1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Điều trị gãy cũ monteggia ở người lớn bằng kết hợp xương nẹp ốc và tái tạo dây chằng vòng

8 25 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 547,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tiến hành đánh giá kết quả phẫu thuật kết hợp xương nẹp ốc và tái tạo dây chằng vòng trong điều trị gãy cũ Monteggia ở người lớn tại khoa Chi Trên Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình từ năm 1994-2008.

Trang 1

TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ 1/2012

Nguyễn Văn Thái

Khoa Chi Trên BV

CTCH – TP HCM

Nguyen Van Thai

ĐIỀU TRỊ GÃY CŨ MONTEGGIA Ở NGƯỜI LỚN BẰNG KẾT HỢP XƯƠNG NẸP ỐC VÀ TÁI TẠO DÂY CHẰNG VỊNG

MONTEGGIA FRACTURES TREATED BY PLATE-AND-SCREW FIXATION AND ANNULAR LIGAMENT RECONSTRUCTION

ABSTRACT

Introduction: Monteggia fractures comprise several lesions: fractures, dislocation,

lesions of ligament injury and interosseous membrane Unappropriated treatments will leave many complications and sequalae We carried out this study to aim objectives: Evaluate the surgical results of adult patients suffered from old Monteggia fractures and treated by plate-and-screw fixation and annular ligament reconstruction at the Upper Limb Surgery Department of the hospital for Traumatology and Orthopaedics in Ho Chi Minh city from 1994-2008

Material and Methode: Retro-observational study based on the clinical documents of

Đặt vấn đề: Gãy Monteggia là loại gãy gồm nhiều tổn thương phối hợp: Gãy xương, trật

khớp, tổn thương dây chằng, đôi khi rách màng liên xương Điều trị không tốt sẽ để lại di chứng Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật kết hợp xương nẹp ốc và tái tạo dây chằng vòng trong điều trị gãy cũ Monteggia ở người lớn tại khoa Chi Trên Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình từ năm 1994 - 2008

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu dựa trên hồ sơ

của 98 BN gãy cũ từ 1 tháng trở lên chưa được điều trị hay điều trị thất bại, được phẫu thuật kết hợp xương nẹp ốc và tái tạo dây chằng vòng Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học của gẫy Monteggia, đặc điểm tổn thương trước mổ; mô tả kỹ thuật mổ và đánh giá kết quả sau mổ dựa trên thang điểm của Anderson

Kết quả: Từ 1994 đến 2008, 98 BN gẫy cũ Monteggia bao gồm 48 nam và 50 nữ trong

độ tuổi từ 16-60 tuổi, đã được phẫu thuật kết hợp xương nẹp ốc và tái tạo dây chằng vòng Nguyên nhân gãy xương hàng đầu là tai nạn giao thông (57,1%), tiếp theo là tai nạn sinh hoạt hoặc bị đánh trực tiếp (31,7%) Phân loại tổn thương: nhiều nhất là Bado I và II (88,8%); Bado III và IV ít gặp với tỷ lệ tương ứng là 9,2% và 2,0% Mất chức năng khớp gặp ở hầu hết BN trước mổ Kết quả sớm sau mổ: Nhiễm trung vết mổ (3,1%), liệt thần kinh quay 12/98 BN (12,2%) đều tự khỏi sau 3 tháng Két quả xa sau mổ: Thời gian theo dõi ngắn nhất là 1 năm và dài nhất là 12 năm được xếp loại (Anderson): Rất tốt 75/98 BN (76,5%), tốt 15/98 BN (15,3%), khá 8/98 BN (8,2%)

Kết luận: Kết hợp xương nẹp ốc và tái tạo dây chằng vòng là phẫu thuật an toàn và

hiệu quả trong điều trị các trường hợp gãy cũ Monteggia ở người lớn

Từ khóa: gãy Monteggia, kết hợp xương, tái tạo, dây chằng vòng

TĨM TẮT

Trang 2

described as wellas the bone lesionsfeatures before operation Operative technics and post-operative surgical results assessement which based on Anderson scale were also described.

Results: From 1994 to 2008, 98 patients with old Monteggia fractures comprising 48 males and 50 females in

age-range from 16-50 years old were operated on by plate-and-screw and annular ligament reconstruction The most frequent causes of trauma were noted as traffic accidents (57,1%) followed by civil accidents or direct strike (31,7%) According to the classification of Bado, there were 54 type I (55,1%), 33 type II (33,7%), type III and

IV were less frequent (9,2% and 2,0% respectively) Loss of articular function was seen in almost patients before operation Early surgical results: Wound infection in 3 patients (3,1%), provisionally paralysis of radial nerve

in 12 patients (12,2%) but all self recovered after 3 months Long-term follwow-up overall results was classified according to the Anderson scale: Excellent (76,5%), good (15,3%) and fair (8,2%) There was no poor result Thr duration of follow-up was from 1 year up to 12 years.

Conclusion:The procedure of Plate-and-screw fixation with annular ligament reconstruction is a safe and effective

operation which should be choosen for the chronic Monteggia or the fresh one with unstable radial head after initial surgical treatment.

Key words: Monteggia fracture, fixation, recontruction, annular ligament

Đặt vấn Đề

Gãy Monteggia là loại gãy có nhiều tổn thương phối

hợp, đó là: Gãy xương, trật khớp, rách màng liên xương,

tổn thương dây chằng, bao khớp Điều trị không đúng,

không sửa hết tổn thương sẽ làm giảm một phần hay mất

hoàn toàn chức năng gập duỗi khuỷu Điều trị loại gãy này

bằng phẫu thuật thường cho kết quả tốt, chỉ cần mổ kết

hợp xương trụ và nắn kín chỏm quay là được Một số bênh

nhân bị gãy Monteggia từ một tháng trở lên chưa được điều

trị hay điều trị thất bại đều không thể nắn kín được chỏm

xương quay Trước năm 1994 chúng tôi thường cắt bỏ

chỏm xương quay, kết hợp xương trụ để điều trị loại gãy cũ

này Kết quả ban đầu thường tốt Bệnh nhân phục hồi được

sấp ngửa cẳng tay, gấp duỗi khuỷu Nhưng về sau có các

biến chứng xảy ra, các bệnh nhân tái khám đều than đau

ở khuỷu, làm việc chóng mỏi, sức làm việc của cánh tay,

khuỷu tay yếu, lỏng khuỷu, khuỷu có cử động lắc ngang

biên độ lớn nhỏ tùy người Đặc biệt có 3 trường hợp giảm

biên độ sấp ngửa cẳng tay, chụp Xquang thấy xương quay

bị kéo lên làm trật khớp quay trụ dưới Qua thăm khám

cộng với tham khảo các tư liệu thì các biến chứng này đều

là nguyên nhân của việc cắt bỏ chỏm quay Để khắc phục

các biến chứng do mất chỏm xương quay, chúng tôi cố

gắng nắn giữ chỏm xương, tái tạo dây chằng vòng và kết

hợp xương trụ vững chắc bằng nẹp ốc trong các trường hợp

gãy cũ Monteggia ở người lớn

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật kết hợp xương nẹp ốc và tái tạo dây chằng vòng trong điều trị gãy cũ Monteggia

ở người lớn tại khoa Chi Trên Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình từ năm 1994 - 2008

ĐỐI tƯỢnG vÀ PHƯƠnG PHÁP nGHIÊn CỨU

Đối tượng nghiên cứu:

Gồm 98 bệnh nhân bị gãy cũ Monteggia từ 16 tuổi trở lên, đến điều trị tại khoa Chi Trên Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình - TP HCM từ năm 1994 - 2008

Phương pháp nghiên cứu:

Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học của nhóm BN nghiên cứu, các nguyên nhân gây tai nạn, các biện pháp điều trị lần đầu đã sử dụng và đánh giá kết quả sau phẫu thuật kết hợp xương nẹp vít và tái tạo dây chằng vòng Đánh giá tổn thương theo phân loại của Bado và chức năng gấp duỗi khuỷu dựa vào độ mở của góc khớp Đánh giá kết quả chung cuộc sau mổ dựa vào thang điểm của Anderson (với các tiêu chí là lành xương, gập duỗi, sấp ngửa cẳng tay, sức mạnh của cẳng tay)

Trang 3

TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ 1/2012

Bảng1: Thang điểm của Anderson (đánh giá tốt từ 1 năm trở lên)

Rất tốt Lành xương với sự mất gập duỗi khuỷu <100Mất sấp ngửa cẳng tay <25%

Tốt Lành xương với sự mất gập duỗi khuỷu <200Mất sấp ngửa cẳng tay <50%

Không tốt Lành xương với sự mất gập duỗi khuỷu >200Mất sấp ngửa cẳng tay >50%

Thất bại Can xấu, không liền xương hay viêm xương mạn không thể giải quyết được

Phương pháp phẫu thuật

Phịng mổ tiêu chuẩn chấn thương chỉnh hình

Chuẩn bị dụng cụ: Dụng cụ kết hợp xương nẹp nén

ép 6, 7, 8, 9 lỗ, vít thân xương 3.5mm; khoan hơi, pin,

điện, khoan tay tùy từng cơ sở; mũi khoan 2,5mm

hay 2,7mm; taro 3,5mm; bộ trợ cụ kết hợp xương:

Davier, Lervier …Tư thế bệnh nhân: Bệnh nhân nằm

ngửa, khuỷu tay kê cao khoảng 20cm so với bàn mổ

Garo hơi với áp lực đo bằng mmHg

Đường mổ: đường mổ Boyd: rạch da bắt đầu từ

trên khuỷu 2,5cm đi xuống bờ ngồi cơ ba đầu, đến

ngang mỏm khuỷu mở ra phía ngồi hướng xuống

dưới, vào trong dọc theo bờ trụ qua ổ gãy từ 2-3cm

Tách cơ khuỷu ra ngồi, cắt một phần cơ khuỷu phía

trên, bộc lộ chỏm xương quay vén hẳn cơ khuỷu

ra ngồi Bĩc tồn bộ cơ ngửa ra khỏi ¼ trên trong

xương trụ và lật về phía quay cả khối cơ gần đĩ

Động tác này bộc lộ rõ ràng mặt ngồi xương trụ và

¼ trên xương quay Đây là đường mổ vừa bộc lộ ổ

gãy xương trụ vừa bộc lộ chỏm quay một cách rõ

ràng nhất mà tương đối đơn giản

Kỹ thuật nắn chỏm xương quay: Khi ổ gãy xương

trụ và ¼ trên xương quay được bộc lộ rõ thì việc đầu

tiên là lấy hết bao khớp dây chằng chèn vào ổ khớp

cản trở việc nắn trở lại của chỏm quay đối với gãy

mới Các trường hợp gãy cũ thì việc lấy can xơ dính

để giải phĩng ổ gãy xương trụ là đầu tiên, sau mới

đến lấy bỏ mơ xơ dây chằng chiếm chỗ của chỏm

quay ở dưới lồi cầu ngồi và mặt khớp diện quay của

xương trụ Làm xong các việc này thì chỏm quay

được nắn dễ dàng

Kỹ thuật lấy cân cơ làm dây chằng vịng: Cơ

được chọn là cơ duỗi chung các ngĩn đã được bộc lộ

sẵn do đường mổ dọc bờ trụ Lấy đoạn cân dài 11 - 12cm, rộng 1,7 - 2cm bĩc từ dưới lên trên và dừng lại ngang mức cổ xương quay luồn dải cân dưới màng xương trụ Đây chính là cuống của đoạn cân ta dùng làm dây chằng vịng Đầu xa của đoạn cân được luồn qua cổ xương quay từ sau ra trước rồi vịng lại ơm lấy

cổ xương quay Luồn xong kẹp tạm thời chờ kết hợp xương trụ

Kết hợp xương trụ: Khi kết hợp xương trụ trong gãy Monteggia điều quan trọng nhất là phải phục hồi được chiều dài xương trụ Muốn vậy tư thế kê tay của bệnh nhân lúc này là để chỏm quay đã nắn kê trên lồi cầu ngồi xương cánh tay, như thế xương trụ

sẽ lộ rõ sự ngắn xương nếu cĩ, phục hồi bằng ghép xương để chiều dài xương trụ phù hợp với chiều dài xương quay Kết hợp xương trụ bằng nẹp nén ép từ

6 đến 8 lỗ, cĩ khi 10 lỗ do phải lấy đoạn xương ghép dài Xương ghép là xương xốp tự thân lấy từ mào chậu lên

Khâu dây chằng vịng: Sau khi kết hợp xương trụ dây chằng sẽ được khâu lại bằng chỉ khơng tan,

ở tư thế sấp cẳng tay tối đa Sau đĩ sấp ngửa cẳng tay thụ động để xem sự xoay của chỏm và độ vững của dây chằng

Tập vật lý trị liệu: Sau mổ bệnh nhân được nẹp bột cánh bàn tay, tập gồng cơ ngay ngày thứ 2 sau

mổ Một tuần tháo nẹp bột, tập gấp duỗi khuỷu Bốn tuần tập sấp ngửa cẳng tay

Kết qUả nGHIÊn CỨU:

Một số đặc điểm chung của nhĩm BN nghiên cứu:

Trang 4

Đặc điểm n %

Giới:

Nam

Nữ

48 50

48,0 51,0

Tuổi:

16 – 20

21 – 30

31 – 40

41 – 50

51 – 60õ

14 33 31 16 4

14,3 33,7 31,6 16,3 4,1

Nguyên nhân tai nạn:

Tai nạn giao thông

Tai nạn lao động

Tai nạn sinh hoạt

Bị đánh trực tiếp

Tai nạn thể thao

56 5 17 14 6

57,1 5,1 17,4 14,3 6,1

Điều trị trước mổ:

Điều trị PT thất bại*

ĐT bảo tồn (bó bột)

ĐT bó thuốc lá dân gian

21 50 27

21,1 51,0 27,6

Đánh giá tổn thương (Bado)

Bado I

Bado II

Bado III

Bado IV

54 33 9 2

55,1 33,7 9,2 2,0

Chức năng khớp trước mổ**

Gấp khuỷu:

>1000 - 1100

>900 - 1000

>800 - 900

>700 - 800

>500 - 700

Duỗi khuỷu:

00 - 100

110 - 200

210 - 300

310 - 400

13 39 23 15 8 26 52 17 3

13,3 39,8 23,4 15,3 8,2 26,5 53,1 17,3 3,1

Thời gian tai nạn đến lúc mổ:

1 – 3 tháng

>3 – 6 tháng

>1 năm

73 20 5

74,4 20,5 5,1

*Đóng đinh nội tủy xương trụ: 15 BN, Nẹp ốc kết hợp xương: 6 BN

**Mất sấp ngửa cẳng tay từ 50% đến hoàn toàn trên tất cả các BN

Trang 5

TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ 1/2012

Kết quả sớm sau mổ:

Nhiễm trùng sau mổ 3 trường hợp với tỉ lệ: 3,1%

Các trường hợp này chỉ nhiễm trùng vết mổ chưa bị

nhiễm vào nẹp ốc và xương nên không ảnh hưởng

đến kết quả

12 trường hợp bị liệt thần kinh quay đều tự phục

hồi sau ba tháng

Kết quả xa sau mổ:

Qua theo dõi từ 1 năm đến 12 năm trên 98 bệnh

nhân dựa vào thang điểm này chúng tôi có kết quả:

Rất tốt : 75 trường hợp đạt 76,5%;

Tốt : 15 trường hợp đạt 15,3%

Khá : 8 trường hợp đạt 8,2%

Thất bại : không

BÀn lUận

Về đặc điểm của nhóm BN nghiên cứu:

Bệnh nhân nam 48/98, nữ 50/98 Nguyên nhân

gây tai nạn nhiều nhất là tai nạn giao thông, kế đến

là đánh trực tiếp Tuổi lớn nhất là 60, nhỏ nhất là 16

tuổi Các điều này cho ta thấy đặc điểm của loại gãy

này là các bệnh nhân còn trong độ tuổi lao động sử

dụng sức lực mạnh Tai nạn giao thông vẫn là chủ

yếu và do xe gắn máy hai bánh gây ra đây cũng là đặc

thù của Việt Nam trong vấn nạn giao thông

Điều trị ban đầu với gãy cũ có 27 người bó thuốc

dân gian là điều cần lưu ý về thực trạng kiến thức y

học còn thấp trong cộng đồng dân cư Việt Nam nhất

là ở nông thôn, vùng sâu vùng xa Vấn để này được

nêu ra để kêu gọi sự quan tâm đúng mức về y học, tổ

chức mạng lưới y tế của y học Việt Nam 50/98 người

điều trị bằng bó bột ban đầu thất bại đã cho thấy điều

trị bảo tồn trong loại gãy phức tạp này thường cho kết

quả không cao, hoặc chẩn đoán sót tổn thương trật

chỏm quay 21 bệnh nhân được mổ kết hợp xương và

nắn kín chỏm quay thất bại Có 15 trường hợp đóng

đinh nội tủy, 6 trường hợp kết hợp xương bằng nẹp

ốc trong đó có một trường hợp chỉ dùng nẹp với 3

con ốc cố định, 5 trường hợp khác là nẹp ốc tự chế

không đủ tiêu chuẩn Đây là các trường hợp kết hợp

xương không vững dẫn đến trật lại chỏm quay Điều

đó nói lên tầm quan trọng của sự kết hợp xương vững

chắc sẽ làm vững cho chỏm quay sau khi nắn

Liệt thần kinh có 8 trường hợp trong đó 6 là thuộc

hợp Điều này cũng phù hợp với các nhận xét của nhiều tác giả là liệt thần kinh quay thường xảy ra với phân loại Bado II vì chỏm quay trật ra sau sẽ kéo theo thần kinh quay ra theo dễ gây liệt

98 bệnh nhân gãy cũ Monteggia từ 1 tháng trở lên đáp ứng được điều kiện là chỏm xương quay chưa bị biến dạng Điều kiện chỏm xương quay chưa bị biến dạng là rất quan trọng để cuộc mổ thành công, bởi

vì đài quay của chỏm quay luôn nằm tiếp giáp với chỏm con xương cánh tay và quay quanh nó khi cẳng tay sấp ngửa Nếu chỏm quay biến dạng hay gập góc

ở cổ xương quay thì mặt tiếp xúc giữa đài quay và chỏm con trở thành khấp khểnh không ăn khớp dẫn đến cản trở sự xoay của xương quay

Một số vấn đề về kỹ thuật:

Tư thế bệnh nhân khi mổ và đường mổ: Đường

mổ Boyd là đường mổ giúp ta dễ dàng bộc lộ chỏm quay và xương trụ trên một đường mổ Đường mổ này đi qua vùng không có thần kinh, mạch máu lớn nên dễ bộc lộ Tư thế nằm ngửa của bệnh nhân là

tư thế tốt nhất để phẫu thuật viên lấy mốc phục hồi xương trụ khi đã nắn xong chỏm quay, đài quay được

kê lên chỏm con lúc này xương trụ sẽ kéo dài tương ứng khi mà ổ gãy xương đã được giải phóng Đây chính là chiều dài chính xác nhất của xương trụ mà ta cần phục hồi

Kỹ thuật nắn chỏm xương quay: Giải phóng ổ

gãy xương trụ, lấy hết xơ dính ở vị trí cũ của chỏm quay Làm xong 2 động tác này thì việc nắn chỏm quay trở nên dễ dàng Nếu xương trụ can lệch hay gập góc mà chưa giải quyết được thì đây sẽ là nơi cản trở sự trở lại của chỏm quay mặc dù xơ dính chèn dưới lồi cầu ngoài đã được lấy bỏ Vì thế muốn nắn được chỏm xương quay thì 2 động tác nêu trên phải được làm tốt

Kỹ thuật lấy cân cơ làm dây chằng vòng: Cân cơ

được chọn để tái tạo dây chằng vòng là cân cơ duỗi chung các ngón Cơ này lớn đầu trên bám vào mỏm trên lồi cầu ngoài, cân cơ này hòa vào màng xương trụ

ở đoạn 1/4 trên Đây là chỗ ta chừa lại không cắt hẳn

ra để làm cuống cho dây chằng vòng mới được tái tạo

có cuống dày sẽ vững chắc hơn, dễ cố định hơn không cần phải đục lỗ qua xương trụ như dây rời

Kết hợp xương trụ: Để phục hồi đúng chiều dài

giải phẫu của xương trụ thì trong quá trình kết hợp xương đài quay phải luôn nằm trên chỏm con xương cánh tay Có nhiều phương pháp kết hợp xương trụ

Trang 6

đảm bảo vững chắc cho xương trụ Trong nghiên cứu này

tất cả các trường hợp kết hợp xương trụ đều dùng nẹp nén

ép ít nhất là 6 lỗ vít hay 7, 8, 9 lỗ tùy theo tình trạng thiếu

xương phải ghép Kết hợp xương bằng nẹp sẽ đảm bảo

vững chắc cho xương trụ dễ lành, dễ đặt mảnh ghép xương

nếu xương thiếu Sự vững chắc cũng giúp cho chỏm xương

quay khó bị trật trở lại, giúp bệnh nhân tập gồng cứng gập

duỗi, sấp ngửa sớm Phương pháp kết hợp xương nẹp ốc

quyết định rất nhiều cho thành công của phẫu thuật này

Trong tư liệu có 21 bệnh nhân mổ kết hợp xương thất bại

trong đó có 15 trường hợp đóng đinh nội tủy để kết hợp

xương, 5 trường hợp sử dụng nẹp tự chế không đúng quy

cách, 1 trường hợp đặt nẹp cố định xương chỉ có 3 con

ốc Đây là một minh chứng cho sự mất vững của kết hợp

xương bằng đinh nội tủy và không đúng quy cách, không

đúng kỹ thuật

Ghép xương: Có 46 bệnh nhân gãy cũ Monteggia phải

ghép xương do thiếu xương, khớp giả xương trụ phải cắt

ngắn hai đầu xương Xương ghép lấy từ mào chậu Ngoại

trừ một trường hợp mảnh ghép được lấy từ mặt trước

xương chày Trương hợp này gãy cũ 3 năm, xương bị

thiếu gần 4cm nên phải dùng kỹ thuật Grffe-Vissee để

ghép bổ xung đối diện với nẹp nén ép bên kia mặt xương

Các mảnh ghép dài được đặt theo chiều dọc của khung

xương nên tránh được sự thuận lợi cho dính 2 xương như

y văn mô tả

Vì sao phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp ốc và tái

tạo dây chằng vòng được áp dụng cho gãy Monteggia

Như phần đầu đã nói, gãy Monteggia là loại gãy phức tạp

có nhiều thương tổn phối hợp: Gãy xương, trật khớp, tổn

thương dây chằng, rách màng liên xương Điều trị loại gãy

này phải phục hồi hết các tổn thương của nó mới đem lại

chức năng làm việc bình thường cho người bệnh Sự liên

quan giữa các thương tổn này gây nên sự mất vững rất

lớn của khuỷu tay Nếu chỏm xương quay được nắn mà

xương trụ không lành, tay cũng còn đau và yếu không thể

làm việc được Ngược lại xương trụ lành mà chỏm quay

còn trật thì sấp ngửa sẽ không còn, chỏm quay nắn tốt mà

xương trụ không vững làm gập góc ổ gãy thì chỏm quay

sẽ trật trở lại vì chiều dài 2 xương cẳng tay là cân đối với

nhau giới hạn nhau ở khớp quay trụ trên và quay trụ dưới

Vì vậy nắn chỏm quay tốt, kết hợp xương trụ vững chắc

sẽ tác động trở lại là làm vững cho chỏm quay, tái tạo dây

chằng lúc này là phục hồi được giải phẫu cho phức hợp

dây chằng bên ngoài của khuỷu lại giữ cho chỏm quay

luôn tiếp xúc với xương trụ, làm vững chỏm quay Chỏm

quay vững lại tác động lại làm vững xương trụ Vì vậy

thì việc tái tạo dây chằng vòng là cần thiết để làm vững thêm cho chỏm xương quay Trong gãy cũ Monteggia thì chỏm quay bị trật ra từ một tháng trở lên Sự trật này kèm theo xương trụ di lệch, can xương gập góc cho phù hợp với xương quay Vị trí cũ của chỏm quay đã mọc đầy xơ, bao khớp dây chằng nắn chỏm xương không thể được, thêm vào đó sự gập góc của xương trụ cũng cản trở sự trở lại của chỏm quay Với những lý do đó mà trước kia việc cắt

bỏ chỏm xương quay để nắn và kết hợp xương trụ trong gãy cũ Monteggia với mục đích lành xương và phục hồi sấp ngửa cẳng tay là sự chọn lựa của nhiều tác giả Nhưng việc cắt chỏm quay đã gây ra nhiều biến chứng về lâu dài như đau khuỷu, vẹo khuỷu, giảm sức làm việc của cánh tay và đặc biệt là mất vững khuỷu Phương pháp mổ cắt bỏ chỏm xương quay trong gãy cũ Monteggia có lẽ xuất phát

từ một nghiên cứu của nhóm Campbell’s Clime hồi cứu

159 trường hợp gãy Monteggia từ 1940 đến 1969 trong

đó có 55 ca gãy cũ được điều trị đã cho kết quả không tốt, cuối cùng phải khắc phục bằng cắt bỏ chỏm xương quay, kết hợp lại xương trụ Có lẽ trong những thập niên này kỹ thuật và dụng cụ kết hợp xương chưa được như hiện nay nên kết quả điều trị xấu như thế Có lẽ cũng vì vậy mà việc cắt bỏ chỏm xương quay để điều trị gãy cũ Monteggia đã trở thành kinh điển được đăng ở các y văn chỉnh hình nổi tiếng như Rockgood, Campbell cho đến tận hôm nay Câu hỏi tại sao các tác giả ở những nước tiên tiến không thay đổi cách điều trị, giả sử thay đổi như cách điều trị ở nghiên cứu này Câu trả lời cũng chỉ là có lẽ ở nước người ta đã điều trị gãy mới Monteggia tốt ngay từ đầu nên không còn gãy cũ để có cơ hội cải tiến điều trị như luận án này đã trình bày

Ở bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình, qua tái khám các bệnh nhân bị cắt chỏm quay, chúng tôi thấy đa số các bệnh nhân đều phục hồi tốt cử động sấp ngửa cẳng bàn tay nhưng có sự yếu đi của cánh tay so với bên kia, có thêm cử động lắc ngang của khuỷu, đau là biểu hiện khó chịu nhất, đau âm ỉ không rõ điểm đau Có một trường hợp liệt thần kinh trụ do khuỷu vẹo ngoài phải mổ chuyển thần kinh trụ

ra trước và đặc biệt có 3 bệnh nhân bị trật khớp quay trụ dưới làm giảm và mất sấp ngửa về sau, 3 trường hợp này

có lẽ vì xương quay bị kéo lên trên khi mất chỏm trong động tác gấp khuỷu lâu ngày gây trật khớp quay trụ dưới Trong phẫu thuật gắn chỏm quay nhân tạo BEMOR-REY cũng đề cập đến các lý do phải thay chỏm xương quay là

do các biến chứng: Đau, vẹo, mất vững khuỷu, mọc can trong khớp, mất sấp ngửa cẳng tay

Như phần trị liệu đã trình bày, các bệnh nhân gãy

Trang 7

TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ 1/2012

Monteggia đều ở tuổi lao động, việc giữ lại được

chỏm quay, nắn lại chỏm quay, tái tạo dây chằng

vòng và kết hợp xương trụ vừa phục hồi được chức

năng lại tránh được các biến chứng do cắt chỏm quay

gây nên thì phẫu thuật này được lựa chọn là một sự

tất yếu

Kết quả với 76,5% rất tốt, 15,3% tốt và 8,2%

khá, không có trường hợp nào thất bại lại một lần nữa

khẳng định tính ưu việt của điều trị gãy Monteggia

bằng phương pháp kết hợp xương nẹp ốc và tái tạo

dây chằng vòng Kết quả đánh giá dựa vào sự lành

xương, phục hồi chức năng gập duỗi khuỷu, sấp ngửa

cẳng bàn tay của bệnh nhân Đây chính là tiêu chuẩn

và mục đích của phương pháp điều trị nhằm đưa

người bệnh trở lại cuộc sống lao động bình thường

như trong thang điểm của Anderson đã đặt ra

Kết lUận

Với 98 bệnh nhân gãy cũ Montegia được điều

trị bằng kết hợp xương nẹp ốc vững chắc, nắn chỏm quay, tái tạo dây chằng vòng, thời gian theo dõi lâu nhất là 12 năm, ngắn nhất là 1 năm đã cho kết quả 76,5% rất tốt, 15,3% tốt, 8,2% khá, không có trường hợp nào thất bại Phẫu thuật đã phục hồi được cấu trúc giải phẫu học của khớp khuỷu và 2 xương cẳng tay lại phục hồi tốt chức năng sấp ngửa cẳng tay, gập duỗi khuỷu tránh được các biến chứng của cắt bỏ chỏm quay đã cho phép chúng tôi chọn lựa để điều trị gãy cũ Monteggia ở người lớn Phẫu thuật này

đã được áp dụng và chỉ định tuyệt đối tại bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình từ năm 1994 đến nay Cũng từ các trường hợp gãy cũ Monteggia, chúng tôi nhận thấy rằng, ngoài vấn đề điều trị bảo tồn với loại gãy này có tỉ lệ thất bại tương đối lớn thì việc bỏ sót tổn thương trật khớp quay trụ trên cũng không phải là hiếm gặp Chúng tôi đề nghị, đối với tổn thương gãy hai xương cẳng tay bao giờ cũng phải chụp thêm khớp khuỷu và khớp cổ tay để tránh bỏ sót tổn thương

Tài liệu tham khảo

1 Bùi Văn Đức (8/1983), “Gãy trật Monteggia -

Gãy xương chi trên”, Tài liệu CTCH, tr 76-77

2 Ngô Bảo Khang (1989), “Gãy Monteggia”,

Bài giảng bệnh học ngoại khoa Bộ môn Ngoại

Trường Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh, tập

V, tr 135-138

3 Lương Đình Lâm (1997), “Gãy trật Monteggia”,

Bài giảng bệnh học chấn thương chỉnh hình và

phục hồi chức năng Trường Đại học Y dược TP

Hồ Chí Minh, tr 90-91

4 L Boehler (1985, dịch giả: Nguyễn Quang

Long), “Điều trị phẫu thuật gãy trật mới kiểu

Monteggia & Điều trị phẫu thuật gãy cũ xương

trụ có trật chỏm quay (gãy kiểu Monteggia)”, Kỹ

thuật điều trị gãy xương, Nhà xuất bản Y học, tr

246-248

5 Nguyễn Quang Long (1987), “Dây chằng vùng

cổ tay”, Tổng quan và chuyên khảo Y – Dược,

(30), tr 3

6 Nguyễn Văn Quang (1987), “Phẫu thuật

kết hợp xương bên trong”, Nguyên tắc chấn

thương chỉnh hình, NXB Hội Y Dược học TP

7 Nguyễn Quang Quyền (1996), “Các xương

của cẳng tay”, Atlas Giải phẫu người, NXB Y học, 441

8 Nguyễn Quang Quyền (1988), “Xương khớp

chi trên”, Bài giảng giải phẫu học, NXB Y học, Tập I, 27-31

9 Nguyễn Văn Thái và cộng sự (1994 - 1995),

“Tái tạo dây chằng vòng trong điều trị gãy Monteggia cũ”, Công trình nghiên cứu khoa học Trường Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh, tr 272-275

10 R.A Abrams (1993), “Treatment of

posttraumatic radioulnar synostosis with excision and low-dose radiation”, J Hand Surg [Am] Jul; 18(4), pp 703-7

11 L.D Anderson - Frederick N Meyer (1991),

“Monteggia’s fracture”, Fracture in Adults Vol I,

pp 806-824

12 J.L Bado (1967), “The Monteggia lesion”,

Clinical Orthopaedics and Related Research, (50) Jan-Feb, pp 71-86

Trang 8

the elbow in children”, J Pediatr Orthop,14(2),

pp 193-9

14 De Boeck (1997), “Radial neck osteolysis after

annular ligament reconstruction A case report”,

Clin Orthop, (342), pp 94-8

15 H Boyd - Joseph C Boals (1969), “The

Monteggia lesion - A review of 159 cases”,

Clinical Orthopaedics and Related Research,

(66), pp 94-100

16 Breit (1983), “Post-traumatic ratio-ulnar

synostosis”, Clinical Orthopaedics and Related

Research, (174), pp 149-152

17 H.E Bruce - J Paul Harvey - John C Wilson

(1974), “Monteggia Fractures”, The Journal of

Bone and Joint Surgery, Vol 56-A, (8), pp

1563-1576

18 A.H Crenshaw (1992), “Fractures of proximal

third of ulna with dislocation of radial head”,

Campbell’s Operative Orthopaedics, Vol II, pp

1032-1035

19 A.H Crenshaw (1998), “Fractures of proximal

third of ulna with dislocation of radial head”,

Campbell’s Operative Orthopaedics, Vol III,

pp 2335

20 Deluca (1988), “Refracture of bones of the

forearm after the removal of Compression

plates”, The Journal of Bone and Joint Surgery,

70-A, pp 1372-1376

21 S D’souza (1993), “Management of radial neck

fractures in children : a retrospective analysis of

one hundred patients”, J Pediatr Orthop, 13(2),

pp 232-8

22 W.D Engber - James S Keene (1993),

“Anterior interosseous nerve palsy associated

with a Monteggia fracture - A case report”,

Clinical Orthopaedics and Related Research,

(174), pp 133-137

in the treatment of fractures of both bones of the forearm”, The Journal of Bone and Joint Surgery, Vol XXVII, (3), pp 373-379

24 M.E.M Evans (1951), “Fracture of the radius

and ulna”, The Journal of Bone and Joint Surgery, Vol 33-B, (4), pp 548-561

25 M.E.M Evans (1949), “Pronation injuries of

the forearm with special reference to anterior Monteggia fractures”, The Journal of Bone and Joint Surgery, 31-B, pp 579

26 C.W Geel (1992), “Radial head fractures

and their effect on the distal radiolnar joint A rationale for treatment”, Clin Orthop, (275), pp 79-84

27 W.K Gibson - Roger W Timperlake (1992),

“Operative treatment of a Type IV Monteggia Fracture - Dislocation in a Child”, The Journal

of Bone and Joint Surgery, Vol 74-B, (5), pp 780-781

28 Herzberg (1995), “Galeazzia and Essex -

Lopresti fractures”, Fracture of the distal radius,

pp 264-266

29 J.F Kellam - Jesse B Jupiter (1992),

“Monteggia lesion”, Skeletal trauma, pp 1117-1124

30 J Klekamp (1997), “Osteochondritis dissecans

as a cause of developmental dislocation of the radial head”, Clin Orthop, (338), pp 36-41

31 R.L Lichter - Torsten Jacobsen (1975),

“Tardy palsy of the posterior interosseous nerve with a Monteggia fracture”, The Journal of Bone and Joint Surgery, Vol 57-A, (1), pp 124-125

32 D Mehta (1993), “Missed Monteggia Fracture”,

The Journal of Bone and Joint Surgery, Vol 75-B, (2), pp 337

Ngày đăng: 17/10/2020, 18:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w