng vai trò cốt yếu, thì trợ giúp kỹ thuật và kiểm soát hệ thống để đảm bảo tính đồng nhất của hệ thống cũng là một tham số không thể thiếu trong công thức NQTM: Nhãn hiệu + Bí quyết kinh doanh + Trợ giúp

kỹ thuật = NQTM

Việc huy động nhân lực và vật lực trong các hệ thống NQTM được thực hiện theo logic khai thác hơn là sở hữu Hợp đồng mua bán là chuyển quyền sở hữu, trong khi trong hợp đồng NQTM chỉ có sự chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu và bí quyết kinh doanh Trong NQTM có một sự cộng sinh phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế nhưng độc lập với nhau về pháp lý giữa các đối tác Xu hướng phát triển NQTM tại một

số nước châu Âu và Mỹ1 cho thấy, bên nhượng quyền có xu hướng tìm cách thôn tính các đơn vị nhận quyền hoạt động hiệu quả nhất Rất nhiều mạng lưới NQTM là sự pha trộn và kết hợp các chi nhánh (các đơn

vị thuộc quyền sở hữu của bên nhượng quyền) và các đối tác độc lập (các đơn vị độc lập của các bên nhận quyền) Cấu trúc mạng lưới này cho phép kết hợp hiệu ứng dây chuyền của các chi nhánh thuộc bên nhượng quyền và sức mạnh nhân lực và tài chính của các bên nhận quyền độc lập Việc khai thác thông tin thu được từ các chi nhánh và các đơn vị nhận quyền cho phép thực hiện bên trong hệ thống một quy trình học hỏi lẫn nhau Nhờ đó, tỷ lệ thất bại của các bên nhận quyền mới tham gia hệ thống thấp hơn tỷ lệ thất bại trung bình của các doanh nghiệp mới thành lập2 Tuy nhiên, NQTM ẩn chứa không ít rủi ro, bởi động cơ và hành vi của

1 K MCCORMICK GNUVA, Le déséquilibre inhérent à la relation de franchise: étude comparative du droit français

et du droit américain (Bản chất bất cân xứng của hợp đồng NQTM: nghiên cứu so sánh pháp luật Pháp và pháp luật Mỹ), luật án tiến sỹ luật học, ĐH Nice-Sophia Antipolis, 1997

2 Theo một điều tra của Viện Thống kê và nghiên cứu kinh tế quốc gia Pháp (INSEE) năm 2012 đăng trên Tạp chí Franchise Magazine của Pháp tháng 3/2013, tỷ lệ thành công của các công ty nhận quyền thương mại là 90%, so với chỉ 50% của các doanh nghiệp khác.

Trang 3

các bên không phải lúc nào cũng như nhau3,

và bên nhượng quyền có xu hướng can thiệp

quá sâu vào công việc kinh doanh của bên

nhận quyền với lý do cần bảo đảm sự đồng

nhất của hệ thống Để phòng ngừa nguy cơ

lạm quyền này, qua đó thiết lập một sự bảo

vệ cần thiết bên nhận quyền - bên yếu thế

trong quan hệ NQTM, cần phải khẳng định

và bảo vệ sự độc lập của bên nhận quyền

Nội dung của trợ giúp và kiểm soát hệ

thống NQTM: Trợ giúp và kiểm soát có

những biểu hiện rất đa dạng, nhưng có thể

tập trung trong bốn nhóm chính: trợ giúp

pháp lý, kiểm soát sản phẩm hay dịch vụ,

kiểm soát quản lý tổ chức và kiểm soát nhân

sự Cả bốn nội dung này phải được thực hiện

trước và trong quá trình thực hiện hợp đồng

NQTM Vì trợ giúp kỹ thuật và kiểm soát hệ

thống có lý do tồn tại là để áp dụng hiệu quả

bí quyết kinh doanh và đảm bảo tính đồng

nhất của hệ thống, nên nó phải được thực

hiện trong suốt quá trình khai thác mô hình

kinh doanh Tuy nhiên, nội dung trợ giúp và

kiểm soát ở mỗi giai đoạn của vòng đời

NQTM có những nét khác nhau4

Giới hạn của trợ giúp và kiểm soát hệ

thống: Nếu như pháp luật của đa số các

nước coi trợ giúp kỹ thuật là một nghĩa vụ5

còn kiểm soát hệ thống là một quyền của

bên nhượng quyền, thì pháp luật Việt Nam

lại coi cả trợ giúp kỹ thuật lẫn kiểm soát là

các quyền của bên nhượng quyền Khoản 2

Điều 284 Luật Thương mại năm 2005 quy

định: “Bên nhượng quyền có quyền kiểm

soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong

việc điều hành công việc kinh doanh” Đây

là một khiếm khuyết rất đáng tiếc của Luật Thương mại năm 2005, vì trong thực tế, bên nhượng quyền hoàn toàn có thể không cung cấp các trợ giúp kỹ thuật cần thiết cho bên nhận quyền, trong khi đây lại là một nội dung không thể thiếu của NQTM Quy định này cũng mâu thuẫn với một quy định khác của chính Luật Thương mại năm 2005 Theo khoản 2 Điều 287, bên nhượng quyền có nghĩa vụ “đào tạo ban đầu và cung cấp trợ giúp kỹ thuật thường xuyên cho thương nhân nhận quyền để điều hành hoạt động theo đúng hệ thống NQTM” Như vậy, theo Điều 287, trợ giúp là một nghĩa vụ, nhưng theo Điều 284, đó là một quyền

Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản hướng dẫn cũng chưa làm rõ nội dung của hai khái niệm “trợ giúp” và “kiểm soát” Hai khái niệm này trong thực tế có rất nhiều điểm giống nhau, và bên nhận quyền khó có thể phân biệt được đâu là trợ giúp và đâu là kiểm soát của bên nhượng quyền Đây chính là cơ hội để cho bên nhượng quyền lợi dụng danh nghĩa trợ giúp kỹ thuật

để thực hiện các trợ giúp và kiểm soát thái quá, làm mất đi sự độc lập của bên nhận quyền Theo tinh thần của khoản 2 Điều 284 Luật Thương mại năm 2005, thì việc trợ giúp và kiểm soát của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền phải giới hạn trong

“việc điều hành công việc kinh doanh” Chúng tôi nhận thấy, trợ giúp kỹ thuật là nhằm giúp bên nhận quyền khai thác hiệu quả mô hình kinh doanh theo đúng các chuẩn mực mà bên nhượng quyền đặt ra Nó phải được giới hạn ở việc khai thác bí quyết

3 Về động cơ của các bên trong hợp đồng NQTM, xem: Ngô Quốc Chiến, Trợ giúp kiểm soát trong NQTM và vấn đề độc lập của bên nhận quyền, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 64 tháng 4/2014; và các phân tích, so sánh pháp luật chi tiết hơn: Ngô Quốc Chiến, Le contrat de franchise, étude comparative - le droit français et le droit vietnamien, (Hợp đồng NQTM, nghiên cứu so sánh pháp luật Pháp và pháp luật Việt Nam), Luận án Tiến sỹ luật học, ĐH Tours, CH Pháp, 2012.

4 Về nội dung và ý nghĩa của các loại trợ giúp và kiểm soát này, xem: Ngô Quốc Chiến, Trợ giúp kiểm soát trong NQTM và vấn đề độc lập của bên nhận quyền, tlđd.

5 Flore SERGENT, L’obligation d’assistance du franchiseur (Nghĩa vụ trợ giúp của bên nhượng quyền), Petites affiches, 2/11/ 2009, số 218, tr 5.

Trang 4

kinh doanh, chứ không thể trong “công việc

kinh doanh” nói chung Phạm vi của trợ giúp

và kiểm soát quá rộng sẽ là cơ hội để bên

nhượng quyền can thiệp vào công việc quản

lý kinh doanh của bên nhận quyền, biến bên

nhận quyền thành người làm thuê cho mình,

trong khi bên nhận quyền phải chịu hoàn

toàn rủi ro đối với các đầu tư của mình vào

hệ thống NQTM

Ở một số nước, nếu bên nhượng

quyền can thiệp quá sâu vào công việc kinh

doanh của bên nhận quyền, thì Tòa án sẽ xác

định lại bản chất của hợp đồng Trong nhiều

trường hợp, hợp đồng NQTM bị coi là hợp

đồng lao động, vì thế bên nhượng quyền

phải gánh các hậu quả rất bất lợi Tại Pháp,

Tòa án thường xuyên nhắc lại rằng trợ giúp

kỹ thuật và kiểm soát hệ thống NQTM phải

được giới hạn ở việc giúp bên nhận quyền

khai thác bí quyết kinh doanh Trong một vụ

việc cụ thể, Tòa án Tối cao Pháp6cho rằng,

bên nhượng quyền không được phép thực

hiện việc xuất hóa đơn nhân danh bên nhận

quyền, nghiên cứu các vấn đề về thuế, tài

chính và pháp lý thay cho bên nhận quyền

Theo Tòa án, sự can thiệp như vậy vừa

không cần thiết, vừa làm ảnh hưởng đến sự

độc lập của bên nhận quyền, và thực chất

biến bên nhận quyền thành một người làm

thuê cho bên nhượng quyền Từ nhận định

đó, Tòa án Tối cao Pháp quyết định hợp

đồng mà hai bên gọi là hợp đồng NQTM

thực chất là hợp đồng lao động, và như vậy

phải áp dụng các quy định của Bộ luật Lao

động Hậu quả là bên nhượng quyền -người

thuê lao động - phải trả lương cũng như

đóng các loại phí bảo hiểm và y tế cho bên

nhận quyền - người làm thuê

Bên nhượng quyền trợ giúp thái quá

cũng có thể bị coi là đã trực tiếp lãnh đạo

công ty của bên nhận quyền, và khi đó sẽ phải gánh vác các thua lỗ của bên nhận quyền Để xác định thế nào là “lãnh đạo công ty trên thực tế”, Tòa án Pháp dựa trên rất nhiều tiêu chí và có tính đến đặc thù của từng loại NQTM Chẳng hạn, một bên nhượng quyền bị coi là lãnh đạo trên thực tế công ty của bên nhận quyền khi: “nắm giữ các tài liệu kế toán, pháp lý và ngân hàng liên quan đến việc quản lý công ty; lưu giữ chứng thực chữ ký ngân hàng của công ty; chuẩn bị tất cả các giấy tờ hành chính và các loại phiếu thu, chi; kê khai thuế thay cho công ty và tiến hành tuyển dụng nhân viên”7 Tương tự, trong một tranh chấp khác, Tòa thương mại Valenciennes đã coi bên nhượng quyền là người chủ thực sự của công ty bên nhận quyền vì đã “thực hiện toàn bộ việc thành lập công ty cho bên nhận quyền, thực hiện bút toán sổ sách, theo dõi hoạt động và ấn định lịch làm việc cho các nhân viên của công ty nhận quyền, và tự trả thù lao cho mình, những việc đáng lẽ thuộc bên nhận quyền”8

Tại Mỹ, việc trợ giúp cũng như kiểm soát thái quá của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền được coi là nguyên nhân làm mất cân bằng quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng NQTM Nhiều hợp đồng NQTM đã bị Tòa án xác định lại bản chất, khi bên nhận quyền “trong quá trình thực hiện hợp đồng nhượng quyền, phải tuân theo bên nhượng quyền, người đưa ra các mệnh lệnh, chỉ thị và giám sát việc thực hiện chúng cũng như đưa ra các chế tài cho các vi phạm”; khi bên nhượng quyền “đơn phương áp đặt các điều kiện khai thác mô hình kinh doanh và ấn định giờ làm việc của bên nhận quyền”9

Như vậy, chúng ta thấy rằng, cả ở

6 Bản án số 99-20788 ngày 18/6/2002 của Tòa Thương mại, Tòa án Tối cao Pháp.

7 Bản án số 91-18351, ngày 9/11/1993 của Tòa Thương mại, Tòa án Tối cao Pháp, đăng trên Bull civ IV, n° 390, tr.

284 ; JCP E 1994, II 612, et G II 22304, bình luận G VIRASSAMY.

8 Bản án ngày 8/6/1993, Rev proc coll 1993 582, n° 5, bình luận J BLANCHARD

9 K MCCORMICK GNUVA, sđd, tr 409.

Trang 5

Pháp và Mỹ, trợ giúp kỹ thuật và kiểm soát

hệ thống phải được thực hiện trong các giới

hạn của việc khai thác bí quyết kinh doanh

Vượt ra ngoài phạm vi đó, bên nhượng

quyền có thể bị coi là đã thực hiện các hành

vi làm ảnh hưởng đến sự độc lập của bên

nhận quyền

Từ các phân tích trên, chúng tôi cho

rằng Điều 284 Luật Thương mại năm 2005

cần bổ sung quy định khẳng định sự độc lập

pháp lý của bên nhận quyền đối với bên

nhượng quyền, và kiểm soát hệ thống nên

được quy định thành quyền của bên nhượng

quyền, còn trợ giúp kỹ thuật thành nghĩa vụ

của bên nhượng quyền Việc trợ giúp kỹ

thuật phải được giới hạn trong phạm vi giúp

bên nhận quyền khai thác tốt nhất bí quyết

kinh doanh

2 Tính tùy nghi của quy phạm về nghĩa

vụ cung cấp thông tin của bên nhượng

quyền

Hợp đồng NQTM là một loại hợp

đồng giữa các chủ thể tư chịu sự điều chỉnh

của các quy định của luật tư Vì vậy, về

nguyên tắc, Nhà nước không can thiệp quá

sâu vào công việc của các bên Nói cách

khác, pháp luật chỉ nên dừng lại ở việc đặt

ra các khuôn khổ để các bên được tự do thỏa

thuận các quyền và nghĩa vụ đối với nhau

Thông thường, nhà lập pháp sẽ cụ thể hóa

tư tưởng này bằng các quy phạm tùy nghi,

tức những quy phạm mà các bên có thể thỏa

thuận khác đi Theo logic đó, Luật Thương

mại năm 2005 đã sử dụng thường xuyên loại

quy định này Tuy nhiên, nguyên tắc tự do,

tự nguyện cam kết không phải là một

nguyên tắc tuyệt đối, mà cần phải có những

giới hạn nhất định để bảo vệ bên yếu thế

trong những loại hợp đồng gia nhập vốn có

đặc trưng là sự bất cân xứng về thông tin và quyền lực10, và thông qua đó, bảo vệ sự phát triển lành mạnh và bền vững của loại hình hoạt động này Liên quan đến nghĩa vụ của thương nhân nhượng quyền, Điều 287 Luật Thương mại năm 2005 được thiết kế là một quy phạm tùy nghi mà các bên có thể loại trừ bằng các thỏa thuận khác Do bản chất bất cân xứng về thông tin, cán cân sức mạnh nghiêng về bên nhượng quyền11 Vì vậy, quy định về nghĩa vụ của bên nhượng quyền cần được thiết kế là một quy phạm bắt buộc, mà nội dung cần được sửa đổi để bảo vệ tốt hơn bên nhận quyền Việc sửa đổi, bổ sung cũng cần tính đến việc tích hợp một số quy định của Nghị định 35 vào một điều luật để có thể vừa loại bỏ mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản, vừa giúp cho Luật được áp dụng ngay mà không cần Nghị định hướng dẫn

Cụ thể:

Về cung cấp thông tin trước khi ký kết hợp đồng, Điều 287 Luật Thương mại năm

2005 sử dụng khái niệm “nghĩa vụ” còn Điều 8 và Điều 9 Nghị định 35 lại sử dụng khái niệm “trách nhiệm” Đây không phải là hai khái niệm đồng nhất Điều 287 Luật Thương mại năm 2005 là một quy phạm tùy nghi, chỉ được áp dụng khi các bên “không

có thỏa thuận khác” Như vậy, bên nhượng quyền có thể không cung cấp thông tin cho bên nhận quyền bằng cách đưa vào hợp đồng một điều khoản loại trừ nghĩa vụ cung cấp thông tin Trong khi đó Nghị định 35 cũng như Thông tư 09 coi đây là “trách nhiệm” mà bên nhượng quyền không thể thỏa thuận khác Như vậy đã có sự mâu thuẫn giữa các văn bản Cần coi cung cấp thông tin là một nghĩa vụ luật định mà các bên không thể loại trừ bằng một thỏa thuận

10 Xem: Ngô Văn Hiệp, Sự thỏa thuận trong giao kết hợp đồng gia nhập, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/su-thoa-thuan-trong-giao-ket-hop-111ong-gia-nhap (truy cập ngày 9/9/2016)

11 K MCCORMICK GNUVA, sđd Ngô Quốc Chiến, Le contrat de franchise, étude comparative - le droit français et

le droit vietnamien, (Hợp đồng NQTM, nghiên cứu so sánh pháp luật Pháp và pháp luật Việt Nam), Luận án Tiến sỹ luật học, ĐH Tours, CH Pháp, 2012.

Trang 6

hợp đồng Pháp luật của nhiều nước đã quy

định như vậy và có chế tài rất nặng đối với

vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin Chẳng

hạn, ở Pháp, theo Điều 1 Luật Doubin ngày

31/12/198912, bên nhượng quyền phải cung

cấp cho bên nhận quyền Bản giới thiệu hệ

thống NQTM 20 ngày trước khi ký hợp

đồng NQTM Đây là một quy phạm áp dụng

bắt buộc mà các bên không thể thỏa thuận

khác, ngay cả khi luật nước ngoài mà các

bên lựa chọn để áp dụng cho hợp đồng

NQTM cho phép thực hiện điều này Việc vi

phạm quy định này có thể dẫn tới hai hậu

quả về dân sự và hình sự Hậu quả dân sự là

hợp đồng NQTM có thể bị tòa án tuyên vô

hiệu dựa trên các quy định chung của pháp

luật hợp đồng Hậu quả hình sự là bên

nhượng quyền bị phạt tiền theo quy định của

Điều 2 Nghị định ngày 4/4/199113 hướng

dẫn thi hành Luật Doubin Mức phạt theo

quy định của Bộ luật Hình sự Pháp (Điều

L.131-13-5o) đối với bên nhượng quyền là

1.500 euros và 3.000 euros trong trường hợp

tái phạm

Vì vậy, khi chuyển Điều 287 Luật

Thương mại năm 2005 từ quy phạm tùy

nghi sang thành quy phạm bắt buộc thì cần

loại bỏ khoản 3, vì “thiết kế và sắp xếp địa

điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ” không

nên là một nghĩa vụ bắt buộc

3 Các đối tượng sở hữu công nghiệp

trong hợp đồng nhượng quyền thương

mại

3.1 Về sự tồn tại của các đối tượng

sở hữu công nghiệp trong hợp đồng

NQTM

Trong khuôn khổ của hoạt động

NQTM, các bên có thể sử dụng nhiều đối

tượng của sở hữu công nghiệp khác nhau, nhưng chủ yếu và phổ biến là nhãn hiệu và

bí quyết kinh doanh Nhãn hiệu và bí quyết kinh doanh là hai trong ba tham số của công thức NQTM Tuy nhiên, định nghĩa nêu tại Điều 284 Luật Thương mại năm 2005 không cho biết các đối tượng sở hữu công nghiệp

có phải là các nội dung nhất thiết phải có trong hợp đồng NQTM hay không Đây là điều khá khác biệt của pháp luật Việt Nam

so với pháp luật của nhiều nước, nơi NQTM phát triển mạnh như Mỹ, Pháp, Đức14 Ngoài

ra, cách diễn đạt của khoản 1 Điều 10 Nghị định 3515 có thể khiến người ta hiểu rằng trong hợp đồng NQTM có thể không có sự chuyển giao các đối tượng sở hữu công nghiệp, trong khi đây là những nội dung không thể thiếu của NQTM

3.2 Nghĩa vụ giữ bí mật đối với bí quyết kinh doanh

Luật Thương mại năm 2005 nhắc đến

“bí quyết kinh doanh” trong hai điều luật là Điều 284 (điều khoản định nghĩa NQTM) và Điều 289 quy định nghĩa vụ của thương nhân nhận quyền, theo đó, bên nhận quyền phải

“giữ bí mật về bí quyết kinh doanh đã được nhượng quyền, kể cả sau khi hợp đồng NQTM kết thúc hoặc chấm dứt” (khoản 4) Tuy nhiên, Luật Thương mại không cho biết

“bí quyết kinh doanh” là gì mà quy dẫn đến các văn bản luật chuyên ngành Việc quy dẫn này là không thỏa đáng, bởi Luật Thương mại năm 2005 bản thân nó đã là một văn bản luật chuyên ngành nên cần có quy định cụ thể ngay trong Luật về đối tượng đặc thù mà Luật điều chỉnh Việc quy dẫn tới các văn bản luật khác có ba nhược điểm

Thứ nhất, việc tiếp cận văn bản luật

12 Được pháp điển hóa vào Điều L 330-3 Bộ luật Thương mại Pháp.

13 Được pháp điển hóa vào Điều R 330-2 Bộ luật Thương mại Pháp

14 K MCCORMICK GNUVA, tlđd, tr 30.

15 Quy định rằng: “trường hợp Bên nhượng quyền chuyển giao cho Bên nhận quyền quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp và các nội dung của quyền thương mại thì phần chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp đó có thể được lập thành một phần riêng trong hợp đồng NQTM” Từ “trường hợp” ở đây tương đương với

“nếu”, tức chỉ là một khả năng hay một giả thiết, chứ không phải một tình huống bắt buộc phải xảy ra trong thực tế.

Trang 7

trở nên khó khăn hơn về mặt kỹ thuật so với

việc nếu tất cả những nội dung này được quy

định trong một văn bản duy nhất

Thứ hai, việc không trực tiếp quy định

một nội dung cốt lõi của NQTM như bí

quyết kinh doanh mà quy dẫn đến các luật

khác nhau (Luật SHTT và Luật Cạnh tranh)

là nguồn gốc của sự mất an toàn pháp lý, bởi

các văn bản luật chuyên ngành này có thể

được sửa đổi16và trong quá trình ấy, các quy

định về bí quyết kinh doanh không chắc còn

phù hợp với bí quyết kinh doanh mà nhà lập

pháp hiểu vào thời điểm xây dựng Luật

Thương mại năm 2005

Thứ ba, các luật chuyên ngành mà

Luật Thương mại năm 2005 dẫn chiếu tới có

mục đích không giống với Luật Thương mại

năm 2005 do có đối tượng điều chỉnh khác,

nên nội dung của các quy định chưa chắc đã

phù hợp với NQTM Thật vậy, nếu như Luật

Thương mại năm 2005 sử dụng khái niệm

“bí quyết kinh doanh” thì Luật SHTT và

Luật Cạnh tranh lại sử dụng khái niệm “bí

mật kinh doanh” Ngoài việc không thống

nhất về thuật ngữ có thể dẫn tới các tranh

luận về ngôn từ khi có tranh chấp xảy ra, thì

sự đa dạng về nguồn và quy định không

giống nhau của các nguồn luật khác nhau về

cùng một vấn đề còn làm phát sinh thêm

một khó khăn nữa về thứ tự ưu tiên áp dụng

Theo khoản 23 Điều 4 Luật SHTT năm

2005 (đã được sửa đổi năm 2009), “bí mật

kinh doanh” là “thông tin thu được từ hoạt

động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc

lộ và có khả năng sử dụng trong kinh

doanh” Trong khi đó, theo Luật Cạnh tranh

năm 2004, bí quyết kinh doanh “không phải

là hiểu biết thông thường; có khả năng áp

dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng

sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi

thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó17; được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được (khoản 10 Điều 3) Khái niệm “bí mật kinh doanh” nêu tại Luật Cạnh tranh tương thích với quy định của nhiều nước và phù hợp với NQTM18 hơn khái niệm “bí mật kinh doanh” quy định tại Luật SHTT Chẳng hạn, theo pháp luật của EU19,

bí quyết kinh doanh phải thỏa mãn ba tiêu chí: i) phải là thông tin mật; ii) phải tạo lợi thế cạnh tranh cho người sử dụng; iii) được chủ sở hữu bảo mật bằng các phương tiện cần thiết Khi có tranh chấp về “bí quyết kinh doanh” chúng ta không biết chắc chắn

sẽ phải áp dụng khái niệm “bí mật kinh doanh” nêu tại Luật Cạnh tranh năm 2004, hay khái niệm “bí mật kinh doanh” nêu tại Luật SHTT năm 2005

Nhiều nghiên cứu so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật của châu Âu, cũng như pháp luật của Mỹ với Pháp, đã cho thấy việc dẫn chiếu tới các văn bản luật chuyên ngành (Luật SHTT và Luật Cạnh tranh) là không phù hợp và là trở ngại đối với sự phát triển của loại hình này Chính vì vậy, ở Pháp, tòa án đã phải nhiều lần diễn giải và thay đổi quan điểm về cách diễn giải các quy định về nhãn hiệu và bí quyết kinh doanh của Bộ luật SHTT cho các vụ việc liên quan đến NQTM Tương tự như vậy với các quy định của Luật Cạnh tranh Ở châu Âu, Ủy ban châu Âu đã đưa ra các nghị định và các văn bản hướng dẫn trong đó có các quy định chuyên biệt về nhãn hiệu, bí quyết kinh

16 Nhiều quy định liên quan đến nhãn hiệu trong Luật SHTT năm 2009 không còn giống như trong Luật SHTT năm 2005.

17 Đây là sự khác biệt căn bản giữa hai đạo luật về cùng một khái niệm “bí mật kinh doanh”.

18 Ngô Quốc Chiến, Một số điều khoản độc quyền trong hợp đồng NQTM So sánh pháp luật Việt Nam, Pháp và Liên minh châu Âu, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 67, tháng 6/2014.

19 Nghị định số 330/2010 của Ủy ban châu Âu ngày 20/4/2010 về áp dụng điều 101, đoạn 3, Hiệp định về vận hành Liên minh châu Âu, liên quan đến các nhóm thỏa thuận theo chiều dọc và các hành vi thỏa thuận.

Trang 8

doanh và các điều khoản hạn chế cạnh tranh

trong hợp đồng NQTM Việt Nam có lẽ

không nên theo cách làm của Pháp, mặc dù

việc hình thành án lệ và áp dụng án lệ đã

được công nhận ở Việt Nam, nhưng việc này

cũng có khá nhiều nhược điểm20 Có lẽ

chúng ta nên tham khảo cách làm của châu

Âu, đó là có các quy định chuyên biệt về bí

quyết kinh doanh và nhãn hiệu trong NQTM

4 Mối quan hệ giữa nhượng quyền

thương mại và pháp luật cạnh tranh

Một trong những mục tiêu của NQTM

là nhân rộng mô hình kinh doanh đã được

bên nhượng quyền thực hiện thành công trên

một phạm vi địa lý nhất định Vì vậy, việc

tạo ra và duy trì tính độc đáo và đồng nhất

của mô hình kinh doanh đóng vai trò then

chốt Các yếu tố liên quan trực tiếp đến mô

hình kinh doanh là chất lượng hàng hoá,

dịch vụ (gọi chung là sản phẩm); nhãn hiệu

hàng hoá, biểu tượng kinh doanh, tên

thương mại của bên nhượng quyền; hoạt

động quảng cáo, khuyến mại; phương thức

phục vụ; cách thức bài trí cơ sở kinh

doanh… Tính đồng nhất trong các mắt xích

của chuỗi NQTM chỉ có thể được bảo đảm

khi các bên nhận quyền tuân thủ trung thành

mô hình kinh doanh, khai thác bí quyết kinh

doanh một cách nhất quán trong toàn mạng

lưới NQTM Để đạt được mục đích này, bên

nhượng quyền thường đưa vào hợp đồng các

điều khoản độc quyền về lãnh thổ, độc

quyền cung cấp sản phẩm, và trong một số

trường hợp còn ấn định giá bán lại sản

phẩm Nếu như các thỏa thuận có bản chất

hạn chế cạnh tranh này là cần thiết để duy

trì sự ổn định của hệ thống, bảo vệ bí quyết

kinh doanh, uy tín của hệ thống, thì mặt

khác, chúng có thể ảnh hưởng tới lợi ích của

bên nhận quyền, người tiêu dùng và các

doanh nghiệp khác trên thị trường sản phẩm liên quan Trong một số trường hợp, bên nhận quyền - về nguyên tắc là thương nhân độc lập - trở thành người làm thuê cho bên nhượng quyền, hoặc trở thành bàn đạp để nhà cung cấp nước ngoài chiếm lĩnh thị trường Vậy phải điều hòa như thế nào lợi ích riêng của các bên trong hợp đồng và lợi ích chung của thị trường? Pháp luật Việt Nam chưa có câu trả lời rõ ràng cho các câu hỏi này

Một nghiên cứu so sánh pháp luật của Việt Nam với pháp luật của Pháp và pháp luật của Liên minh châu Âu21 đã cho thấy, pháp luật hợp đồng và pháp luật cạnh tranh mặc dù hướng tới các mục đích khác nhau nhưng cùng có chung tác dụng là phòng ngừa và trừng phạt các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Tại Pháp, thẩm phán thường xuyên áp dụng kết hợp các quy định của pháp luật cạnh tranh và các quy định chung của pháp luật hợp đồng để trừng phạt các hành vi cản trở tự do cạnh tranh Phân tích

án lệ ở Pháp cho chúng ta thấy sự cân bằng hợp đồng thiết lập bởi pháp luật dân sự và lôgic cạnh tranh thiết lập bởi pháp luật cạnh tranh hòa nhập chặt chẽ với nhau trong một mục đích cụ thể là phòng ngừa và trừng phạt bên nhượng quyền lạm dụng thế mạnh của mình để ngăn cản bên nhận quyền tự do cạnh tranh Đây có thể cũng là một hướng

áp dụng cho các cơ quan giải quyết tranh chấp của Việt Nam, vì nó đặc biệt hiệu quả

để giải quyết các tranh chấp liên quan đến các thỏa thuận cạnh tranh nhỏ (và như vậy được miễn trừ theo các quy định của pháp luật cạnh tranh)

Phân tích án lệ ở Pháp và ở châu Âu cũng cho thấy, việc xác định các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trên thực tế không hề đơn

20 Xem: Ngô Quốc Chiến và Medhi Kebir, Tính hồi tố của án lệ và thay đổi án lệ, Tạp chí Tòa án Nhân dân, số 17 và

18 tháng 9/2013.

21 Ngô Quốc Chiến, Một số điều khoản độc quyền trong hợp đồng NQTM So sánh pháp luật Việt Nam, Pháp và Liên minh châu Âu, tlđd.

Trang 9

giản, đặc biệt là các thỏa thuận ấn định giá

trá hình Thẩm phán phải xem xét rất tỉ mỉ

đối với từng trường hợp cụ thể Vì vậy, bên

cạnh việc nỗ lực làm rõ hơn các quy định

của pháp luật thì việc nâng cao trình độ của

đội ngũ giải quyết tranh chấp liên quan đến

các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cũng cần

được đặc biệt chú ý

Tại châu Âu, giống như đối với các

đối tượng sở hữu công nghiệp, các quy định

liên quan đến cạnh tranh trong NQTM cũng

được quy định trong các văn bản luật

chuyên ngành để có thể tính đến sự đặc thù

của NQTM Đây cũng là cách mà Việt Nam

có thể áp dụng

5 Một số nội dung khác

5.1 Điều kiện đối với bên nhượng

quyền

Đây là nội dung được quy định tại

Điều 5 Nghị định 35, theo đó một trong các

điều kiện để thương nhân được phép cấp22

quyền thương mại khi “hệ thống kinh doanh

dự định dùng để nhượng quyền đã được hoạt

động ít nhất 1 năm” (khoản 1) Quy định

thời gian hoạt động tối thiểu của bên nhượng

quyền là 1 năm để có thể trở thành chủ thể

NQTM là không hợp lý Thực tế cho thấy

trong NQTM, thời gian hoạt động không

đóng vai trò quyết định sự thành bại của cơ

sở nhận quyền và hệ thống NQTM mà chỉ

có tác dụng củng cố niềm tin và sự an tâm

cho bên dự kiến nhận quyền Thứ tạo ra

niềm tin và sự an tâm nhất cho bên nhận

quyền là khả năng sinh lời của hoạt động Vì

vậy, theo chúng tôi nên thay quy định về

thời gian hoạt động bằng tiêu chí hoạt động

có lãi trong một khoảng thời gian nhất định

5.2 Quyền của các bên trong hợp đồng NQTM

Quyền của bên nhượng quyền và của bên nhận quyền được quy định lần lượt tại Điều 286 và Điều 288 Luật Thương mại năm 2005 Chúng tôi khuyến nghị bỏ các

quy định này, vì hai lý do: Thứ nhất, quyền

phát sinh từ hợp đồng NQTM do các bên tự

do thỏa thuận mà không cần sự can thiệp của

cơ quan lập pháp; Thứ hai, hợp đồng NQTM

có bản chất là hợp đồng song vụ, trong đó quyền của bên này ứng với nghĩa vụ của bên kia, nên Luật chỉ cần quy định một số nghĩa

vụ bắt buộc mà các bên không thể loại trừ thông qua thỏa thuận hợp đồng là đủ

5.3 Nghĩa vụ của bên nhận quyền

Điều 289 Luật Thương mại năm 2005 liệt kê 7 nghĩa vụ khác nhau, trong đó có hai loại nghĩa vụ cần được xem xét lại

Thứ nhất, liên quan đến nghĩa vụ cung

cấp thông tin Quy định này nên được sửa đổi và bổ sung Điều 289 Luật Thương mại năm 2005 sử dụng khái niệm “nghĩa vụ” còn Điều 9 Nghị định 35 lại coi đó là “trách nhiệm” Như đã phân tích, đây không phải

là hai khái niệm đồng nhất Điều 287 Luật Thương mại năm 2005 là một quy phạm tùy nghi, chỉ được áp dụng khi các bên “không

có thỏa thuận khác” Như vậy, bên nhận quyền có thể không cung cấp thông tin cho bên nhượng quyền nếu hợp đồng có điều khoản loại trừ Trong khi đó, Nghị định 35 coi đây là “trách nhiệm” mà bên nhận quyền không thể thoái thác Như vậy đã có sự mâu thuẫn giữa các văn bản Cần coi cung cấp thông tin là một nghĩa vụ luật định mà các bên không thể loại trừ bằng một thỏa thuận hợp đồng

22 Về mặt thuật ngữ, không nên dùng từ “cấp” mang nặng tính hành chính, chỉ phù hợp với quan hệ giữa Nhà nước và

tư nhân, mà nên dùng từ “nhượng” cho đúng với bản chất của NQTM.

23 Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

1 Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.

2 Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác.

Trang 10

Thứ hai, liên quan đến nghĩa vụ giữ bí

mật về bí quyết kinh doanh Bí quyết kinh

doanh là một tập hợp các thông tin có khả

năng tạo lợi thế cho người sử dụng Một bí

quyết kinh doanh chỉ được bảo hộ khi chủ

sở hữu bảo mật nó bằng các biện pháp cần

thiết Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải

tất cả các thông tin cấu thành bí quyết kinh

doanh đều là các thông tin mật Hơn nữa,

một bộ phận của bí quyết kinh doanh được

thể hiện ra bên ngoài thông qua các chính

sách quảng cáo, khuyến mãi, bài trí cửa

hàng, đồng phục và phong cách phục vụ của

nhân viên… Bí quyết kinh doanh vào thời

điểm kết thúc hợp đồng có thể khác với bí

quyết kinh doanh mà bên nhượng quyền

cung cấp cho bên nhận quyền vào thời điểm

giao kết hợp đồng, bởi bí quyết này có thể

được chỉnh sửa theo thời gian cho phù hợp

với thị trường Đóng góp vào sự chỉnh sửa

bí quyết kinh doanh đó có thể có công sức

của bên nhận quyền Vậy sẽ là không hợp lý

khi buộc bên nhận quyền không được tiết lộ

và sử dụng những thông tin do chính mình

tạo ra

Theo nguyên tắc thiện chí, bên nào có

thông tin có khả năng ảnh hưởng đến quyết

định giao kết hợp đồng thì phải cung cấp

cho bên kia Và cũng trên cơ sở thiện chí,

người nhận được thông tin mật trong quá

trình giao kết hợp đồng có nghĩa vụ giữ bí

mật những thông tin ấy để không làm ảnh

hưởng đến lợi ích của người đã cung cấp

thông tin cho mình Quy định này đã được

luật hóa vào Bộ luật Dân sự năm 201523

Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản

hướng dẫn chỉ quy định nghĩa vụ giữ bí mật

đối với bên nhận quyền, mà không có quy

định tương tự đối với bên nhượng quyền

Theo chúng tôi, cần bổ sung quy định về giữ

bí mật thông tin đối với bên nhượng quyền

và mở rộng phạm vi bảo mật, không chỉ đối

với các thông tin được trao đổi trước khi ký

kết hợp đồng, mà còn cả các thông tin trao

đổi trong quá trình thực hiện hợp đồng

5.4 Thời hạn và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng NQTM

Các nội dung này được quy định tại các Điều 13 và 14 của Nghị định 35 Khoản

2 Điều 14 không hợp lý khi không quy định

về mối quan hệ về hiệu lực của phần liên quan đến sở hữu công nghiệp và hợp đồng NQTM Chẳng hạn, các bên thỏa thuận rằng hợp đồng sẽ phát sinh hiệu lực từ 1/1/2017, nhưng cho tới tháng 2/2017 mà phần liên quan đến SHTT vẫn chưa có hiệu lực (vì lý

do chưa xong thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu chẳng hạn) thì hợp đồng có hiệu lực hay không? Luật Thương mại năm 2005 không cho câu trả lời Theo chúng tôi, thời hạn và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

là những nội dung mà các bên có thể tự do thỏa thuận, không nên quy định trong luật chuyên ngành Trường hợp các bên không quy định thì áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự về hợp đồng

5.5 Đơn phương chấm dứt hợp đồng NQTM

Quy định của khoản 1 Điều 16 Nghị định 35 cho phép chúng ta hiểu rằng, chỉ cần bên nhượng quyền vi phạm bất kỳ nghĩa vụ nào trong số 5 nghĩa vụ nêu tại Điều 287 Luật Thương mại năm 2005 là bên nhận quyền có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng Trong khi đó, lẽ ra một vi phạm phải

đủ nghiêm trọng hoặc vi phạm lặp lại mới

có thể dẫn tới việc đơn phương chấm dứt hợp đồng Quy định này bất lợi cho bên nhượng quyền, như có thể dẫn đến tình trạng bên nhận quyền lợi dụng những vi phạm nhỏ của bên nhượng quyền để chấm dứt hợp đồng NQTM Ngoài ra, Điều 16 Nghị định

35 chỉ quy định trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng là chưa hợp lý Khi một bên vi phạm cơ bản hợp đồng khiến cho bên

bị vi phạm không đạt được lợi ích mong muốn từ việc giao kết hợp đồng thì có thể dẫn tới chế tài hủy bỏ hợp đồng Ngoài ra, khi hợp đồng mà các bên đặt tên hợp đồng NQTM có thể bị xác định lại bản chất, khi:

Ngày đăng: 17/10/2020, 19:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w