Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật của 70 bệnh nhân bị gãy xương cánh tay điều trị bằng phương pháp này. Từ đó rút ra những nhận xét về chỉ định, kỹ thuật mổ.
Trang 1TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2014
đÁNH GIÁ KẾT quả PHẫu THuậT GãY XƯƠNG CÁNH TAY BẰNG KẾT XƯƠNG KÍN, sỬ dụNG đINH đÀN HỒI METAIzEAu
Nguyễn Thái Sơn,
Trần Tuấn Anh
BV ĐK Đức Giang HN.
Email:
ntsonsp@gmail.com
Ngày nhận: 28 - 8 - 2014
Ngày phản biện: 20 - 9 -2014
Ngày in: 08 - 10 - 2014
Nguyen Thai Son,
Osteosynthesis for humerus fracture has been indicated for the fractures with severe displacement or unsuccessful bone reduction or conservative treatment Osteosynthesis with screw-plate has occupied an important role in the past Recently, along with mini-invasive surgery, intra-medullary nailing with flexible wire has been known as a good method for humerus fracture.
Since November 2010 to November 2013, in Duc giang general hospital, 70 humerus fractures have been osteosynthesed with flexible nailing In which, there are 32 male, 45,75% and 38 female, 54,3% The ages of patients varies from 15 to 90 Patients under
40 y.d were 32/70, 45,7% and over 60 y.d occupied 26/70 patients, 37,1% The main causes of fracture are traffic accident (51,4%) and home accident (42,9%) The short-term follow-up showed a good result with 100% initial good scar, no infection, good bone reduction and internal fixation Long-term evaluation done in 62 patients noted
a good bone healed in 100% and good function of the shoulder and elbow in 88,57% The result of study confirming that intra-medullary nailing with flexible wires is the best option in osteosynthesis for humerus fractures.
Gãy xương cánh tay trước đây được biết đến với 2 phương pháp kết xương nẹp vis và đóng đinh nội tủy, đặc biệt là với gãy cổ xương cánh tay chủ yếu là phẫu thuật kết xương nẹp vis Tuy nhiên, hai phương pháp này để lại nhược điểm lớn là làm tổn thương phần mềm, mất các yếu tố liền xương ban đầu Khoảng 10 năm gần đây, kỹ thuật ít xâm nhập với việc không mở ổ gãy khi kết xương nhờ sử dụng đinh đàn hồi đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới Tại khoa CTCH Bệnh viện đa khoa Đức Giang từ tháng 11/2010 – 11/2013 có 70 BN gãy xương cánh tay được phẫu thuật bằng đinh Metaizeau dưới màn tăng sáng Với phương pháp sử dụng 2 đinh Metaizeau, việc kết xương đã áp dụng cho các BN ở nhiều lứa tuổi, các hình thái ổ gãy khác nhau Kết quả bước đầu: 70 BN bao gồm 32 nam, 45,75% và 38 nữ, 54,3%, độ tuổi hay gặp dưới 40 chiếm 32/70, 45,7% và trên 60 tuổi 26/70 BN, 37,1% Nguyên nhân chủ yếu là do tai nạn giao thông 51,4% và tai nạn sinh hoạt 42,9% Liền vết mổ kỳ đầu 100%, Theo dõi
xa sau mổ 62/70 bệnh nhân kết quả rất tốt và tốt 88,57% Kết quả cho thấy đây là một phương pháp điều trị đơn giản, phù hợp với đa số bệnh nhân
Từ khóa: Kết xương mổ kín, gãy xương cánh tay, Metaizeau
Tĩm TắT
I ĐặT VấN Đề
Việc phẫu thuật kết xương cho gãy xương cánh
tay trước đây được biết đến với 2 phương pháp phổ
biến là kết xương nẹp vis và đĩng đinh nội tủy Riêng
đối với gãy cổ xương cánh tay thì chủ yếu là phẫu
thuật nẹp vis Để thực hiện được cả hai kỹ thuật kết
xương trên thì phẫu thuật viên đều phải mổ mở, bộc
lộ ổ xương gãy, nắn chỉnh bên trong sau đĩ mới thực hiện hoặc là kết xương nẹp vis hoặc là đĩng đinh nội tủy Cả hai kỹ thuật kết xương trên đều cĩ nhiều nhược điểm
Trang 2
Phần 3: Phẫu thuật chấn thương chung
biến Một trong những phương pháp kết xương cánh tay
theo xu hướng trên đó là xuyên đinh đàn hồi Metaizeau
theo nguyên lý 3 điểm tỳ dưới sự kiểm soát của màn tăng
sáng Phương pháp này đã cho thấy các ưu điểm: Ít mất
máu, thẩm mỹ, hạn chế sử dụng kháng sinh, ngày điều trị
ngắn, tăng khả năng liền xương, sớm phục hồi chức năng
Tuy nhiên đóng đinh đàn hồi Metaizeau cho xương cánh
tay còn là kỹ thuật khá mới cho nhiều phẫu thuật viên, đặc
biệt là gãy cổ xương cánh tay
Tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang Hà Nội, kỹ thuật
kết xương cánh tay bằng đinh đàn hồi dưới màn tăng sáng
đã được thực hiện từ 11/2010- 11/2013 Đề tài nghiên cứu
này nhằm mục tiêu đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật
của 70 bệnh nhân bị gãy xương cánh tay điều trị bằng
phương pháp này Từ đó rút ra những nhận xét về chỉ định,
kỹ thuật mổ…
II ĐốI TƯợNG Và PHƯơNG PHáP
NGHIêN CỨU
2 1 Đối tượng:
70 Bệnh nhân gãy xương cánh tay không phân biệt tuổi,
giới tính, được kết xương bằng đinh đàn hồi Metaizeau
với đường mổ tối thiểu và màn tăng sáng
* Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân bị gãy kín xương
cánh tay (gãy thân xương và gãy cổ xương cánh tay), gãy
hở độ I, độ II đến sớm
* Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân bị gãy xương cánh
tay do các nguyên nhân về bệnh lý như nang xương, u
xương Các bệnh nhân gãy hở độ I, II đến muộn hay các
gãy hở độ III
mô tả cắt ngang, thử nghiệm lâm sàng không đối chứng 35 bệnh nhân gãy xương cánh tay
2 3 Kỹ thuật mổ:
Kỹ thuật mổ bao gồm 2 thì chính:
- Thì kéo nắn Bệnh nhân nằm ngửa trên bàn chỉnh hình Vai bên xương cánh tay gãy được kê cao khoảng
10 cm và có cọc đối lực đặt ở nách Cách nắn: Kéo theo chiều dọc để chữa di lệch chồng, thao tác bên để chữa gấp góc, kiểm tra kết quả trên màn hình tăng sáng Chuẩn bị dụng cụ phẫu thuật gồm đinh Metaizeau đường kính 3mm dài 35-40 cm và hệ thống dùi chia làm ba loại đường kính khác nhau dùi 3mm, dùi trung gian và dùi 6mm
- Thì phẫu thuật Vị trí xuyên đinh phụ thuộc vị trí xương gãy:
+ Với gãy 1/3 trên và 1/3 giữa thân xương cánh tay thì
vị trí xuyên đinh vào ống tủy tử đầu dưới xương cánh tay + Với gãy đầu trên xương cánh tay thì vị trí xuyên đinh cũng giống như gãy 1/3 giữa và trên
+ Với gãy 1/3 dưới thân xương cánh tay thì xuyên từ 1/3 trên trước ngoài xương cánh tay Kỹ thuật mổ cho từng trường hợp có thể chia thành 3 thì nhỏ:
Thì I: Rạch da: Chúng tôi rạch da 1- 1,5cm sau trên khe khớp khuỷu 2cm hoặc mặt ngoài 1/3 trên xương cánh tay Thì II: Tạo đường hầm qua thành xương cánh tay: Dùng dùi các cỡ để tạo lỗ vào trên thành xương ĐK 6mm
là vừa đủ cho 2 đinh Metaizeau đi qua
Thì III: Kết xương: Bằng luồn 2 đinh Metaizeau vào ống tuỷ, đi qua ổ gãy và đầu đinh đến chốt vào đầu xương bên đối diện tạo được một hệ thống cân đối lực
Ảnh: Minh hoạ các thì luồn đinh và kiểm soát dưới màn tăng sáng.
Sau mổ bệnh nhân thường được cố định bằng một
băng treo vai- cánh tay trong vòng 3-5 ngày Trường hợp
xương gãy nhiều mảnh có thể bổ sung bằng một nẹp bột
vai- cánh- cẳng tay để chống xoay trong vòng 3- 4 tuần
đầu Dựa vào mức độ vững chắc của ổ gẫy sau khi đã được
kết xương, vào tình trạng toàn thân của bệnh nhân mà tập
vận động bắt đầu ngay khi có thể Thường cho tập tĩnh cơ ngay những ngày sau phẫu thuật, tập vận động của khớp vai, khuỷu, cổ tay và bàn tay Từ tuần thứ 2, tăng dần biên
độ vận động của các khớp vai và khớp khuỷu Bệnh nhân được đánh giá kết quả theo tiêu chuẩn của Neer C S [8] và Jupiter J [9] B với 4 mức: rất tốt, tốt, trung bình và kém
Trang 3TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2014
III KếT QUẢ
3 1 Đặc điểm bệnh nhân.
Từ tháng 11/2010 - 11/2013 đã cĩ 70 bệnh nhân
được phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang
với chẩn đốn gãy xương cánh tay
- Tuổi: hay gặp dưới 40; 32/70; 45,7% và trên 60
tuổi 26/70 BN; 37,1% Trong đĩ bệnh nhân nhỏ tuổi
nhất là 15 tuổi và bệnh nhân cao tuổi nhất 90 tuổi
- Giới tính: 32 nam; 45,75% và 38 nữ; 54,3%
- Vị trí gãy:
Bảng 1: Ví trí gãy xương của xương cánh tay
(n= 70 BN)
Vị trí gãy Số lượng Tỷ lệ %
Như vậy vị trí gãy chủ yếu là 1/3 giữa với 14 BN,
40,0%, gãy 1,3 dưới chỉ gặp 3 trường hợp, chiếm
8,6%
- Nguyên nhân:
Bảng 2: Nguyên nhân của gãy xương của xương
cánh tay (n= 70 BN).
Nguyên nhân Số lượng Tỷ lệ %
Nguyên nhân của gãy xương chủ yếu là TNGT
với cơ chế gián tiếp ngã chống tay xuống đất Số BN
bị gãy xương do TNGT là 36 BN, chiếm 51,4%
- Tính chất đường gãy:
Bảng 3: Tính chất đường gãy của gãy xương
cánh tay (n = 70 BN)
Tính chất ổ gãy Số lượng Tỷ lệ %
Gãy ngang, chéo vát ngắn 54 77,1
Như vậy, loại gãy ngang và gãy chéo vát ngắn
thường gặp với tần số cao hơn 54 BN, 77,1% Gãy cĩ
mảnh rời chỉ gặp ở 10 BN với tỷ lệ 14,3%
- Thương tổn phối hợp
Bảng 4: Thương tổn phối hợp (n = 70 BN)
Nguyên nhân Số lượng Tỷ lệ %
Bệnh nội khoa
Như vậy, trong số 70 bệnh nhân thì chỉ cĩ 2 trường hợp là cĩ bại dây thần kinh quay trước mổ
Cĩ 10 bệnh nhân cĩ tuổi cĩ bệnh nội khoa như đái tháo đường, tăng huyết áp trước khi bị gãy tay
- Thời gian mổ trung bình cho một cuộc mổ thường từ 25 phút đến 60 phút, trung bình 40 phút
- Trong mổ cĩ một biến chứng khơng mong muốn
là xuyên thủng thành xương bên đối diện do khoan xuyên qua mà khơng kiểm sốt được Khơng cĩ trường hợp nào phải thay đổi phương pháp mổ do cĩ diễn biến bất thường
3.2 Kết quả điều trị:
- Kết quả gần:
+ Liền vết mổ kỳ đầu 100%, khơng cĩ BN nào nhiễm khuẩn vết mổ
+ Kết quả kết xương:
Bảng 5: Kết quả kết xương (n = 70 BN).
Kết quả kết xương Số lượng Tỷ lệ%
- Kết quả xa (sau 6 tháng): Theo dõi được 62 BN trên tổng số 70 BN
+ Liền xương: 100% bệnh nhân Khơng cĩ BN nào chậm liền xương, khớp giả Thời gian liền xương trung bình 3,5 tháng
+ Kết quả phục hồi chức năng: 62 bệnh nhân cĩ
đủ thời gian theo dõi xa và đánh giá kết quả theo Jupiter J B [9]:
+ Đau khi nghỉ khơng gặp ở bệnh nhân nào sau
mổ 3 tháng Đau khi vận động với những biên độ lớn như dạng vai, quay vai gặp ở 6/62 BN
+ Khả năng sử dụng cánh tay trong hoạt dộng hàng ngày: Đa số bệnh nhân sau 3 tháng đều cĩ thể
sử dụng cánh tay được mổ để phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày
Trang 4Phần 3: Phẫu thuật chấn thương chung
của Jupiter J.B (n = 31 BN)
PHCN của khớp vai Số lượng Tỷ lệ%
IV BàN LUẬN
4 1 Về tuổi bệnh nhân: Trong chỉ định điều trị cũng
như số bệnh nhân được áp dụng phẫu thuật cĩ tuổi từ
15 đến 90 tuổi Tại sao tuổi chỉ định lại rộng rãi và cĩ
vẻ như khơng hạn chế? Theo J.P Metaizeau [6] và Pierres
Lascombes [10] trước hết vì 2 lý do: Một là phẫu thuật
xuyên đinh kín thuộc loại phẫu thuật ít xâm lấn, ít can
thiệp, ít ảnh hưởng đến chức năng của cơ thể bệnh nhân
nĩi chung và của từng cơ quan chức năng trong cơ thể
người nĩi riêng Vậy, với phẫu thuật tối thiểu thì chỉ khác
là vẫn cĩ các bước nắn chỉnh nêu trên và thay vì cố định
ở bên ngồi thì xuyên đinh bên trong Đây là phẫu thuật
nhưng được coi như khơng phẫu thuật vì ít rạch da, ít bĩc
tách can thiệp phần mềm, thời gian mổ ngắn, ngày điều
trị ngắn Đa số phẫu thuật thuộc loại này đều cĩ thể thực
hiện được nhờ vơ cảm vùng kết hợp an thần hoặc gây mê
ngắn nên ít ảnh hưởng đến cơ quan hơ hấp Đấy là lý do vì
sao thủ thuật xuyên đinh kín cĩ thể chỉ định được cho mọi
lứa tuổi
4 2 Về lựa chọn bệnh nhân và chỉ định điều trị:
Theo các tác giả ở ngồi nước như J.P Metaizeau [6] và
Pierres Lascombes [10], chỉ định xuyên đinh kín cho các
xương dài nhỏ như xương cánh tay, cẳng tay…ít cĩ giới
hạn Nghĩa là cĩ thể chỉ định cho khơng chỉ gãy xương kín
mà cịn cĩ thể gãy xương hở độ I, II đến sớm Chỉ định cịn
khơng hạn chế nếu tính đến vị trí gãy xương Trong nhĩm
bệnh nhân điều trị của đề tài này thì chỉ định cĩ thể áp
dụng cho gãy chỏm xương cánh tay, cả đầu trên, đầu dưới
và giữa thân xương Đây thực sự là một ưu thế của phương
pháp kết xương này
Theo J.P Metaizeau [6] khả năng đàn hồi của đinh là
ưu điểm lớn nhất của phương pháp, ổ gãy được cố định
tương đối vững chắc và kích thích tạo can xương mạnh do
những di động nhỏ tại ổ gãy
và sau phẫu thuật.
Xuyên thủng thành xương bên đối diện Đinh luồn khơng vào được ống tủy của đoạn xương bên đối diện Đầu đinh chọc thủng chỏm xương cánh tay Trường hợp
cĩ biểu hiện liệt dây thần kinh quay
Đây là những khĩ khăn và biến chứng cĩ thể xảy ra do
kỹ thuật mổ chưa tốt, phẫu thuật viên thiếu kinh nghiệm
Cĩ thể khắc phục những vấn đề này nhờ được huấn luyện, đào tạo và cẩn thận tỷ mỉ trong khi làm thủ thuật và phẫu thuật
4 4 Bàn luận về tính ưu việt của phương pháp:
Đây là phương pháp điều trị ít xâm lấn, khơng làm tổn thương các thành phần xung quanh ổ gãy như: Màng xương, mạch máu và thần kinh quay; Hạn chế tối đa nguy
cơ nhiễm khuẩn do khơng phải mở ổ gãy; Thao tác đơn giản, dễ thực hiện với độ chính xác cao; Áp dụng được với nhiều hình thái gãy xương, kể cả những gãy phức tạp, gãy
ở người già, trẻ em; Vết mổ nhỏ, đảm bảo tính thẩm mỹ; Giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân do đinh được chế tạo trong nước
V KẾT LUẬN Qua kết quả 70 bệnh nhân đầu tiên được phẫu thuật kết hợp xương bằng đinh đàn hồi metaizeau dưới màn tăng sáng chúng tơi thấy rằng:
1 Kết quả: 100% BN liền vết mổ kỳ đầu, 62/70 bệnh nhân khám lại với tỷ lệ xếp loại tốt và rất tốt 88,57%, trung bình chiếm 3.2%
Kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện, giá thành rẻ hơn Khơng phải bộc lộ ổ gãy, ít xâm lấn, khơng phải cắt cơ, khơng gây tổn hại phần mềm, hạn chế mất máu, ít sử dụng kháng sinh, ngày điều trị ngắn, sớm phục hồi chức năng, tăng khả năng liền xương
2 Về chỉ định cho kỹ thuật thì khá rộng và thuận tiện cho hầu kết các loại gãy xương cánh tay, các vị trí của gãy xương kể cả gãy cổ xương cánh tay, gãy kín, hở Các bệnh nội khoa mãn tính khơng phải là chống chỉ định Kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện và phải tuân thủ các thì của phẫu thuật Vì vậy, kỹ thuật này chỉ nên áp dụng ở tuyến chuyên khoa, nơi cĩ đầy đủ trang thiết bị và phẫu thuật viên cĩ kinh nghiệm
Trang 5TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2014
Tài liệu tham khảo
1 Trần Đình Chiến (2006), “Gãy xương cánh tay”, bệnh học
chấn thương chỉnh hình, NXB Quân đội, Hà Nội, tr 41-45.
2 Nguyễn Quang Long (2005), “Các khuynh hướng hiện đại
về phục hồi gãy thân xương dài”, kỷ yếu hội nghị thường niên
chấn thương chỉnh hình lần thứ XII, tr 39-48.
3 Nguyễn Thái Sơn, Đinh Metaizeau và các khả năng ứng
dụng trên lâm sàng Hội nghị khoa học Hội chấn thương chỉnh
hình toàn quốc lần thứ III 3/2003 tr 66 – 77.
4 M.A JAFAR, Fractures and dislocations, Sushree Printer,
Dhaka-1100 Bangladesh, p: 216-223.
5 KLENERMAN LESLIE The evolution of orthopaedic surgery
British library cataloguing in publication data, 1998 p:
229-236.
6 J.P.METAIZEAU Traitement des fractures diaphysaires de l'
enfance par embrochage centro-medullaire élastique stable Cahiers d'enseignement de la SOFCOT: Enclouage centro-médullaire des os long, 67-81.
7 RONALD MC RAE Pratical fracture treatment Churchill
livingstone, third editon 1994, p: 273-285.
8 NEER C S Displaced proximal humeral fracture J Bone Joint
Surg 52A; 1970: 1077-1089
9 JUPITER J B, NEFF U R S: Intercondylar fractures of the
humerus J Bone Joint Surg 67A; 1985: 226-239.
10 LASCOMBES Pierre Flexible Intramedullary Nailing in
Children: The Nancy University Manual Springer, 03-02-2010
- 317 p.